Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc Sơn và Tường Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An” nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THANH HÒA
TRUYỀN THÔNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO
PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc Sơn và xã Tường Sơn,
huyện Anh Sơn, Nghệ An)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội-2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THANH HÒA
TRUYỀN THÔNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO
PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc Sơn và xã Tường Sơn,
huyện Anh Sơn, Nghệ An)
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học : TS Hoàng Thu Hương
Hà Nội-2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài 8
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 10
3 Câu hỏi nghiên cứu 16
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 16
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 16
6 Giả thuyết nghiên cứu 17
7 Phương pháp nghiên cứu 18
8 Khung lý thuyết 22
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 23
1.1 Khái niệm công cụ 23
1.1.1 Truyền thông 23
1.1.2 Truyền thông dân số 23
1.1.3 Sức khỏe sinh sản 23
1.1.4 Chăm sóc sức khỏe sinh sản 24
1.2 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài nghiên cứu 25
1.2.1 Lý thuyết về hành động xã hội 25
1.2.2 Lý thuyết về truyền thông 27
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11
1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 30
Chương 2 THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG CHĂM SÓC SKSS CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ PHÚC SƠN VÀ XÃ TƯỜNG SƠN, HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY 33
2.1 Mức độ truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản 34
Trang 42.2 Nội dung truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại huyện Anh
Sơn, tỉnh Nghệ An 37
2.3 Hình thức truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản 45
2.4 Phương pháp truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản 48
2.5 Một số yếu tố tác động tới hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Phúc sơn và xã Tường Sơn hiện nay 50
2.5.1 Đặc trưng nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số 50
2.5.2 Đặc điểm đội ngũ cán bộ DS/KHHGĐ 56
2.5.3 Phong tục tập quán 61
Chương 3 NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ TƯỜNG SƠN, XÃ PHÚC SƠN HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN 65
3.1 Nhận thức của phụ nữ dân tộc thiểu số về chăm sóc sức khỏe sinh sản 65
3.1.1 Nhận thức về các biện pháp tránh thai 65
3.1.2 Nhận thức về hệ quả nạo phá thai 67
3.2 Hành vi chăm sóc SKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số 71
3.2.1 Hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản trong thời gian mang thai 71
3.2.2 Hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản khi sinh con 78
3.2.3 Hành vi chăm sóc s ức khỏe sinh sản sau sinh của phụ nữ dân tộc thiể u số 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 6Bảng 2.4:Nhận thức về các hình thức truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh
sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số qua đánh giá của người trả lời 46 Bảng 2.5 Cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ dân tộc thiểu số tại hai xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn 53 Bảng 2.6: Tự đánh giá về mức sống của gia đình phụ nữ dân tộc thiểu số hai
xã Tườ ng Sơ n, Phúc Sơ n huyệ n Anh sơn 54 Bảng 2.7 Trình độ học vấn của cán bộ làm công tác DS/KHHGĐ tại hai xã Phúc Sơn và xã Tường Sơn 59 Bảng 3.0: Tỷ lệ biết về các biện pháp tránh thai của phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn 66 Bảng 3.1: Thống kê số liệu các ca nạo, hút thai giai đoạn 2008 -2010 69 Bảng 3.2: Nhận thức của phụ nữ dân tộc thiểu số về hệ quả nào hút thai tại hai
xã Phúc Sơn và xã Tường Sơn 70 Bảng 3.3: Tình hình khám thai trước khi sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số năm 2011 72
Trang 7Bảng 3.4: Tỷ lệ khám thai trong thời gian mang thai của phụ nữ dân tộc thiểu
số xă Phúc Sơn và xã Tường Sơn 73 Bảng 3.5: Tỷ lệ khám thai lần sinh đầu tiên và gần nhất của phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Phúc Sơn và xã Tường Sơn 75 Bảng 3.6: Tình hình tiêm vacxin của phụ nữ dân tộc thiểu số huyện Anh Sơn năm 2012 76 Bảng 3.7: Tỷ lệ hiểu biết về chế độ dinh dưỡng phụ nữ khi mang thai của phụ
nữ dân tộc thiểu số huyện Anh Sơn 77 Bảng 3.8: Nơi sinh con phụ nữ dân tộc thiểu số tại hai xã Phúc sơn, xã
Tường Sơn 78 Bảng 3.9: Đánh gia tình hình kiêng kỹ trong quan hệ tình dục sau khi sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số tại hai xã Phúc Sơn, Tường Sơn 81 Bảng 4.0: Chế độ nghỉ ngơi sau khi sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số tại hai xã Phúc Sơn và xã Tường Sơn 82 Bảng 4.1: Hiệu biết nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tiên của phụ nữ dân tộc thiểu số tại hai xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn 83
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài
Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước Bên cạnh những tiềm lực kinh tế yếu tố con người giữ vai trò quan trọng Nó quyết định con đường đi lên của mỗi quốc gia Quốc gia nào muốn phát triển kinh tế xã hội thì nội dung cốt lõi chính là phát triển nhân tố con người về mọi mặt Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của quá trình phát triển Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ)
Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế nghèo lạc hậu lại đông dân cư nhất thế giới và khu vực Trong công cuộc đổi mới toàn diện về mọi mặt nước ta đã và đang từng bước đổi mới và phát triển kinh tế chính trị nhưng với sự bùng nổ dân số là 2,0 % như hiện nay thì chỉ trong vòng 30 năm sau dân số nước ta lại tăng gấp đôi
Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước ta đã đặt vấn đề dân số lên hàng đầu và coi đó nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Với mục tiêu hàng đầu là giảm sinh, chương trình dân số nước ta chưa chú ý thích đáng đến vấn đề chăm sóc SKSS, chưa có điều kiện gắn kết các yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Để khắc phục hạn chế đó và đáp ứng yêu cầu qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần quan tâm đến vấn đề chăm sóc SKSS và truyền thông thay đổi hành vi chăm sóc SKSS để tạo ra một lực lượng khỏe mạnh về thể chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng và nhà nước
