Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất thì FPI lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng qui mô v
Trang 1Trường Đại học Ngoại thương Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
TIỂU LUẬN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Đề tài: “Phân tích môi trường đầu tư chứng khoán Việt Nam hiện nay nhằm thu hút nguồn vốn FPI”
Lớp : DTU308(1/1-1415).1_LT
GV hướng dẫn : PGS TS Vũ Thị Kim Oanh
Thành viên : Nguyễn Vũ Hải Yến (0165.277.6419)
Trần Hải Đăng (0979.999.005)
Vũ Đức Dũng Đinh Thị Hạnh Nguyễn Thị Thu Huyền Phùng Mạnh Linh Nguyễn Thị Nhung
Hà Nội, Tháng 12, Năm 2014
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Đầu tư chứng khoán nước ngoài FPI 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Các hình thức đầu tư chứng khoán nước ngoài 5
1.1.3 Các giai đoạn phát triển của đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam 5
1.2 Môi trường đầu tư chứng khoán 7
1.2.1 Khái niệm 7
1.2.2 Các yếu tố cấu thành nên môi trường đầu tư chứng khoán của một quốc gia 7
1.3 Mô hình phân tích SWOT 8
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 10
2.1 Điểm mạnh của môi trường đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam 10
2.1.1 Tỷ lệ lạm phát giảm 10
2.1.2 Lãi suất có xu hướng hạ 11
2.1.3 Tỷ giá hối đoái ổn định 12
2.1.4 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 13
2.1.5 Các điểm mạnh khác (chính trị, tăng trưởng, dân số…) 14
2.2 Điểm yếu của môi trường đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam 16
2.2.1 Luật Đầu tư còn nhiều hạn chế 16
2.2.2 Thị trường chứng khoán còn tiềm ẩn nhiều rủi ro 18
2.2.3 Sự can thiệp của bàn tay nhà nước 19
2.2.4 Thị trường chứng khoán Việt Nam còn quá nhỏ bé 20
2.3 Cơ hội đối với môi trường đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam 21
2.3.1 Xu hướng chuyển dịch của dòng vốn đầu tư gián tiếp 21
2.3.2 Khả năng tăng trưởng của khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng 21 2.3.3 Việt Nam nâng hạng mức tín nhiệm trên thế giới 23
2.3.4 Niềm tin của các nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam 23
Trang 32.4 Thách thức đối với môi trường đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam 24
2.4.1 Tình trạng tham nhũng, tham ô ở mức cao 24
2.4.2 Quy mô nguồn vốn FPI tăng trưởng quá nhanh 25
2.4.3 Xuất hiện các hình thức nghiệp vụ đầu tư mới 25
2.4.4 Cạnh tranh bình đẳng với các nhà đầu tư quốc tế 26
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 28
3.1 Giải pháp khắc phục điểm yếu 28
3.1.1 Đối với những bất cập trong luật 28
3.1.2 Đối với rủi ro trên thị trường chứng khoán 29
3.1.3 Sự can thiệp của bàn tay nhà nước 30
3.1.4 Thị trường chứng khoán Việt Nam còn quá nhỏ bé 30
3.2 Giải pháp hạn chế thách thức 31
3.2.1 Tình trạng tham nhũng, tham ô 31
3.2.2 Quy mô nguồn vốn FPI tăng trưởng quá nhanh 32
3.2.3 Xuất hiện các hình thức nghiệp vụ đầu tư mới 33
3.2.4 Cạnh tranh bình đẳng với các nhà đầu tư quốc tế 35
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC 38
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp (FPI) Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất thì FPI lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng qui mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho Doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới, nâng cao vai trò quản lý nhà nước và chất lượng quản lí doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh
tế FPI đã hình thành và phát triển từ lâu ở Mỹ và các nước châu Âu, nơi có thị trường tài chính phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, loại hình này đã mở ra cho các doanh nghiệp cách thức tiếp cận với các nguồn vốn mới bên cạnh các nguồn vốn truyền thống, góp phần vào việc thúc đẩy một xu thế mới
Với dấu mốc quan trọng là sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài (1987), Việt Nam
đã bắt đầu quá trình mở cửa hội nhập, và tiếp nhận dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài như một yếu tố bổ sung quan trọng cho sự thiếu hụt vốn đầu tư trong nước Kể từ đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng lên đáng kể cả về chất và lượng Tuy nhiên, khác với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) (là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu
tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư) mà cụ thể là đầu tư chứng khoán gián tiếp nước ngoài chỉ thực sự thể hiện được vai trò và tầm quan trọng của mình kể từ năm
2006, khi mà nền kinh tế nước ta thực sự mở cửa, thị trường tài chính bắt đầu phát triển theo hướng quốc tế hóa và hội nhập với thị trường tài chính thế giới
Chúng ta thấy rằng, trong quá trình đầu tư để tạo sự tăng trưởng và phát triển thì vốn là yếu tố có tính tiền đề và không thề thiếu được Song thị trường vốn thế giới đang
ở trạng thái quốc tế hoá mạnh mẽ, do đó gây không ít trở ngại cho Việt Nam nhất là về khả năng cạnh tranh Trong khi đó thị trường chứng khoán và các chính sách thu hút, quản lý vốn của Việt Nam vẫn còn nhiều khiếm khuyết và bất cập Thực trạng của vấn
đề này tuy chỉ mới được thể hiện rất sơ lược trong đề tài nhưng đã cho thấy sự yếu kém của Việt Nam trong việc “kéo” các nguồn vốn nước ngoài vào đầu tư trong nước thông qua thị trường chứng khoán Tuy nhiên, Việt Nam không thể đứng ngoài vòng hội nhập – hội nhập để tận dụng những ưu thế của thế giới, tận dụng nguồn vốn, tránh xa tụt hậu, chứ không thể xuôi theo kiểu lý luận “người yếu thì không nên ra gió” Nhưng để có thể
ra gió mà không ngã bệnh và vẫn hoạt động tốt thì Việt Nam phải nhanh chóng có những điều chỉnh hợp lý và các chính sách cụ thể cho thị trường chứng khoán Nhận thức được vấn đề này, tiểu luận đã tập trung nghiên cứu và phát triển hệ thống lý luận về vốn đầu
tư nước ngoài, thị trường chứng khoán và kinh nghiệm của các nước để đề ra những giải pháp hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán, nâng cao hiệu quả thu hút và quản
lý vốn nước ngoài, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế nước nhà
Trang 5Chính bởi những lý do trên mà nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Phân
tích môi trường đầu tư chứng khoán Việt Nam hiện nay nhằm thu hút nguồn vốn FPI” để không chỉ làm rõ hơn tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư này, mà còn nêu
lên thực trạng, điểm mạnh, điểm yếu cũng như những cơ hội, thách thức đối với nước
ta trước nguồn vốn đầu tư đầy tiềm năng này Qua những nghiên cứu phân tích đó, nhóm chúng em cũng xin đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình đầu tư chứng khoán gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam Tuy nhiên do khả năng cũng như các công cụ nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên nhóm chúng em rất mong có được sự góp ý chỉnh sửa từ phía thầy cô cũng như các bạn để có thể hoàn hiện bài nghiên cứu hơn
Cụ thể, nội dung chính của bài tiểu luận gồm các phần như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Phân tích môi trường đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Đầu tư chứng khoán nước ngoài FPI
1.1.1 Khái niệm
Khoản 3 điều 3 Luật đầu tư quy định “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”
Như vậy, theo đó, đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment, hay thường được viết tắt là FPI) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính của nước ngoài nhằm kiếm lời Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp
Từ khái niệm trên ta có thể thấy, trong hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán Theo đó, nhà đầu tư đầu tư nhưng không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý Một cách đơn giản hơn, FPI là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính
1.1.2 Các hình thức đầu tư chứng khoán nước ngoài
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào cổ phiếu:
Là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng cách mua cổ phiếu của các công ty, các tổ chức phát hành của một nước khác ở mức khống chế nhất định
để thu lợi nhuận mà các chủ đầu tư không nắm quyền kiểm soát trực tiếp đối với tổ chức phát hành cổ phiếu
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào trái phiếu:
Là hình thức nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn tiền tệ ra mua trái phiếu kiếm lời, bao gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình và trái phiếu công ty Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi đáo hạn
