1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phu nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội

15 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 356,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DSpace at VNU: Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phu nữ khuyết tật tiếp cận công tác xã hội tài liệu, giáo án, bài giảng ,...

Trang 1

Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phu ̣ nữ khuyết

tâ ̣t tiếp câ ̣n công tác xã hô ̣i

Đỗ Thị Thu Phương

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội: 60 90 01 01

Nghd: PGS.TS Hoàng Bá Thịnh

Năm bảo vệ: 2014

Keywords: Sức khỏe sinh sản; Phụ nữ khuyết tật; Công tác xã hội

Contents:

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề ta ̀i

Theo số liệu năm 2012, NKT chiếm khoảng 10% dân số trên thế giới, tương đương 650 triệu người Điều đáng lưu ý là vấn đề SKSS của bộ phân dân số lớn này chưa được chú ý đúng mức Thêm nữa, khoảng 30% các gia đình có người thân bị khuyết tật, 20% dân số nghèo có khuyết tật sống ở các nước đang phát triển [55] Ở Việt Nam, theo kết quả Tổng Điều tra Dân số

và Nhà ở năm 2009, tỷ lệ NKT ở độ tuổi từ 5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,7 triệu người, trong đó có 3,6 triệu ngườ i là nữ [48, tr12]

Có thế nói rằng, bên cạnh các khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, trí tuệ và các giác quan, những NKT thường bị phân biệt đối xử, kỳ thị, bạo lực và thường sống trong tình cảnh đói nghèo Những NKT, nhất là PNKT cũng có nhu cầu tình dục và CSSKSS, và những nhu cầu chính đáng này của họ cần được đáp ứng Điều này đã được khẳng định trong công ước CEDAW Công ước CEDAW khẳng định quyền bình đẳng của phụ nữ như nam giới trong các lĩnh vực như y tế Cụ thể là phụ nữ được bình đẳng trong việc hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc lựa chọn và quyết định các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; đảm bảo cho phụ nữ thực hiện các dịch vụ thích hợp liên quan đến việc thai nghén, sinh đẻ và thời gian sau sinh đẻ; cung cấp các dịch vụ không phải trả tiền nếu cần thiết, đảm bảo dinh dưỡng thích hợp cho phụ nữ trong thời gian mang thai [17, tr9]

Trên thực tế, NKT là nhóm người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Họ thường đối mặt với nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội , giáo dục, việc làm Theo thống kê của Bộ

Trang 2

Lao động Thương binh và Xã hội đến tháng 5 năm 2009, thành phố Hà Nội có 89.299 NKT (chiếm 1,4% dân số) và có đến 80% NKT sống phụ thuộc vào nguồn trợ cấp từ gia đình hoặc xã hội thông qua Nhà nước hoặc cộng đồng [51] Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương bình và

Xã hội năm 2010, các địa phương đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% NKT thuộc hộ gia đình nghèo, thực hiện chỉnh hình phục hình phục hồi chức năng và cấp dụng cụ chỉnh hình miễn phí cho khoảng 300 ngàn người khuyết tật; cung cấp phương tiện giúp như: xe lăn, xe đẩy, chân tay giả cho trên 100 ngàn người [51]

