1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đây thôn vĩ dạ

22 151 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đây Thôn Vĩ Dạ
Tác giả Hàn Mặc Tử
Trường học Trường Đại học Huế
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Thơ
Năm xuất bản 1940
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tổ tiên họ Phạm, ông cố là Phạm Nhương, ông nội là Phạm Bồi, vì liên can đến quốc sự nên trốn vào Thừa Thiên và đổi họ thành Nguyễn - Cha: Nguyễn Văn Toản, Mẹ: Nguyễn Thị Duy - Anh: N

Trang 1

®©y th«n VÜ D¹

Trang 2

I, Tác giả: Hàn Mặc Tử

- Tên: Nguyễn Trọng Trí

- Sinh: 22/9/1912 Mất: 11/11/1940

- Quê: Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình.

- Tổ tiên họ Phạm, ông cố là Phạm Nhương, ông nội là Phạm Bồi, vì liên can

đến quốc sự nên trốn vào Thừa Thiên và đổi họ thành Nguyễn

- Cha: Nguyễn Văn Toản, Mẹ: Nguyễn Thị Duy

- Anh: Nguyễn Bá Nhân, Chị: Như Nghĩa, Như Lễ

- Em trai: Nguyễn Bá Tín, Nguyễn Bá Hiếu

- Các bút danh: Lệ Thanh, Phong Trần, Hàn Mạc Tử, Hàn Mặc Tử.

Trang 3

Cuộc đời hoạt động sáng tác:

- Ông học tiểu học ở Quảng Ngãi, khi cha chết, mẹ dọn về Quy Nhơn ở đây ông tập làm thơ Đường luật

từ năm 16t, lấy bút hiệu là Minh Duệ Thị Học ở trường Quy Nhơn năm thứ 3, mẹ gửi ông ra Huế học tại trường dòng Pellerin, chính đất Thần Kinh non nước hữu tình có truyền thông thơ phú, nơi quy tụ nhiều nhân tài đã ảnh hưởng và mở cánh cửa tư duy trí tuệ tài hoa thúc đẩy ông trở thành thi nhân

- Ông đăng thơ trên báo Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn với bút hiệu Phong Trần Thời gian này Đông Dương khủng hoảng kinh tế, gia đình sa sút, không còn điều kiện nên ông phải nghỉ học đi làm Sở Đạc điền một

độ, bị đau rồi mất việc

- Sau đó ông vào Sài Gòn làm báo lấy bút hiệu là Lệ Thanh( Tên làng Mỹ Lệ, chánh quán Tân Thanh ghép lại) Ông được giải nhất cuộc thi thơ của câu lạc bộ thơ, bút hiệu Lệ Thanh nổi tiếng từ đó Ông cộng tác với báo: Trong Khuê Phòng, Đông Dương Tuần Báo, Người Mới.

-Năm 1936 khi chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Sài Gòn, ông mới đổi là Hàn Mạc Tử Hàn Mạc nghĩa là “Rèm lạnh”, bạn ông là Quách Tấn góp ý: “Tránh kiếp Phong Trần làm khách Hồng Nhan(Lệ Thanh) lại núp sau Rèm Lạnh Đã có Rèm Lạnh thì nên có thêm một bóng nguyệt nữa mới thật nên thơ”

Ông đồng ý ngay, cầm bút vạch thêm một vành trăng non trên chữ Mạc, từ đó bút hiệu là Hàn Mặc Tử Mặc Tử không còn nghĩa “Rèm Lạnh” nữa mà có nghĩa là “Bút Mực”(Hàn: Bút, Mặc: Mực) hiểu theo nghĩa bóng là “Văn Chương”.Như vậy, ba chữ Hàn Mặc Tử có nghĩa là “Khách Văn Chương”

Trang 4

Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này

Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo

Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại Ông quyết định lên Sài Gòn lập nghiệp Năm đó ông 21 tuổi

 Cuộc đời của ông được biết đến với

nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ

khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong

văn thơ của ông - có những người ông

đã gặp, có những người ông chỉ giao

tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ

biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình,

Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc

Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.

