Tuy nhiên, trong trờng hợp việc thu thập tài liệu, chứng cứ xác định những tình tiết quan trọng của vụ án đòi hỏi không thể chậm trễ, pháp luật cho phép tiến hành một số hoạt động tố tụn
Trang 1CHƯƠNG VIII
Khởi tố vụ án hình sự
I KháI niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự
1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
Tố tụng hình sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, các giai đoạn này tuy đều nhằm thực hiện mục
đích chung của tố tụng hình sự là phát hiện kịp thời, nhanh chóng tội phạm và ngời phạm tội, xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, nhng mỗi giai
đoạn tố tụng lại có tính độc lập tơng đối, có nhiệm vụ và ý nghĩa riêng
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội pham để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ
sở pháp lý đầu tiên để tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo là điều tra, truy tố, xét xử Quyết định này làm phát sinh các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa cơ quan tiến hành
tố tụng, ngời tiến hành tố tụng và những ngời tham gia tố tụng Mọi hoạt động tố tụng điều tra, áp dụng biện pháp ngăn chặn chỉ đợc tiến hành khi có quyết đinh khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, trong trờng hợp việc thu thập tài liệu, chứng cứ xác định những tình tiết quan trọng của vụ án đòi hỏi không thể chậm trễ, pháp luật cho phép tiến hành một số hoạt động tố tụng trớc khi có quyết định khởi tố nh: khám nghiệm hiện trờng, khám, bắt ngời (trờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang)
Nh vậy, khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập
của tố tụng hình sự, bắt đầu từ việc tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện dấu hiệu tội phạm và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Kết
thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể là sự khởi đầu cho các giai đoạn tố tụng khác hoặc chấm dứt quá trình tố tụng
2 Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Trang 2Nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
là xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo mọi tội phạm
đều bị phát hiện một cách nhanh chóng, ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và không một ngời vô tội nào bị truy cứu oan Vì vậy, khi nhận đợc thông tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm phải xác định có sự việc xẩy ra hay không? Nếu có thì sự việc đó có dấu hiệu tội phạm hay không? Khi xác định có dấu hiệu tội phạm cơ quan này phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, nếu xác định không có dấu hiệu tội pham thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong trờng hợp đặc biệt, khi xác định tuy có dấu hiệu tội phạm về hình thức, nhng tính chất nguy hiểm xã hội không
đáng kể thì cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự mà có thể xử lý bằng các biện pháp khác
Nh vậy, yêu cầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự không phải là xác minh toàn bộ sự thật của vụ án, mà là không để bỏ lọt bất cứ một dấu hiệu tội phạm nào mà không đợc xem xét, không để cho bất cứ một hành vi phạm tội nào không bị phát hiện
3 ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Khởi tố vụ án hình sự, với tính cách là giai đoạn mở đầu cho quá trình tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với tố tụng hình sự nói chung, bởi vì chính giai đoạn này quyết định có cần tiến hành tố tụng hay không? Và cũng chính giai đoạn này tạo cở sở pháp lý đầu tiên cho quá trình tố tụng tiếp theo trong trờng hợp có dấu hiệu tội phạm Mọi hoạt động tố tụng hình sự ( trừ một số trờng hợp đặc biệt ) chỉ có thể đợc tiến hành khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự
ý nghĩa thực tiễn của giai đoan khởi tố vụ án hình sự cũng hết sức to lớn Khởi tố vụ án một cách kịp thời, có căn cứ và
đúng pháp luật là một trong những bảo đảm để mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra tội phạm Ngợc lại, khởi tố vụ án hình sự một cách thiếu căn cứ, không kịp thời, không đúng pháp luật có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng: một mặt, tội phạm không
bị phát hiện, ngời phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình
Trang 3sự, các hoạt động tố tụng đợc tiến hành không đúng hớng, mặt khác, có thể dẫn đến việc bắt tạm giữ, tạm giam ngời trái pháp luật, khám xét ngời, đồ vật, chỗ ở một cách vô căn cứ, thậm chí
có thể dẫn đến việc xét xử oan ngời vô tội Nói cách khác là khởi tố vụ án hình sự liên quan chặt chẽ với việc bảo đảm pháp chế, bảo đảm các quyền cơ bản hiến định của công dân
II Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự là quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật, xem xét các tình tiết của sự việc để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, vì vậy, chỉ những cơ quan tiến hành tố tụng và những ngời tiến hành tố tụng mới có quyền khởi tố vụ án
Bộ uật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự chẳng những quy định cụ thể những cơ quan và những cá nhân có quyền khởi tố vụ án hình sự mà còn quy
định rõ phạm vi, quyền hạn của từng cơ quan, cá nhân trong việc khởi tố vụ án hình sự căn cứ vào tính chất của vụ việc Việc mở rộng phạm vi chủ thể khởi tố vụ án hình sự cũng nh thẩm quyền của họ là vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự
Khởi tố vụ án hình sự vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án Các cơ quan, các cá nhân này trong mọi trờng hợp phát hiện dấu hiệu tội phạm phải khởi tố vụ án hình sự và áp dụng mọi biện pháp mà pháp luật cho phép để xác định sự việc phạm tội, xác định ngời thực hiện hành vi phạm tội Trách nhiệm của các cơ quan và các cá nhân nói trên còn đợc thể hiện ở chỗ, bằng các hoạt động của mình, phải kịp thời phát hiện tội phạm mỗi khi có hành vi phạm tội xẩy ra Yêu cầu phát hiện tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Cơ quan điều tra, bởi vì đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản của cơ quan này
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh
Tổ chức điều tra hình sự, khởi tố vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Bộ đội
Trang 4biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, quân đội nhân dân đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm (Điều 100, Bộ luật Tố tụng hình sự)
1 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan
điều tra
- Cơ quan điều tra trong công an nhân dân có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định khỏi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự
- Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án đối với một số loại tội phạm hoạt động t pháp mà ngời phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan t pháp
Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra do Thủ trởng, Phó Thủ trởng Cơ quan điều tra
đợc phân công điều tra vụ án thực hiện
2 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát
Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự trong những trờng hợp sau đây:
- Khi nhận tố giác hoặc tin báo về tội phạm yêu cầu Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố vụ án;
- Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
- Khi thấy quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan
điều tra, Bộ đội Biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm, lực lợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
Trang 5động điều tra không có căn cứ thì Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết
định đó và ra quyết định khởi tố vụ án
- Trong trờng hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về Viện trởng, Phó Viện trởng Viện kiểm sát các cấp
3 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Toà án
Toà án ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện đợc tội phạm hoặc ngời phạm tội mới cần phải điều tra (Đoạn 3 khoản 1, Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự)
Trong khi chuẩn bị xét xử nếu Toà án phát hiện bị can phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác, Toà án không khởi
tố vụ án mà trả hồ sơ để điều tra bổ sung (khoản 1, Điều 179
Bộ luật Tố tụng hình sự)
Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án qua việc xét xử tại phiên toà thuộc về Hội đồng xét xử
4 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lợng Cảnh sát biển
và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra
Thủ trởng đơn vị Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lợng Cảnh sát biển và Thủ trởng các cơ quan khác của Công
an nhân sân, Quân đội nhân dân đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án trong những trờng hợp sau:
- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, trong trờng hợp quả tang, chứng cứ và lai lịch ngời phạm tội rõ ràng, thì ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 20 ngày kể
từ ngày khởi tố vụ án
- Đối với tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, ít nghiêm trọng nhng phức tạp, thì ra quyết
định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban
Trang 6đầu và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án
Đối với đơn vị Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân sân, Quân đội nhân dân đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ cho phép Thủ tr-ởng đơn vị, Thủ trtr-ởng cơ quan nói trên có quyền ra quyết
định khởi tố, những ngời khác không giữ chức vụ Thủ trởng không có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