Có thể nói rằng, NKT đã được nhà nước, cộng đồng và xã hội quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế, nhu cầu tình dục và CSSKSS của NKT nhất là PNKT thường gặp những rào cản Những rào cản đó có thể đến từ nhiều yếu tố khác nhau, chẳng hạn như sự quan tâm của cộng đồng chưa thỏa đáng hay là dịch vụ CSSKSS chưa phù hợp với NKT, nhất là PNKT Vì vậy, liên quan đến vấn đề này, nhiều câu hỏi quan trọng có thể đặt ra, và cần có câu trả lời thỏa đáng từ các công trình nghiên cứu khoa học nghiêm cẩn; chẳng hạn như: Có hay không đời sống tình dục của NKT, nhất là PNKT phần nào bị bị khước từ hay bị hạn chế? Thực trạng CSSKSS cho NKT, nhất là PNKT hiện nay như thế nào? Họ gặp những khó khăn gì trong việc CSSKSS? Việc CSSKSS cho họ đã được quan tâm đúng mức chưa? Dịch vụ CSSKSS cho họ đã phù hợp chưa xét từ góc nhìn công tác xã hội? Dưới góc nhìn của công tác xã hội cần phải có những cải thiện, thay đổi gì đối với hoạt động, dịch vụ hỗ trợ CSSKSS cho NKT, nhất là PNKT để những hoạt động, dịch vụ này mang tính chuyên nghiệp hơn, đáp ứng nhu cầu của họ

Nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên đây, tác giả luận văn lựa chọn đề tài: " Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật - tiếp cận công tác xã hội", làm đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành công tác xã hội Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả giới hạn nghiên cứu này qua việc thu thập thông tin thực tế trên địa bàn 02 huyện (Từ Liêm, Ba Vì) và 4 quận (Thanh Xuân, Long Biên, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng) của thành phố Hà Nội

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản của NKT đã được tiến hành từ lâu rất sớm trên thế giới, đặc biệt ở các quốc gia phát triển Một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự quan tâm nghiên cứu về SKSS là từ Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cai-rô, Ai Cập (Tháng 4/ năm 1994) Sau khi định nghĩa chính thức về sức khỏe sinh sản tại hội nghị này được thông qua và được thống nhất phổ biến đến các quốc gia trên thế giới thì mối quan tâm của các nhà quản lý xã hội, các nhà khoa học, các nhà giáo dục và toàn xã hội đối với vấn đề SKSS cũng được nâng lên Trong

Trang 3

nhiều nghiên cứu về SKSS trên thế giới, chúng ta có thể điểm qua một vài công trình đáng lưu ý sau đây

Thứ nhất là bài tham luâ ̣n "Vai trò của phụ nữ nông thôn Pakistan với tư cách là nhân tố

làm thay đổi các quyền và sức khỏe sinh sản và tình dục của phụ nữ thông qua việc thành lập các ban vì sức khỏe của phụ nữ" của tác giả Farhat Sabir được trình bày tại Hội nghị Quốc tế :

Nhận thức việc đảm bảo Quyền về Sức khỏe và Phát triển cho mọi người được tổ chức vào tháng

10 năm 2009 Bài viết này đã trình bày những kết quả mà "Dự án sức khỏe phụ nữ" đạt được tại đất nước Pakistan thông qua việc đánh giá và đo lường tình trạng quyền về giới tính và sức khỏe sinh sản của phụ nữ nông thôn Nghiên cứu này cũng đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện các Quyền về sức khỏe sinh sản cho phụ nữ [54]

Thứ hai là bài tham luận "Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của người khuyết tật" của

tác giả Thoraya A Obaid, Giám đốc điều hành Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc Công trình nghiên cứu này được trình bày tại Hội nghị Quốc gia về tình dục và sức khỏe, tổ chức vào tháng 11 năm

2012 Qua nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra nhận định rằng những NKT có nguy cơ cao gấp 3 lần so với những người khác về nguy cơ bị bạo lực và bị cưỡng bức tình dục Thêm nữa, NKT ít

có điều kiện tiếp cận với các can thiệp y tế Họ cũng phải đối mặt với các nguy cơ cao trong việc

bị ép buộc triệt sản, ép buộc nạo thai, hôn nhân cưỡng bức PNKT không những không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản mà còn bị hạn chế các nhu cầu của mình c hỉ vì sự kỳ thị và phân biệt đối xử của những người xung quanh [55]

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có khá nhiều công trình, bài viết về NKT, về sức khỏe sinh sản được công bố Vấn đề về NKT và SKSS của ho ̣ được đề cập khá sâu sắc với nhiều góc độ, cấp độ khác nhau Sau đây chúng ta sẽ bàn đến cụ thể hơn các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến NKT, SKSS, và NKT với SKSS