có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống, sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số bởi vì trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
Trang 9nhập quốc tế chăm sóc sức khỏe nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho đồng bào dân tộc thiểu số là sự đầu tư mang lại nguồn lợi lớn cho việc phát triển nguồn nhân lực cho nước ta Hơn nữa chăm sóc SKSS là một trong những mục tiêu và nội dung quan trọng của công tác dân số Đối với chiến lược Dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc SKSS là một bộ phận tối quan trọng Nó có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bại của chiến lược quốc gia này Tuy nhiên mỗi vùng, mỗi dân tộc khác nhau, chính vì vậy kết quả thực hiện chăm sóc SKSS cũng khác nhau
Ở miền núi do điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều khó khăn như giao thông đi lại khó khăn, các dịch vụ sức khỏe và thuốc men, trang thiết bị y tế còn thiếu, trình độ dân trí thấp (đặc biệt là phụ nữ) đã hạn chế cơ hội chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em Đặc biệt, là vấn đề chăm sóc SKSS đối với phụ nữ thiểu số, thực trạng mức sinh cao và phong tục tập quán lạc hậu là một trong nguyên nhân gây nên tình trạng tử vong ở sản phụ và trẻ sơ sinh hoặc ảnh hưởng sức khỏe cho họ sau này Bên cạnh đó, hệ thống chăm sóc y tế và dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai còn hạn chế so với tình hình chung
cả nước Mục tiêu chăm sóc SKSS phụ nữ dân tộc thiểu số là vấn đề giải quyết lâu dài
Truyền thông chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số đã được chú trọng song bên cạnh một số thành tựu đạt được vẫn còn một số khó khăn, huyện Anh Sơn, Nghệ An là một ví dụ, ở Anh Sơn hiện nay có mức sinh còn cao, trường hợp tảo hôn, nạo phá thai chui không an toàn còn xảy ra, tỷ lệ áp dụng BPTT kém hiểu quả vẫn còn cao, chăm sóc sức khỏe sinh trước sinh và sau sinh còn nhiều hạn chế
Do đó, nghiên cứu truyền thông chăm sóc SKSS và tác động của nó đến nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS đến nhóm đối tượng là phụ nữ dân tộc
Trang 10thiểu số là hết sức cần thiết để điều chỉnh kế hoạch, nội dung truyền thông có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dân số trong giai đoạn hiện nay
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS và các yếu tố tác động hoạt động truyền thông, đồng thời tìm hiểu nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS dân tộc thiểu số hiện nay, nhằm đề xuất một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả truyền thông CSSKSS cho phụ nữ dân tộc
thiểu số Vì vậy, mà tôi lựa chọn đề tài: "Truyền thông chăm sóc sức khỏe
sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc sơn và Tường sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An)”
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu xã hội học về “Truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc Sơn và Tường Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An)” nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản, đồng thời đánh giá mức độ nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay Qua đó làm sáng tỏ hơn cho một số lý thuyết xã hội học như lý thuyết hành động xã hội của Max Weber Đồng thời từ nghiên cứu này sẽ có một số đóng góp những tri thức, kinh nghiệm thực tiễn để kiểm nghiệm, minh họa tính tương thích giữa lý thuyết và thực tiễn xã hội, làm sáng tỏ, củng cố và hoàn thiện thêm một số lĩnh vực nghiên cứu xã hội học và truyền thông sức khỏe/ sức khỏe sinh sản
Trang 11sóc SKSS tới nhận thức, hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số, hơn nữa chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng hoạt động truyền thông về chăm sóc SKSS Ý nghĩa thực tiễn của đề tài còn thể hiện ở chỗ sẽ là một sự gởi mở, góp phần tìm ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao công tác truyền thông chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An hiện nay
3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về truyền thông chăm sóc SKSS được tiến hành rất sớm trên thế giới, chủ yếu là ở các quốc gia Mỹ và châu Âu Ở nước ta, do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nên văn hóa phương đông, đặc biệt là Nho giáo cho nên các vấn đề về sinh sản, tình dục ít được đề cập Vì vậy nghiên cứu về sức khỏe sinh sản là lĩnh vực mới được nghiên cứu ở nước ta
Ở trên thế giới vào những năm 1970, chưa có những nghiên cứu cụ thể
về khía cạnh SKSS, mà nghiên cứu tập trung nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hiện về KHHGĐ đó là công trình nghiên cứu của Freedmkhan Cùng thời gian này W.Schramm đã xuất bản cuốn truyện trong KHHGĐ Qua khảo sát trong 11 nước, ông đã tổng kết 3 yếu tố góp phần thành công trong chương trình KHHGĐ Đó là sự sẵn có của các dịch vụ, việc cán bộ dân số đến tận nhà vận động và hoạt động của truyền thông đại chúng
Tìm hiểu ảnh hưởng truyền thông đối với mức sinh Freedmkhan cho rằng do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa và truyền thông đã dẫn đến sự cải thiện đáng kể về sức khỏe, vị trí và vai trò của phụ nữ, tác động hiểu quả đến tỷ suất sinh ở các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay Nguyên nhân giảm sinh là vô cùng phức tạp Song lời giải thích có thể nằm trong tư tưởng mới nảy sinh nhờ hệ thống truyền thông
Trang 12Năm 1992 hai chiến dịch truyền thông quốc gia đã tiến hành đồng thời ở Nigeria nhằm thúc đẩy việc chấp nhận và sử dụng KHHGĐ trong nam giới và phụ nữ nông thôn ở độ tuổi sinh đẻ
Tại hội nghị dân số thề giới Cairo (Ai cập) và hội nghị thế giới lần thứ tư tại Bắc kinh (Trung Quốc) các đại biểu của nhiều quốc gia đã nhất trí cho rằng bình đẳng giới và vấn đề sức khỏe sinh sản phụ nữ có mối liên hệ mất thiết với nhau Đây là vấn đề then chốt đánh giá sự tiến bộ của từng nước đối với vấn đề phụ nữ
Còn ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960 nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của dân số đối với sự phát triển kinh tế xã hội Đảng và nhà nước đã dành sự quan tâm đối với công tác dân số, đặc biệt từ khi có nghị quyết hội nghị lần thứ IV của ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII, trên cơ sở đặt công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình là một phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước Chính vì vậy, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và nâng cao dịch vụ kế hoạch hóa gia đình được chú trọng cả vùng đô thị, nông thôn và các vùng xa, vùng sâu Nhận thức nhân dân được nâng cao, tuy nhiên mục tiêu chỉ dừng giảm tỷ lệ sinh, tăng việc sử dụng biện pháp tránh thai mà chưa chú trọng chất lượng dân số
Nắm bắt tình hình đó mà Đảng và nhà nước đưa ra chiến lược quốc gia