1.1.3 Các giai đoạn phát triển của đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam
- Giai đoạn 1 (1988-1997)
Là thời kỳ mở đầu cho dòng vốn FPI vào Việt Nam Trong giai đoạn này, Việt Nam có 7 Quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng
400 triệu USD
Trang 7- Giai đoạn 2 (1998-2002)
Đây là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 5 Quỹ đầu tư nước ngoài rút khỏi Việt Nam, 1 Quỹ thu hẹp trên 90% quy mô quỹ, chỉ còn duy nhất Quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund được thành lập 7/1995 với quy mô vốn
35 triệu USD, nhỏ nhất trong số 7 quỹ
- Giai đoạn 3 (2003-2006)
Là thời kỳ phục hồi trở lại của dòng vốn FPI vào Việt Nam Thành lập sàn giao dịch chứng khoán ở TP Hồ Chí Minh 7/2000 và TTGDCK Hà Nội 3/2005, nới lỏng tỷ
lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (từ 30% lên 49%)
- Giai đoạn 4 (2007 đến nay)
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006 đánh dấu bước ngoặt lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Các dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng đột biến, đặc biệt là FDI, nguồn vốn FPI có sự biến động mạnh Theo đánh giá các chỉ số chứng khoán chính trên thế giới của trang web indexq.org, chỉ số chứng khoán của Việt Nam tăng 34,67% và nằm trong nhóm những chỉ số tăng mạnh nhất trên thế giới trong 6 tháng đầu năm 2009 Năm 2010 do chịu tác động từ những bất ổn vĩ mô và khó khăn của nền kinh tế toàn cầu, dẫn đến dòng tiền vào thị trường chứng khoán sụt giảm Giai đoạn 2011 Thị trường chứng khoán (TTCK) vừa trải qua một năm đầy khó khăn Vốn huy động qua phát hành TPCP và Chính phủ bảo lãnh đạt 81,5 nghìn tỷ đồng nhưng tổng giá trị vốn huy động qua phát hành cổ phiếu, đấu giá cổ phần hóa chỉ đạt khoảng 17,5 nghìn tỷ đồng, giảm 78% so với năm 2010 Năm
2014, Cùng với việc Fitch nâng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam lên một bậc (từ B+ lên BB-) và Moody (từ B2 lên B1) Bộ Tài chính đã phát hành thành công trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ra thị trường vốn quốc tế với tổng khối lượng 1 tỷ Đô la Mỹ theo hình thức 144A/Quy chế S, đạt mức lãi suất cố định 4,8%/năm, thấp hơn mức dự kiến là 5,125%/năm, đây là mức lãi suất thấp nhất trong các đợt phát hành từ trước đến nay (lần lượt là 6,875%/năm và 6,755/năm đối với trái phiếu phát hành năm 2005 và 2010)
Như vậy trong thời gian gần đây đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam có nhiều biến động Cùng với việc thăng hạng mức tín nhiệm và sự thành công của Bộ Tài chính trong việc phát hành 1 tỷ đô la trái phiếu chính phủ, Việt Nam đang hứa hẹn là một thị trường vô cùng tiềm năng cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư quốc tế
Bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào giai đoạn 4, cụ thể là thời kì từ 2012 – 2014, khi nền kinh tế nước ta đang dần phục hồi sau khủng khoảng và đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư Những số liệu từ 2012 trở về trước sẽ được sử dụng và trích dẫn như căn cứ để đánh giá tình hình hiện tại và dự báo cho tương lai
Trang 81.2 Môi trường đầu tư chứng khoán
mà ở đây chúng ta đang xem xét đối tượng là các nhà đầu tư quốc tế thông qua nguồn
vốn FPI
1.2.2 Các yếu tố cấu thành nên môi trường đầu tư chứng khoán của một quốc gia
Các yếu tố cấu thành nên môi trường đầu tư chứng khoán bao gồm 3 nhóm yếu tố
cơ bản sau:
- Khung chính sách về đầu tư chứng khoán
Khung chính sách bao gồm hệ thống các quy định hành chính, luật pháp và chiến lược của nhà nước để trên cơ sở đó chính phủ, các cơ quan thuộc chính phủ quản lý các hoạt động trên thị trường chứng khoán nhằm đạt được mục tiêu xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh, hấp dẫn, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thu hút nguồn vốn đầu
tư FPI trên thế giới
Điều đầu tiên mà các nhà đầu tư quan tâm khi quyết định đầu tư vào một quốc gia
là khung chính sách bởi vì khung chính sách có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh lời của vốn đầu tư, dưới các khía cạnh khác nhau như:
+ Tốc độ tăng trưởng của thị trường
+ Tỷ lệ nắm giữ tối đa cổ phiếu của một doanh nghiệp niêm yết đối với các nhà đầu tư nước ngoài
+ Hệ thống kiểm toán kế toán đối với các doanh nghiệp, tính minh bạch của thông tin, luật công bố thông tin…
- Các yếu tố kinh tế
Nhóm các yếu tố kinh tế là tổng thể các nhân tố hữu hình và vô hình, có sẵn và tạo
ra cấu thành của một thị trường chứng khoán và cũng đánh giá “tầm vóc” của thị trường chứng khoán của quốc gia đó Yếu tố kinh tế là mục tiêu nghiên cứu, là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nhà đầu tư nào
Trang 9Với mục tiêu là tạo ra lợi nhuận tối thượng cho nhà đầu tư, các yếu tố sau đây cần được quan tâm tìm hiểu:
+ Sự đa dạng hóa các công cụ, các sản phẩm đầu tư trên thị trường chứng khoán + Cơ sở vật chất, hệ thống thông tin của các sàn chứng khoán phục vụ nhà đầu tư + Số lượng các mã cổ phiếu, giá trị các doanh nghiệp niêm yết
- Yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư FPI
Các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư FPI là các biện pháp mà chính phủ hỗ trợ cho hoạt động đầu tư FPI của các nhà đầu tư quốc tế gồm:
+ Hoạt động xúc tiến đầu tư: quảng bá ra bên ngoài hình ảnh, chính sách, lợi thế, tiềm năng của nước nhận đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn FPI; dịch vụ tư vấn, phổ biến, hướng dẫn các bước khác nhau của quá trình mở tài khoản, tiến hành giao dịch… + Các biện pháp khuyến khích đầu tư: các hình thức hỗ trợ tài chính như tín dụng trợ cấp, đồn bẩy tài chính…
+ Các biện pháp làm giảm tiêu cực phí: minh bạch và đơn giản thủ tục hành chính, tăng hiệu quả công tác quản lý, giảm và loại trừ tham nhũng…
1.3 Mô hình phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT được Albert Humphrey phát triển vào những năm 1960-
1970 Đây là kết quả của một dự án nghiên cứu do đại học Standford, Mỹ thực hiện Dự
án này sử dụng dữ liệu từ 500 công ty có doanh thu lớn nhất nước Mỹ (Fortune 500) nhằm tìm ra nguyên nhân thất bại trong việc lập kế hoạch của các doanh nghiệp này
Albert cùng các cộng sự của mình ban đầu đã cho ra mô hình phân tích có tên gọi SOFT:
Thỏa mãn (Satisfactory) - Điều tốt trong hiện tại, Cơ hội (Opportunity) – Điều tốt trong
tương lai, Lỗi (Fault) – Điều xấu trong hiện tại; Nguy cơ (Threat) – Điều xấu trong tương
lai Tuy nhiên, cho đến năm 1964, sau khi mô hình này được giới thiệu cho Urick vàd
Orr tại Zurich Thuỵ Sĩ, họ đã đổi F (Fault) thành W (Weakness) và SWOT ra đời từ đó
Mô hình SWOT là một công cụ hữu dụng nhằm hiểu rõ Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Nguy cơ (Threats) Cụ thể như sau:
- Điểm mạnh chỉ những yếu tố phát sinh từ nội bộ mang tính tích cực, cần phải được duy trì, sử dụng làm nền tảng và đòn bẩy;
- Điểm yếu chỉ những yếu tố phát sinh từ nội bộ mang tính tiêu cực, cần được sửa chữa, thay đổi hoặc chấm dứt;
- Cơ hội chỉ những yếu tố có lợi tới từ môi trường xung quanh, cần được tận dụng, ưu tiên, nắm bắt kịp thời, xây dựng và phát triển trên những cơ hội này;
Trang 10- Nguy cơ chỉ những yếu tố gây hại tới từ môi trường xung quanh, cần đưa vào
kế hoạch nhằm đề ra phương án phòng bị, giải quyết và quản lí
Ngày nay, SWOT được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực như: tài chính, kinh doanh, marketing,… Bài phân tích này cũng sẽ ứng dụng mô hình SWOT ở khía cạnh vĩ mô, dựa trên những số liệu thực tế, để nhìn nhận và đánh giá môi trường đầu tư chứng khoán nước ngoài của Việt Nam Những điểm mạnh và điểm yếu được đề cập là những yếu tố tích cực/tiêu cực mà nhà đầu tư khi vào thị trường Việt Nam sẽ gặp phải Trong khi đó, những thuận lợi và khó khăn lại là những yếu tố có lợi/có hại mà chính nước ta đang phải đối mặt – tận dụng hoặc giải quyết - nhằm thu hút nguồn vốn trong môi trường đầy cạnh tranh
Trang 11
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 2.1 Điểm mạnh của môi trường đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam
Từ năm 2006 đến nay, thế giới đã trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của nhiều quốc gia, không ngoại trừ Việt Nam Mặc dù về mức độ ảnh hưởng, Việt Nam nằm trong nhóm nước chịu ảnh hưởng nhỏ nhất của cuộc khủng hoảng tài chính này, nhưng nó cũng đã mang lại nhiều hậu quả nặng nề, đặc biệt trong giai đoạn 2008 – 2011 Từ năm 2012, Việt Nam được coi là bước vào giai đoạn hậu khủng hoảng, tái thiết nền kinh tế và thực sự đạt được nhiều thành tích đáng kể Sau nhiều thất bại trong việc kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá trong các năm trước thì đến ngày 24/02/2011, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nền kinh tế Việt Nam đã có bước chuyển biến lạc quan Chính phủ chủ trương chuyển từ mục tiêu chú trọng tăng trưởng kinh tế sang mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và cho đến nay mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô vẫn được coi trọng hàng đầu dù Việt Nam đang trên
đà phục hồi sau khủng hoảng
2.1.1 Tỷ lệ lạm phát giảm
Để kiểm soát lạm phát, Chính phủ đã thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thắt chặt Về chính sách tiền tệ, chính phủ yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng, kiểm soát dòng vốn: ưu tiên vốn vay cho khu vực sản xuất, nông nghiệp, xuất khẩu và hạn chế cho vay khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán Bên cạnh đó là điều hành chủ động, linh hoạt công cụ lãi suất và lượng cung tiền, tăng cường quản lý ngoại hối bằng can thiệp kỹ thuật và các mệnh lệnh hành chính; kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng và ngoại tệ Về chính sách tài khóa, chính phủ chủ trương giảm chi tiêu công, tiết kiệm trong chi ngân sách nhà nước ở tất cả các cấp, tập trung vào các dự án trọng điểm, rà soát và chủ động ngừng cũng như loại bỏ các dự án ít quan trọng, gây ứ đọng vốn nhà nước Cùng với đó là việc tăng cường rà soát, thu hồi các khoản thuế nộp chậm, tích cực kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc kê khai thuế, thu thuế Việc phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đã đem lại các kết quả khả quan
Trang 12(Nguồn: World Bank)
Nhờ những hành động quyết liệt của chính phủ cùng với ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tác động lên đời sống người dân, lạm phát đã giảm mạnh từ năm 2012 và đến năm 2013 là 6,6%, năm 2014 theo dự tính là khoảng 5% Cùng với việc tỷ lệ lạm phát giảm, các cam kết cùng với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ Việt Nam
sẽ làm củng cố niềm tin của doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước
2.1.2 Lãi suất có xu hướng hạ
So với thế giới, lãi suất ở Việt Nam khá cao Điều này có thể hiểu do lạm phát trong nước cao trong các năm trước Tuy nhiên, sau khi bong bóng bất động sản vỡ cùng với một loạt động thái của chính phủ nhằm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu, lãi suất đang có xu hướng giảm dần
Trang 13(Nguồn: World Bank)
Đỉnh điểm của cuộc chạy đua lãi suất là vào năm 2011 khi thị trường bất động sản đang sốt ảo, lãi suất cho vay trung bình năm 2011 là 17% Đây thực sự là một con số quá cao Tuy nhiên, sau hàng loạt sự can thiệp mang tính mệnh lệnh hành chính của ngân hàng nhà nước thì lãi suất cho vay đã hạ, đến năm 2013 trung bình ở mức 10,37% Vừa qua, ngân hàng nhà nước đã hạ lãi suất huy động xuống còn 5%, hứa hẹn lãi suất cho vay sẽ tiếp tục giảm Điều này có ý nghĩa rất quan trọng Với việc giảm lãi suất, doanh nghiệp sẽ có khả năng vay vốn với chi phí thấp hơn, tạo lợi nhuận và cứu những doanh nghiệp đang cần vay nhưng vì lãi suất cao nên không có khả năng vay Mặt khác, dòng tiền trong dân thay vì chảy vào ngân hàng do lãi suất huy động cao giờ đây có thể chảy trực tiếp vào các lĩnh vực đầu tư như chứng khoán Điều này tác động tích cực đến
cả nhà đầu tư và thị trường tài chính
2.1.3 Tỷ giá hối đoái ổn định
Để ổn định tỷ giá hối đoái, chính phủ ban hành các mệnh lệnh hành chính kiểm soát việc buôn bán USD, yêu cầu các doanh nghiệp phải bán USD cho ngân hàng và chỉ mua khi có nhu cầu hợp lý nhằm điều chỉnh cung cầu ngoại tệ Bên cạnh đó là các chính sách nhằm kiểm soát nhập siêu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm mục đích tăng dự trữ ngoại hối, đảm bảo điều tiết tốt tỷ giá hối đoái
Trang 14(Nguồn: usforex.com)