Trước hết, liên quan đến các nghiên cứu về NKT, chúng ta cần đề cập đến một loạt các công trình

nghiên cứu đáng chú ý như sau:

Công trình “Tổng quan về người tàn tật ở Viê ̣t Nam và hỗ trợ của Nhà nước” là một trong

những nghiên cứu quan trọng của tác giả Ôn Tuấn Bảo (2001) Với công trình này, Ôn Tuấn Bảo

đã trình bày khái quát về người khuyết tâ ̣t ở Viê ̣t Nam Đồng thời, tác giả cũng phân tích các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với NKT và việc thực thi những chính sách này trong thực tế cuô ̣c sống [2, tr47]

Bài viết "Vấn đề giới và người khuyết tật Việt Nam " của Lê Thi ̣ Quý (2007) đã chỉ ra những

Trang 4

nguyên nhân mà vấn đề giới và NKT ít khi được nhắc đến trong các nghiên cứu Trong các nguyên nhân đó, hai nguyên nhân đáng lưu ý là nguyên nhân nhận thức và nguyên nhân kinh tế Bài viết này còn mở rộng thêm sự hiểu biết về đời sống của NKT; vấn đề giới và chính sách đối với NKT hiện nay [27, tr20]

Công trình nghiên cứu“Báo cáo khảo sát về đào tạo Nghề và Việc làm cho người khuyết tật

tại Việt Nam” do Tổ chức Lao động quốc tế (2010) chỉ ra rằng: Thái độ đối với người khuyết tật,

đặc biệt là thái độ xem nhẹ khả năng của người khuyết tật, là một trong những rào cản lớn nhất

để người khuyết tật hòa nhập cuộc sống Nghiên cứu này cũng cho biết phần lớn thái độ của mọi người đối với người khuyết tật tại Việt Nam là “chăm sóc và bảo vệ ” Điều này làm cho những NKT có khuynh hướng nhận sự chăm sóc, hỗ trợ và nơi nương tựa mà ít tham gia vào các hoạt động xã hội khác Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng: Nhiều trường hợp NKT bị hạn chế các khả năng và cơ hội học tập, kết hôn và tìm kiếm việc làm của mình chỉ vì những quan điểm sai lầm

từ xã hội Đặc biệt là có sự khác biệt giữa những NKT là nam giới và nữ giới về những cơ hội nói trên [36, tr6]

Công trình nghiên cứu “Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thi ̣ ở Viê ̣t Nam” của Viện

Nghiên cứu và Phát triển xã hô ̣i và Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội được công bố năm 2013 đã chỉ rõ những kỳ thi ̣ mà người khuyết tâ ̣t đã và đang gă ̣p phải Nghiên cứ u này cũng phân tích những nguyên nhân và hâ ̣u quả của sự kỳ thị đối với người khuyết tật, trong đó nhấn ma ̣nh đến hâ ̣u quả về kinh tế và hậu quả đối với sự phát triển xã hô ̣i Nghiên cứu này cũng cho rằng nhều ngườ i khuyết tâ ̣t đang bi ̣ mất đi những cơ hô ̣i làm viê ̣c và cống hiến chỉ vì sự kỳ thi ̣ mà ho ̣ gă ̣p phải [48, tr 12 – tr15]

Bên cạnh các công trình nghiên được xuất bản đã điểm qua ở trên, nhiều công trình nghiên

cứu đáng lưu ý được trình bày tại các hội thảo khoa học Đơn cử như Hội thảo “Tình yêu – Hôn

nhân – Gia đình với người khuyết tật” do Chương trình Khuyết tật và Phát triển (DRD) tổ chức

Những bài viết tham gia hội thảo này hướng tới mục tiêu chia sẻ kinh nghiệm nhằm vượt qua những rào cản, khó khăn trong việc tiến đến hôn nhân của người khuyết tật Đồng thời, các bài viết trong khuôn khổ hội thảo cũng xác định những rào cản trong hôn nhân để tìm giải pháp khắc phục và giúp NKT tự tin xây dựng gia đình [57]

Một hội thảo khác cũng đáng lưu ý là hô ̣i thảo “ Sống với khuyết tật và cái giá của sự kỳ

thị”, được Viê ̣n Nghiên cứu và Phát triển xã hô ̣i và Viê ̣n Nghiên cứu Dư luâ ̣n xã hô ̣i tổ chức năm

2013 Các báo cáo tham gia hội thảo này đã bàn về vấn đề kỳ thi ̣ với người khuyết tâ ̣t và những

Trang 5

cái giá của sự kỳ thị đó Nhiều bài viết chỉ ra rằng sự kỳ thi ̣, phân biê ̣t với người khuyết tâ ̣t đang diễn ra hàng ngày và trên mo ̣i khía ca ̣nh như hôn nhân , gia đình, viê ̣c làm, y tế Điều này đang làm mất đi những cơ hô ̣i phát triển của người khuyết tâ ̣t Những giải pháp mà các tác giả của các bài viết tham gia hội thảo đề xuất là cần có một hệ thống các biện pháp từ vĩ mô đến vi mô để giảm thiểu những khó khăn cho NKT, trong đó đáng lưu ý là hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến NKT cần có những thay đổi theo hướng sát với nhu cầu của NKT hơn Nhiều tác giả cũng quan tâm đến vai trò của truyền thông trong việc thay đổi tư duy, nhận thức và hành vi của mọi người trong xã hội đối với người khuyết tật [58]

Thứ hai, liên quan đến các nghiên cứu về CSSKSS, chúng ta cần đề cập đến những nghiên cứu

tiêu biểu sau đây

Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, (2000) với tên gọi “ Phụ nữ, giới và

phát triển” cho rằng phụ nữ là người chịu thiệt thòi nhất trên mọi lĩnh vực ngay cả việc

CSSKSS Phụ nữ hiếm khi trao đổi với chồng về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, kể cả khi họ cảm thấy chồng có thể gặp nguy cơ khi đi làm xa Trên thực tế họ dành sự chăm sóc cho chồng và cho con, còn bản thân họ thì ít nhận được sự chăm sóc của người khác, trừ thời gian sau sinh Kết quả nghiên cứu đã đưa ra nhâ ̣n đi ̣nh mức độ bình đẳng giới trong kinh tế , xã hội không tỷ lệ thuận với mức độ bình đẳng trong CSSKSS [1]

Cuộc Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY 1) năm 2003 do Bộ

Y tế và Tổng cục Thống kê thực hiện là một trong những công trình nghiên cứu đáng lưu ý liên quan đến CSSKSS Cuộc khảo sát này đã thu thập thông tin từ vị thành niên và thanh niên từ 14 – 25 tuổi sống trong hộ gia đình, trên cả 8 vùng lãnh thổ, khu vực thành thị/nông thôn Kết quả của cuộc khảo sát đã chỉ ra rằng: Hiểu biết của thanh niên về SKSS còn thấp vì vậy mà hành vi CSSKSS chưa được quan tâm đúng mức [7, tr37]

"Báo cáo đánh giá thực hiện chiến lược CSSKSS Việt Nam" do Đại ho ̣c Y tế Công cô ̣ng (2009) thực hiện là một nghiên cứu bàn về CSSKSS của thanh thiếu niên, người cao tuổi Việt Nam Nghiên cứu này cho rằng đã có những sự chuyển biến sâu sắc liên quan đến CSSKSS của thanh thiếu niên Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chưa đề cập về vấn đề CSSKSS cho người khuyết tật [10]

Một nghiên cứu đáng lưu ý khác thuộc về chủ đề SKSS là “Điều tra cuối kỳ (năm 2006)

chương trình sáng kiến sức khỏe sinh sản cho thanh niên Châu Á (RHIYA) về kiến thức, thái độ

và hành vi SKSS của thanh thiếu niên” đươ ̣c thực hiện bởi Viện Dân số và các vấn đề xã hội

Trang 6

(IPSS) – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2006) Nghiên cứu này nhận được sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) Đối tượng điều tra trong nghiên cứu này là nam, nữ vị thanh niên và thanh niên từ 15 - 24 tuổi ở 7 tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa và TP Hồ Chí Minh) Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức, thái độ và hành vi của vi ̣ thành niên với vấn đề SKSS còn chưa cao Ngoài ra, kết quả điều tra cũng cho thấy nhâ ̣n thức về tầm quan tro ̣ng của SKSS và thực hiê ̣n các hành vi CSSKSS

ở lứa tuổi vi ̣ thành niên còn ha ̣n chế [34]

Cuối cùng, liên quan đến chủ đề CSSKSS, một ấn phẩm cần được nhắc tới là công trình

“Tổng quan các nội dung nghiên cứu về sức khỏe , sức khỏe sinh sản vi ̣ thành niên ở Viê ̣t Nam từ

năm 1995 đến năm 2003” do Đỗ Ngo ̣c Tấn và Nguyễn Văn Thắng (2004) thực hiện Bằng việc

tổng quan lại các nô ̣i dung nghiên cứu về sức khỏe , sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Việt Nam , các tác giả chỉ ra rằng vấn đề CSSKSS chưa được quan tâm một cách đúng mức , và chưa tương đồng với các mối quan tâm khác của vi ̣ thành niên hiê ̣n nay [30]

Thứ ba, đối với chủ đề nghiên cứu về phụ nữ và SKSS của PNKT, những nghiên cứu sau đây

là những nghiên cứu đáng chú ý:

Bài viết "Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ tàn tật một vấn đề bỏ ngỏ " của Lê Khánh

Chi (2003) bàn về bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ CSSKSS Qua nghiên cứu của mình, tác giả cho biết phụ nữ tàn tật khó tiếp cận các thông tin, dịch vụ chăm sóc; phụ nữ cũng thường tránh né các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của bản thân Tác giả cũng chỉ ra rằng các cơ sở y tế thường bỏ qua các đối tượng là NKT khi tiến hành công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Ngoài ra, cơ sở vâ ̣t chất , trang thiết bi ̣ chăm sóc sức khỏe không đáp ứng nhu cầu của người khuyết tâ ̣t [8, tr40 - tr42]

Công trình nghiên cứu “Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương thức làm

chương trình dựa trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam” của Christian

Salazar Volkmann (2004) đề cập đến vấn đề quyền của phụ nữ Qua nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ những cơ hội và thách thức cơ bản liên quan đến chương trình đảm bảo quyền và sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trên cơ sở tiếp cận từ quyền con người Tác giả công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng thực hiện đầy đủ quyền đối với phụ nữ mang lại động lực cần thiết để họ tham gia có hiệu quả vào các hoạt động xã hội [56]

Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu về NKT, CSSKSS, PNKT với CSSKSS, chúng

ta có thể đưa ra một số nhận xét sau đây Thứ nhất, cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về

Trang 7

các chủ đề này đã được công bố ở trong nước và trên thế giới Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về SKSS/CSSKSS của PNKT vẫn còn khá hạn chế về số lượng Thêm nữa, các công trình nghiên cứu về SKSS/CSSKSS của PNKT ít dựa trên các điều tra, khảo sát thực tế một cách

có hệ thống Thứ hai, nghiên cứu vấn đề SKSS/CSSKSS của PNKT từ góc nhìn của công tác xã

hội hầu như còn vắng bóng.Trong khi đó, nghiên cứu SKSS/CSSKSS của PNKT từ góc nhìn công tác xã hội không chỉ mở rộng thêm sự hiểu biết mà còn góp phần đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện hoạt động, dịch vụ CSSKSS cho NPKT Vì những lý do này, việc triển khai đề tài

“Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết - tật tiếp cận công tác xã hội” là thực sự cần

thiết nhằm bổ sung những khoảng trống mà các nghiên cứu đi trước còn để lại

3 Ý nghĩa cu ̉ a nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài

Đề tài “Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết - tật tiếp cận công tác xã hội”

góp phần cung cấp thêm một góc nhìn mới về CSSKSS cho một nhóm xã hội đặc thù Bằng việc phân tích vấn đề nghiên cứu từ góc nhìn công tác xã hội trên cơ sở một số lý thuyết được vận dụng như Lý thuyết về giới, Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền con người, Lý thuyết tiếp cận dựa trên nhu cầu con người, nghiên cứu này sẽ đưa ra một số kết luận khái quát về CSSKSS cho

PNKT Những kết luận khái quát này góp phần mở rộng sự hiểu biết mang tính lý luận về một

lĩnh vực cụ thể của đời sống PNKT - cho đến nay lĩnh vực này chưa được nghiên cứu thỏa đáng

ở Việt Nam dưới góc nhìn Công tác xã hội

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu đề tài Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết - tật tiếp cận công tác

xã hội” là việc làm thực sự có ý nghĩa thực tiễn trên các bình diện cụ thể sau đây Thứ nhất, bằng

việc chỉ ra thực trạng CSSKSS cho PNKT, những khó khăn mà PNKT gặp phải trong CSSKSS, nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc hình thành thái độ đúng đắn hơn của cộng đồng xã hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan đối với một trong những nhu cầu quan trọng của một nhóm xã hội

đặc thù – nhóm PNKT Thứ hai, qua việc đánh giá được mức độ chuyên nghiệp trong các hoạt

động, dịch vụ liên quan đến CSSKSS cho PNKT từ góc nhìn Công tác xã hội, nghiên cứu này sẽ

đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của các hoạt động, dịch vụ

này nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu CSSKSS của PNKT Thứ ba, kết quả nghiên cứu của đề tài

còn góp phần làm cơ sở trong việc xây dựng và triển khai các chính sách, chương trình trợ giúp NKT của cộng đồng nói chung, và của các nhà quản lý, các nhân viên công tác xã hội nói riêng

Trang 8

trong việc hỗ trợ PNKT tiếp cận các dịch vụ CSSKSS Cuối cùng, cần phải nói thêm rằng kết

quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo, tài liệu học tập phục vụ đào tạo, tập huấn trong các chương trình đào tạo, tập huấn Công tác xã hội

4 Đối tượng va ̀ khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t

4.2 Khách thể nghiên cứu

Phụ nữ khuyết tật từ 15 đến 49 tuổi, gia đình họ, cán bộ y tế

5 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn vấn đề nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung tìm hiểu vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh

sản cho phụ nữ khuyết tật dưới góc nhìn Công tác xã hội

Phạm vi thu thập thông tin: Đề tài thu thập thông tin tại 2 huyện (Từ Liêm, Ba Vì) và 4 quận

(Thanh Xuân, Long Biên, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng) của thành phố Hà Nội, từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011

6 Mục đi ́ch và nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu thực trạng CSSKSS cho PNKT, những khó khăn trong việc chăm sóc SKSS cho PNKT và mức độ chuyên nghiệp của hoạt động hỗ trợ CSSKSS cho PNKT từ góc nhìn công tác xã hội Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CSSKSS cho PNKT

6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Chỉ ra thực trạng CSSKSS cho phụ nữ khuyết tật

- Phân tích những khó khăn trong việc CSSKSS cho phụ nữ khuyết tật

- Đánh giá mức độ chuyên nghiệp của các hoạt động hỗ trợ PNKT trong CSSKSS

- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng CSSKSS cho PNKT

7 Câu ho ̉i nghiên cứu

- Thực trạng của việc CSSKSS cho phụ nữ khuyết tật hiện nay như thế nào?

- Những khó khăn trong việc CSSKSS cho PNKT biểu hiện cụ thể như thế nào?

- Dưới góc nhìn của công tác xã hội , các hoạt động hỗ trợ PNKT trong CSSKSS đã mang tính chuyên nghiệp chưa?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Trang 9

- Phần lớ n PNKT nhâ ̣n thức chưa quan tâm đúng mức đến CSSKSS , chưa có kiến thức tốt

về CSSKSS, và chưa tiếp câ ̣n di ̣ch vu ̣ CSSKSS một cách hiệu quả

- Những PNKT có học vấn thấp, lớn tuổi thường gặp nhiều khó khăn trong việc CSSKSS cho bản thân, trong việc tiếp cận thông tin và dịch vụ về SCSKSS

- Dưới góc nhìn công tác xã hội , những hoa ̣t đô ̣ng hỗ trơ ̣ PNKT trong viê ̣c CSSKSS chưa mang tính chuyên nghiê ̣p cao

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phân tích tài liệu

Các nguồn tư liệu chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:

- Các báo cáo: Báo cáo tóm tắt về vấn đề sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của người khuyết tâ ̣t ta ̣i Hội nghị quốc gia về tình dục và sức khỏe ; Báo cáo của HESVIC Báo cáo nghiên

cứu thực tra ̣ng quản lý di ̣ch vu ̣ ch ăm sóc sức khỏe bà me ̣ ta ̣i Viê ̣t Nam ; Báo cáo về hoạt động

chăm sóc sức khỏe và các hoa ̣t đô ̣ng khác của Hô ̣i người khuyết tâ ̣t…

- Văn bản pháp lý : Pháp lệnh về Người tàn tật , Hiến pháp 1992, Pháp lệnh dân số 2003, Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tâ ̣t 2006, Luâ ̣t Người khuyết tâ ̣t Viê ̣t Nam 2010

- Chương trình: Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010 và 2011 – 2020

- Các công trình nghiên cứu , sách, báo, đánh giá , bài viết về ngườ i khuyết t ật, sức khỏe sinh sản của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả trong cả nước

9.2 Phỏng vấn sâu

Trong khuôn khổ của đề tài, 17 phỏng vấn sâu đã được thực hiện nhằm thu thập thông tin định tính phục vụ mục đích nghiên cứu Trong số 17 phỏng vấn sâu, có 10 phỏng vấn sâu đối với PNKT thuộc các dạng tật khác nhau Trong quá trình phỏng vấn, những phụ nữ khuyết tật ở dạng nghe, nói, nhìn, khuyết tật thần kinh, tâm thần, khuyết tật trí tuệ luôn có người thân của họ hỗ trợ trả lời Ngoài 10 phỏng vấn sâu đối với PNKT, 02 cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực CSSKSS tại Bệnh viện thành phố và Trạm y tế xã; 05 người thân của PNKT, là những người trực tiếp chăm sóc, người đỡ đầu hoặc sống cùng với PNKT cũng đã được phỏng vấn

Nội dung của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung thu nhận những thông tin định tính về thực trạng CSSKSS của PNKT, chất lượng dịch vụ CSSKSS tại các cơ sở, những thuận lợi, khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ CSSKSS của bản thân PNKT và người chăm sóc

9.3 Thảo luận nhóm

Trong khuôn khổ đề tài , tác giả thực hiện 02 thảo luận nhóm , mỗi nhóm 6 PNKT sống trên đi ̣a bàn Hà Nô ̣i , cụ thể như sau:

Trang 10

Thảo luận nhóm thứ nhất: Đối tượng là những PNKT có thể tự chăm sóc bản thân , có khả năng lao động tạo thu nhập và có khả năng s ống độc lập Mục đích của cuộc thảo luận nhóm này là nhằm tìm hiểu nhâ ̣n thức của nhóm PNKT về vấn đề CSSKSS và những khó

khăn của nhóm PNKT có khả năng tự chăm sóc bản thân Bên cạnh đó cuộc thảo luận nhóm này còn cung cấp thông tin về điều kiê ̣n cơ sở vâ ̣t chất của các cơ sở khám chữa bê ̣nh , thái độ của cán bộ y tế và nhu cầu của nhóm PNKT có khả năng tự chăm sóc bản thân về vấn đề

chăm sóc sức khỏe sinh sản

Thảo luận nhóm thứ hai: Đối tượng là PNK T không có khả năng lao đô ̣ng ta ̣o thu nhâ ̣p ,

phải có người hỗ trợ trong việc chăm sóc bản thân , không thể sống độc lâ ̣p Mục đích của cuộc thảo luận nhóm này là nhằm thu thâ ̣p thông tin về sự hiểu biết , đánh giá tầm quan tro ̣ng

và nhu cầu của nhóm PNKT không có khả năng tự chăm sóc bản thân về CSSKSS ; đánh giá thái độ của người hỗ trợ và chất lượng các dịch vụ CSSKSS Thành phần tham gia thảo luận nhóm ngoài PNKT còn có thêm những người chăm sóc hoặc người hỗ trợ để giúp PNKT nhằm hỗ trợ PNKT trong quá trình thảo luận

9.4 Khảo sát xã hội học

Khảo sát xã hội học được tiến hành đối với 50 PNKT độ tuổi từ 15 đến 49 sống trên địa bàn 2 huyện (Từ Liêm, Ba Vì) và 4 quận (Thanh Xuân, Long Biên, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng) của thành phố Hà Nội, từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011

Một số đặc điểm cơ bản của mẫu khảo sát cụ thể như sau: Về độ tuổi, PNKT ở đô ̣ tuổi 15 - 18

tuổi chiếm 8%, PNKT ở đô ̣ tuổi 19 - 35 chiếm 58% và còn lại 34% là PNKT ở độ tuổi 36 - 39 tuổi Độ tuổi trung bình của PNKT trong mẫu khảo sát là 30, thấp nhất là 15 tuổi, cao nhất là 45 tuổi Số PNKT trong nhóm nghiên cứu tâ ̣p trung nhiều ở nhóm tuổi từ 19 - 35 tuổi (58 %) Về hôn nhân, 54% PNKT chưa kết hôn, 34% PNKT đã kết hôn, 4% PNKT đã ly hôn/ ly thân và 8% PNKT góa chồng Về học

vấn, 18% PNKT có trình đô ̣ đa ̣i ho ̣c; 12% PNKT có trình đô ̣ cao đẳng; tỷ lệ PNKT không biết chữ và

có trình độ trên đại học đều là 10%; trình độ trung học phổ thông, trung ho ̣c cơ sở và tiểu ho ̣c đều là 12%; trung cấp có 14% PNKT Về các dạng khuyết tật, 30% PNKT ở dạng khuyết tật vận động; 17%

là khuyết tật nghe, nói; 20% khuyết tật nhìn; 15% khuyết tật thần kinh, tâm thần và 18% khuyết tật trí

tuệ Về nghề nghiê ̣p, 54% PNKT là nhân viên văn phòng, số PNKT là giáo viên và ở nhà nô ̣i trợ đều là

14%, 12% PNKT kinh doanh, 4% PNKT là công nhân và 2% là nông dân Về quan hệ của PNKT với

những người sống cùng nhà, chủ yếu PNKT sống cùng với bố me ̣ (38%), sau đó là sống cùng chồng

(32%), và sống cùng với bạn bè là 26%, sống cù ng con cái là 20%, sống cùng anh chi ̣ em ruô ̣t là 16%, 2% PNKT đang sống một mình Như vâ ̣y, trong số PNKT được hỏi thì hầu hết là sống cùng với những

Ngày đăng: 16/12/2017, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w