về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010 đã đánh giá tình hình sức khỏe sinh sản, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản đưa ra mục tiêu mới cho vấn đề này
Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản được nhiều ngành, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và coi đó là công việc cần thiết Bởi lẽ sức khỏe nhân dân nói chung và người phụ nữ nói riêng là rất quan trọng nó ảnh hưởng đến mọi yếu
tố kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Phụ nữ có vai trò là tác nhân quan trọng đất nước Chính vì lẽ đó tác giả của cuốn sách "phụ nữ, sức khỏe và môi
Trang 13trường" (trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển)
do nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2001 đã tập trung nghiên cứu vấn đề mối liên quan điều kiện, môi trường làm việc với sức khỏe lao động
nữ, đặc biệt quan tâm sức khỏe sinh sản của lao động nữ, nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi phòng ngừa bảo vệ sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh sản nói riêng của phụ nữ
Một công trình nghiên cứu đáng chú ý là phân tích tình hình phụ nữ và trẻ em của UNICEP đã phản ánh tình hình kinh tế xã hội của nước ta có ảnh hưởng đến hệ thống chăm sóc sức khỏe và tình trạng sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Việt Nam Cùng thời gian này,Viện xã hội học đã tiến hành nghiên cứu: "Hoạt động và ảnh hưởng của các kênh truyền thông dân số-kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) đối với đồng bào dân tộc Mông và Dao sống ở miền núi phía Bắc "Công trình đã khảo sát về đặc điểm kinh tế-xã hội và nhân khẩu của cộng đồng dân tộc Mông và Dao ở hai tỉnh Tuyên Quang và Lào Cai Hoạt động của các kênh truyền thông hiện có
về dân số-kế hoạch hóa gia đình và CSSKSS và mức độ tiếp cận nội dung thông điệp quan các kênh truyền thông của đồng bào dân tộc Mông và Dao Hiểu biết và thực hiện CSSKSS và KHHGĐ của đồng bào dân tộc Mông và Dao
Phạm Tất Dong và Nguyễn Thị Kim Hoa đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá địa phương đến việc tiếp nhận thông tin-giáo dục-truyền thông về SKSS/KHHGĐ của một số nhóm dân tộc ở Tây Nguyên Kết quả cho thấy: số liệu cho thấy khả năng nói và hiểu tiếng Kinh của các nhóm phụ
nữ rất thấp, đặc biệt là nhóm phụ nữ Ba-na (71 phần trăm không biết tiếng Kinh) Hai nhóm dân tộc có vẻ thạo tiếng Kinh hơn cả là nhóm dân tộc Ê-đê
và M'nông Mặc dù các nhóm dân tộc vẫn được coi là theo chế độ mẫu hệ, nam giới vẫn có vai trò chủ gia đình thông qua việc ra các quyết định quan
Trang 14trọng Có sự thay đổi trong phong tục, tập quán, quan niệm của các nhóm dân tộc đối với những vấn đề liên quan đến hôn nhân, gia đình, con cái Mô hình gia đình hạt nhân ngày càng phát triển, rất ít gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà Đa số phụ nữ thiếu các kiến thức cơ bản về chăm sóc khi có thai, trước, trong và sau khi sinh con Phương tiện thông tin đại chúng là nguồn cung cấp thông tin quan trọng trong chương trình TT-GD-
TT Nhóm phụ nữ Êđê có tần suất tiếp xúc với các PTTTĐC nhiều hơn so với các nhóm còn lại (19,0 % đọc báo ít nhất 1 lần, 73,0 % xem tivi ít nhất 1 lần, 51,0 % nghe radio ít nhất 1 lần và 59,0 % nghe loa truyền thanh ít nhất 1 lần trong 1 tháng trước thời điểm nghiên cứu) Các tỷ lệ này ở nhóm phụ nữ M'nông là 3,0%, 23 %, 10,0 % và 6,0 %; ở nhóm Gia-rai là 1,0%, 21,0 %, 2,0
% và 5,0% Phụ nữ các nhóm dân tộc không có điều kiện tiếp cận thường xuyên với các nguồn thông tin và dịch vụ về SKSS/KHHGĐ do cán bộ dân số/y tế cơ sở chưa thường xuyên đến vận động phụ nữ tại nhà, thiếu các PTTTĐC ở cơ sở
Năm 2004, môt công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Nghiên cứu tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng đến nhận thức, thái độ và hành vi về SKSS /KHHGĐ của nhóm dân cư trong độ tuổi sinh đẻ" của trung tâm xã hội học học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã cho thấy rằng người ở đô thị tiếp cận các thông tin về SKSS trên phương tiện truyền đại chúng nhiều hơn nông thôn Các phương tiện truyên thông đại chúng có ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của nhóm dân cư trong đô thị trong
độ tuổi sinh đẻ và các phương tiện truyền thông tác động đến nhận thức, thái
độ và hành vi ở vùng nông thôn mạnh hơn vùng đô thị
Bên cạnh đó còn có luân văn nghiên cứu tìm hiểu thái độ của học sinh THPT ở quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội năm 2008, qua đó bổ sung thêm
về thực trạng nhận thức đối với vấn đề SKSS Kết quả nghiên cứu cho thấy
Trang 15rằng Nhìn chung nhận thức của các em về vấn đề SKSS có sự chuyển biến Về sinh lí, khoảng 50% các em biết về độ tuổi trưởng thành sinh dục Về tránh thai khoảng 85 % các em biết đến một biện pháp tránh thai bất kì Các em mới chỉ xác định được nguy cơ mang thai do quan hệ tình dục không được bảo vệ
và kể tên được các biện pháp tránh thai phổ biến, nhưng không nhận cách sử dụng và nơi cung cấp chúng
Nghiên cứu Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức,thực hành về sức khỏe sinh sản của phụ nữ 15-49 tuổi tại huyện Bạch Thông-tỉnh Bắc Kạn năm 2012, qua tìm hiểu một số yếu tố liên quan về sức khỏe sinh sản của phụ
nữ 15 - 49 tuổi tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, chúng tôi có một số kết quả như sau: Phương tiện thông tin có liên quan chặt chẽ đến tình hình khám thai, hành vi đẻ dày, đẻ nhiều của phụ nữ khu vực nghiên cứu; trình độ học vấn của phụ nữ liên quan đến quá trình nhận thức tác hại của việc sinh con sớm và sinh con thứ 3 trở lên; kinh tế hộ gia đình có liên quan đến tình hình
áp dụng các biện pháp tránh thai của các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và thế giới liên quan vấn đề sức khỏe sinh sản và truyền thông chăm sóc SKSS, đồng thời kết hợp tình hình cụ thể huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An, tôi đã quyết định đề tài nghiên cứu: "Truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại xã Phúc Sơn và Tường Sơn, huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An)" Qua đó nghiên cứu thực trạng truyền thông chăm sóc SKSS và tìm hiểu các yếu tố tác động hoạt động truyền thông, phân tích nhận thức, hành vi chăm sóc SKSS của phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay
và trên cơ sở đó so sánh với công trình nghiên cứu trước đây về vấn đề này
Trang 164 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số như thế nào?
- Phụ nữ dân tộc thiểu số đâ có nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản ra sao?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số?