Kể từ năm 2012, tỷ giá hối đoái Việt Nam – USD đã có xu hướng ổn định, có một thời gian dài giữ vững ở mức 21.100 VND/USD Trên đồ thị cho thấy tỷ giá hối đoái của Việt Nam giai đoạn 2012 đến nay khá ổn định, gần như nằm trên một đường thẳng, cho thấy chính sách ổn định tỷ giá của ngân hàng nhà nước đã thành công Theo số liệu thống đốc Nguyễn Văn Bình công bố, dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện nay đã là hơn
35 tỷ USD (28/04/2014) tăng vọt so với cuối năm 2012 là 23 tỷ USD Cùng với việc cải thiện cán cân thương mại do sự gia tăng giá trị xuất khẩu đến từ các doanh nghiệp FDI
và các doanh nghiệp trong nước (năm 2014 các doanh nghiệp trong nước ước tính tăng 18% giá trị xuất khẩu so với năm trước), các nhà đầu tư hoàn toàn có thể tin tưởng vào khả năng ổn định tỷ giá của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay
2.1.4 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, trên thế giới, không có một nền kinh tế thị trường nào mà DNNN chiếm một tỷ lệ lớn như Việt Nam Tại Việt Nam, số lượng DNNN đang chiếm tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, khoảng 28% GDP Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1990 Thống kê cho thấy, sau hơn 20 năm đổi mới, sắp xếp lại hệ thống DNNN, số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước giảm từ 12.000 DN xuống còn 5.655 DN vào năm 2000, đến năm 2013 còn 1.309 DN,
đa phần có quy mô vừa và lớn Mục tiêu của chính phủ giai đoạn 2014 – 2015 tiến hành
cổ phần hóa 432 DN Mặc dù thực tế cho thấy DNNN từ trước đến nay kinh doanh không hiệu quả, chỉ số ICOR cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp nhưng điều này phần nhiều do trình độ quản trị không hiệu quả cùng cơ chế xin cho làm trì trệ hoạt động của doanh nghiệp Thực tế cũng cho thấy, sau cổ phần hóa, hiệu quả sản xuất của doanh
Trang 15nghiệp tăng cao, đóng góp một phần không nhỏ vào thuế cho nhà nước Qua đó, ta có thể nhận ra tiềm năng lớn khi đầu tư vào các doanh nghiệp này bởi chúng có kinh nghiệm kinh doanh, nhân lực có kinh nghiệm hoạt động trong thời gian dài, sau cổ phần hóa có thêm vốn nâng cao năng lực của doanh nghiệp và có khả năng cải thiện tốt hơn năng lực quản trị trong doanh nghiệp
2.1.5 Các điểm mạnh khác (chính trị, tăng trưởng, dân số…)
Cuộc khủng hoảng tài chính 2007 đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế của các nước trên thế giới Giai đoạn này là thời kỳ phục hồi kinh tế mà đầu tàu chính là các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Trong khi các nước phương Tây có tăng trưởng rất chậm (GDP 1 – 2%/năm), có quốc gia còn tăng trưởng âm, châu Phi vẫn là khu vực kinh tế kém phát triển nay lại chịu ảnh hưởng của khủng hoảng và dịch Ebola nên kinh tế đang thụt lùi thì chính khu vực Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng GDP trong và sau khủng hoảng vẫn giữ ở mức 6 – 7%/năm được cho là đầu tàu kéo nền kinh
tế thế giới đi lên
So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có rất nhiều lợi thế cho phát triển kinh tế đáng để các nhà đầu tư lưu tâm
Chính trị xã hội ổn định:
Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là một trong số các quốc gia có tình hình chính trị xã hội ổn định Thái Lan liên tiếp có các cuộc biểu tình, đảo chính; Myanma sau khi trải qua cuộc nội chiến đến nay mới tạm ổn định; Indonesia dù là nền kinh tế lớn nhưng luôn có nguy cơ xung đột tôn giáo, lãnh thổ phân cách về mặt địa lý (quốc gia vạn đảo) cũng là trở ngại lớn cho việc kiểm soát chính trị xã hội; Philippines về mặt chính trị ổn định nhưng thường xuyên phải hứng chịu thiên tai, bão lũ ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân
Tăng trưởng kinh tế ổn định:
Bảng: Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm (%) của 9 nước Đông Nam Á
(Nguồn: World Bank)
Trang 16Biểu đồ: Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm (%) của 9 nước Đông Nam Á
(Nguồn: World Bank)
Từ đồ thị có thể thấy tốc độ tăng trưởng của Việt Nam, Indonexia, Lào khá ổn định trong khi đó các nước khác có tăng trưởng GDP biến động lớn Tốc độ tăng trưởng ổn định là một trong những yếu tố giúp các nhà đầu tư tránh rủi ro về tài chính
