1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Năm của ánh sáng

4 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 7,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc Liên Hợp quốc lấy năm 2015 làm Năm Ánh sáng là do năm nay trùng với năm chẵn kỷ niệm một loạt mốc thời gian quan trọng trong lịch sử khoa học ánh sáng - 1.000 năm ra đời năm cuốn

Trang 1

NĂM CỦA

ÁNH SÁNG

HẢI HỒNH

Trang 2

Việc Liên Hợp quốc lấy năm 2015 làm Năm Ánh

sáng là do năm nay trùng với năm chẵn kỷ niệm

một loạt mốc thời gian quan trọng trong lịch sử

khoa học ánh sáng - 1.000 năm ra đời năm cuốn

sách về quang học của Ibn Al-Haytham; 200 năm

Augustin Frenel đưa ra khái niệm sóng ánh sáng;

150 năm James Clerk Maxwell đề xuất lý thuyết

trường quang điện từ; 110 năm Albert Einstein

đưa ra lý thuyết hiệu ứng quang điện và 100 năm

ông sáng lập Thuyết Tương đối rộng (1915); 50

năm Arno Allan Penzias và Robert Woodrow

Wilson khám phá bức xạ nền vi sóng vũ trụ.

AI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN HIỂU ĐƯỢC TÍNH CHẤT QUAN TRỌNG CỦA

ÁNH SÁNG?

Theo Kinh Thánh của đạo Do Thái (tức Cựu Ước trong Kinh Thánh của

Ki-tô giáo), người đầu tiên hiểu được tính chất quan trọng sống còn của

ánh sáng là… Đấng Tối Cao, tức Thượng Đế, ta quen gọi là Chúa Trời

Chương thứ nhất của Cựu Ước là chương Sáng Thế ký (Genesis, tức ghi

chép về sự ra đời của thế giới) mở đầu bằng câu chuyện nói về ánh sáng:

Thế giới ban đầu là một khối hỗn độn, tối đen kịt chẳng thấy gì hết,

chẳng có gì hết, chỉ có Chúa Trời Jehovah bay trong khối hỗn độn tối đen

ấy Dĩ nhiên Ngài cũng chẳng nhìn thấy gì cả, vì có gì đâu mà nhìn! Cảm

thấy tối mịt như thế này thì buồn quá, Ngài phán: “Phải có ánh sáng!”

Vì Chúa Trời toàn năng nên Ngài nói xong thì ánh sáng xuất hiện, khắp

thế giới sáng rực lên Đức Chúa Trời cả mừng, bèn gọi quãng thời gian

có ánh sáng là “ban ngày”, quãng thời gian không có ánh sáng (tối) là

“ban đêm”; Ngài ra lệnh cho sáng và tối thay nhau luân phiên xuất hiện,

và quy định một ngày và một đêm gọi là một ngày Và thế là ban ngày

và ban đêm thay nhau xuất hiện lần thứ nhất, tức ngày đầu tiên của thế

giới Trong ngày đó, Chúa Trời chỉ làm mỗi một việc là tạo ra ánh sáng

cho thế giới chưa xuất hiện

Trong sáu ngày còn lại, theo thứ tự thời gian, Chúa Trời tạo ra không

khí, bầu trời, nước, biển và hồ, đất liền, các loài thực vật, Mặt trời và Mặt

trăng, các vì sao, các loài vật sống dưới nước, các loài vật bay được và đi

được Ngày thứ sáu, Chúa Trời mới tạo ra con người: Ngài lấy đất nặn

thành người đàn ông (Adam), rồi lấy một cái xương sườn của người này

tạo ra người đàn bà (Eva) Ngày thứ bảy, thấy chẳng còn gì để làm nữa,

vì toàn bộ thế giới đã được sáng tạo xong, Chúa Trời nghỉ làm việc và gọi

ngày đó là “Ngày của Chúa (Chủ nhật)”

Như vậy theo Kinh Thánh, ánh sáng là thứ vật chất xuất hiện đầu tiên,

thứ quan trọng nhất, không có ánh sáng thì sẽ chẳng có thế giới, vũ trụ

gì hết Còn trong thực tế, trong số hàng trăm hạt sơ cấp - đơn vị cấu trúc

cuối cùng của mọi vật chất - chỉ có ánh sáng là thứ duy nhất con người có

thể cảm nhận được bằng giác quan của mình, vì thế dĩ nhiên nó được các

Trang 3

nhà khoa học quan tâm trước hết.

Ngày nay chúng ta đã biết ánh sáng mà

Trái đất được hưởng là những bức xạ sóng

điện từ do Mặt trời phát ra liên tục kể từ

khi xuất hiện Mặt trời cách nay hơn 4,6 tỷ

năm Ánh sáng mang năng lượng đến cho

Trái đất, không có nguồn năng lượng vô

tận đó thì không thể có sự sống trên Trái

đất, cũng tức là không có loài người Trong

các hành tinh thuộc Hệ Mặt trời chỉ có Trái

đất ở cách Mặt trời một khoảng cách vừa

phải để năng lượng mà ánh sáng mặt trời

mang tới không quá nhiều (quá nóng)

hoặc quá ít (quá lạnh) nhờ đó sự sống có

thể nảy sinh và duy trì

MỘT SỐ MỐC LỊCH SỬ CỦA KHOA

HỌC ÁNH SÁNG

Giờ đây nhìn lại lịch sử, ta thấy các

nghiên cứu về ánh sáng đã đặt nền tảng

căn bản nhất cho sự phát triển khoa học và

công nghệ Chính là nhờ nghiên cứu bản

chất của ánh sáng mà vật lý học đã tiến

những bước kỳ diệu Có thể kể ra một số

mốc lịch sử như sau

Cách đây một nghìn năm - năm 1015,

nhà vật lý người Ả-rập Ibn Al-Haytham

(còn gọi là Alhazen, 965-1040) công bố

năm tập khảo luận về ánh sáng, có tên là

Sách về Quang học (Book of Optics) Sách trình bày nhận thức của loài người thời đó

về ánh sáng, vạch ra một số tính chất cơ bản của ánh sáng Trên cơ sở nghiên cứu

về hiện tượng phản xạ và khúc xạ, Alhazen cho rằng ánh sáng là một loại vật chất, nó

di chuyển với vận tốc hữu hạn Ông cũng nói Mặt trời là nguồn cung cấp ánh sáng cho Mặt trăng Alhazen được gọi là cha đẻ của quang học

Hai trăm năm trước - năm 1815, nhà vật lý-kỹ sư người Pháp Augustin-Jean Fresnel (1788-1827) giải thích thành công hiện tượng nhiễu xạ và giao thoa bằng lý thuyết quang học sóng (theory of wave optics), đưa ra khái niệm sóng ánh sáng, vạch rõ tính chất sóng của ánh sáng Đây là một phát kiến rất quan trọng Sau đó ông đưa

ra định luật tính toán cường độ và sự phân cực của ánh sáng phản xạ và khúc xạ Là một kỹ sư, ông còn phát minh ra Thấu kính Fresnel dùng cho các ngọn hải đăng

Năm 1824, ông được tặng Huy chương Rumford Đáng tiếc là các cống hiến xuất sắc của ông chỉ được giới khoa học Pháp thừa nhận sau khi ông qua đời khá lâu

Tên ông cùng với 71 danh nhân nước Pháp được khắc trên tháp Eiffel, lưu danh muôn đời; tiểu hành tinh 10111 được đặt

tên Fresnel

Một trăm năm mươi năm trước - năm

1865, nhà vật lý người Scotland James Clerk Maxwell (1831-1879) đưa ra lý thuyết sóng điện từ của ánh sáng, nâng nhận thức về bản chất của ánh sáng lên một tầm cao mới Ông đưa ra hệ phương trình Maxwell, chứng minh rằng điện trường và từ trường là thành phần của một môi trường thống nhất gọi là trường điện

từ, nó có thể truyền đi trong không gian dưới dạng sóng với vận tốc không đổi là 300.000 km/s Ông nói: “Ánh sáng và từ lực là các trạng thái khác nhau của cùng một vật chất; ánh sáng là một loại giao động truyền đi trong không gian trường điện từ tuân theo định luật điện từ học.”

Tiên đề vĩ đại này đến năm 1888 được nhà vật lý người Đức Heinrich Hertz chứng minh bằng thí nghiệm Einstein từng nói các công trình của Maxwell là “sâu sắc nhất và hiệu quả nhất mà vật lý học có được kể từ thời Isaac Newton.” Maxwell được tặng huy chương Rumford và giải thưởng Adams

Một trăm mười năm trước - năm 1905, Albert Einstein (1879-1955), khi đó mới 26 tuổi, gửi bốn công trình “để biết Chúa Trời

đã tạo ra thế giới này như thế nào” đăng

Trang 4

trên tạp chí tiếng Đức Annalen der Physik,

trong đó có một bài đưa ra khái niệm: ánh

sáng bao gồm các hạt rời rạc gọi là lượng

tử Thuyết bản chất lượng tử của ánh sáng

đã giải thích thành công thí nghiệm về hiệu

ứng quang điện, đồng thời đẩy mạnh sự

phát triển lý thuyết lượng tử Tới lúc này,

các nhà vật lý mới chấp nhận ánh sáng

đồng thời có tính chất sóng và tính chất

hạt

Cũng năm đó ông sáng lập Thuyết

tương đối hẹp, đưa ra khái niệm vận tốc

ánh sáng C là vận tốc giới hạn cao nhất

của mọi chuyển động trong vũ trụ, C

không thay đổi theo sự lựa chọn hệ quy

chiếu Einstein đưa ra công thức nổi tiếng E

= MC², diễn tả sự tương đương khối

lượng-năng lượng, trong đó E là lượng-năng lượng, M là

khối lượng và C là vận tốc ánh sáng trong

chân không Công thức này về sau đã mở

đường cho sự ra đời của vũ khí hạt nhân

làm cho Thế chiến II sớm chấm dứt, và

ngành năng lượng hạt nhân đem lại cho

loài người một nguồn năng lượng sạch

Tiếp đó, chẵn một trăm năm trước, năm

1915, Einstein đưa ra Thuyết tương đối

rộng làm chấn động cả thế giới với tiên

đoán ánh sáng khi truyền trong vũ trụ có

thể bị bẻ cong do tác dụng của trường lực

hấp dẫn Thuyết này được Eddington kiểm chứng trong nhật thực toàn phần năm

1919 Các khám phá của Einstein đã mở

ra một kỷ nguyên mới cho vật lý học Cùng với các nghiên cứu trước đó, giờ đây loài người đã hiểu ra ánh sáng là dòng chuyển động của các hạt riêng lẻ gọi là quang lượng tử (photon) Có lẽ vì các khám phá của Einstein quá huyền diệu, mới mẻ và khó hiểu nên mãi đến năm 1921, ông mới được trao giải Nobel Vật lý, và với lý

do cũng không phải bởi Thuyết Tương đối

mà bởi lý thuyết giải thích hiệu ứng quang điện - một thành tựu không phải là lớn nhất của ông

Cho dù đã có những khám phá vĩ đại kể trên, loài người vẫn tiếp tục tìm hiểu ánh sáng Dựa trên lý thuyết Vụ nổ Lớn, các nhà khoa học suy đoán rằng sau Big Bang khoảng 380.000 năm, các tia sáng ban đầu rớt lại của vụ nổ ấy đã hình thành bức

xạ nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background radiation, hay bức xạ tàn dư

vũ trụ) tràn đầy không gian Đây là bức

xạ điện từ sinh ra từ thời kỳ sơ khai của

vũ trụ Năm 1965, tạp chí Astrophysical Journal Letters (Vật lý thiên thể) đăng một bài báo vẻn vẹn 940 từ của hai nhà vật lý thiên văn Robert Woodrow Wilson (người

Mỹ) v�Arno Allan Penzias (Mỹ gốc Đức), tuyên bố họ đã phát hiện được bức xạ nền

vi sóng vũ trụ Thành tựu nghiên cứu này

đã góp phần quan trọng chứng minh lý thuyết vũ trụ giãn nở (thuyết Big Bang), và đem lại cho hai ông giải Nobel Vật lý 1978

***

Loài người hiện đại đang sử dụng rất nhiều phát minh, từ kính điều chỉnh thị lực, kính thiên văn quang học, chẩn đoán hình ảnh bên trong cơ thể bằng tia X-quang, cho tới truyền hình độ nét cao (HD), đầu DVD, điện thoại di động, laser, cáp quang, mạng Internet và công cụ tìm kiếm Google,

hệ thống định vị toàn cầu GPS cũng như vệ tinh quan sát môi trường sinh thái của Trái đất v.v… Trong khi hưởng thụ lợi ích vô cùng to lớn của những phát minh này, có thể nhiều người chưa hiểu rằng chúng tất thảy đều có liên quan tới ánh sáng và công nghệ ứng dụng ánh sáng, hơn nữa lĩnh vực này có triển vọng phát triển vô cùng rộng lớn, ngay cả các nhà khoa học cũng chưa thể dự kiến được công nghệ quang học sẽ đưa loài người tiến đến một thế giới như thế nào

Năm 2015 được Đại Hội đồng Liên Hợp quốc nhất trí quy định là Năm Quốc tế Ánh sáng và Công nghệ ánh sáng (International Year of Light and Light-based Technologies, IYL 2015), với các lý do: ánh sáng

có tác dụng vô cùng quan trọng trong đời sống của loài người; công nghiệp quang học đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh

tế thế giới phát triển; công nghệ quang học đang giải quyết các vấn

đề thách thức toàn cầu; ánh sáng

đã trở thành lĩnh vực khoa học liên ngành chủ yếu trong thế kỷ XXI.

Ngày đăng: 15/12/2017, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w