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài này hướng tới làm sáng tỏ thực trạng hoạt động truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An hiện nay
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu hình thức, nội dung, phương pháp, mức độ truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ
An
- Đánh giá mức độ nhận thức của phụ nữ dân tộc thiểu số về chăm sóc SKSS, đồng thời phân tích hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ dân tộc thiểu số tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
- Phân tích nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
6 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Trang 176.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là những người thực hiện hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số, chương trình truyền thông chăm sóc SKSS dành cho phụ nữ dân tộc thiểu số và phụ nữ dân tộc thiểu số tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Đối tượng khảo sát: Phụ nữ dân tộc thiểu số trong độ tuổi sinh đẻ tại hai
xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
- Cán bộ làm công tác truyền thông dân số tại huyện Anh sơn, tỉnh Nghệ
An
6.3 Phạm vi nghiên cứu
Truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm nhiều nội dung như truyền thông làm về mẹ an toàn, kế hoạch hóa gia đình, nạo hút thai, các bệnh lây qua đường tình dục, giáo dục tình dục, bệnh viên nhiễm đường sinh sản,
vô sinh, sức khỏe vị thanh niên, phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh sản Tuy nhiên trong nghiên cứu này do hạn chế về nguồn lực, thời gian tiến hành nghiên cứu nên đề tài này chỉ tìm hiểu một số nội dung của truyền thông CSSKSS như: truyền thông về làm mẹ an toàn, các biện pháp tránh thai, nạo hút thai
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2013 Giới hạn địa bàn khảo sát là hai xă Phúc Sơn và Tường Sơn thuộc huyện Anh Sơn , Nghệ An
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Hoạt động Truyền thông về chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu
số tại hai xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn được tổ chức thường xuyên với nhiều nội dung khác nhau với các phương pháp, hình thức đa dạng tuy nhiên do trình độ học vấn, điều kiện sống của phụ nữ dân tộc thiểu số còn thấp, cán bộ làm công tác truyền thông còn thiếu tính chuyên nghiệp với còn tồn tại nhiều
Trang 18phong tục lạc hậu là rào cản đối với công tác truyền thông chăm sóc sức khỏe
Trong đề tài nghiên cứu này, khi tìm hiểu về thực trạng truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản chúng ta chúng ta phải đặt trong bối cảnh kinh tế- xã hội nước ta ở thời điểm hiện tại Áp dụng lý luận này vào đề tài nghiên cứu, tác giả muốn tìm hiểu, giải thích sự tác động của truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản tời nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản phụ
nữ dân tộc thiểu số Chủ nghĩa Mac- Lênin cũng chỉ rõ, mọi sự vật hiện tượng đều có tác động qua lại với nhau, chúng luôn biến đổi, vận động theo quy luật
Trang 19nhất định Vận dùng nguyên lí này vào đề tài tác giả muốn tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số, đặc biệt nhân tố vị trí địa lý, đặc điểm cá nhân, chất lượng dịch vụ y tế, tập quán
8.2 Phương pháp thu thập thông tin
8.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Cuộc nghiên cứu được tiến hành chọn mẫu với số lượng là 200 phụ nữ dân tộc thiểu số trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 – 49 tại 4 bản Tiến, bản Gia hóp, bản Ồ Ồ, bản Vều tại hai xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn
Nội dung phiếu trưng cầu ý kiến bao gồm thông tin về nội dung, hình thức, phương pháp, tần suất truyền thông, nhận thức, hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số thông tin cá nhân Số phiếu thu về được xử lí trên phần mềm SPSS 16.0
Cơ cấu mẫu:
Trang 20Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu khảo sát
Đối tượng được phỏng vấn: Phụ nữ dân tộc thiểu số trong độ tuổi sinh đẻ, cán bộ chuyên trách dân số, Cộng tác viên dân số, giám đốc trung tâm dân số
và giám đốc trạm y tế
Trang 21Nội dung phỏng vấn liên quan đến các vấn đề về thực trạng truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản, các tác động hoạt động truyền thông đến nhận thức, hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động truyền thông đó
Số lượng phỏng vấn: 11 phỏng vấn sâu trong đó 8 phụ nữ dân tộc thiểu
số, giám đốc trung tâm DS-KHGĐ, giám đốc trạm y tế
8.2.3 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được áp dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, với phương pháp này tác giả có thể nắm bắt được một số thông tin sơ bộ tại địa bàn nghiên cứu
Thông qua quá trình tri giác trực tiếp để thu thập thông tin cần thiết liên quan đến đề tài, những hành động, biểu hiện bên ngoài của phụ nữ dân tộc thiểu số, những biểu hiện trong động cơ, thái độ, hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản phụ nữ dân tộc thiểu số
8.2.4 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng nhằm bổ sung thông tin đề tài luận văn Đề tài sử dụng những tài liệu, sách báo, công trình nghiên cứu có nội dung liên quan tới đề tài nghiên cứu để có thể đưa ra những so sánh giữa những kết quả nghiên cứu đã có và kết quả nghiên cứu của luận văn
Trang 229 Khung lý thuyết
NỘI DUNG CHÍNH
Bối cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội
Hoạt động truyền thông
Hành vi chăm sóc SKSS
Trang 23Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Truyền thông
Truyền thông là một quá trình giao tiếp trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, cộng đồng và
xã hội [4]
1.1.2 Truyền thông dân số
Các tổ chức truyền thông quốc tế thống nhất sử dụng định nghĩa dưới đây như định nghĩa về TTDS: "Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi
và chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng nhăm tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận để dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức và hành vi".[20,tr 1]
1.1.3 Sức khỏe sinh sản
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai cập) năm
1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau:
“Sức khoẻ sinh sản là một trạng thỏi khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản” [33,tr 5]
Theo định nghĩa trên thì sức khỏe sinh sản bao gồm hai khía cạnh, một khía cạnh là những vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản, những chức năng và quá trình của nó như mang thai, sinh con… Mặt khác, sức khỏe sinh sản còn là vấn đề liên quan đến quyền lựa chọn các biện pháp tránh thai, quyền được tiếp cận thông tin với những phương pháp khác mà cả hai
Trang 24lựa chọn Như vậy, có thể nói khía cạnh thứ nhất hàm ý những vấn đề liên quan đến bản năng sinh học của con người đối với quá trình sinh sản; khía cạnh thứ hai đề cập đến quyền được quyết định của con người đối với quá trình đó
Nội dung chính của sức khỏe sinh sản bao gồm các yếu tố sau:[33,tr.9.10]
1 Làm mẹ an toàn; 2 Kế hoạch hóa gia đình; 3 Nạo hút thai; 4 Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; 5 Các bệnh lây qua đường tình dục; 6 Giáo dục tình dục; 7 Phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh sản; 8.Vô sinh; 9 Sức khỏe vị thành niên; 10 Giáo dục, truyền thông về sức khỏe sinh sản- kế hoạch hóa gia đình
Như vậy, sức khỏe sinh sản chỉ là một thành tố trong sức khỏe của con người, song vai trò của nó rất quan trọng, nó không chỉ tác động tới thế
hệ hiện tại mà tác động cả tới thế hệ tương lai Các vấn đề về sức khỏe sinh sản trở nên rất quan trọng đối với người phụ nữ, vì người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong việc tái sản xuất xã hội Cho nên, những kiến thức về sức khỏe sinh sản không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân họ mà còn ảnh hưởng tới gia đình và cuộc sống tương lai
1.1.4 Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một tổng thể các biện pháp, kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa
và giải quyết những vấn đề về sức khỏe sinh sản nó bao gồm : sức khỏe tình dục với mục đích đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, tư vấn, chăm sóc liên quan đến vấn đề sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục [1]
Những vấn đề chung áp dụng chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế:
Trang 25- Đảm bảo sự chấp nhận của hai bên cung và cầu các tiêu chuẩn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Thực hiện tốt mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và cộng đồng ở các tuyến (Xã, Huyện, Tỉnh, Trung ương)
- Đảm bảo đúng về mặt nguyên tắc, yêu cầu, kỹ năng và các bước tư vấn trong chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Thực hiện đúng nguyên tắc truyền máu và các dịch vụ thay máu an toàn trong sản phụ khoa
- Hướng dẫn sử dụng kháng sinh an toàn, đảm bảo cung cấp đầy đủ các thuốc thiết yếu ở tất cả các tuyến cũng như các nguyên tắc vô khuẩn trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Làm mẹ an toàn:
Đảm bảo các chuẩn cho Trạm Y tế về chăm sóc sức khỏe sinh sản sản phụ trước, trong và sau khi đẻ, các bất thường trong thai nghén và chuyển dạ.[1]
Phá thai an toàn:
Đảm bảo chuẩn quốc gia về dịch vụ phá thai an toàn bao gồm: Tư vấn
và việc sử dụng các phương pháp kỹ thuật về việc phá thai an toàn Các chuẩn quốc gia về kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn của người tư vấn và cán bộ y tế, điều kiện thuốc men, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở y tế, phòng khám thai và sự phân tuyến phục vụ theo các loại đối tượng khác
Trang 26hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, là cơ sở của đời sống
xã hội của con người
Hành động xã hội được M Weber định nghĩa một cách tổng quát là:
“hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó.” [15,tr 117] Như vậy, bất kỳ hành động xã hội nào cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức với các mức độ khác nhau Đây là cái mà M Weber gọi là ý nghĩa chủ quan và sự định hướng mục đích, còn G Mead gọi là tâm thế xã hội của các cá nhân
Hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực của cá nhân Tính tích cực này bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của chủ thể hành động
Hành động xã hội được cấu trúc nên bởi nhiều thành tố khác nhau, giữa các thành tố này có mối liên quan hữu cơ với nhau Khởi đầu của nó bao giờ cũng là nhu cầu, lợi ích của cá nhân, đây là động cơ thúc đẩy hành động Động cơ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động Bất kỳ hành động nào cũng cần có chủ thể Chủ thể hành động có thể là cá nhân, nhóm, cộng đồng hay toàn thể xã hội Ngoài ra, để tạo nên hành động cũng cần có môi trường Đó chính là điều kiện mà ở trong nó hành động được diễn ra Tuỳ theo từng hoàn cảnh khác nhau mà các chủ thể sẽ tạo ra hành động phù hợp nhất với hoàn cảnh đó
Hành động, kể cả hành động thụ động và không hành động (quyết định chờ đợi không làm gì cả) được gọi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi người khác trong quá khứ, hiện tại hay tương lai; ý nghĩa chủ quan đó định hướng hành động M weber phân biệt các loại hành động
- Hành động duy lý- công cụ là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, lựa chọn công cụ, phương tiện mục đích sao hiệu quả nhất
Trang 27- Hành động duy lý- giá trị là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân).Thực chất loai hành động có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ phương tiện duy lý
- Hành động duy cảm (xúc cảm) là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc tính chất bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động
- Hành động duy lý - truyền thống là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác
Áp dụng lý thuyết hành động xã hội của MaxWeber vào trong vấn
đề nghiên cứu truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ dân tộc thiểu số qua việc phân tích tác động nhận thức và một số hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ thiểu số nhằm giải thích và đánh giá tình hình truyền thông chăm sóc sức khoẻ của người phụ nữ dân tộc thiểu số Yếu tố nào là chủ yếu tác động truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản đó
là các yếu tố đặc trưng nhóm dân tộc thiểu số, đặc điểm đội ngũ làm công tác dân số và yếu tố tập quán
1.2.2 Lý thuyết về truyền thông
Quá trình truyền thông có thể diễn ra theo những phương thức bằng lời như phát thanh, truyền hình và không bằng lời như tranh ảnh, pano, áp phích…Cả hai phương thức trên đều sử dụng hệ thống các ký hiệu để truyền tải nội dung thông điệp Tuy nhiên hệ thống ký hiệu này rất phong phú và đa dạng khiến cho các nhà truyền thông luôn chú ý quan hệ giữa các ký hiệu và ý nghĩa khi truyền thông Từ đó dẫn tới việc nghiên cứu cách thức truyền thông sao cho hiệu quả
Trang 28Trong lịch sử phát triển truyền thông đại chúng đã lần lượt xuất hiện hai loại mô hình chính là mô hình truyền thông đại chúng một chiều áp đặt và
mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo
Harold Lasswell sử dụng những yếu tố dưới đây để mô tả quá trình truyền thông được đưa ra vào năm 1948[38,tr.26], bao gồm:
Who: Nguồn phát, chủ thể truyền thông
Says what: Thông điệp, nội dung truyền thông
Inh Which channel: Kênh truyền thông
To Whom: Người nhận thông điệp truyền thông
With What Effects? Hiệu quả truyền thông
Lasswell đưa ra mô hình truyền thông một chiều, được tiến hành truyền tin theo một tuyến bắt đầu từ nguồn phát qua một quá trình đến người nhận,
nó tác động đến đối tượng tiếp nhận thông tin và tạo hiệu quả của truyền thông (E)
S (Source Sender) : Nguồn phát, chủ thể truyền thông
M (Message): Thông điệp, nội dung truyền thông
C (Channel): Kênh truyền thông
R (Receiver): Người nhận thông điệp (đối tượng)
E (Effect): Hiệu quả truyền thông
Đây là mô hình truyền thông đơn giản, song rất thuận lợi khi cần truyền những thông tin khẩn cấp, tuy nhiên, hầu như sẽ không thu hút được những ý kiến từ phía đối tượng tiếp nhận Song ở mô hình này, nguồn phát giữ vai trò quyết định, áp đặt ý kiến mình đối với công chúng Người nắm giữ các phương tiện truyền thông đại chúng chỉ quan tâm chủ yếu đến cái mình muốn,
do đó đưa ra các thông điệp nhằm áp đặt ý muốn của mình cho công chúng
R
C
M
Trang 29Công chúng chỉ giữ vai trò người tiếp nhận thông tin một cách thủ động, không có hoặc có rất ít sự đóng góp tích cực hay sự lựa chọn các thông điệp của mình muốn, nghĩa là không có kênh phản hồi trực tiếp
Khác với quá trình truyền thông một chiều, quá trình truyền thông mềm dẻo do Claude Shannon đưa ra sau này đã khắc phục được nhược điểm của
mô hình truyền thông một chiều bằng cách chờ đợi phản ứng đáp lại của đối tượng tiếp nhận thông tin
Ở mô hình thứ 2 này, các thành tố mới được đưa vào là:
N (Noise): Nhiễu (Yếu tố tạo sai số trong thông tin)
F (Feedback): Phản hồi
Trong mô hình này, thông tin bắt nguồn từ nguồn phát (S) thông qua các kênh truyền thông đến với người nhận (R) thu được hiệu quả (E) dẫn đến hành động và dẫn đến phản ứng trả lời ngược lại hay phản hồi (F) đối với nguồn phát Nhờ đó nguốn phát sẽ biết được nội dung thông tin đến với đối tượng tiếp nhận đạt hiểu quả ở mức độ nào, người nhận muốn thu thông tin ở lĩnh vực nào….Các nhà truyền thông có thể dựa vào đó điều chỉnh nội dung thông tin của mình cho phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận
Trong quá trình truyền thông, không phải tất cả các thông điệp có thể đến với người nhận đầy đủ, chính xác mà còn bị ảnh hưởng của các yếu tố xã hội,
N
F
Trang 30yếu tố tâm lý, yếu tố kỹ thuật đến việc lựa chọn và xây dựng thông điệp truyền thông gọi là nhiễu (N) Yếu tố này tạo nên các sai sót trong quá trình truyền thông
Như vậy, chúng ta thấy rằng truyền thông là quá trình diễn ra liên tục gồm nhiều yếu tố không thể tách rời giữa bên truyền và bên nhận
Các tương tác này cho thấy truyền thông đại chúng diễn ra như một quá trình xã hội, nó xuất phát từ thiết chế truyền thông đại chúng đến với công chúng Nó tạo nên hiệu quả xã hội trong nhận thức và hành vi của người đọc, người nghe, người xem, theo những hiệu ứng xã hội mà các phương tiện truyền thông đại chúng hướng tới
1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Huyện Anh Sơn hôm nay được thành lập từ tháng 4 năm 1963, tách ra từ huyện lớn Anh Sơn theo Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm
1963 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Huyện được cấu thành từ 20 xã và 1 thị trấn: Thị trấn Anh Sơn, Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Thành Sơn, Bình Sơn, Thọ Sơn, Hùng Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Hội Sơn, Hoa Sơn Thạch Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Tào Sơn, Vĩnh Sơn, Lĩnh Sơn,
Huyện Anh sơn có diện tích đất tự nhiên năm 2011 là 603,228,50 ha, với
28046 hộ và 130028 khẩu trong đó có 8/21 xã đồng bào dân tộc thiểu số 8.000 khẩu (chiếm 6,4% dân số toàn huyện), có 16/21 xã có đồng bào theo đạo thiên
Trang 31chúa với 7986 khẩu(chiếm gần 6,4% dân số toàn huyện) Có 252 thôn, bản Trong đó có 23 bản, làng dân tộc thiểu số Có 20 xã và 1 thị trấn (Trong đó 8
xã có đồng bào dân tộc thiểu số với gần 1652 hộ và gần 8.000 khẩu)
Như vậy, nguồn lao động của huyện dồi dào Lực lượng lao động trong
độ tuổi: 53.748 người, trong đó nữ: 26.699 người chiếm tỷ lệ 49,67%, lao động có việc làm ổn định 51.822 người chiếm tỷ lệ 96,41 %, lao động chưa có việc làm ổn định 1.650 người chiếm tỷ lệ 3.06 % lao động chưa có việc làm, lao động đã được đào tạo nghề 5.960 chiếm tỷ lệ 11,08%, lao động chưa được đào tạo nghề 47.788 người chiếm tỷ lệ 88,91%
Anh Sơn bước vào gia đoạn cơ cấu dân số vàng, tạo lợi thế về nguồn nhân lực, một điều kiện quan trọng để nền kinh tế có bức tăng trưởng bứt phá
Về kinh tế xã hội, thì huyện Anh Sơn tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của huyện đạt 13,0 - 14,0% năm Trong 5 năm 2005- 2010 Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt: 17 triệu đồng/người/năm Tăng hơn 1,2 lần so với năm 2005
Văn hóa xã hội được chăm lo và có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được cải thiện Giáo dục đào tạo chuyển biến rõ nét Có 42 trường học đạt trường chuẩn quốc gia chiếm 72%, 100% giáo viên đạt chuẩn, 30% giáo viên dạy giỏi Hệ thống trường học được nâng cấp và tu sửa khang trang, đáp ứng được nhu cầu dạy và học ở nhiều nơi trên địa bàn
Thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội tạo việc làm hằng năm 2000 người/năm, tỷ lệ người thất nghiệp giảm xuống nhiều so với những năm trước; tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 9.5% Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao từng bước đáp ứng được nhu cầu của nhân dân Quản lý của tỉnh về các hoạt động văn nghệ thể thao được tăng cường tỷ lệ gia đình đạt gia đình văn hóa lên tới 83 – 85%, đơn vị
Trang 32đạt chuẩn văn hóa là 75%, tỷ lệ xã, thị trấn có thiết chế văn hóa thể thao đạt chuẩn quốc gia là 85%
Tuy vậy, so với cả tỉnh thì Anh Sơn vẫn là một huyện nghèo, mức tăng trưởng kinh tế chưa xứng với tiềm năng và chưa bền vững, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế dịch chuyển theo hướng CNH – HĐH chậm; chất lượng , hiệu quả, sức cạnh tranh thấp Một số vấn đề bức xúc thuộc lĩnh vực văn hóa xã hội chưa được giải quyết như lao động thiếu việc làm lớn, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông còn nhiều Đời sống của nhân dân nhất là nhân dân vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn Chất lượng giáo dục toàn diện chưa cao, chênh lệch còn nhiều
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG CHĂM SÓC SKSS CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ PHÚC SƠN VÀ XÃ TƯỜNG SƠN,
HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
Chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản là một trong những nội dung đã được đặt ra trong chiến lược bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân và chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Nhiều nhà nghiên cứu y học, xã hội học, nhân khẩu học đã quan tâm nghiên cứu về sức khỏe sinh sản Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, cho đến nay các dân tộc thiểu số ở nước
ta vẫn bảo lưu các phương thức truyền thông của mình trong việc thực hiện các hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản ở một số dân tộc Dao, Hmong, Thái, Chăm… Các chuẩn mực và giá trị truyền thông vẫn có ảnh hưởng đáng kể tới quá trình mang thai và sinh con của phụ nữ dân tộc thiểu số Một số phong tục tập quán đến nay vẫn tác động đáng kể đến chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em đặc biệt trong thời kỳ mang thai và sinh đẻ Mối quan hệ giữa văn hóa tộc người và hành vi sinh sản của các dân tộc đều có nguồn gốc sâu xa bắt nguồn
từ văn hóa tộc người của các dân tộc Vấn đề tâm lý tộc người, các ràng buộc trong phong tục tập quán đều tác động trực tiếp tới hành vi sinh sản như sinh nhiều con, không sử dụng các biện pháp tránh thai…Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ cho thấy phụ nữ dân tộc thiểu số ít quan tâm tình trạng sức khỏe của họ trong thời kỳ mang thai do thói quen làm việc và trong sinh hoạt thường ngày, nhiều người còn chưa biết đến chế độ cần thiết cho sản phụ và thai nhi, thậm chí còn có quan niệm cho rằng trong thời kỳ mang thai người phụ nữ không nên bồi dưỡng quá nhiều sẽ dẫn đến thai to, khó sinh, người phụ nữ mang thai cần lao động nhiều hơn, ăn vừa đủ cho dễ đẻ, chế độ ăn
Trang 34uống và dinh dưỡng cho sản phụ và trẻ sơ sinh không được chú ý đúng mức
do thói quen trong sinh hoạt và ảnh hưởng của phong tục tập quán
Với những đặc trưng trong điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa các dân tộc thiểu số, công tác truyền thông và cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần có những chiến lược dài hạn và có những đổi mới trong phương pháp thực hiện Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung làm sáng tỏ một số nội dung trong công tác truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số như: Tần số, nội dung, phương pháp, hình thức và các yếu tố tác động đến hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS
2.1 Mức độ truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản
Truyền thông là một trong nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành dân
số nhằm hướng tới nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số Hàng năm, Chi cục DS-KHHGĐ, cùng với trung tâm DS-KHHGĐ huyện đã tổ chức nhiều đợt truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản Tại huyện Anh Sơn, công tác truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được thực hiện cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Qua tìm hiểu, Trung tâm DS/KHHGĐ huyện đã thường xuyên tổ chức các hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại các thôn bản tại hai xã Phúc Sơn, xã Tường sơn điều nay thể hiện
Trang 35Kết quả cho thấy, số lần tổ chức hoạt động truyền thông trong 1 năm tại huyện Anh Sơn ở hại xã Phúc Sơn, Tường Sơn cho phụ nữ dân tộc thiểu số trong một năm nhiều, xã Tường Sơn tổ chức 69 lần tuyên truyền, còn xã Phúc Sơn tổ chức 74 lần Như vậy mức độ tổ chức truyền thông tại địa phương rất nhiều, nhưng liệu phụ nữ dân tộc thiểu số có nhận thức được các đợt truyền thông như vậy không?
Khảo sát 200 phụ nữ dân tộc thiếu số về tần số tổ chức các hoạt động truyền thông, cho thấy không có sự đồng nhất giữa nhận thức về số lần truyền thông với số lần truyền thông thực tế tại địa phương trong một năm qua, điều này thể hiện cụ thể như sau:
Bảng 2.2: Nhận thức về mức độ tổ chức truyền thông về DS/SKSS tại hai xã Phúc Sơn, Tường Sơn trong một năm (Đơn vị %) STT Số lần truyền thông Số lượng Tỷ lệ %
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)
Có 59% số người trả lời cho biết tại địa phương của họ đã diễn ra 1-2 lần truyền thông về DS/SKSS; Có 29,5% cho rằng chỉ tổ chức 2-3 lần; có 2,0% trả lời tổ chức trên 4 lần và chỉ có 9,5% trả lời là không biết Như vậy, có sự khác nhau giữa thực tế các hoạt động truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số với nhận thức của phụ nữ dân tộc thiểu số về
số lần truyền thông, điều này nói lên một điều mức độ tổ chức truyền thông khá nhiều song hiệu quả các lần truyền thông chưa cao, chưa thu hút hầu hết
Trang 36sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số dẫn đến hiệu quả truyền thông còn thấp
Tại sao có sự khác nhau giữa nhận thức của phụ nữ dân tộc thiểu số khi khảo sát với thực tế tổ chức các hoạt động truyền thông, nguyên nhân xuất phát từ sự tham gia không đầy đủ của phụ nữ dân tộc thiểu số trong các lần truyền thông, chất lượng các lần truyền thông chưa cao nên không thu hút được sự tham gia phụ nữ dân tộc thiểu số, một nguyên nhân nữa dẫn đến sự khac nhau giữa nhận thức với thực tế truyền thông do quy mô tổ chức các hoạt động truyền thông có sự khác nhau, nên sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số cũng có sự khác nhau
Như hoạt động chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản/KHHGĐ tổ chức mỗi năm 1-2 lần, tại đây đã tiến hành khám phụ khoa, cấp phát thuốc điều trị cho các trường hợp viêm nhiễm, bên cạnh đó, chiến dịch còn thực hiện các xét nghiệm truy tìm ung thư cho chị em và điều trị kịp thời Hơn nữa, chị em còn được cung cấp nhiều kiến thức về chăm sóc SKSS tư vấn cho chị em có thể lựa chọn một biện pháp tránh thai phù hợp với sức khỏe của bản thân Các đợt truyền thông thu hút sự tham gia của các chị em phụ nữ dân tộc thiểu số bởi thông qua các hoạt động truyền thông chị em hiểu rõ lợi ích từ các đợt chiến dịch
"Năm nào xã tổ chức chiến dịch 1-2 lần, dù có bận vụ mùa cỡ nào chị cũng đăng ký khám phụ khoa bởi theo chị khi tham gia chiến dịch được khám bệnh miễn phí, được làm các xét nghiệm, nếu có bệnh thì phát hiện sớm và qua đó được tư vấn về biện pháp tránh thai đang sử dụng" (PVS số 1, 20 tuổi, bản Ô Ồ, xã Tường Sơn)
"Trước kia ít khi nào đi khám phụ khoa vì cứ nghĩ không bệnh gì nên không cần phải đi khám nhưng từ khi được nghe tuyên truyền, lại có đội y - bác sĩ về bản khám nên mỗi lần có chiến dịch là chị đăng ký khám bệnh vì
Trang 37ngoài sự nhiệt tình của các y - bác sĩ thì việc kiểm tra sức khỏe sinh sản của bản thân là một điều cần thiết" ( PVS số 3, 34 tuổi, bản Vều, xã Phúc Sơn)
Theo thống kê của Trung tâm DS/KHHGĐ, kết quả từ chiến dịch năm
2012, trong thời gian tổ chức khám phụ khoa tại xã Tường Sơn với số lượng
496 chị đến khám thì đã có 47 chị được phát hiện viêm nhiễm cần điều trị, xã Phúc Sơn có 649 chị đến khám, trong đó có 165 chị viêm nhiễm, trong đó có nhiều trường hợp bị viêm nhiễm nặng được chuyển lên tuyến trên để tiếp tục điều trị
Tóm lại, qua phân tích tần số truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thấy, có sự khác nhau giữa thực tế hoạt động truyền thông với nhận thức
về tần số truyền thông của phụ nữ dân tộc thiểu số nguyên nhân xuất phát từ
sự tham gia không đầy đủ của phụ nữ dân tộc thiểu số trong các hoạt động truyền thông, chất lượng các hoạt động chưa cao và quy mô các hoạt động truyền thông có sự khác nhau
2.2 Nội dung truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
2.2.1 Thực trạng nội dung truyền thông chăm sóc SKSS được truyền thông cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Hiện nay vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản đang và đã là mối quan tâm chung của mỗi quốc gia Taị hội nghị y tế thế giới tổ chức ở Cairô (AI cập) năm 2004 đã quyết định lấy 13 thành tố chính trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ sinh sản (Nạo phá thai; sức khoẻ sinh sản vị thành niên; sức khoẻ trẻ em; trao quyền cho phụ nữ; kế hoạch hoá gia đình/ định thời gian sinh; Giới;
Vô sinh; sự tham gia của nam giới và SKSS; ung thư đường sinh sản và ung thư vú; dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; hành vi tình dục và sinh sản có trách nhiệm; bảo vệ sản phụ; STDS (Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV/AIDS)
Trang 38Trên cơ sở 13 thành tố mà hội nghị ytế thế giới đã đưa ra, căn cứ và tình hình cụ thể của Việt nam để chọn ưu tiên vấn đề nào là cơ bản, Việt nam đã chọn 7 thành tố chính đó là:
1 Quyền sinh sản
2 Kế hoạch hoá gia đình
3 Bảo đảm cung cấp chăm sóc trước trong và sau đẻ an toàn, chăm sóc sức khoẻ trẻ em, nạo phá thai an toàn và quản lý biến chứng sau nạo phá thai, cung cấp chăm sóc sau nạo thai
4 Phòng chống và chữa trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục HIV/AIDS
5 Phát hiện và điều trị sớm ung thư đường sinh sản
6 Dự phòng và điều trị vô sinh
7 Chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Trên cở sở các nội dung chăm sóc SKSS, các hoạt động truyền thông Nghệ An nói chung và hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản ở huyện Anh Sơn cũng hướng đến nội dung chính của chăm sóc SKSS cho phụ
nữ dân tộc thiểu số Truyền thông giáo dục được xem là giải pháp nâng cao chất lượng dân số, trong nhưng năm qua trên địa bàn huyện đã đẩy mạnh truyền thông như đẩy mạnh KHHGĐ đi đôi giảm tỷ lệ suy sinh dưỡng, tỷ lệ chết của trẻ em, tỷ lệ chết của mẹ Tuyên truyền về quyền sinh sản, làm mẹ an toàn, kế hoạch hóa gia đình, nạo phá thai an toàn, các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, các bệnh lây qua đường tình dục, vô sinh và ngăn chặn sự gia tăng tỷ
lệ số giới tính khi sinh, đi đến cân bằng cơ cấu này Tăng cường chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhóm yếu thế và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
Nội dung về quyền sinh sản của cá nhân bao gồm 3 thành tố sau: quyền được tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản và các dịch vụ chăm sóc SKSS;
Trang 39quyền được cung ứng các dịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng; quyền được lựa chọn các dịch vụ SKSS
Nội dung về kế hoạch hóa gia đình là nói đến các biện pháp tránh thai, nói tới vai trò của các cặp vợ chồng, vai trò nam giới, của các tổ chức đoàn thể, cộng đồng, vai trò các cơ quan truyền thông đại chúng đối với kế hoạch hóa gia đình
Nội dung thứ ba phòng chống và chữa trị các bệnh lây qua đường tình dục, HIV/AIDS Trong đó đưa các các biện pháp phòng chống, chữa trị đối với cá nhân, nam giới và vai trò của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, tổ chức trong việc phòng chống, chữa trị các bệnh lây qua đường tình dục
Nội dung thứ tư về bảo đảm cung cấp trước trong và sau sinh, nạo phá thai an toàn và quản lý biến chứng sau khi nạo phá thai…Ngoài ra còn chăm sóc sức khỏe sinh sản còn nói đến phát hiện, điều trị sớm ung thư đường sinh sản, dự phòng và điều trị vô sinh; chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thanh niên Như vậy, khi nói đến chăm sóc sức khỏe sinh sản thì nói đến rất nhiều nội dung, nên đòi hỏi công tác truyền thông cần có những phương pháp, hình thức đẩy mạnh hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS đến phụ nữ dân tộc thiểu số
Một câu hỏi đặt ra ở đây, hoạt động truyền thông chăm sóc SKSS cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại huyện Anh Sơn đã diễn ra như thế nào?
Thứ nhất, về hoạt động truyền thông về quyền sinh sản, tại xã Phúc Sơn,
xã Tường Sơn đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục cho từng phụ
nữ dân tộc thiểu số biết rõ về quyền của họ trong sức khỏe sinh sản, các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội liên quan làm gì tạo điều kiện, đảm bào cho các cá nhân thực hiện các quyền đó Qua phỏng vấn sâu ghi nhận từ thông tin định tính đã cho thấy hoạt động truyền thông đã có tác động đến nhận thức của phụ nữ dân tộc thiểu số về quyền của họ trong chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trang 40mà cụ thể là việc được cung cấp các thông tin về sức khỏe sinh sản, quyền lựa chọn sử dụng các dịch vụ trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, tuy nhiên mức độ hiểu biết về quyền sinh sản của phụ nữ dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế
“Trong những năm gần đây, chúng tôi mới hiểu về quyền của bản thân trong chăm sóc sức khỏe sinh sản từ các chị cán bộ dân số, nhưng chúng tôi còn hiểu rất mơ hồ về điều này”(PVS, số 1, nữ 20 tuổi, bản Ồ Ồ, xã Tường Sơn)
“Qua các hoạt động truyền thông tôi mới hiểu thể nào là quyền sinh sản trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, trước đây tôi chẳng biết gì về vấn đề này” (PVS, số 3, nữ 34 tuổi, bản Vều, xã Phúc Sơn)
Thứ hai, truyền thông về làm mẹ an toàn cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại
hai xã Phúc Sơn, xã Tường Sơn đã được tuyên truyền đến từng thôn bản, chi cục DS/KHHGĐ phối hợp trạm y tế xã thực hiện các buổi truyền thông về làm
mẹ an toàn để họ nhận thức rõ về chăm sóc bản thân mỗi khi mang thai và sinh nở
“Môt năm, cứ vào tháng 6 và tháng 10, các cán bộ ở tỉnh về đây tư vấn cho chúng tôi về khám thai, tiêm vacxin, chế độ dinh dưỡng khi mang thai và còn cung cấp cho chúng tôi các kiên thức cần thiết khi mang thai để đảm bảo cho sức khỏe cho mẹ và con” (PVS, số 2, nữ 40 tuổi, bản Tiến, xã Phúc Sơn)
Những năm gần đây, Trạm y tế xã đã thực hiện nhiều biện pháp giúp phụ
nữ mang thai làm mẹ an toàn, tăng cường công tác truyền thông, thực hành dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai và trẻ dưới 5 tuổi, nâng cao sự hiểu biết của cộng đồng và bà mẹ mang thai về tầm quan trọng chăm sóc thai nghén và dinh dưỡng nên số trẻ em suy dinh dưỡng bào thai ở mức thấp, giảm nhiều so với các năm trước Trung tâm DS/KHHGGĐ cùng Trạm y tế đã kết hợp với ban chấp hành phụ nữ xã làm công tác tuyên truyền cho chị em về kiến thức về làm mẹ an toàn và cách chăm sóc trẻ cho chị em phụ nữ dân tộc thiểu số ở