Dân số cũng là một yếu tố có lợi cho việc phát triển kinh tế cho dù ngày nay biên giới giữa các quốc gia chỉ còn ý nghĩa nhiều hơn về mặt địa lý Quốc gia có dân số đông
là thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước (tính cả về thị trường lao động và thị trường tiêu thụ hàng hóa)
Bảng: Tình hình dân số các nước Đông Nam Á (2013)
(Nguồn: World Bank)
Việt Nam có dân số đông thứ 3 trong khu vực và đứng thứ 14 trên thế giới chính
là một thị trường cực kỳ tiềm năng cho các doanh nghiệp Với cơ cấu dân số vàng, Việt Nam đang có điều kiện tốt nhất về dân số để có được sự phát triển tốt nhất về kinh tế
Trang 17So sánh với các nước trong khu vực:
Quốc gia Dân số (2013) Tăng trưởng ổn định Chính trị xã hội ổn định
Bảng: So sánh tình hình kinh tế và dân số các nước Đông Nam Á (2013)
Từ bảng so sánh trên có thể thấy lợi thế rõ rệt của Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á – một khu vực kinh tế năng động, là đầu tàu trong công cuộc khôi phục kinh tế sau khủng hoảng của thế giới Đây chính là điểm mạnh mà các nhà đầu tư nước ngoài nên cân nhắc trước khi quyết định đầu tư vào khu vực Đông Nam Á
2.2 Điểm yếu của môi trường đầu tư chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam
2.2.1 Luật Đầu tư còn nhiều hạn chế
Năm 2005, Luật Đầu tư ra đời, đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình thu hút đầu tư của Việt Nam Bộ luật này đã xóa bỏ phân biệt đối xử, tạo sân chơi bình đẳng cho cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích, ưu đãi và quản
lý hữu hiệu các hoạt động đầu tư kinh doanh, bảo đảm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Tuy nhiên, sau gần 9 năm hoạt động, Luật Đầu tư đã bộc lộ nhiều bất cập Thứ nhất, lĩnh vực và địa bàn khuyến khích đầu tư còn dàn trải, thiếu tính thống nhất và chưa thật sự hướng mạnh vào việc thu hút các dự án đầu tư với chất lượng cao, hiệu quả
Điều 27 trong Luật Đầu tư quy định các lĩnh vực ưu đãi đầu tư như sau:
1 Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; cơ khí chế tạo
2 Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; làm muối; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới
3 Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao
4 Sử dụng nhiều lao động
Trang 185 Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, các dự án quan trọng, có quy mô lớn
6 Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao và văn hóa dân tộc
7 Phát triển ngành, nghề truyền thống
8 Những lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác cần khuyến khích
Có thể thấy, mặc dù đã được quy định thành điều luật, tuy nhiên các mục này vẫn còn khá chung chung và đặt ra nhiều câu hỏi không lời giải cho nhà đầu tư Trong 8 lĩnh vực ưu đãi, lĩnh vực nào là trọng tâm, lĩnh vực nào cần chú trọng hàng đầu? Lĩnh vực
“sử dụng nhiều lao động”, “sản xuất, dịch vụ khác cần khuyến khích” là như thế nào? Ngành, nghề truyền thống là những ngành nghề ra sao? Việc phân loại các hạng mục cũng không dựa trên một tiêu chí thống nhất Nếu như mục 1 và 2 phân loại dựa trên tính chất ngành nghề như: sản xuất vật liệu, sản xuất nông sản,…; thì mục 3 và 4 lại phân loại theo hàm lượng lao động/công nghệ sử dụng Việc đặt ra những quy định dàn trải, thiếu chặt chẽ thể hiện sự không chắc chắn trong định hướng phát triển của Chính phủ và khiến cho các nhà đầu tư cảm thấy mơ hồ - không biết đầu tư vào lĩnh vực nào
sẽ được hưởng ưu đãi hay thu được lợi nhuận cao nhất
Thứ hai, ưu đãi trong luật quy định chưa rõ ràng Theo Điều 38 Thủ tục thực hiện
ưu đãi đầu tư: “Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện được hưởng
ưu đãi, cơ quan nhà nước quản lý đầu tư ghi ưu đãi đầu tư vào Giấy chứng nhận đầu tư” Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định này chưa đáp ứng được tính minh bạch, chưa làm
rõ thủ tục để nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi này Thông thường, các ưu đãi về chuyển
lỗ hay về khấu hao tài sản không được ghi trong giấy chứng nhận đầu tư Do đó, rất nhiều nhà đầu tư thắc mắc không biết có được hưởng ưu đãi trên, có cần xin thêm chấp thuận từ Bộ Tài chính hay Sở Tài chính để được hưởng ưu đãi không Kể cả với ưu đãi được ghi trên giấy chứng nhận đầu tư, doanh nghiệp cũng không được tự động hưởng
mà lại phải thông qua một quá trình thủ tục xin phép, thẩm tra, phê chuẩn của các bộ, ngành liên quan như cơ quan thuế, hải quan… Vì vậy, thay vì doanh nghiệp được hưởng nhiều ưu đãi nhưng thực tế lại khó có thể được Nếu có, doanh nghiệp cũng phải mất nhiều thời gian và chi phí để thực hiện nhiều thủ tục với nhiều cơ quan khác nhau Thứ ba, những quy định về hoạt động đầu tư gián tiếp vẫn còn rất hạn chế trong
Luật Đầu tư 2005 Chỉ có duy nhất Điều 26 là quy định riêng về các hình thức đầu tư
gián tiếp Trong khi đó, Luật Đầu tư lại dành hẳn một chương (Chương VI) cho hoạt động đầu tư trực tiếp với đầy đủ các mục: thủ tục đăng ký, thẩm tra,… Ngay cả khi tra cứu trong “Luật Chứng khoán” ban hành năm 2006, các thủ tục đối với đầu tư gián tiếp (cụ thể là đầu tư chứng khoán nước ngoài) cũng không được đề cập Sự thiếu cân đối trong bộ luật khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài có ý định đầu tư chứng khoán vào nước ta thiếu cơ sở pháp lý để làm căn cứ đánh giá, cũng như không được bảo vệ nếu như thực hiện đầu tư
Mới đây, Luật Đầu tư nước ta đã được chỉnh sửa lại, song, những vấn đề nêu trên vẫn chưa được khắc phục
Trang 192.2.2 Thị trường chứng khoán còn tiềm ẩn nhiều rủi ro
Lừa đảo trên thị trường
Hiện tượng lừa đảo trên các thị trường chứng khoán tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như: làm giả các số liệu tài chính, đánh bóng công ty; che giấu không cho nhà đầu tư biết các rủi ro hay các tin xấu; rút ruột công ty; trò Ponzi (rút tiền của các nhà đầu tư mới để trả cho các nhà đầu tư cũ và một phần bỏ túi, chứ doanh nghiệp không tạo lợi nhuận thật sự); lũng đoạn giá chứng khoán trên thị trường; giao dịch nội gián,…
Trong tất cả các vụ lừa đảo như vậy, người bị thiệt hại là các nhà đầu tư Một khi các nhà đầu tư đã bị lừa đảo mất tiền thì rất ít khả năng đòi lại được số tiền bị mất đó Một ví dụ là vào năm 2011, thị trường chứng khoán tiếp đà sụt giảm mạnh cả về giá các loại cổ phiếu cũng như số lượng nhà đầu tư Trước tình thế khó khăn, để thu hút đầu tư, một số công ty chứng khoán đã cố tình vi phạm các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước như “làm giá” một số cổ phiếu, ứng khống trước cổ phiếu cho một số nhà đầu tư “ruột”, bảo lãnh khống cho một số nhà đầu tư vay tiền ngân hàng Đồng thời, một số nhà đầu tư đã có hành vi tung tin thất thiệt tạo sốt ảo một số cổ phiếu, thao túng giá cổ phiếu nhằm trục lợi, tiêu biểu là sự kiện Tổng Giám đốc Công ty Dược Viễn Đông thao túng giá cổ phiếu Dược Hà Tây, khai khống, tạo doanh thu ảo cho công ty Công
ty đã phải chấm dứt hoạt động vào cuối tháng 9/2011 và bị xử lí hình sự
Rủi ro về thông tin
Vấn đề thông tin bất cân xứng là vấn đề trong giới đầu tư chứng khoán tại Việt Nam Rất khó khăn để biết được tình trạng kinh doanh thực sự của doanh nghiệp, bởi các thông tin trên báo cáo tài chính thường thiếu tin cậy Hơn nữa, một số “tay trong” nắm được thông tin tốt hơn và sớm hơn, mua bán dựa trên các thông tin đó, còn những người khác không hề nhận được thông tin, hoặc chỉ nhận được khi đã muộn Điều này khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài khó có thể đưa ra lựa chọn chính xác cũng như khó xâm nhập được thị trường
Rủi ro về hoạt động của doanh nghiệp
Đây là rủi ro rất phổ biến hiện nay do ảnh hưởng từ những bất ổn kinh tế trên toàn cầu Nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, thậm chí phá sản Nếu nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu của những doanh nghiệp này thì sẽ đứng trước nguy cơ mất trắng Tại nước ta, số lượng doanh nghiệp phải đóng cửa và ngừng hoạt động có xu hướng tăng dần theo các năm Theo Tổng cục Thống kê, ước tính năm 2013, tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9%
so với năm 2012 Trong số đó, số doanh nghiệp đã giải thể là 9.818 doanh nghiệp, tăng 4,9%; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 10.803 doanh nghiệp, tăng 35,7%; số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 40.116 doanh nghiệp, tăng 8.6% Những con số này ít nhiều khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy dè chừng khi đưa nguồn vốn vào Việt Nam