5 Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngời bị hại
Để đảm bảo quyền lợi cho ngời bị hại, một số tội do tính chất của hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao xâm hại đến sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền tác giả, sáng chế phát minh của ngời bị hại, nếu không có những tình tiết nghiêm trọng mà chỉ có những tình tiết đợc quy
định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113,
121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự thì chỉ đợc khởi tố khi có yêu cầu của ngơì bị hại hoặc của ngời đại diện hợp pháp của ngời bị hại là ngời cha thành niên, ngời có nhợc điểm về tinh thần hoặc thể chất
Đối với những vụ án về những tội phạm nói trên, nếu ngời bị hại không yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền không đợc khởi
tố vụ án Trờng hợp ngời bị hại là ngời cha thành niên, ngời có
nh-ợc điểm về thể chất hoặc tinh thần thì ngời đại diện hợp pháp của ngời bị hại có quyền yêu cầu khởi tố vụ án
Trong những trờng hợp vụ án đã đợc khởi tố theo yêu cầu của ngời bị hại, nhng trớc ngày mở phiên toà, ngời bị hại rút yêu cầu thì vụ án phải đợc đình chỉ Trong trờng hợp cần thiết nh ngời bị hại rút yêu cầu là do bị ép buộc, đe doạ, dụ dỗ, lừa phỉnh mà không phải tự họ tự nguyện; ngời bị hại là ngời có
nh-ợc điểm về tinh thần hoặc thể chất, không thể biểu lộ đúng ý chí của mình trong việc rút yêu cầu thì mặc dù ngời bị hại rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án
Trang 7Đối với những vụ án đợc khởi tố theo ngời bị hại yêu cầu
nh-ng có căn cứ đình chỉ điều tra quy định ở khoản 2, Điều 164
và khoản 1, Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Toà án vẫn có quyền quyết định
đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án
III cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự
1 Cơ sở khởi tố vụ án hình sự
Cơ sở khởi tố vụ án hình sự là những nguồn tin mà dựa vào đó cơ quan khởi tố xác định dấu hiệu tội phạm
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể cơ sở khởi tố vụ
án hình sự Đó là: Tố giác của công dân; Tin báo của cơ quan,
tổ chức; Tin báo trên các phơng tiện thông tin đại chúng; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân sân, Quân đội nhân dân đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; ngời phạm tội tự thú (Điều 100, Bộ luật Tố tụng hình sự)
Việc quy định chặt chẽ, cụ thể của Bộ luật Tố tụng hình
sự, cơ sở mà từ đó, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành xem xét, xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không có ý nghĩa rất quan trọng Bởi vì, các quy định này, một mặt tăng cờng trách nhiệm của những cá nhân, cơ quan, tổ chức đa ra thông tin, hạn chế khả năng vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm hoạt động của các cơ quan khởi
tố tập trung đúng hớng; mặt khác, nâng cao trách nhiệm của những cá nhân, cơ quan, tổ chức đó Khi có những thông tin
từ các nguồn nói trên, các cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải xem xét, xác định xem có dấu hiệu của tội phạm hay không? Việc bỏ qua, không xem xét những nguồn tin nói trên bị coi là
vi phạm pháp luật Các cơ quan nhà nớc không có thẩm quyền khởi tố và các tổ chức xã hội, khi nhận đợc thông tin về tội phạm
từ các nguồn nói trên phải tiếp nhận (theo trình tự do pháp luật quy định) và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền
- Tố giác của công dân
Trang 8Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với cơ quan, tổ chức Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản
và có chữ ký của ngời tố giác (đoạn 1, Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự)
Tố giác của công dân là một trong những cơ sở quan trọng
và rộng rãi nhất để phát hiện dấu hiệu của tội phạm Để tạo
điều kiện thuận lợi, phát huy và động viên tinh thần, ý thức
đấu tranh phòng, chống tội phạm của nhân dân, pháp luật không quy định về hình thức tố giác Công dân có thể tố giác bằng đơn, th từ, bằng miệng, trực tiếp hoặc gián tiếp Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, với các cơ quan khác của Nhà nớc hay tổ chức xã hội Các cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội có trách nhiệm tiếp nhận thông tin tố giác của công dân theo thủ tục luật định Các cơ quan nhà nớc không có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự hoặc các tổ chức xã hội, khi nhận đợc tố giác phải thông báo ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản
Trong quá tình tiếp nhận và xem xét các đơn th tố giác của công dân, một vấn đề đặt ra là: có cần xem xét các tố giác nặc danh (th nặc danh, thông tin qua điện thoại) hay không? Đã xảy ra không ít những tin nặc danh không đúng sự thật Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng vì nhiều nguyên nhân khác nhau (ví dụ, sợ bị trả thù, trù dập, sợ mất thời gian khai báo ở các cơ quan nhà nớc, ) nhiều ngời muốn dấu tên khi thông báo
về tội phạm Nếu bỏ qua, không chấp nhận tố giác nặc danh thì chúng ta sẽ còn hạn chế khả năng phát hiện kịp thời tội phạm, không động viên tính tích cực của quần chúng Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở các nớc cho thấy, các cơ quan chức năng không bỏ qua bất kỳ một thông tin nào về tội phạm, ngay cả khi thông tin đó nặc danh, thậm chí có những nớc ban hành văn bản luật quy định rõ: không xem xét các tố giác nặc danh, nhng các Cơ quan điều tra, trong thực tế, vẫn xem xét cả những thông tin nặc danh về tội phạm Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền khởi tố, cần xem xét và có biện pháp xác minh, kiểm tra cả những đơn tố giác nặc danh của công dân
Trang 9- Tin báo của cơ quan, tổ chức
Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận đợc tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản (đoạn 2 Điều 101, Bộ luật Tố tụng hình sự)
Các cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội và các tổ chức khác giữ một vai trò quan trọng trong việc phát hiện kịp thời các hành vi phạm tội Các cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản khi họ phát hiện dấu hiệu của tội phạm hoặc khi nhận
đợc tin tố giác của công dân về tội phạm Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát phải tiếp nhận và áp dụng mọi biện pháp
để kiểm tra, xác minh tin báo đó
- Tin báo trên các phơng tiện thông tin đại chúng
Các tin báo trên các phơng tiện thông tin đại chúng (báo chí, đài phát thanh, truyền hình) là kết quả điều tra của phóng viên hoặc phản ánh th của nhân dân phát hiện tội phạm Những tin báo này có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện tội phạm Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, xác minh các tin báo đó và coi đây là một trong những cơ sở để khởi tố
vụ án hình sự
- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân sân, Quân đội nhân dân đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm.
Các cơ quan nói trên trong trờng hợp phát hiện dấu hiệu của tội phạm có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự nếu thuộc thẩm quyền của mình, hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để khởi tố vụ án đó
- Ngời phạm tội tự thú
Điều 102, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Khi ngời phạm tội đến tự thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và những lời khai của ngời
tự thú Cơ quan, tổ chức tiếp nhận ngời phạm tội tự thú có trách nhiệm báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát
Trang 10Tự thú là việc ngời phạm tội tự mình đến khai báo về hành vi phạm tội của họ trớc cơ quan Công an, Viện kiểm sát, hoặc Toà án Các cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản, ghi rõ cụ thể các thông tin về nguồn tự thú cũng nh hành vi phạm tội và tất cả những tình tiết liên quan đến vụ án Sau đó chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
2 Căn cứ khởi tố vụ án
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn khởi đầu của tố tụng hình sự, nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn này là giải quyết vấn đề: cần thiết phải tiến hành tố tụng hình sự để xác định tội phạm, ngời phạm tội, tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm hay không? Nh vậy, căn cứ để khởi tố vụ án hình sự chỉ
có thể là sự hiện diện dấu hiệu của tội phạm Các dấu hiệu này
có thể cha phản ánh đầy đủ về tội phạm đã xảy ra, nhng là căn
cứ để khẳng định rằng cần phải tiến hành tố tụng để làm rõ
vụ việc Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định: chỉ đợc khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Đó là căn cứ duy nhất để khởi tố vụ án hình sự
Nh vậy, để quyết định khởi tố vụ án hình sự cần xác
định:
- Có sự việc xảy ra;
- Sự việc đó có dấu hiệu tội phạm
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, tuy cha đặt ra yêu cầu cần phải xác định tội danh chính xác và đầy đủ, nhng phải sơ
bộ định tội danh phù hợp với dấu hiệu của tội phạm Nói cách khác là cần chỉ rõ đó là dấu hiệu của tội phạm nào
IV Trình tự khởi tố vụ án hình sự
Khởi tố vụ án hình sự là một quá trình bao gồm nhiều hoạt
động khác nhau Các hoạt động này nhằm mục đích: xác định
có sự việc xảy ra hay không? sự việc đó có dấu hiệu tội phạm hay không? cần thiết phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự? Nhìn chung, có thể chia các hoạt động này thành hai giai đoạn: tiếp nhận tố giác và tin báo về tội phạm; và kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm