1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận chương 4 môi trường đầu tư quốc tế

87 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 340,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiêu chuẩn đánh giá môi trường đầu tư Môi trường kinh doanh mà nhà đầu tư gặp phải khi làm ăn tại một nước được WB đánh giátheo 10 tiêu chí, từ lúc bắt đầu thành lập một doanh nghiệp cho

Trang 1

chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI: Foreign Direct Investment); đầu tư qua thị trường chứng

khoán;cho vay của các định chế kinh tế và ngân hàng nước ngoài (vay thương mại) và nguồnviện trợ phát triển chính thức (ODA) Đối với các nước đang phát triển, thì vấn đề thu hút vốnnước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lại càng nhân tố cực kỳ quan trọng và cần thiết choquá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá , được nhiều nước quan tâm

Đất nước Việt Nam ta vẫn đang là một nước đang phát triển, cần Do dó vấn đề về vốnhiện nay đang là vấn đề nan giải và khó giai quyết nhất Trước tình hình đó Việt Nam đã thực thinhiều giải pháp để cải thiện môi trương đầu tư nhằm tạo ra nguồn vốn đặc biệt từ đầu tư nứơcngoài, trong đó có những tập đoàn lớn như SONY, DEAWOO, FORD, HONDA … Đầu tưnước ngoài đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong hơn mườinăm qua, như giải quyết vấn đè về vốn, công nghệ,nâng cao trình độ quản lý …

Việt Nam tiến hành cải cách mở cửa sau nhiều quốc gia nên việc tham khảo kinh nghiệmtrong khía cạnh cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư nước ngoài trong quá trình pháttriển kinh tế là cần thiết

Việc tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc chính là cơ sở để học hỏi những thành công

và né tránh những điều chưa hợp lý mà các quốc gia đã vấp phải Vì đầu tư nước ngoài không

phải là “chìa khoá vạn năng”, nó cũng có những mặt trái nên việc tham khảo một cách có chọn

lọc những bài học kinh nghiệm là yêu cầu cần thiết, bổ ích cho hoạt động cải thiện môi trườngđầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Do nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng như sự đóng gópcủa nó vào sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong những năm qua, cho nên chúng em đã

chọn đề tài “Môi trường đầu tư quốc tế”.

1 Khái niệm môi trường Đầu tư quốc tế

1.1 Khái niệm môi trường đầu tư

Trang 2

Môi trường đầu tư là một thuật ngữ đã được đề cập nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế vàquản trị kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam khi chuyển sang nền kinh tế thịtrường, thực thi chính sách đổi mới mở cửa hội nhập với thế giới thì vấn đề môi trường đầu tư vàhoàn thiện môi trường đầu tư được đặt ra là một giải pháp hữu hiệu cho nền kinh tế, và nó đãthực sự đem lại hiệu quả Môi trường đầu tư là một thuật ngữ không phải mới mẻ nhưng đến nayvẫn có rất nhiều tranh luận về khái niệm này Môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xéttheo nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ theo mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu.

Theo Wim P.M Vijverberg, khái niệm môi trường đầu tư được hiểu là: bao gồm tất cả cácđiều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu

tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Có rất nhiều các vấn đề ảnh hưởng tới đầu tư đối vớicác doanh nghiệp nhất là các vấn đề liên quan đến chính sách như tài chính, tín dụng, chính sáchthương mại, chính sách thị trường lao động, các quy định, cơ sở hạ tầng, các vấn đề liên quanđến thu mua và tiêu thụ, chính sách thuế, chính sách phát triển các khu công nghiệp và các vấn

đề liên quan đến hỗ trợ kỹ thuật và tài chính khác Với khái niệm này, môi trường đầu tư đượchiểu khá rộng

Một cách hiểu khác về môi trường đầu tư đó là tổng hợp các yếu tố: điều kiện về pháp luật,kinh tế, chính trị-xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường và cả các lợi thế củamột quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư tại một quốc giaNhư vậy các khái niệm môi trường đầu tư dù tiếp cận ở góc độ nào cũng đề cập đến môitrường tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh, các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư

Do vậy, có thể khẳng định:

Môi trường đầu tư là tổng thể những tác động làm ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư của

các nhà đầu tư ở quốc gia hay địa phương nhận đầu tư Nó bao gồm các yếu tố chính như: tình hình chính trị, chính sách – pháp luật, vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh

tế, đặc điểm văn hóa – xã hội, nguồn lao động và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế Các nhóm yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư.

1.2 Khái niệm môi trường đầu tư quốc tế:

Đầu tư quốc tế: là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốcgia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia

Vốn di chuyển của các quốc gia có thể là tiền mặtt, các dạng tài sản (nguyên vật liệu, máymóc thiết bị, mặt bằng sản xuất, nhà xưởng,…), giá trị của bản quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết,bản quyền thương mại,…

Các dự án đầu tư thường là các dự án công nghiệp, dịch vụ, kinh doanh thương mại,…

Trang 3

Các bên tham gia vào đầu tư quốc tế gồm ít nhất 2 bên có quốc tịch khác nhau Các bêntham gia có thể thu được các lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoàimang lại lợi ích kinh tế nhiều nhất.

Môi trường đầu tư quốc tế: Môi trường đầu tư quốc tế là tổng thể các yếu tố về pháp luật,kinh tế, xã hội, văn hóa và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của mộtquốc gia có liên quan Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tưtrong và ngoài nước

2 Tiêu chuẩn đánh giá môi trường đầu tư

Môi trường kinh doanh mà nhà đầu tư gặp phải khi làm ăn tại một nước được WB đánh giátheo 10 tiêu chí, từ lúc bắt đầu thành lập một doanh nghiệp cho đến khi giải thể doanh nghiệp.Mỗi năm, Ngân hàng Thế giới (WB) lại công bố các báo cáo nghiên cứu về mức độ thuậnlợi môi trường kinh doanh của từng quốc gia dựa trên việc rà soát những quy định pháp luật thúcđẩy hoặc kìm hãm các hoạt động kinh doanh trong từng lĩnh vực của quốc gia đó

Ngày 26/9, WB đã công bố Bảng xếp hạng môi trường kinh doanh các nước trên thế giới.Báo cáo của WB năm nay đánh giá môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có những cải thiệnđáng khích lệ nhưng vẫn đặt ra nhiều vấn đề phải quan tâm giải quyết Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2008 (Doing Business 2008) của WB chỉ đánh giá mức

độ cải cách trong mỗi lĩnh vực chứ không phải hiện trạng của lĩnh vực đó Môi trường kinhdoanh mà nhà đầu tư gặp phải khi làm ăn tại một nước được WB đánh giá theo 10 tiêu chí, từ lúcbắt đầu thành lập một doanh nghiệp cho đến khi giải thể doanh nghiệp Mỗi tiêu chí được đánhgiá theo một số chỉ số và so sánh với các quốc gia khác để xếp hạng

Tính tổng thể, Việt Nam xếp hạng 91 trong 187 nền kinh tế được khảo sát và thăng hạng 13bậc so với xếp hạng năm trước Trong 10 tiêu chí xếp hạng chỉ có 5 tiêu chí có thứ hạng cao hơnnăm ngoái; một tiêu chí không đổi và 4 tiêu chí còn lại đều tụt hạng

Tiêu chí 1: Thành lập doanh nghiệp

Để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50 ngày

và một khoản chi phí tương đương với 20% thu nhập bình quân đầu người

Tuy nhiên, Việt Nam đã tiến hành một số cải cách nhằm giảm thời gian thành lập doanhnghiệp ở Việt Nam nhưng chưa được báo cáo cập nhật Luật doanh nghiệp mới có hiệu lực tháng7/2006 giảm số ngày cấp phép đăng ký kinh doanh ở Việt Nam nhưng cải cách này chưa đượcphản ánh trong chỉ số tương ứng của Việt Nam năm nay Việc thực hiện quy trình một cửa tiến hành tháng 3/2007 với 3 bước chính trong thủ tục thànhlập doanh nghiệp là giấy đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế, và giấy phép khắc dấu cũng chưa

Trang 4

được đưa vào báo cáo năm nay Vì vậy, chỉ số “Thời gian thành lập doanh nghiệp của Việt Nam”vẫn giữ nguyên 50 ngày như năm ngoái So với năm ngoái, vị trí của Việt Nam không thay đổivẫn ở hạng 97

Bức tranh về giấy phép ở Việt Nam đã tụt 38 bậc từ hạng 25 xuống hạng 63 Tuy nhiên,theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đây là thứ hạng trung thực hơn so với năm ngoái bởi vìvấn đề giấy phép trên thực tế vẫn đang đặt ra nhiều khó khăn cho Việt Nam hiện nay

Tiêu chí 3: Tuyển dụng và sa thải lao động

Những khó khăn khi thuê mướn và sa thải công nhân, tập trung ở 6 yếu tố: độ khó khi thuêngười, tính khắt khe của giờ làm việc, độ khó khi sa thải lao động, độ khắt khe trong chế độ thuêlao động, chi phí tuyển dụng (tỷ lệ so với tiền lương) và chi phí sa thải (số tuần lương phải bồihoàn)

So sánh với các nước trong khu vực, tuyển dụng lao động ở Việt Nam dễ dàng Tuy nhiên,việc sa thải lao động ở Việt Nam khó khăn hơn và được xếp ở gần như nhóm khó khăn nhất Cụthể, độ khó trong việc sa thải lao động ở Việt Nam là 40%, chi phí sa thải lao động là 87 tuầnlương

Tiêu chí 4: Đăng ký tài sản

Doanh nghiệp có dễ dàng bảo đảm quyền sở hữu tài sản hay không? Ở Việt Nam doanhnghiệp cần trải qua 4 bước thủ tục, mất 67 ngày và tốn 1,2% giá trị tài sản để có được sự bảođảm này Tuy nhiên, so với các nước đứng đầu trong bảng xếp hạng doanh nghiệp Việt Nam vẫnmất nhiều thời gian đăng ký tài sản

Ngoài ra, vẫn còn một số vấn đề bất cập trong lĩnh vực này: giao dịch không chính thứcvẫn khá phổ biến, quy trình hợp thức hoá hiện còn khó khăn Quản lý đất đai chưa hiệu quả nênviệc doanh nghiệp thiếu chứng nhận sở hữu đất đai và tài sản là khá phổ biến

Tiêu chí 5: Vay vốn

Tiêu chí này xem xét các mức độ quyền lợi theo luật định của người vay và người cho vay,mức độ đầy đủ của thông tin tín dụng, độ phủ của đăng ký công cộng và tư nhân Ở Việt Nam,năm nay mức độ của quyền lợi theo luật định này được tăng thêm hai điểm 6/10, nghĩa là sự tiếp

Trang 5

cận tín dụng của doanh nghiệp đã dễ dàng hơn Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy Việt Nam cầnphải cải thiện trong lĩnh vực thông tin tín dụng Hiện nay, ở Việt Nam, thông tin về độ tin cậy tín dụng của cá nhân cũng như công ty khôngđược chia sẻ và các tổ chức đăng ký thông tin tín dụng tư nhân chưa phát triển Nếu không cócác dữ liệu về độ tin cậy tín dụng, ngân hàng sẽ rất e ngại việc cho vay, và vì thế việc tiếp cận tíndụng sẽ bị hạn chế.

Việt Nam đang xúc tiến việc xây dựng tổ chức đăng ký thông tin tín dụng tư nhân Khi tổchức này được hình thành và các điều kiện pháp lý cần thiết cho hoạt động của nó được ban hànhchắc chắn sẽ giúp cho việc tiếp cận thông tin tín dụng ở Việt Nam được dễ dàng hơn

Tiêu chí 6: Bảo vệ nhà đầu tư

Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số này Tiêu chí 6 xem

xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm pháp

lý của giám đốc và khả năng của cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái

Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt 2,7/10 Chỉ số về trách nhiệm của giám đốc nằm trongnhóm thấp nhất thế giới (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp (2/10

và 6/10) Năm nay, thứ hạng của tiêu chí này là 165/178

Tiêu chí 7: Đóng thuế

Theo báo cáo, các doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm tiêu tốn nhiều thời gian nhất để đáp

ứng các yêu cầu về thuế Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều thời gian của doanhnghiệp là vấn đề đáng lưu ý Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050 giờ làm việctrong khi ở Indonesia là 266 giờ làm việc

Tiêu chí 8: Thương mại quốc tế

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và thủ tục đãgiảm nhưng vẫn còn mất thời gian Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có sáu loại

hồ sơ, mất 24 ngày và tốn 669 USD Trong khi đó, Trung Quốc chi phí thời gian không thấp hơnViệt Nam là 21 ngày nhưng chi phí tiền bạc lại thấp hơn đáng kể, chỉ 390 USD

Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có 8 loại hồ sơ, mất 23 ngày và

881 USD Việc phải chịu chi phí cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực đang gây ảnhhưởng không nhỏ cho tính cạnh tranh của Việt Nam Năm nay, Việt Nam xếp hạng trung bình63/178

Tiêu chí 9: Thực thi hợp đồng

Ở Việt Nam, doanh nghiệp chỉ phải trải qua 34 bước thủ tục tốn 295 ngày và 31% giá trịmón nợ là hợp đồng được thi hành Với các chỉ số này năm nay Việt Nam đang ở vị trí 40/178

Trang 6

Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, Việt Nam không nên quá lạc quan về vị trí này bởi vì thực tếviệc chấp hành thực thi các phán quyết của toà án vẫn chưa ổn, đặc biệt trong lĩnh vực ngânhàng, việc thu hồi nợ quá hạn đang là khó khăn lớn

Tiêu chí 10: Giải thể doanh nghiệp

Việc giải quyết các trường hợp phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam còn kém hiệu quả, xếphạng 121/178 Thủ tục phá sản phải mất ít nhất 5 năm, tốn kém đến 15% giá trị tài sản của doanhnghiệp Đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì các bên liên quan chỉ thu hồi được 18% giá trị tàisản Vì thế, rất ít doanh nghiệp tuân theo các quy định và thủ tục chính thức khi muốn đóng cửahoạt động

Chi tiết của 10 tiêu chí đánh giá kể trên cho thấy môi trường đầu tư kinh doanh của ViệtNam được cải thiện nhiều so với trước đây và so với các nước láng giềng Tuy nhiên, do cácnước đang phát triển khác cũng đang tích cực thực hiện cải cách thậm chí nhanh hơn ở ViệtNam

Đó là lý do tại sao Việt Nam dù thăng hạng trong bảng xếp hạng chung nhưng vẫn cần cảicách mạnh mẽ và liên tục hơn nữa Thông điệp ở đây là: nếu không tiếp tục cải cách, các nướckhác sẽ vượt lên Bởi vì trên thực tế, ở Đông Nam Á, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫncòn kém xa so với các nước Singapore (hạng 1), Thái Lan (15) và Malaysia (24), song tốt hơnnhiều so với Indonesia (123), Philippines (133), Campuchia (145)

Quốc gia kinh tế lớn lân cận là Trung Quốc cũng “thăng hạng” trong lần đánh giá năm nay(từ hạng 93 lên 83) Đây chính là một cảnh báo cho thấy Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách nhanhhơn nữa, triệt để hơn nữa nếu muốn cạnh tranh về thu hút đầu tư Nhận định chung của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước là Việt Nam không thể chỉ sosánh với chính mình mà phải nỗ lực cải cách triệt để trong bối cảnh các nước khác cũng đang cảicách mạnh mẽ mới mong cải thiện vị trí xếp hạng trong những năm sau

3 Những nét cơ bản về môi trường đầu tư

3.1 Môi trường chính trị-xã hội

Trang 7

không ổn định sẽ ảnh hưởng tới dự án của mình và nhất là xác suất về rủi ro là rất cao, có thể dự

án sẽ không tiếp tục được thực hiện và không có cơ hội sinh lời, thậm chí còn có thể sẽ làm chonguồn vốn đầu tư bị kẹt mà, không thu lại được hoặc bị chảy ngược ra ngoài, mất khả năng thuhồi vốn Các biến động về chính trị có thể làm thiệt hại cho các nhà đầu tư do có những quy địnhđưa ra sẽ khác nhau khi có những biến động chính trị vì khí thể chế thay đổi thì các quy định vàcác luật có liên quan cũng hoàn toàn thay đổi và những hiệp định ký kết giữa hai bên sẽ khôngcòn do đó các nhà đầu tư phải gánh chịu hoàn toàn những bất lợi khi xảy ra biến động chính trị

Và khi có chiến tranh xảy ra sẽ khiến cho các hoạt động kinh doanh ngừng trệ và có thể gây rathiệt hại về cơ sở vật chất

Chính sách khuyến khích hay hạn chế đối với đầu tư nước ngoài của chính phủ một nướcthường dựa trên quan điểm chính trị cũng như mối quan hệ chính trị với các quốc gia khác trênthế giới Ví dụ như:

- Khuyến khích đầu tư sang những nước mà quốc gia có quan hệ tốt đẹp hay có chính sáchthiết lập quan hệ trong tương lai

- Hạn chế đầu tư sang các nước có quan hệ căng thẳng hay bất đồng về quan điểm chính trị.Ban hành các bộ luật cấm vận kinh tế đối với một số quốc gia

- Ngoài ra, chính phủ nước đầu tư thường tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước bằngcách ký kết các hiệp định song phương hoặc đa phương với các quốc gia đối tác, thỏa thuậnnhững điều kiện hợp tác và những nguyên tắc cơ bản nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư trong quá trìnhtiếp cận hoặc kinh doanh tại nước kia

Mức độ an toàn và an ninh trật tự xã hội: khủng bố, nguy cơ chiến tranh, maphia (sự hoành hành của xã hội đen):

Nhân tố tác động này không chỉ bao gồm các yêu cầu như bảo đảm an toàn về mặt chính trị

xã hội mà còn phải tạo ra được tâm lý dư luận tốt cho các nhà đầu tư nước ngoài Bất kể sựkhông ổn định chính trị nào Các xung đột khu vực, nội chiến hay sự hoài nghi, thiếu thiện cảm

từ phía các nhà đầu tư đối với chính quyền các nước sở tại đều là những yếu tố nhạy cảm tácđộng tiêu cực tới tâm lý các nhà đầu tư có ý định tham gia đầu tư

- Khuyến khích đầu tư sang những nước mà quốc gia có quan hệ tốt đẹp hay có chính sáchthiết lập quan hệ trong tương lai

- Hạn chế đầu tư sang các nước có quan hệ căng thẳng hay bất đồng về quan điểm chính trị.Ban hành các bộ luật cấm vận kinh tế đối với một số quốc gia

Ngoài ra, chính phủ nước đầu tư thường tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước bằngcách ký kết các hiệp định song phương hoặc đa phương với các quốc gia đối tác, thỏa thuận

Trang 8

những điều kiện hợp tác và những nguyên tắc cơ bản nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư trong quá trìnhtiếp cận hoặc kinh doanh tại nước kia;…

3.2 Môi trường văn hóa

Môi trường văn hoá cũng ảnh hưởng ít nhiều đến đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nướcngoài ngày càng quan tâm đến các yếu tố văn hóa – xã hội của một quốc gia trước khi quyết địnhđầu tư vào quốc gia đó Đặc điểm phát triển văn hoá - xã hội của nước nhận đầu tư được coi làhấp dẫn nếu có trình độ giáo dục cao và nhiều sự tương đồng về ngôn ngữ, tôn giáo, các phongtục tập quán so với quốc gia của nhà đầu tư

Khi giữa nước nhận đầu tư và nước đầu tư có nhiều khác biệt về các đặc điểm văn hóa – xãhội thì rủi ro đối với các nhà đầu tư càng cao nếu họ không ý thức được sự khác biệt và có nhữngđiều chỉnh thích hợp Mặt khác, chi phí cho việc điều chỉnh khác biệt là khá cao Những khácbiệt thường gặp là :

- Ngôn ngữ: khác biệt ngôn ngữ sẽ cản trở khả năng giao tiếp của nhà đầu tư với các đốitượng khác tại nước nhận đầu tư

- Quan niệm về giá trị: những điều được coi là tốt đẹp đối với một nền văn hóa có thểkhông được chấp nhận trong nền văn hóa khác và ngược lại

- Phong tục tập quán trong sinh hoạt và kinh doanh: những hành vi được chấp nhận trong

xã hội này có thể không được chấp nhận trong xã hội khác, và những thói quen trong giờ giấc,phong cách sinh hoạt và kinh doanh cũng có thể khác nhau

- Mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng: vai trò của cá nhân hay cộng đồng được đánh giácao hơn trong xã hội

- Mức độ phân chia giai tầng trong xã hội: khoảng cách giữa các tầng lớp và mức độ linhhoạt trong chuyển đổi giai tầng trong xã hội

- Quan điểm về thẩm mỹ: quan niệm về cái đẹp, cái hoàn hảo có sự khác biệt ở từng quốcgia khi đi từ Tây sang Đông

Các đặc điểm này không chỉ tác động đến khả năng hoà nhập vào cộng đồng nước sở tạicủa các nhà đầu tư nước ngoài mà còn tác động đến chi phí đào tạo nguồn nhân lực của họ

Ví dụ: sau sự kiện ngày 11/9/2001 tất cả các nhà đầu tư từ Mỹ và cả thế giới khi tìm tới đầu

tư tại một nước có dân số là đạo hồi đều rất dè dặt (bởi vì tất cả 19 không tặc tiến hành cuộc tấncông đều là những tay khủng bố liên quan đến tổ chức Hồi giáo Al-Qaeda) Đây là yếu tố rấtnhạy cảm mà các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, theo đó các nhà đầu tư xem xét xem có nên đầu

tư vào quốc gia này hay không

3.3 Môi trường pháp lý và hành chính

Trang 9

Luật pháp là những quy định đã được quốc hội thông qua, bắt buộc mọi người phải tuântheo và kể cả các đối tác tham gia đầu tư vào nước đó cũng phải tuân theo điều này Để quyếtđịnh tham gia đầu tư vào một nước nào đó các nhà đầu tư phải xem xét rất kỹ về yếu tố này vì nóliên quan trực tiếp tới cách thức thực hiện đầu tư dự án của mình mà còn ảnh hưởng tới phương

án kinh doanh của mình trong tương lai

Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm kỹ thuậtsản xuất tạo ra một hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động, các hoạt động của doanh nghiệpnhư sản xuất kinh doanh cái gì, sản xuất bằng cách nào, bán cho ai ở đâu, nguồn đầu vào lấy ởđâu đều phải dựa vào các quy định của pháp luật Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy địnhcủa pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với người laođộng như thế nào là do luật pháp quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm bảo vệ sinh môitrường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp ) Có thể nói luật pháp

là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, do đó ảnhhưởng trực tiếp tới các kết quả cũng như hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp

Một môi trường pháp lý được coi là hấp dẫn nếu có các chính sách, qui định hợp lý và tínhhiệu lực cao trong thực hiện Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng không chỉ để đảm bảoquyền lợi của các nhà đầu tư nước ngoài mà còn là những cơ sở cần thiết cho họ tính toán làm ănlâu dài ở nước nhận đầu tư

Những khía cạnh trong hệ thống pháp lý của nước nhận đầu tư có khả năng tác động đếnhoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài gồm:

- Hệ thống pháp luật có đầy đủ và đồng bộ hay không?

- Tính chuẩn mực và hội nhập của hệ thống pháp luật: hệ thống pháp luật có cập nhật theokịp tốc độ hội nhập kinh tế thế giới và xung đột với hệ thống các cam kết quốc tế mà nước nhậnđầu tư đã tham gia hay không

- Pháp luật có bảo đảm quyền sở hữu tài sản cả hữu hình và vô hình (quyền sở hữu trí tuệ)cho nhà đầu tư hay không?

- Pháp luật có bảo đảm quyền lợi và môi trường cạnh tranh công bằng cho các nhà đầu tưhay không?

- Pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ và quyền lợi của các bên trong hợp đồng và

cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng cũng như năng lực thực thi các phán quyết của tòa án, của

bộ máy thi hành án

- Các quy định về chuyển tiền ra nước ngoài

Trang 10

- Các quy định pháp lý về thuế đối với đầu tư nước ngoài.

- Các yêu cầu về thực hiện đầu tư: Mức độ hạn chế sở hữu, tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ sản phẩmphải xuất khẩu…

- Các quy định pháp lý về tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn môi trường

và điều kiện lao động

- Khả năng pháp luật bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư

- Các quy định khác liên quan đến đầu tư nước ngoài như quản lý ngoại hối, đăng ký nhậpcảnh và lưu trú, sử dụng nhân lực nước ngoài…

Một vấn đề khác cũng được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, đó là định hướng đầu tưcủa nước nhận đầu tư Vì các nhà đầu tư nước ngoài thường có chiến lược kinh doanh dài hạnnên rất cần sự rõ ràng, ổn định trong định hướng đầu tư của nước nhận đầu tư

Cuối cùng, các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến các thủ tục hành chính, hải quan

- Thủ tục xin giấy phép đầu tư, triển khai dự án có nhanh chóng hay không?

- Khâu xin giấy phép hải quan cho hoạt động xuất khẩu thành phẩm, nhập khẩu nguyênnhiên liệu có rườm rà và quan liêu hay không?

3.4 Môi trường kinh tế và tài nguyên

 Chính sách kinh tế, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội:

Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạmphát, thu nhập bình quân trên đầu người là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từngdoanh nghiệp Nếu tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân cao, các chính sách của Chính phủkhuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể,lạm phát được giữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại

 Tài nguyên thiên nhiên và khả năng khai thác:

Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tưnước ngoài Trong trường hợp của Malaysia, nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước này có sứchút FDI mạnh mẽ nhất Các nhà đầu tư nước ngoài đổ xô đến nước này là nhắm đến các nguồntài nguyên dồi dào về dầu mỏ, khí đốt, cao su, gỗ Đặc biệt, tại các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), khai thác tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quan trọng của nhiều MNEs trong cácthập kỷ qua

 Chính sách bảo hộ thị trường nội địa:

Năm 2006 Google bắt đầu thâm nhập mạnh thị trường Trung Quốc bằng việc mở trang webtìm kiếm bằng tiếng Hoa Google.cn và cung cấp nhiều dịch vụ trực tuyến khác cho doanh nghiệp

Trang 11

và người tiêu dùng, chẳng hạn bản đồ Google Map cho điện thoại di động, AdWorks và AdSensecho các doanh nghiệp quảng cáo ra thị trường thế giới… Nhưng, theo luật lệ Trung Quốc,Google phải tự kiểm duyệt kết quả tìm kiếm thông tin, loại bỏ những thông tin mà chính quyềnkhông cho phép, chẳng hạn những địa chỉ web khiêu dâm hoặc những đề tài chính trị, nhânquyền… Chính sách tự kiểm duyệt của Google đã gây phản ứng mạnh trong các tổ chức nhânquyền, các chính phủ phương Tây, đặc biệt là tại Mỹ, nơi Google đặt đại bản doanh Tuy vậy,Google còn gặp khó khăn khi nhà cầm quyền liên tục gây sức ép Vài lần trang web Google.cn bịngừng hoạt động vì bị cáo buộc truyền bá phim ảnh khiêu dâm; các trang mạng xã hội màGoogle làm chủ hoặc có cổ phần như YouTube, Facebook, Twitter đều bị cấm ở Trung Quốc.Giọt nước làm tràn ly là vụ các tin tặc xuất phát từ Trung Quốc đã thâm nhập vào hệ thống máytính của Google và nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin lớn tại Mỹ, đánh cắp mã nguồn và

dữ liệu cá nhân từ hộp thư Gmail của những người đấu tranh cho nhân quyền tại Trung Quốc.Google tuyên bố sẽ không tiếp tục kiểm duyệt nội dung tìm kiếm của trang web Google.cn nữa;nếu chính quyền không chấp nhận điều đó thì Google sẽ xem xét đóng cửa trang web này Sau

đó Google đã thương lượng với nhà cầm quyền để giải quyết vấn đề Tuy nhiên, cuộc thươnglượng hoàn toàn bế tắc và Google đã phải rời khỏi Trung Quốc

Chính quyền Trung Quốc cũng luôn gây áp lực lên các công ty internet nước ngoài TrungQuốc không cấp giấy phép cho công ty nước ngoài cung cấp nội dung trên internet (ICP) màbuộc họ phải liên doanh với công ty trong nước; trong nhiều trường hợp, để nhận được chínhsách ưu đãi, công ty nước ngoài phải chuyển giao công nghệ cho đối tác địa phương, phải thựchiện hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) ngay tại Trung Quốc…

Sự cạnh tranh của các công ty Trung Quốc và chính sách của nhà cầm quyền là hai trở ngạilớn mà các nhà đầu tư đặc biệt chú trọng khi đầu tư vào thị trường tuy lớn nhưng khó này

Ngoài ra, tỷ lệ tiết kiệm quốc gia: các luồng vốn đầu tư cho phát triển, dung lượng thịtrường và sức mua của thị trường Tính cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế, tình hình buôn lậu

và khả năng kiểm soát, hệ thống thông tin kinh tế cũng là những nhân tố ảnh hưởng tới quyếtđịnh của nhà đầu tư

3.5 Môi trường tài chính

 Xác định ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái

- Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp:

Tỷ giá hối đoái tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư hoặc góp vốnliên doanh Vốn ngoại tệ hoặc tư liệu sản xuất được đưa vào nước sở tại thường được chuyển đổisang đồng nội tệ theo tỷ giá chính thức Bên cạnh đó tỷ giá còn tác động tới chi phí sản xuất và

Trang 12

hiệu quả các hoạt động đầu tư nước ngoài Do đó sự thay đổi tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng nhấtđịnh tới hành vi của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc quyết định có đầu tư vào nước sở tạihay không.

- Đối với hoạt động đầu tư gián tiếp:

Là hình thức đầu tư mà chủ tư bản thông qua thị trường tài chính mua cổ phần hoặc chínhkhoáng của các công ty nước ngoài nhằm thu lợi nhuận dưới hình thức cổ tức hoặc thu nhậpchứng khoán Mà:

Lợi tức khoản cho vay bằng ngoại tệ = lãi suất ngoại tệ + giảm giá đồng nội tệ

Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do khi tỷ giá hối đoái tăng tổng lợi tức

từ khoản vay bằng ngoại tệ lớn hơn lãi suất trong nước sẽ gây ra hiện tượng luồng vốn chảy ranước ngoài và ngược lại tỷ giá hối đoái giảm thì luồng vốn sẽ đổ vào trong nước

Vì vậy, muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế đòi hỏi phải xây dựng

và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định, hợp lý, giảm mức độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tưcũng như thu hút đầu tư nước ngoài

 Chi phí tài chính (Lợi tức vay vốn và thuế):

Sự thay đổi về lãi suất và chính sách thuế sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí đầu tư củanhà đầu tư

- Để thực hiện đầu tư, ngoài phần vốn tự có của mình thì nhà đầu tư còn phải sử dụng vốnvay và đương nhiên là phải trả lãi tiền vay Và việc trả lãi tiền vay sẽ làm tăng thêm chi phí chomỗi đồng vốn đầu tư Do đó, doanh nghiệp không thể không tính đến yếu tố lãi suất khi quyếtđịnh đầu tư, vì đây là yếu tố ảnh hưởng tới chi phí đầu tư của doanh nghiệp

- Bên cạnh yếu tố lãi vay, thuế cũng là yếu tố tác động quan trọng Thuế là công cụ của Nhànước để điều tiết và định hướng cho nhà đầu tư đầu tư kinh doanh Đối với nhà đầu tư, thuếtrong kinh doanh cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà đầu tư Ngoài ra nếuNhà nước khuyến khích đầu tư cho nền kinh tế bằng chính sách ưu đãi không không đánh thuếhoặc đánh thuế thấp đối với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nếu lợi nhuận đó được đem táiđầu tư Khi đó các nhà đầu tư sẽ có xu hướng để lại nhiều lợi nhuận sau thuế bổ sung vào vốnđiều lệ, tăng nguồn vốn đầu tư

Nhà đầu tư phải tính toán kỹ về các khoản lãi vay, các khoản thuế phải trả và cân đối vớimức lợi nhuận có thể đạt được do dự án đầu tư mang lại Yếu tố sẽ góp phần kích thích hay hạnchế quyết định đầu tư của nhà đầu tư

 Thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối:

Trang 13

Các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán sát sao hơn các thị trường khác Chứngkhoán vốn hấp dẫn bởi chúng tồn tại đã lâu và các nhà đầu tư cá nhân có thể liên hệ tới các công

ty mà họ mua chứng khoán Khi thị trường chứng khoán hoạt động tốt, các nhà đầu tư sẽ đổ tiềnvào thị trường chứng khoán Khi thị trường chứng khoán hoạt động khó khăn, các nhà đầu tư sẽrút tiền ra khỏi thị trường

Các nhà kinh doanh ngoại hối thường quan sát thị trường chứng khoán của các quốc gialớn Nếu chứng khoán của một quốc gia hoạt động tốt hơn một quốc gia khác, các nhà kinhdoanh ngoại hối biết rằng các nhà đầu tư khác sẽ chuyển tiền của họ từ quốc gia có thị trườngchứng khoán yếu hơn sang quốc gia có thị trường chứng khoán mạnh hơn Điều này sẽ khiến giátrị đồng tiền của quốc gia có thị trường chứng khoán mạnh hơn tăng lên so với đồng tiền củaquốc gia có thị trường chứng khoán yếu hơn Bằng cách nắm bắt cơ hội đó, bạn có thể kiếmđược lợi nhuận ngon lành

 Yếu tố lạm phát:

Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại khôngđáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với kinh tế vàđời sống Tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được haykhông, nghĩa là công chúng và các thể chế có tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức

độ lạm phát là một điều bất ngờ Nếu như lạm phát hoàn toàn có thể dự đoán trước được thì lạmphát không gây nên gánh nặng kinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghivới nó Lạm phát không dự đoán trước được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lạithu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế

Lạm phát cao làm giảm giá trị đồng tiền trong nước Khi các mức giá cả trong tương laikhó dự đoán hơn thì các kế hoạch chi tiêu và tiết kiệm hợp lý sẽ trở nên khó thực hiện hơn.Người dân ngày càng lo ngại về việc sức mua trong tương lai của họ bị giảm xuống và mức sốngcủa họ cũng vì vậy mà kém đi, như vậy khi đầu tư vào những quốc gia có mức lạm phát cao thìmức độ rủi ro cũng cao hơn

 Tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia là yếu tố được các nhà đầu tư nước ngoàiquan tâm nhiều nhất Một quốc gia có mức độ phát triển kinh tế thấp, nhưng tốc độphát triển kinh tế cao thì vẫn được coi là hấp dẫn.Nguyên nhân là do tốc độ pháttriển kinh tế phản ánh tiềm năng phát triển thị trường và mức thu lợi từ vốn của nhàđầu tư Tốc độ phát triển cao, chứng tỏ thị trường có khả năng sinh lời cao, hấp dẫncác nhà đầu tư

Trang 14

 Mức độ ổn định kinh tế là chỉ tiêu được các nhà đầu tư quan tâm Rủi ro về vốn thấpkhi đầu tư vào những quốc gia có mức độ ổn định kinh tế cao Chính vì vậy, mộtquốc gia có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và ổn định sẽ thu hút mạnh mẽnguồn vốn đầu tư nước ngoài

Ngoài các yếu tố trên thì nhà đầu tư cần phải cân nhắc đến các yếu tố khác của môi trườngtài chính như:

 Các chính sách tài chính; chính sách đầu tư cho tài chính, mở tài khoản vay vốn, lãisuất, chuyển lợi nhuận về nước

 Nền tài chính quốc gia đánh giá qua các chỉ tiêu: cán cân thương mại quốc tế, cáncân thanh toán quốc tế, nợ quốc gia, khả năng điều tiết của nhà nước

 Khả năng tự do chuyển đổi của đồng tiền

 Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng

 Khả năng đầu tư từ chính phủ cho phát triển

 Giá cả hàng hóa…

3.6 Môi trường cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng ở đây mang tính tiên phong, định hướng, xúc tác cho các hoạt động đầu tư,

nó mở đường cho các hoạt động kinh tế xã hội phát triển Hệ thống đường xá, giao thông, hệthống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnh hưởng tớichi phí kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả nănggiao dịch thanh toán của các nhà đầu tư, do đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinhdoanh

Cơ sở vật chất kỹ thuật càng được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng góp phần đem lại hiệuquả cao bấy nhiêu Điều này thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống nhà xưởng, kho tàng,cửa hàng, bến bãi được bố trí hợp lý, nằm trong khu vực có mật độ dân cư lớn, thu nhập về cầu

về tiêu dùng của người dân cao…và thuận lợi về giao thông sẽ đem lại một tài sản vô hình rấtlớn đó là lợi thế kinh doanh đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao

Ngoài cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường thu hút đầu tư còn chịu ảnh hưởng khá lớn của cơ

sở hạ tầng xã hội Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe cho ngườidân, hệ thống giáo dục và đào tạo, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác

Vì vậy, cần chú ý đến công tác đầu tư chuẩn bị cơ sở hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư, tạocho họ sự tin cậy để bỏ vốn đầu tư Đặc biệt là hệ thống đường sá, cầu cống, sân bay, cảng…cũng như mức độ thỏa mãn về các dịch vụ như: điện, nước, bưu chính viễn thông, khách sạn…

 Khả năng thuê đất, sở hữu nhà, chi phí thuê đất, đền bù giải tỏa, thuê nhà:

Trang 15

Đất đai có liên quan tới cơ chế ưu đãi cho đầu tư (giữa nước ngoài và trong nước); mở cửathị trường cho đầu tư nước ngoài, trong đó có đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản; mở cửathị trường dịch vụ trong đó có dịch vụ ngân hàng trong thế chấp bằng đất; bảo đảm tính côngbằng về quyền tiếp cận đến quỹ đất của các thành phần kinh tế Ngoài ra, ở mỗi quốc gia đều cónhững qui định pháp lý về đất đai khi sử dụng đất đối với các nhà đầu tư, hơn nữa hệ thống chínhsách, pháp luật đất đai cũng được thay đổi qua nhiều thời kỳ Do vậy cần tìm hiểu rõ những luậtnày trước khi đầu tư để mang lại hiệu quả tốt nhất cho việc đầu tư.

3.7 Môi trường lao động

Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một đất nước đang phát triển, các nhà đầu

tư cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thải ở các nước này.Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn được đáp ứng đầy đủ và có thể thỏa mãn yêu cầucủa các công ty Tuy vậy, chỉ có thể tìm được nhà quản lý giỏi, cũng như cán bộ kỹ thuật có trình

độ và kinh nghiệm ở các thành phố lớn Động cơ, thái độ làm việc của người lao động cũng làyếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm để đầu tư

 Nguồn lao động và giá cả nhân công lao động:

- Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọigiai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm củangười lao động tác động trực tiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinhdoanh, tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phảm, tác động tới tốc độ tiêu thụ sảnphẩm do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Nhiều nghiên cứu cho thấy phần đông các nhà đầu tư đầu tư vào các nước là để khai tháccác tiềm năng, lợi thế về chi phí Trong đó, chi phí về lao động thường được xem là yếu tố quantrọng nhất khi ra quyết định đầu tư Nhiều nghiên cứu cho thấy, đối với các nước đang phát triển,lợi thế chi phí lao động thấp là cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong các thập kỉqua Nếu tiền lương cao thì chi phí sản xuất kinh doanh sẽ tăng, do đó làm giảm hiệu quả sảnxuất kinh doanh Vì vậy, khi giá nhân công tăng lên, đầu tư nước ngoài có khuynh hướng giảm

rõ rệt

 Hệ thống giáo dục và đào tạo:

Trình độ văn hoá ảnh hưởng tới khả năng đào tạo cũng như chất lượng chuyên môn và khảnăng tiếp thu các kiến thức cần thiết của đội ngũ lao động, phong cách, lối sống, phong tục, tậpquán, tâm lý xã hội Một đội ngũ lao động lành nghề, có chất lượng cao đương nhiên sẽ là mộtlợi thế để các nhà đầu tư triển khai các hoạt động kinh doanh của mình Bên cạnh đó, sự hỗ trợcủa chính phủ về phát triển, đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao năng suất cũng như cường độ

Trang 16

lao động cũng là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động, thu hútcác nhà đầu tư

3.8 Môi trường quốc tế

Trong điều kiện ngày nay, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế

mở đã thực sự trở thành những xu hướng có tính khách quan Nền kinh tế của mỗi nước trởthành một bộ phận của nền kinh tế tòan cầu và chịu ảnh hưởng trực tiếp của những động tháikinh tế toàn cầu Vì vậy, một quốc gia gia nhập các tổ chức Hợp tác kinh tế quốc tế: tham gia cáckhối kinh tế ASEAN, APEC, hay tham gia vào các diễn đàn thương mại thế giới: WTO,…giúpquốc gia đó hưởng một số chế độ ưu đãi nhất định (chế độ ưu đãi MFN khi gia nhập WTO, ).Bên cạnh đó, việc thiết lập quan hệ buôn bán với thế giới, mức độ được hưởng ưu đãi MFN vàGSP của các nước này cũng như sự ủng hộ tài chính thông qua các hiệp định song phương và đaphương (Nhật, EU, IMF, WB, ADB…) để vay vốn ODA giúp cho các nhà đầu tư thuận lợi hơntrong việc kinh doanh khi quyết định đầu tư vào những quốc gia này

Ngoài ra, mức độ mở cửa về kinh tế và tài chính với thị trường bên ngoài cũng như các mốiquan hệ ngoại giao của chính phủ cũng là một trong những cân nhắc quan trọng của nhà đầu tư

4 Tác động bên trong và bên ngoài đối với môi trường đầu tư

4.1 Những tác động bên trong

4.1.1 Hệ thống chính trị

Đối với nhân tố chính trị, đây là vấn đề được quan tâm đầu tiên của các nhà đầu tư nướcngoài khi có ý định đầu tư vào một nước mà đối với họ còn nhiều khác biệt Khi đó, một đấtnước với sự ổn định và nhất quán về chính trị cũng như an ninh và trật tự xã hội được đảm bảo sẽbước đầulàm cho họ có được tâm lý yên tâm tìm kiếm cơ hội làm ăn cũng như có thể định cư lâudài Môi trường chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết để kéo theo sự ổn định của các nhân tố

Đ U TẦU TƯ Ư

Nh ng ững tác đ ng ộng bên trong

Nh ng ững tác đ ng ộng bên ngoài

Trang 17

khác như kinh tế, xã hội Đó cũng chính là lý do tại sao các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vàomột nước lại coi trọng yếu tố chính trị đến vậy.

Đối với quốc gia nhận đầu tư: thông thường chính phủ nước này mong muốn xây dựng

mối quan hệ bền vững với các quốc gia khác trên cơ sở hệ thống chính trị ổn định, giữ vững độclập dân tộc trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài

Đối với nhà đầu tư nước ngoài: khi triển khai chiến lược đầu tư tại một nơi nào đó, họ

mong muốn tại đó có một hệ thống chính trị ổn định đảm bảo an toàn, giúp họ yên tâm trongsuốt quá trình đầu tư

Dòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển từ các nước có tình hình chính trị bất ổn, nơithường xảy ra các cuộc biểu tình của nhân dân và thường xuyên xảy ra các cuộc đảo chính bấtngờ Những quốc gia có nguy cơ khủng bố cao cũng bị các nhà đầu tư dần dần rút vốn ra để tậptrung đầu tư vào những nước có tình hình chính trị - xã hội và an ninh quốc gia được đảm bảo.Người dân Trung quốc đạp phá công ty Nhật do tranh chấp đảo trên Biển Đông, khiến Nhậtdần chuyển sang nước khác để đầu tư

Tình hình chính trị - xã hội và an ninh của Thái Lan bất ổn từ cuối năm 2008 khiến chodòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển ra khỏi Thái Lan Điển hình là ngành công nghiệp dulịch, chiếm tới gần 7% GDP, và cũng là ngành sử dụng nhiều nhân công ở Thái Lan bị thiệt hạinặng

Với nền chính trị ổn định, Singapore đã thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài và cũng lập

kỷ lục mới khi lượng FDI đổ vào khoảng 37 tỷ USD

4.1.2 Chính sách vĩ mô trong việc tiếp nhận đầu tư

4.1.2.1 Những tác động tích cực hỗ trợ của nhà đầu tư

- Qui mô và tiềm năng phát triển của thị trường rộng lớn, đặc biệt là những vùng tập trungđông dân cư – thị trường tiềm năng của họ

- Vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng phát triển, chi phí hoạt động thấp

- Sự thân thiện của chính quyền địa phương qua các thủ tục hành chính Hệ thống dịch vụcông minh bạch, hiệu quả và công bằng qua việc cấp giấy phép, thủ tục hải quan, thu thuế … cóhiệu quả và không tham nhũng (Cơ chế đối thoại giữa Chính phủ với các nhà đầu tư được tăngcường thông qua nhiều diễn đàn, tạo thêm lòng tin cho các nhà đầu tư đối với Chính phủ, các Bộngành và chính quyền địa phương)

- Sự dồi dào về nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên

- Sự ổn định, nhất quán, bình đẳng của các chính sách quản lý đối với các dự án đầu tư vànhà đầu tư nước ngoài

Trang 18

- Kế hoạch, quy hoạch (chung và riêng) các vùng, các ngành nghề, lĩnh vực địa bàn … củabên nhận đầu tư để hoạch định chương trình, kế hoạch cho công ty khi đầu tư.

-Hoạt động xúc tiến đầu tư được triển khai tích cực ở cả trong và ngoài nước dưới nhiềuhình thức đa dạng, nhằm vào các địa bàn trọng điểm, dự án quan trọng Đặc biệt việc tổ chức cácHội thảo, Diễn đàn đầu tư trong khuôn khổ các chuyến thăm các nước của Lãnh đạo Chính phủ

4.1.2.2 Những rào cản của môi trường đầu tư đối với hoạt động FDI

a) Các rào cản mang tính hành chính (Administrative impediments): liên quan đến sự

thiếu minh bạch, rõ ràng trong các luật và qui định bao gồm cả các luật và qui địnhthuộc quyền quản lý của các cơ quan ở dưới cấp quốc gia (cấp tỉnh, vùng)

Nhập nhằng quy định:

Theo Vụ Pháp chế, Bộ KH-ĐT, hơn 6 năm sau khi có hiệu lực thi hành, Luật Đầu tư 2005

đã cho thấy nhiều điểm bất cập Vì vậy, Luật Đầu tư 2005 sẽ được hoàn thiện theo hướng sửa đổinhóm các quy định chung của luật làm cơ sở cho việc áp dụng thống nhất điều kiện, thủ tục đầu

tư, kinh doanh, khắc phục tình trạng xung đột giữa Luật Đầu tư, Luật DN và các luật có liênquan Theo định hướng, các quy định về thủ tục đầu tư sẽ được sửa đổi theo hướng tách riêng thủtục đầu tư và thủ tục đăng ký kinh doanh

Đồng thời, vấn đề quản lý nhà nước cũng là một nội dung lớn dự kiến sẽ sửa đổi để bổ sung

cơ chế giám sát, đảm bảo hoạt động cấp giấy chứng nhận đầu tư minh bạch, tránh rườm rà TheoLuật sư Trần Thanh Tùng, Công ty Luật Phước & Partners, sửa đổi Luật Đầu tư phải bắt đầu từsửa đổi thủ tục đầu tư

Hiện nay, quy định về thủ tục đầu tư trong Luật Đầu tư còn thể hiện nhiều bất cập, vì vậycần bãi bỏ các quy định liên quan đến thủ tục đăng ký, thẩm tra đầu tư vì có sự trùng lặp rất lớnvới các thủ tục đất đai nên các địa phương lúng túng không biết thực hiện thủ tục nào trước, thủtục nào sau Hơn nữa, giá trị pháp lý của giấy chứng nhận đầu tư hiện vẫn chưa rõ ràng, khônggiúp giảm bớt mà còn tạo ra thêm thủ tục

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Trưởng Ban Pháp chế của VCCI, cho rằng việc xác định như thếnào là nhà đầu tư nước ngoài cũng còn nhập nhằng, ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng công cụ đầu

tư và xác định những hạn chế sẽ phải chịu khi sử dụng công cụ đó Cụ thể, Điều 3 của Luật Đầu

tư 2005 quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiệnđầu tư tại Việt Nam” Như vậy, DN có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập ở Việt Nam khôngnằm trong diện này

Tuy nhiên, Quyết định 55/2009/QĐ-TTg ban hành ngày 15-4-2009 - xác định tỷ lệ thamgia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam - lại quy định nhà đầu tư

Trang 19

nước ngoài bao gồm các DN có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam với tỷ lệ vốncủa bên nước ngoài cao hơn 49% Sự không thống nhất này khiến một nhà đầu tư sử dụng mộtcông ty con được thành lập tại Việt Nam để đầu tư tiếp vào một lĩnh vực bị hạn chế đối với nhàđầu tư nước ngoài theo cam kết của WTO, sẽ không xác định được công ty con này có phải chịu

Trong khi đó, Khoản 4 Điều 29 của Luật Đầu tư lại quy định “nhà đầu tư nước ngoài được ápdụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sởhữu từ 51% vốn điều lệ trở lên”, có vẻ phù hợp với định hướng của Quyết định 55 nhưng lạichưa hoàn toàn thể hiện đúng như vậy

Ưu đãi chưa rõ ràng:

Về các vấn đề ưu đãi, một đại diện của Công ty Luật TNHH Baker & McKenzie nhận xét,theo quy định của pháp luật, nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực và địa bàn ưu đãi, baogồm các dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ônhiễm môi trường có thể được hưởng các ưu đãi về thuế, chuyển lỗ, khấu hao tài sản cố định và

ưu đãi về sử dụng đất

Điều 38 của Luật Đầu tư cũng quy định, đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, cơquan nhà nước quản lý đầu tư phải ghi ưu đãi này vào giấy chứng nhận đầu tư Tuy nhiên, trênthực tế, các quy định này chưa đáp ứng được tính minh bạch, chưa làm rõ thủ tục để nhà đầu tưđược hưởng các ưu đãi này Thông thường, các ưu đãi về chuyển lỗ hay về khấu hao tài sảnkhông được ghi trong giấy chứng nhận đầu tư

Do đó, rất nhiều nhà đầu tư thắc mắc không biết có được hưởng ưu đãi trên, có cần xinthêm chấp thuận từ Bộ Tài chính hay Sở Tài chính để được hưởng ưu đãi không Kể cả với ưuđãi được ghi trên giấy chứng nhận đầu tư, DN cũng không được tự động hưởng mà lại phảithông qua một quá trình thủ tục xin phép, thẩm tra, phê chuẩn của các bộ, ngành liên quan như

cơ quan thuế, hải quan

Do đó, thay vì DN được hưởng nhiều ưu đãi nhưng thực tế lại khó có thể được Nếu có, DNcũng phải mất nhiều thời gian và chi phí để thực hiện nhiều thủ tục với nhiều cơ quan khác nhau.Ngoài các vấn đề trên, VCCI cũng đưa ra hàng loạt kiến nghị sửa đổi nhiều quy định kháctrong Luật Đầu tư như yêu cầu đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam, thủtục tạm ngừng, dãn tiến độ thực hiện, chuyển nhượng, chấm dứt dự án đầu tư, quyền phân phối,quyền thuê và sử dụng lao động…

Theo VCCI, Luật Đầu tư 2005 cần phải sửa đổi theo hướng viết lại toàn bộ nội dung mộtcách hệ thống chứ không thể dừng lại ở việc sửa đổi các điều khoản riêng lẻ

Trang 20

b) Khả năng tiếp cận thị trường và các tiêu chuẩn về đối xử (Market access standards

of treatment): Bao gồm 3 nguyên tắc như sau:

1/ Khả năng tiếp cận thị trường:

Mở cửa thị trường dịch vụ sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các nền kinh tế, bao gồm cả cácnước đang phát triển, với điều kiện được thực hiện một cách thận trọng Tuy nhiên mở cửa thịtrường dịch vụ là một vấn đề cực kỳ phức tạp Trong bất cứ cuộc đàm phán nào về thương mạidịch vụ đều đặt ra một câu hỏi hóc búa rằng liệu những người cung cấp dịch vụ (các y tá, luật sưhoặc kỹ sư bảo trì máy tính…) có thể tới quốc gia khác để hành nghề hay không

Các vòng đàm phán thương mại toàn cầu trước đây chỉ đạt được kết quả khiêm tốn trong

mở cửa thị trường dịch vụ Tuy nhiên sự phát triển của công nghệ đã tạo ra một xung lực riêngbiệt cho việc mở cửa thị trường dịch vụ Các dịch vụ trực tuyến (online services) (ví dụ: cáctrung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại, qua e-mail) không nhất thiết phải được thiết lập ởtrong cùng một quốc gia, thậm chí là cùng một châu lục Các thị trường dịch vụ được mở cửathông qua các hiệp định song phương và khu vực, thông qua các chương trình cải cách từ bêntrong từng quốc gia)

Hiện tại các cuộc đàm phán tự do hoá thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Chương trìnhnghị sự Đôha vì sự phát triển (DDA) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tạo cơ hội cho tất

cả các nước ở những trình độ phát triển khác nhau đánh giá lại toàn bộ quá trình phát triển dịch

vụ và thực thi mở cửa mạnh mẽ hơn nữa thị trường dịch vụ

Tuy nhiên, trên thực tế, đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ là một nội dung hết sức phứctạp bởi chính những thuộc tính của thương mại dịch vụ Trước hết, do tính chất vô hình của dịch

vụ nên rất khó định lượng tác động của các biện pháp bảo hộ cũng như giá trị của các cam kết tự

do hoá trong lĩnh vực này Bởi vậy, trong đàm phán về dịch vụ không có được những công thứccắt giảm chung như trong thương mại hàng hoá và mỗi quốc gia tự đưa ra một lịch trình cam kếtriêng Với trình độ phát triển, năng lực đàm phán khác nhau, mỗi quốc gia có một Danh mụccam kết riêng và không nước nào giống nước nào Thứ hai, các nhóm nước có cách tiếp cận rấtkhác nhau trong đàm phán dịch vụ Trong khi các nước công nghiệp phát triển muốn thúc đẩymạnh mẽ các thoả thuận mở cửa thị trường thì các nước đang phát triển lại hết sức dè dặt trongviệc đưa ra các cam kết Bên cạnh lý do về trình độ phát triển, một nguyên nhân không kém phầnquan trọng là sự e ngại việc mở cửa thiếu kiểm soát các dịch vụ nhạy cảm (tài chính, viễn thông,vận tải, giáo dục…) có thể dẫn đến mất ổn định, tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế-xã hội

Cụ thể, trong số các thành viên đang phát triển của WTO, 44 nước cam kết dưới 20 phân ngành

và 47 nước cam kết từ 21 đến 60 phân ngành Các nước phát triển đều cam kết từ 60 đến 130

Trang 21

phân ngành Từ hai lý do cơ bản nêu trên, nếu áp dụng cứng nhắc nguyên tắc MFN sẽ khôngthúc đẩy được tiến trình đàm phán dịch vụ Bởi điều này sẽ mâu thuẫn với một nguyên tắc quantrọng của đàm phán là nguyên tắc có đi có lại và không khuyến khích các thành viên tự nguyệnđưa ra các cam kết tự do hoá dịch vụ.

Do vậy, việc chuẩn bị cho các cuộc đàm phán đòi hỏi một tiếp cận toàn diện với sự thamgia của tất cả các cơ quan chính phủ có liên quan (và các nhà đàm phán), các nhà lập pháp, cácnhà hoạch định và quản lý, các doanh nghiệp và cộng đồng Cơ chế hợp tác và tư vấn là cực kỳquan trọng để tạo ra một phương pháp tiếp cận (tầm nhìn) thống nhất, mạch lạc, thể hiện tốt nhất

có thể quan điểm của quốc gia đó Điều này đặc biệt đúng đối với dịch vụ bởi tính đa dạng củacác ngành dịch vụ, của các phương thức cung cấp dịch vụ và phạm vi điều tiết mà nó bao trùm.Những cơ chế như vậy thường thiếu ở các nước đang phát triển Tuy nhiên một khảo sátgần đây của OECD- UNCTAD cho thấy một số các nước đang phát triển đang rất nỗ lực đểchuẩn bị hiệu quả cho các cuộc đàm phán Những nghiên cứu đánh giá tác động đối với từngquốc gia, từng khu vực cụ thể đang được thực hiện trên khắp thế giới để nghiên cứu đánh giá tácđộng kinh tế – xã hội tiềm tàng của việc tự do hoá các lĩnh vực dịch vụ quan trọng trong khuônkhổ đàm phán và cơ chế phối hợp – hợp tác giữa các Bộ, ngành thành viên Chính phủ và sự tưvấn của các bên có quyền lợi có liên quan

2) Nguyên tắc tối huệ quốc(MFN):

Tối huệ quốc, viết tắt theo tiếng Anh là MFN (Most favoured nation), là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO Tầm quan trọng đặc biệt của MFN được thể hiện ngay tại Điều I của Hiệp định CATT (mặc dù bản thân thuật ngữ "tối huệ quốc"không được sử dụng trong điều này)

Nguyên tắc MFN được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử

ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tấtcả các nước thành viên khác.Thông thường nguyên tắc MFN được quy định trong các hiệp định thương mại song phương.Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO thì cũngđồng nghĩa với nguyên tăc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các nước sẽ dành chonhau sự "đối xử ưu đãi nhất" Nguyên tắc MFN trong WTO không có tính chất áp dụng tuyệtđối Hiệp định GATT 1947 quy định mỗi nước có quyền tuyên bố không áp dụng tất cả các điềukhoản trong Hiệp định đối với một nước thành viên khác (Trường hợp Mỹ không áp dụng MFNđối với Cuba mặc dù Cuba là thành viên sáng lập GATT và WTO)

Điều I 1 Hiệp định GATT quy định nghĩa vụ của mọi bên ký kết dành "ngay lập tức vàkhông điều kiện” bất kỳ ưu đãi , ưu tiên, đặc quyền hoặc đặc miễn nào liên quan đến thuế quan

và bất kỳ loại lệ phí nào mà bên ký kết đó áp dụng cho hoặc liên quan đến việc nhập khẩu, xuất

Trang 22

khẩu hoặc cho việc chuyển tiền thanh toán quốc tế , hoặc liên quan đến phương pháp tính thuếquân và lệ phí hoặc liên quan đến tất cả các quy định và thủ tục đối với việc xuất và nhập khẩumột sản phẩm xuất xứ hoặc nhập khẩu sang một Bên ký kết cho một sản phẩm cùng loại xuất xứhoặc nhập khẩu sang các Bên ký kết khác.

Nếu như ngày nay quy chế MFN đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng thì trong lịch sử đãchỉ có một nhóm nhỏ các cường quốc phương Tây được hưởng quy chế “Tối huệ quốc”, thực sự

có tính ưu đãi hơn các nước khác được đưa ra trong các hiệp định thương mại và hàng hải ký vớicác nước A’-Phi-Mỹ Latinh

Nếu như nguyên tắc MFN trong GATT 1947 chỉ áp dụng đối với ‘hàng hoá’ thì trongWTO, nguyên tắc này đã được mở rộng sang thương mại dịch vụ (Điều 2 Hiệp định GATS), và

sỏ hữu trí tuệ (Điều 4 Hiệp định TRIPS)

Mặc dù được coi là "hòn đá tảng “ trong hệ thống thương mại đa phương, Hiệp định GATT

1947 và WTO vẫn quy định một số ngoại lệ (exception) và miễn trừ (waiver) quan trọng đối vớinguyên tắc MFN1 Ví dụ như Điều XXIV của GATT quy định các nước thành viên trong cáchiệp định thương mại khu vực có thể dành cho nhau sự đối xử ưu đãi hơn mang tính chất phânbiệt đối xử với các nước thứ ba, trái với nguyên tắc MFN GATT 1947 cũng có hai miễn trừ vềđối xử đặc biệt và ưu đãi hơn với các nước đang phát triển Miễn trừ thứ nhất là Quyết định ngày25-6-1971 của Đại hội đồng GATT về việc thiết lập “ Hệ thống ưu đãi phổ cập" (GSP) chỉ ápdụng cho hàng hoá xuất xứ từ những nước đang phát triển và châm phát triển Trong khuôn khổGSP, các nước phát triển có thể thiết lập số mức thuế ưu đãi hoặc miễn thuế quan cho mộtsônhóm mặt hàng có xuất xứ từ các nước đang phát triển và chậm phát triển và không có nghĩa

vụ phải áp dụng những mức thuế quan ưu đãi đó cho các nước phát triển theo nguyên tắc MFN.Miễn trừ thứ hai là Quyết định ngày 26-11-1971 của Đại hội đồng GATT về ‘Đàm phán thươngmại giữa các nước đang phát triển”, cho phép các nước này có quyền đàm phán, ký kết nhữnghiệp định thương mại dành cho nhau những ưu đãi hơn về thuế quan và không có nghĩa vụ phải

áp dụng cho hàng hoá đến từ các nước phát triển Trên cơ sở Quyết định này, Hiệp địnhvề “Hệthống ưu đãi thương mạitoàn cầu giữa các nước đang phát triển ” (Global System of TradePreferences among Developing Countries - GSPT) đã được ký năm 1989

Mặc dù được tất cả các nước trong GATT/WTO công nhận là nguyên tắc nền tảng, nhưngthực tế cho thấy các nước phát triển cũng như đang phát triển không phải lúc nào cũng tuân thủnghiêm túc nguyên tắc MFN và đã có rất nhiều tranh chấp trong lịch sử của GATT liên quan đếnviệc áp dụng nguyên tắc này Thông thường thì vi phạm của các nước đang phát triển dễ bị pháthiện và bị kiện nhiều hơn vi phạm của các nước phát triển

Trang 23

Năm 1981, Braxin đã kiện Tây Ban Nga ra trwocs GATT về thuế suất đăc biệt đối với càphê chưa rang Braxin cho rằng Nghị định 1764/79 của Tây Ban Nha quy định các mức thuếquan khác nhau đối với năm loại cà phê chưa rang khác nhau (cà phê Arập chưa rang, cà phêRobusta, cà phê Côlômbia, cà phê nhẹ và cà phê khác) Hai loại cà phê đều được nhập khẩu miễnthuế, ba loại cà phê còn lại chịu mức thuế giá trị gia tăng là 7% Sau khi xem xet Nghị định nóitrên, Nhóm chuyên gia của GATT đã đi đến kết luận như sau: “Hiệp định GATT không quy địnhnghĩa vụ cho các bên ký kết phải tuân thủ một hệ thống phân loại hàng hoá đặc biệt nào Tuynhiên, Điều I,1 của GATT quy định nghĩa vụ của các Bên ký kết phải dành một sự đối xử nhưnhau cho những sản phẩm tương tự Lập luận của Tây Ban Nha biện minh cho sự cần thiết phải

có sự đối xử khác nhau đối với từng loại cà phê khác nhau chủ yếu dựa trên những yếu tố nhưđịa lý, phương pháp trồng trọt, quá trình thu hoạch hạt và giống Những yếu tố này tuy có khácnhau nhưng không đủ để Tây Ban Nha có thể áp dụng những thuế suất khác nhau đối với từngloại cà phê khác nhau Đối với tất cả những người tiêu thụ cà phê trên thế giới thì cà phê chưarang được bán dưới dạng hạt cho dù thuộc nhiều loại khác nhau cũng chỉ là một lại sản phẩmcùng loại, có tính năng sử dụng duy nhất là để uống mà không phân biệt độ caphêin mạnh haynhẹ Năm loại cà phê chưa rang nhập khẩu có tên trong danh mục thuế uancủa Tây Ban Nha đều

là những sản phẩm cùng loại Việc Tây Ban Nha áp dụng mức thuế quan cao hơn đối với hai loạicàc phê là A rập và Robusta, được nhập khẩu từ Braxin mang tính chất phân biệt đối xử đối vớinhững sản phẩm cùng loại và như vậy trái với quy định của Điều I, khoản 1 Hiệp định GATT”

3) Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia:

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT), quy định tại Điều III Hiệp định GATT, Điều 17 GATS và Điều 3 TRIPS Nguyên tắc NT được hiểu là hàng hóa nhập khẩu, dịch

vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước

Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ, các quyền

sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân Phạm vi áp dụng của nguyên tắc NTđối với hàng hoá, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có khác nhau Đối với hàng hoávà sở hữu trí tuệ, việc

áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung (general obligation), có nghĩa là hàng hoá vàquyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo vệ hợp phápđược đối xử bình đẳng như hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phínội địa, các quy định về mua, bán, phân phối vận chuyển Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ

áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào danh mục cam kết cụ thểcủa mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ (exception)

Trang 24

Các nước, về nguyên tắc, không được áp dụng những hạn chế số lượng nhập khẩu và xuấtkhẩu, trừ những ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các Hiệp định của WTO, cụ thể, đó là cáctrường hợp: mất cân đối cán cân thanh toán (Điều XII và XVIII.b) ; nhằm mục đích bảo vệngành công nghiệp non trẻ trong nước (Điều XVIII.c); bảo vệ ngành sản xuất trong nước chốnglại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thịtrường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều (Điều XIX); vì lý do sức khoẻ và vệ sinh (Điều XX) và

vì lý do an ninh quốc gia (Điều XXI)

Một trong những ngoại lệ quan trong đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là vấn đề trợ giácho sản xuất hoặc xuất hay nhập khẩu Vấn đề này được quy định lần đầu tại Điều VI và ĐiềuXVI Hiệp định GATT 1947 và sau này được điều chỉnh trong thoả thuận vòng Tôkyô 1979 vàhiện nay trong Thoả thuận Vòng đàm phán U ruguay về trợ cấp và thuế đối kháng, viết tắt theotiếng Anh là SCM Thoả thuận SCM có một điểm khác biệt lớn so với GATT 1947 và thoả thuậnTôkyô ở chỗ nó được áp dụng cho cả các nước phát triển và đang phát triển Hiệp định mới vềtrợ giá phân chia các loại trợ giá làm 3 loại : loại "xanh"; loại "vàng" và loại "đỏ” theo nguyêntắc "đèn hiệu giao thông" (traffic lights)

Riêng về vấn đề hạn chế số lượng đối với hàng dệt may được quy định trong Hiệp định đasợi (MFA) và hiện nay được thay thế bởi Hiệp định về hàng dệt may của Vòng đàm phán Uruguay (ATC) Hiệp định ATC đã chấm dứt 30 năm các nước phát triển phân biệt đối xử đối vớihàng dệt may của các nước đang phát triển Các nước phát triển sẽ có một thời gian chuyển tiếp

là 10 năm để bãi bỏ chế độ hạn ngạch về số lượng hiện hành Điều I của Hiệp định ATC cũngquy định điều khoản cứu xét đặc biệt đối với một số nhóm nước; ví dụ như các nước cung cấpnhỏ, các nước mới bước vào thị trường (new entrants), các nước chậm phát triển nhất, các nước

đã ký hiệp định MFA từ 1986 cũng như các nước xuất khẩu bông

Việc áp dụng quy chế đãi ngộ quốc gia trên thực tế đã gây ra rất nhiều tranh chấp giữa cácbên ký kết GATT/WTO bởi một lý do dễ hiểu là nếu các nước dễ chấp nhận nguyên tắc đối xửbình đẳng đối với các nước thứ 3 thì nước nào cũng muốn dành một sự bảo hộ nhất định đối vớisản phẩm nội địa Mục tiêu chính của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là tạo ra những điều kiện cạnhtranh bình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá nội địa cùng loại Trong vụ Vênêxuêlakiện Mỹ về thuế môi trường đối với xăng dầu, Bồi thẩm đoàn của GATT đã khẳng định lại.Điều III 2 Hiệp định GATT quy định nghĩa vụ của các bên ký kết tạo ra những điều kiệncạnh tranh bình đẳng cho cả hàng hoá nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Trong vụ kiệnkhác mà Mỹ liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia, Bồi thẩm đoàn của GATT

Trang 25

đã khẳng định lại nguyên tắc việc áp dụng thuế nội địa, luật và quy định về mua bán vận chuyển,phân phối và sử dụng hàng hoá không được mang tính chất bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước.

Về vấn đề “doanh nghiệp nhà nước độc quyền thương mại” , Hiệp định không cấm các bên

ký kết thành lập hoặc duy trì những doanh nghiệp nhà nước kiểu như vậy nhưng phải đảm bảonguyên tắc đãi ngộ quốc gia vẫn được áp dụng đối với những doanh nghiệp này Trong vụ Mỹkiện Thái Lan về những hạn chế số lượng và tăng thuế tiêu thụ đánh vào thuốc lá điếu nhậpkhẩu, nhóm chuyên gia của GATT đã quyết định rằng chính phủ Thái Lan có quyền thành lập

"Thai Tobacco Monopoly" là công ty của nhà nước độc quyền trong lĩnh vực nhập khẩu và phânphối thuốc lá ở Thái lan và có quyền sử dụng công ty này để điều chỉnh giá và hệ thống bán lẻthuốc lá Tuy nhiên, ngựoc lại,Thái Lan cũng có nghĩa vụ theo đãi ngộ quốc gia không được đối

xử với thuốc lá nhập khẩu kém ưu đãi hơn so với thuốc lá sản xuất trong nước Vì vậy, việc Tháilan hạn chế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thuốc lá ngoại và tăng thuế tiêu thụ nội điạ căn cứvào tỷ lệ "nội hoá" trong thuốc lá là vi phạm Điều III của GATT về đãi ngộ quốc gia Bồi thẩmđoàn của GATT đồng thời cũng bác bỏ lập luận của Thái lan viện dẫn điều khoản cho phép hạnchế số lượng vì lý do sức khoẻ vì cho rằng mục tiêu thực sự của chính phủ Thái lan không phải

là để hạn chế việc tiêu thụ thuốc lá nói chung (việc hạn chế nhập khẩu và tăng thuế không ápdụng đối với sợi và giấy để sản xuất thuốc lá nội địa) mà thực chất là nhằm bảo hộ ngành sảnxuất thuốc lá của Thái lan

c) Những rào cản đối với hoạt động của nhà đầu tư:

- Mức thuế cao

- Chính sách đầu tư thiếu nhất quán

- Hệ thống dịch vụ công thiếu hiệu quả, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp…

- Những quy định cản trở hoạt động của nhà đầu tư

+ Yêu cầu về mức tài sản của các quỹ đầu tư nước ngoài

+ Số năm kinh nghiệm hoạt động tối thiểu của công ty nước ngoài

+ Hạn mức đầu tư cho các tổ chức đầu tư nước ngoài

- Qũy đất hạn hẹp ở nơi có điều kiện đầu tư thuận lợi…

d) Sự nổ lực của nhà đầu tư:

Khó khăn lớn nhất là bên chuyển nhượng phải kiểm soát được hoạt động của bên nhậnquyền kinh doanh theo đúng như cam kết và bảo vệ được thương hiệu của mình trong suốt thờigian hợp đồng

Bản sắc thương hiệu là giá trị cốt lõi và đặc trưng của thương hiệu, là dấu ấn tồn tại trongtâm trí khách hàng một cách sâu đậm nhất và tạo nên khác biệt so với các thương hiệu khác Xây

Trang 26

dựng thương hiệu sẽ xoay quanh phần hồn là những giá trị cốt lõi đó để tạo dựng hình ảnh vànhững cam kết đối với khách hàng một cách nhất quán Có thể nói, giá trị lớn nhất của hợp đồngthương hiệu nhượng quyền nằm ở việc chuyển tải bản sắc này đến người được nhượng quyềnnhư là một lợi thế cạnh tranh ưu việt giúp họ xây dựng công việc kinh doanh một cách nhanhchóng nhất Nhưng những thương hiệu nhượng quyền rất khó bảo vệ giá trị này vì nó phụ thuộcvào người được nhượng quyền có giữ được tính toàn vẹn của hình ảnh thương hiệu ở mức nhấtđịnh hay không Hệ thống nhượng quyền càng lớn, họ càng dễ mất quyền kiểm soát nếu bản sắcthương hiệu không được củng cố và bảo vệ.

Trung Nguyên là người đầu tiên áp dụng mô hình nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam,

và có thể nói đã đạt được những thành tựu to lớn trong những giai đoạn đầu tiên xây dựng vàphát triển mô hình mới mẻ này Nhưng cũng khó có thể nhận xét thành công sẽ vang dội hơnchừng nào nếu ngay từ đầu Trung Nguyên đã đầu tư vào việc bảo vệ và kiểm sóat bản sắcthương hiệu của mình một cách nghiêm ngặt và đồng bộ hơn Khó khăn lớn nhất của hệ thống càphê Trung Nguyên hiện nay là việc xây dựng và triển khai tinh chất “khơi nguồn sáng tạo” đếncác quán cà phê trong hệ thống của mình đã không thật sự gây được ấn tượng như mong đợitrong tâm trí khách hàng Điều này đòi hỏi Trung Nguyên phải nỗ lực rất lớn và tốn nhiều tiềncủa để tái xác lập hình ảnh thương hiệu mang đậm bản sắc và lòng tự hào dân tộc Các thươnghiệu khác như Phở 24, Kinh Đô cũng đang thực thi chiến lược “chậm mà chắc” trong việc xâydựng hệ thống nhượng quyền nhằm đảm bảo những giá trị cốt lõi của mình luôn được đồng bộ

và nhất quán ở tất cả các cửa hàng nhượng quyền

Yếu tố chủ quan, thiếu năng lực tài chính từ phía nhà đầu tư:

Có nhiều dự án chậm triển khai, hết thời hạn giáy phép, công ty mẹ ở nước ngoài bị phásản Không những thế, hàng loạt dự án hàng tỷ USD được cấp phép rầm rộ vào vài năm trướcvới khá nhiều kỳ vọng về sự “đổi đời” cho nhiều vùng đất, vẫn tiếp tục im hơi lặng tiếng dẫn đếnchính quyền nước tiếp nhận đầu tư quyết định rút giấy phép đầu tư

Những “siêu dự án” bị rút phép năm 2010:

Điểm lại những “siêu dự án” hoặc bị rút phép hoặc tiếp tục viện dẫn những lý do để trì hoãn tiến độ trong năm 2010 Tình trạng các dự án bị rút phép là lời cảnh báo với các chủ đầu tư trong quá trình triển khai dự án và là cơ sở để các cơ quan chức năng rà soát chặt chẽ việc cấp phép cũng như thẩm định năng lực của nhà đầu tư

Dự án Khu phức hợp công nghiệp nặng STX Vina của tập đoàn STX (Hàn Quốc) của Khánh Hòa

Trang 27

Đây là dự án lớn nhất đã được cấp giấy phép trong số các dự án đầu tư nước ngoài vào Khukinh tế Vân Phong và tỉnh Khánh Hòa.

Một trong những dự án Tổ hợp lọc hóa dầu tại Khu kinh tế Vân Phong - Khánh Hòa

Ảnh: Xaluan.com

Dự án Khu phức hợp công nghiệp nặng STX Vina được cấp phép ngày 22/01/2008 trêndiện tích hơn 100 héc ta và tổng mức đầu tư 500 triệu đô la Mỹ tại khu vực Mũi Du (xã NinhHải, huyện Ninh Hoà) Các hạng mục dự án gồm: đóng tàu container, tàu chở dầu cỡ lớn, chế tạothiết bị khai thác và sản xuất dầu khí ngoài khơi, động cơ diesel thủy…Chuẩn bị cho dự án, tỉnh Khánh Hòa đã cơ bản giải phóng mặt bằng, làm đường giao thông Tuynhiên, STX xin gia hạn triển khai, do đang gặp khó khăn Sau một thời gian gia hạn, tỉnh KhánhHòa buộc phải thu hồi giấy phép dự án

Dự án The AJ Vietstar 200 triệu USD ở Vũng Tàu

Phối cảnh dự án The AJ Vietstar Ảnh: Internet

Trang 28

Dự án The AJ Vietstar do Công ty TNHH Xây dựng và Phát triển AJ Vietstar (vốn đầu tưcủa Hàn Quốc) làm chủ đầu tư UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã trao giấy chứng nhận đầu tưcho công ty AJ Vietstar triển khai dự án bất động sản trị giá 200 triệu USD tại TP Vũng Tàu vàotháng 2/2009

Tuy nhiên, vào tháng 8/2010, UBND tỉnh này đã ký quyết định chấm dứt hoạt động và thuhồi giấy chứng nhận đầu tư của Công ty TNHH xây dựng và phát triển AJ Vietstar Nguyên nhânrút giấy phép là do phía Hàn Quốc không đủ năng lực tài chính

Trang 29

Khu du lịch sinh thái Bãi biển Rồng tại xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Dự án có diện tích 400ha tại xã Điện Dương (Điện Bàn) Đây là dự án đầu tư nước ngoàilớn nhất tại Quảng Nam Dự án do Công ty Tano Capital, LLC (có trụ sở chính tại San Mateo,California, Mỹ)

Thông tin dự án

Khu vực: H Điện Bàn, Quảng Nam

Loại hình: Khu nghỉ dưỡng/Sinh thái

Trước đó, vào ngày 22/9/2009 UBND tỉnh Quảng Nam đã cấp giấy chứng nhận đầu tư choCông ty TNHH tập đoàn Bãi Biển Rồng với đối tác của Mỹ gồm Tano Capital LLC và GlobalC&D INC triển khai dự án với vốn đầu tư lên đến 4,15 tỷ USD Dự án này được xem là dự ánlớn nhất miền Trung

Theo quy hoạch, dự án này sẽ thực hiện trên diện tích 400 ha gồm xây dựng khu công viênsát bãi biển, hệ thống khách sạn cao cấp có khu vui chơi giải trí có thưởng, 9 tổ hợp khách sạn,

Trang 30

trung tâm hội nghị quốc tế 10.000 chỗ ngồi, trung tâm thương mại quốc tế, khu căn hộ và biệtthự cao cấp Toàn bộ dự án sẽ được thực hiện từ năm 2010 và hoàn thành vào năm 2019.

Vào ngày 24/11/2010, UBND tỉnh Quảng Nam đã yêu cầu chủ đầu tư nộp bản gốc giấychứng nhận đầu tư, chấm dứt các hoạt động liên quan đến dự án và chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán theo quy định của pháp luật

Một số dự án khác bị rút phép khác: Dự án du lịch sinh thái biển cao cấp Pegasus Fund của

nhà đầu tư Mỹ; Dự án Khu du lịch Quê Việt của nhà đầu tư Canada của UBND tỉnh QuảngNam…

Trang 31

4.2 Những tác động bên ngoài

Những tác động bên ngoài gồm có:

 Môi trường thương mại quốc tế và môi trường tài chính quốc tế

 Môi trường thương mại quốc tế:

 Các hàng rào thương mại

 Các hàng rào thương mại phi thuế quan

4.2.1.1Các hàng rào thương mại:

Thuế quan và vai trò của thuế quan:

Thuế quan là thuế đánh vào hàng hóa dịch vụ mua bán và vận động qua “biên giới hảiquan của một quốc gia hay vùng lãnh thổ hải quan” Thuế quan có thể đánh vào hàng hóa,dịch vụ nhập khẩu, hàng quá cảnh Thuế quan có đặc trưng cơ bản sau:

Thuế quan là một loại hàng rào thương mại, gắn với “biên giới hải quan” của quốc giahay vùng lãnh thổ “Biên giới hải quan” là một khái niệm thể hiện chủ quyền kiểm soáthàng hóa, dịch vụ của các chính phủ và do đó bất kì một hàng hóa, dịch vụ nào cũng phảilàm thủ tục hải quan khi qua “biên giới” này

Thuế quan được thể hiện ở biểu thuế quan Biểu thuế quan khá phức tạp với hàng ngànkhoản mục riêng biệt và cách áp dụng khác nhau Tùy theo phương pháp đánh thuế mà biểuthuế quan có thể thể hiện bằng số tiền tuyệt đối, tỉ lệ phần trăm hay kết hợp

NH NG ỮNG TÁC Đ NG ỘNG BÊN NGOÀI

Môi

trườngngtài chính

Trang 32

Thuế quan có thể được áp đặt bởi nước xuất khẩu, nước nhập khẩu Nếu các quốc gia vàvùng lãnh thổ không có các hiệp định chống đánh thuế hai lần thì nhiều hàng hóa, dịch

vụ có thể bị đánh thuế trùng lắp trong quá trình mua bán

Thuế quan trên thế giới có xu hướng hài hòa hóa do tự do hóa thương mại và toàn cầu hóakinh tế

Phương pháp đánh thuế quan:

Hiện nay có 3 phương pháp đánh thuế quan cơ bản: thuế quan theo giá trị hàng hóa, thuếquan tuyệt đối và thuế quan hỗn hợp

Thuế theo giá trị hàng hóa (ad valorem): Thuế quan theo giá trị hàng hóa được tính bằng tỉ

lệ % so với giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu Thuế quan theo giá trị hàng hóa được sử dụng phổbiến ở các nước hiện nay Ưu điểm của phương pháp đánh thuế này là gắn với giá trị hàng hóanhập khẩu của doanh nghiệp, không bị xói mòn bởi lạm phát, thuế suất dễ điều chỉnh nên mangtính linh hoạt, dễ hài hòa khi tham gia các liên kết kinh tế

Thuế cố định (fixed payment): Thuế quan tuyệt đối là thu một khoản tiền cố định trên mộtđơn vị hàng hóa xuất nhập khẩu Thuế quan tuyệt đối chiếm vào khoảng 1/3 biểu thuế quan của

Mĩ và hầu như toàn bộ biểu thuế quan của Thụy Sĩ Thuế quan tuyệt đối có ưu điểm dễ áp dụnghơn và ngăn chặn được làm hóa đơn giả, gian lận thuế tuy nhiên dễ bị xói mòn bởi lạm phát.Thuế hỗn hợp (Compound): Thuế hỗn hợp vừa tính theo tỉ lệ % so với giá trị hàng hóa,dịch vụ vừa thu một hoàn tiền tuyệt đối trên một đơn vị hàng hóa xuất nhập khẩu

Các loại thuế quan và vai trò của thuế quan:

Tùy thuộc vào mục đích đánh thuế quan, hoạt động kinh doanh, loại hàng hóa dịch vụ vàtrong từng điều kiện cụ thể về thị trường và quan hệ thương mại mà các loại thuế quan khácnhau được áp đặt với vai trò khác nhau

 Thuế quan xuất khẩu và vai trò của thuế xuất khẩu

Thuế quan xuất khẩu áp đặt vào hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu của quốc gia hay vùng lãnhthổ Thuế quan xuất khẩu có thể đánh vào thành phẩm hay đầu vào xuất khẩu (Nguyên vậtliệu hoặc bán thành phẩm) Thuế quan xuất khẩu có vai trò:

Bảo vệ nguồn tài nguyên khan hiếm trong nước, bảo vệ môi trường sống

Trang 33

Hướng dẫn đầu tư sản xuất và xuất khẩu

Điều tiết giá cả hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nhằm hạn chế tiêu cực do cạnh tranh bán của các doanh nghiệp xuất khẩu

Bảo vệ lợi ích của người sản xuất trong nước

Tăng thu cho ngân sách Nhà nước

 Thuế quan nhập khẩu và vai trò của thuế quan nhập khẩu

Thuế quan nhập khẩu đánh vào các hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu vào một quốc gia hay vùng lãnh thổ Thuế quan nhập khẩu có thể đánh vào thành phẩm hoặc đầu vào nhập khẩu (Nguyên vật liệu và bán thành phẩm) Thuế quan nhập khẩu có vai trò:

Bảo hộ sản xuất trong nước

Hướng dẫn tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân

Tăng thu cho ngân sách Nhà nước

Kích thích đầu tư sản xuất trong nước, đặc biệt là sản xuất thay thế nhập khẩu

Công cụ gia tăng sức mạnh thương lượng với các đối tác

Các loại thuế quan khác và vai trò của chúng:

Thuế quan chống bán phá giá: Thuế chống bán phá giá được áp đặt vào những hàng hóa

nhập khẩu được xác định là bán phá giá hoặc sẽ bán phá giá Một hàng hóa sẽ bị coi là bán phá giá nếu bán “thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó” Thấp hơn giá trị thông thường có nghĩa là giá của hàng hóa nhập khẩu (giá mua hoặc giá bán của nhà xuất khẩu) thấp hơn giá bán của hàng hóa đó ở nước xuất xứ hoặc thấp hơn giá thành sản xuất Thuế quan chống bán phá giá sẽ được áp đặt lên hàng hóa nhập khẩu khi có đơn kiện và điều tra của cơ quan chính phủ nước nhập khẩu kết luận là có bán phá giá

Thuế quan đối kháng: Thuế quan đối kháng là loại thuế được áp dụng nếu hàng hóa

nhập khẩu bị xác định là đã được chính phủ của nước xuất khẩu trợ cấp trái với qui định củaWTO Thuế quan đối kháng qui định một khoản bồi thường dưới dạng thuế nhập khẩu phụthu để bù vào phần trợ giá của hàng hóa nước ngoài nhập khẩu mà việc bán hàng hóa đó ởnước nhập khẩu gây thiệt hại cho nhà sản xuất hàng hóa giống hoặc tương tự hàng hóa nhập

Trang 34

khẩu Trong hầu hết các trường hợp, phần trợ giá hàng nhập khẩu phải bù lại do chính phủnước ngoài trả.

Thuế quan hạn ngạch: Thuế quan hạn ngạch là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu vượt

hạn ngạch vào một quốc gia hay vùng lãnh thổ Số lượng hàng hóa trong hạn ngạch nhậpkhẩu được hưởng thuế quan thấp, ngoài hạn ngạch càng cao thuế càng cao Thông thường,thuế quan hạn ngạch được thực hiện theo thuế tuyệt đối và khi đó thuế hàng hóa nhập khẩuvượt hạn ngạch sẽ trở thành thuế quan hỗn hợp Phần thuế quan tuyệt đối nếu tính theo giá trịhàng hóa sẽ rất cao Một số quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng thuế quan hạn ngạch như mộthàng rào thương mại kĩ thuật hiệu quả để ngăn cản hàng hóa nhập khẩu, bảo hộ sản xuấttrong nước và tăng tính cạnh tranh cho những hàng hóa sản xuất có chi phí cao trong cùngmột liên kết kinh tế

Thuế quan ưu đãi: Thuế quan ưu đãi là thuế quan giành cho hàng hóa nhập khẩu từ một

số quốc gia hoặc vùng lãnh thổ Thuế quan ưu đãi thấp hơn cả thuế quan MFN Vai trò củathuế quan ưu đãi trước hết là khuyến khích các quốc gia tham gia các liên kết kinh tế quốc tế

ở cấp độ cao, thúc đẩy các quốc gia đàm phán và kí kết các hiệp định thương mại songphương, từ đó thúc đẩy thương mại quốc tế và đầu tư

4.2.1.2 Các hàng rào thương mại phi thuế quan:

 Các hàng rào định lượng

Cấm nhập khẩu: Là hàng rào phi thuế quan được áp đặt lên một số hàng hóa, dịch vụ

nhất định trong một khoảng thời gian xác định Cấm nhập khẩu thường áp đặt chủ yếu chohàng hóa ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng, các chất độc hại, sản phẩm văn hóa gây tác hạicho đạo đức, xã hội Tuy nhiên đối với một số nước đang phát triển, để bảo hộ cho một sốngành công nghiệp trong nước, nhất là những ngành công nghiệp non trẻ, hàng rào thươngmại quốc tế cấm nhập khẩu vẫn dùng khá phổ biển

Vai trò của hàng rào cấm nhập khẩu là để bảo hộ, tạo điều kiện cho các ngành sản xuấttrong nước phát triển, hướng dẫn tiêu dùng, bảo vệ lợi ích quốc gia và lơị ích của cộng đồngdân cư trong nước nhập khẩu Hàng rào cấm nhập khẩu cần phải sử dụng kết hợp với công cụchính sách khác, kể cả chính sách thương mại nội địa mới có thể phát huy vai trò kích thích

Trang 35

sản xuất trong nước phát triển Nếu không, hàng rào cấm nhập khẩu sẽ có tác dụng ngược lạitạo ra độc quyền, lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm năng lực cạnh tranh của các sảnphẩm sản xuất trong nước.

Tác động kinh tế của cấm nhập khẩu đối với các nước xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụkhông thâm nhập được vào thị trường, sản lượng sẽ giảm và ảnh hưởng đến việc làm Ngườitiêu dùng ở nước nhập khẩu sẽ bị thiệt hại do phải cắt giảm tiêu dùng và chịu giá cả cao hơn.Người sản xuất sẽ đẩy sản lượng lớn đến điểm cân bằng nội địa và được hưởng lợi do tăngsản lượng và giá cả cao hơn Thiệt hại của người tiêu dùng một phần thuộc về người sản xuất

và một phần là thiệt hại ròng của xã hội do nguồn lực bị sử dụng không hiệu quả để sản xuất

ra hàng hóa thay thế nhập khẩu

Hạn ngạch nhập khẩu (Import quota)

Hạn ngạch nhập khẩu là lượng hàng hóa được phép nhập khẩu vào một quốc gia hay vùnglãnh thổ trong một thời kì nhất định Hạn ngạch nhập khẩu là hàng rào thương mại phi thuếquan đơn giản nhất Cơ chế tác động của hạn ngạch cũng có thể so sánh với tác động của thuếquan Hạn ngạch tác động về mặt lượng còn thuế quan tác động thông qua giá

Cấp phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu

Cấp phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu là hàng rào định lượng do chính phủ sử dụng đối vớimột số hàng hóa khi xuất hoặc nhập khẩu vào một thị trường xác định Có thể áp đặt cho cácdoanh nghiệp xuất hoặc nhập khẩu Cấp phép có thể theo thời kì hoặc cho từng số lượng hànghóa nhất định Cấp phép xuất hoặc nhập khẩu có thể tự động hoặc ``không tùy vào điều kiệnthương mại cụ thể giữa hai quốc gia Mục đích là quản lí những mặt hàng ảnh hưởng đến anninh, quốc phòng, bảo vệ tài nguyên

Hạn chế xuất khẩu tự nguyện

Là hàng rào phi thuế quan mà các quốc gia xuất khẩu thỏa thuận hạn chế xuất khẩu một

số loại hàng hóa cụ thể sang một số thị trường cụ thể Hạn chế xuất khẩu tự nguyện có thể làchính thức hoặc không chính thức Hạn ngạch của hạn chế xuất khẩu tự nguyện khôngnghiêm ngặt, mang tính linh hoạt Tùy sự biến động của cung cầu về hàng hóa trên thị trường

cụ thể, các thành viên tham gia hạn chế xuất khẩu tự nguyện có thể thắt chặt hay nới lỏng hạnngạch

Trang 36

Tác động kinh tế của hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng tương tự như hạn ngạch nhậpkhẩu nhưng có ba sự khác biệt lớn là tiến thuê hạn ngạch do hạn chế xuất khẩu tự nguyệnhoàn toàn thuộc về dân cư của nước xuất khẩu Có nghĩa là nước nhập khẩu bị thiệt Thứ hai,ảnh hưởng cân bằng tổng quan ở chỗ nước nhập khẩu phải thanh toán ở mức giá nội địa đầy

đủ mà không ở mức giá thế giới cho các hàng hóa nhập khẩu Thứ ba, hạn chế xuất khẩu tựnguyện mang tính phân biệt đối xử nên chỉ áp dụng cho các nước cung ứng sản phẩm với chiphí thấp nhất Hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng có thể buộc các nhà nhập khẩu phải chấpnhận nhập khẩu của nước có chi phí cao hơn và phân phối không hiệu quả các nguồn lực củathế giới

Các hàng rào liên quan đến giá và quản lí giá

Phương thức định giá hải quan: Phương thức định giá hải quan là hàng rào phi thuế

quan kĩ thuật dễ nhận thấy nhất Nếu thực hiện tính thuế theo giá trị hàng hóa, bằng cách địnhgiá hàng nhập khẩu ở mức giá cao hơn, nhân viên hải quan tăng tiền thuế phải trả Sử dụngphương thức định giá hải quan như là một hàng rào thương mại chỉ làm tăng chi phí nhậukhẩu tương tự như thuế quan nhưng không làm tăng thu nhập cho chính phủ của nước nhậpkhẩu

Qui định giá bán tối đa trong nước: Để cản trở một số loại hàng hóa nhập khẩu, công cụ

qui định giá bán tối đa trong nước có thể được sử dụng bằng cách qui định giá bán tối đa cao,người tiêu dùng phải chịu chi phí bổ sung tối đa trong nước thấp, người nhập khẩu sẽ khôngđạt được lợi nhuận mong muốn nên cắt giảm sản lượng nhập khẩu Áp dụng cho các hànghóa tiêu dùng hoặc đầu vào thay thế nhập khẩu

Phụ thu và phí: Khi tham gia các liên kết kinh tế quốc tế hoặc thực hiện các hiệp định

thương mại đa phương hoặc song phương, các hàng rào định lượng không được sử dụng, thuếquan phải cắt giảm theo phụ thu và các loại phí được sử dụng Phụ thu là một khoản thu theo

tỉ lệ % so với giá trị hàng hóa hay một số tiền tuyệt đối trên một đơn vị hàng hóa áp đặt lênhàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu

Thuế nội địa: không phân biệt hàng hóa nhập khẩu và sản xuất trong nước Tuy nhiên đối

với một số hàng hóa có thể đề ra các loại thuế khác nhau với mức thuế khác nhau Thuế tiêu thụ đặc biệt là một hàng rào điển hình

Doanh nghiệp thương mại nhà nước: Phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp thương mại

nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng là một loại rào cản thương mại quốc tế

Trang 37

Nhiều doanh nghiệp thương mại nhà nước được hưởng nhũng ưu đãi trong kinh doanh xuất nhập dẫn đến chênh lệch giá.

Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu: Một số quốc gia trên thế giới sử dụng việc trao

quyền kinh doanh xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp như một hàng rào thương mại, chỉ nhữngdoanh nghiệp được phép của chính phủ mới được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu dẫn đếnphân phối sai lệch lợi ích thương mại quốc tế

Đầu mối xuất khẩu, nhập khẩu: Áp đặt lên hàng xuất khẩu để hạn chế xuất khẩu những

hàng hóa không khuyến khích

Các hàng rào liên quan đến đầu tư

Hàm lượng nội địa: Qui định thành phần sản phẩm có nguồn gốc địa phương cũng là

một hàng rào thương mại quan trọng Các qui định này bảo vệ các nhà sản xuất phụ tùng nội địa tương tự như hạn ngạch nhập khẩu Tuy nhiên, các qui định này không khuyến khích đầu

tư nước ngoài mà chỉ làm tăng buôn bán và có thể làm tăng chi phí do hàng hóa không được kết thúc quá trình sản xuất tại nơi có chi phí thấp nhất

Tỉ lệ ngoại hối: Nhiều quốc gia qui định tỉ lệ giữa lượng ngoại hối để nhập khẩu và lượng

ngoại hối thu được từ xuất khẩu đối với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Tác động củahàng rào này tới ngành công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng vì đây là những ngành mang lạilợi nhuận cao và nguồn nguyên liệu trong nước sẵn có

Tỉ lệ sản phẩm xuất khẩu: đối với một số loại sản phẩm mà nhu cầu tiêu dùng trong

nước đã tới hạn và để bảo hộ thị trường cho doanh nghiệp nội địa, qui định tỉ lệ sản phẩmxuất khẩu trở thành một hàng rào quan trọng Tỉ lệ sản phẩm xuất khẩu cao buộc các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải xây dựng chiến lược kinh doanh dựa vào xuất khẩu sảnphẩm, hạn chế tiêu thụ nội địa

Hàng rào kĩ thuật

Tiêu chuẩn kĩ thuật: là những qui định của các quốc gia về tiêu chuẩn kĩ thuật sản xuất

và sản phẩm Trên thị trường thế giới có các tiêu chuẩn kĩ thuật của các quốc gia, tiêu chuẩn

kĩ thuật quốc tế Tiêu chuẩn kĩ thuật không mang tính bắt buộc vì một hàng hóa có thể tuântheo tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn của nước nhập khẩu hoặc nước sản xuất Tiêu chuẩn kĩthuật chỉ có thể trở thành hàng rào thương mại khi có sự ủng hộ mạnh mẽ của người tiêudùng

Trang 38

Qui định kĩ thuật: mang tính bắt buộc Doanh nghiệp phải điều chỉnh qui trình sản xuất,

thay đổi yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đáp ứng qui trình kĩ thuật

Xuất xứ và nhãn hiệu hàng hóa: Các quốc gia nhất là những nước phát triển thường qui

định chặt chẽ về nhãn hàng hóa, từ chữ viết, khổ chữ Những hàng hóa không đáp ứng yêucầu về nhãn hàng đều không được nhập khẩu cùng với nhãn hàng là qui định về xuất xứhàng hóa Nhiều quốc gia qui định nơi sản xuất, các hàng hóa nhập khẩu phải ghi rõ xuất xứtrên bao bì

Các hàng rào mang tính hành chính:

Qui định về thanh toán thuế nhập khẩu: Các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa phải

thanh toán ngay thuế nhập khẩu và không phân biệt đó là hàng nhập khẩu hay hàng hóa táixuất khẩu, tạm nhập tái xuất, hàng hóa là đầu vào của kinh doanh gia công quốc tế Gắn vớiqui định này thường là thủ tục hoàn thuế phức tạp và mất thời gian đã làm cho nhiều nhànhập khẩu nản chí

Qui định về quảng cáo: Quảng cáo là công cụ marketing nhằm thúc đẩy việc bán hàng

hóa Những hạn chế về quảng cáo sẽ cản trở cho những hàng hóa nhập khẩu bán ra Biệnpháp thông thường nhất là cấm quảng cáo một số hàng hóa nhất định làm cho người tiêudùng không biết đến sản phẩm Chẳng hạn, Việt Nam cấm quảng cáo các loại sữa dành chotrẻ em dưới một tuổi dưới mọi hình thức Thực chất của giải pháp này là để bảo vệ sức khỏetrẻ em nhưng cũng đã hạn chế khả năng tiêu thụ của các loại sản phẩm này.Để hạn chế nhậpkhẩu, các quốc gia còn cấm quảng cáo một số sản phẩm trên những phương tiện quảng cáonhất định và vào những thời điểm nhạy cảm

Đơn vị đo lường và kích cỡ sản phẩm: Sự khác biệt đơn vị đo lường thường cản trở các

hàng hóa thâm nhập thị trường, nhiều quốc gia còn sử dụng đơn vị đo lường như những quiđịnh về kích cỡ cần thiết cho hàng hóa nhập khẩu Chẳng hạn, độ lớn của phích cắm điện,hiệu điện thế của hàng điện tử tiêu dùng, kích thước tối thiểu của nấm tươi hay khoai tây xuấtkhẩu.Môi trường tài chính quốc tế:

4.2.2 Môi trường tài chính quốc tế:

Hệ thống Bretton Woods:

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Châu Âu bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế thếgiới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Tuy nhiên, vào thời điểm này, tiềm lực kinh tế

Trang 39

của nước Mỹ lại trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trong vòng hai thập kỉ đầu sau chiếntranh thế giới thứ hai Mỹ là trung tâm kinh tế, tài chính duy nhất của thế giới Đặc biệt,

Mỹ nắm đến gần 75% trữ lượng vàng thế giới Nhằm khôi phục nền kinh tế thế giới, cải tổ

hệ thống tiền tệ quốc tế tránh được những sai lầm trước đây, cũng như tạo ra một trật tựtiền tệ quốc tế mới để tránh sự tan rã các mối quan hệ tiền tệ trên phạm vi quốc tế vàonhững năm 1930s, một hội nghị đã được tổ chức tại Bretton Woods, New Hampshire, Mỹvới sự tham gia của 730 đại biểu tới từ 44 quốc gia trên thế giới trong đó có Mỹ, Anh,Pháp, Đức,… Tại hội nghị này, hệ thống Bretton Woods đã được phê chuẩn cùng với sự

ra đời của hai tổ chức tài chính quốc tế:

- Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF) có nhiệm vụ

theo dõi giám sát hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế

- Ngân hàng thế giới (World Bank – WB) có nhiệm vụ hỗ trợ cho các nước

Châu Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh và huy động vốn từ những nước

phát triển để cho vay lại với lãi suất thấp ở những nước nghèo, kém phát triển

nhằm giúp họ phát triển nền kinh tế

Tại hội nghị Bretton Woods, các quốc gia đã thống nhất những quy định

của hệ thống tiền tệ quốc tế:

Thứ nhất là hệ thống tỉ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh Hệ thống Bretton Woods

quy định các quốc gia ấn định tỉ giá trung tâm của đồng nội tệ với USD và tỉ giá này chỉđược phép dao động trong khoảng +-1% Bên cạnh đó, các quốc gia phải đồng ý chuyểnđổi không hạn chế đồng nội tệ ra USD và ngược lại tại mức tỉ giá đã ấn định cho các giaodịch trên tài khoản vãng lai Trong khi đó, Mĩ đảm bảo giữ giá trị đồng USD với vàngtheo tỉ lệ $35/ounce vàng và Mĩ cam kết chuyển đổi không hạn chế USD ra vàng tại mứcgiá này

Thứ hai là các quốc gia thành viên sẽ đóng góp vốn vào quỹ của IMF với tỉ lệ ¼ là

bằng vàng và ¾ là bằng bản tệ để hình thành nên quỹ tiền tệ của IMF Căn cứ vào tỉ trọngvốn góp của các quốc gia, IMF cung cấp mỗi quốc gia một hạn mức tín dụng Khi mộtquốc gia thành viên gặp vấn đề về thâm hụt cán cân thanh toán, họ sẽ được rút lần đầu là

Trang 40

25% hạn mức tín dụng, sau đó, những quốc gia nào chấp nhận những chính sách kinh tế

do IMF đưa ra sẽ được rút vốn 4 lần tiếp theo, mỗi lần là 25% hạn mức tín dụng

Thứ ba là khi gặp những bất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán, các quốc

gia có thể thay đổi tỉ giá trung tâm Tuy nhiên, nếu mức thay đổi trên 10% thì phải được

sự đồng ý của IMF Khả năng thay đổi tỉ giá trung tâm là giải pháp cuối cùng giúp cânbằng cán cân thanh toán và đây được xem là một trong những đặc điểm cơ bản của hệthống Bretton Woods

Trong những nỗ lực nhằm duy trì chế độ tỉ giá cố định, tháng 9/1971, các nước G10 đãnhóm họp và quyết định phá giá đồng USD so với vàng từ mức $35/1 ounce vàng xuống

$38/1 ounce vàng, nâng giá các đồng tiền khác trung bình 8% so với USD và mở rộngbiên độ dao động tỉ giá từ ±1% lên ±2.25% Đổi lại, Mĩ rút lại việc đánh thuế 10% hàngnhập khẩu Tuy nhiên, việc tấn công ồ ạt vào đồng USD vẫn không dừng lại Do đó, vàonăm 1973, các nước lần lượt thả nổi tỉ giá với đồng USD, hệ thống Bretton Woods chínhthức sụp đổ

Hậu Bretton Woods

.1 Quyền rút vốn đặc biệt - SDR

Thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng thương mại vượt qua tốc

độ tăng dự trữ quốc tế Mặt khác, dự trữ quốc tế phụ thuộc quá nhiều vào mức độ thâmhụt cán cân thanh toán của Mĩ Điều này làm dấy lên mối lo ngại tăng trưởng kinh tế quốc

tế có thể bị kìm hãm Nhận thấy nguy cơ này, các nước thành viên IMF đã thống nhất đưa

ra “Sửa đổi lần thứ nhất các điều khoản của IMF năm 1967”, theo đó trao cho IMF quyền

mở các tài khoản rút vốn đặc biệt để bổ sung vào hạn mức tín dụng của mình Đến năm

1969, Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Rights – SDR) chính thức ra đời SDR làmột tài sản dự trữ quốc tế, giá trị của nó được hình thành trên cơ sở sự chấp nhận làphương tiện thanh toán của các ngân hàng trung ương các nước thành viên với IMF SDRtrên thực tế là một đồng tiền ghi sổ, IMF sẽ phân bổ cho mỗi quốc gia một lượng SDR tỉ

lệ thuận với hạn mức tín dụng của nó tại IMF Khi gặp những thiếu hụt về thanh khoảnhay thâm hụt cán cân thanh toán, các quốc gia có thể rút SDR từ tài khoản của mình tạiIMF mà không cần tham khảo ý kiến IMF, không cần có bất cứ điều kiện nào kèm theo vàkhông là đối tượng hoàn trả Quốc gia rút SDR có thể đổi lấy đồng tiền quốc gia khác đểtăng dự trữ ngoại hối và phải trả lãi cho quốc gia đó Các mức lãi suất của SDR cung cấp

Ngày đăng: 13/12/2017, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w