Trang 5

 Cuối năm 1937 gom góp khoảng 50 bài thơ làm trên giường bệnh được HMT gọi là Thơ Điên (gồm 3 tập Hương Thơm, Mật Đắng, Máu Cuồng Và Hồn

Điên) mang chung một nhan đề: Đau Thương để tặng thân mẫu (một số bài nói về trăng, một số nói về cõi hồn, một số thuộc các đề tài khác) Tiếp đến là Xuân Như Ý (gom góp năm1939), Thượng Thanh Khí (gom góp năm 1940)

 Mùa hạ 1938, thấy bệnh tình khó qua khỏi, gia cảnh càng sa sút, HMT sau nhiều lần do dự đã quyết định vào bệnh viện phong cùi Qui Hòa chữa miễn phí để tránh gánh nặng cho gia đình và mất tại đó nam 1940

 HMT là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam , là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn Hàn Mặc Tử đem đến cho Thơ Mới một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh những tác phẩm

bình dị, trong trẻo, chan chứa tình quê là các tác phẩm đầy những cảm hứng

lạ lùng, huyền bí, thậm chí đến điên loạn, phản ảnh trực tiếp một tâm hồn yêu thơ, yêu đời chan chứa, nhưng lại oàn oại vì cơn bệnh đau đớn dày vò

Trang 6

II Tác phẩm : Đây Thôn Vĩ Dạ

 Hoàn cảnh sáng tác:

- Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ do Hàn Mặc Tử sáng tác vào khoảng năm 1938, in lần đầu trong tập Thơ

Điên (về sau đổi thành Đau Thương)

- Hiện nay bài thơ này được cho là “một kiệt tác của Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại

- Đây thôn Vĩ Dạ, lúc đầu có tên là ở đây thôn Vĩ Dạ Theo một số tài liệu, bài thơ gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn Vĩ Dạ

GS Nguyễn Đăng Mạnh cho biết: Hồi làm nhân viên ở sở đạc điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử đã

thầm yêu trộm nhớ đơn phương một cô gái người Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ sở Một thời gian sau, nhà thơ vào Sài Gòn làm báo, khi trở lại Quy Nhơn thì cô gái đã theo gia đình về

Vĩ Dạ Một buổi kia, cô Cúc do sự gợi ý của một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, gửi vào cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp một phong cảnh sông nước có thuyền và bến, kèm theo mấy lời hỏi thăm để an ủi nhà thơ lúc này đang bị bệnh hiểm nghèo(bệnh phong).

- Lời thăm hỏi không kí tên nhưng bức ảnh và những dòng chữ kia đã kích thích trí tưởng tượng, cảm

hứng và đã gợi dậy những thầm kín xa xưa của Hàn Mặc Tử

Theo Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ Hàn Mặc Tử thì: năm 1939, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi Nàng bèn gửi cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới vòm cây xanh mát Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui, liền làm ngay bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” gửi ra Huế cho Hoàng Cúc

Trang 7

§äc Th¬

Trang 8

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Nhạc VÕ TÁ HÂN Phổ thơ HÀN MẶC TỬ

Ca sĩ VÂN KHÁNH

Trang 9

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?

Trang 10

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?

Trang 11

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Trang 12

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Trang 13

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Trang 14

Gió theo lối gió mây đường mây

Trang 15

Gió theo lối gió mây đường mây

Trang 16

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Trang 17

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Trang 18

Có chở trăng về kịp tối nay

Trang 19

Mơ khách đường xa khách đường xa

Trang 20

Áo em trắng quá nhìn không ra

Trang 21

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Trang 22

Ai biết tình ai có đậm đà

Ngày đăng: 28/07/2013, 01:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w