1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tuần 3. Đọc thêm: Vịnh khoa thi Hương

14 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỄ XƯỚNG DANH KHOA THI NĂM ĐINH DẬUNhà nước ba năm mở một khoa Trường Nam thi lẫn với trường Hà Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm oẹ quan trường miệng thét loa Lọng cấm rợp trời quan sứ đến

Trang 1

MỜI CÔ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI ĐỀ TÀI

CÔ TỰ CHỌN CỦA TỔ 4

HELLO

Trang 2

LỄ XƯỚNG DANH KHOA THI NĂM ĐINH DẬU

Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa

Lọng cấm rợp trời quan sứ đến

Váy lê quét đất mụ đầm ra

Nhân tài đất Bắc nào ai đó

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà

Trang 3

Tú Xương Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm

Trang 4

Bà Tú (Phạm Thị Mẫn) Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi bà Tú đã mất

khoảng trên dưới 10 năm

Trang 5

I.Giới thiệu tác giả-tác phẩm

1.Tác giả

 Tú xương sinh 5/9/1870 ở làng Vị Xuyên,huyện Mỹ Lộc,tỉnh Nam Định (nay là phố Minh Khai,phường Vị

Xuyên,thành phố Nam Định)

 Ông tên thật Trần Tế Xương,tự Mặc Trai,hiệu Mộng Tích,Tử Thịnh

 Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn

 Ông đi thi từ lúc 17 tuổi, đó là khoa Bính Tuất (1886).)

 Mọi chi tiêu trong gia đình đều do một tay bà Tú lo liệu Điều đó đã đi vào thơ ca của ông: Tiền bạc phó cho con

mụ kiếm hoặc là Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ hay là Nuôi đủ năm con với một chồng, rồi ông cũng tự cười mình trong bài Phỗng sành:

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành Mắt thời thao láo, mặt thời xanh Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ Rượu chè trai gái đủ tam khoanh Thế mà cứ nghĩ rằng ta giỏi,

Cứ việc ăn chơi chẳng học hành

 Cuộc đời ông chỉ gắn liền với thi cử, tính ra có tất cả 8 lần Đó là các khoa: Bính Tuất (1886); Mậu Tý (1888); Tân Mão (1891); Giáp Ngọ (1894); Đinh Dậu (1897); Canh Tý (1900); Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906) Sau

3 lần hỏng thi mãi đến lần thứ tư khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm) Sau đó không sao lên nổi cử nhân, mặc dù đã khá kiên trì theo đuổi Khoa Quý Mão (1903) Trần Tế Xương đổi tên thành Trần Cao Xương tưởng rằng bớt đen đủi, nhưng rồi hỏng vẫn hoàn hỏng, đến phát cắu lên:

Tế đổi làm cao mà chó thế, Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi !

Trang 6

2.Tác phẩm

 Bài thơ còn có tên gọi khác là Vịnh Khoa Thi

Hương

 Đề tài:thi cử

 Nội dung: miêu tả lễ xướng danh khoa thi tại

trường Nam 1897,thể hiện thái độ mỉa mai,phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ khoa cử nhốn

nháo,ô hợp của xã hội phong kiến nửa buổi đầu

và tâm sự của nhà thơ trước tình cảnh ấy.

Trang 7

II.Văn bản

1.Hai câu đề

Nhà nước ba năm mở một khoa Trường Nam thi lẫn với trường Hà

 Thời gian mở khoa thi: “ba năm mở một khoa”

 Hình thức thi:trường Nam thi lẫn với

trường Hà

‚ Sự lộn xộn,láo nháo,lôi thôi,thiếu nề

nếp,quy cũ của cuộc thi

=> Sự lộn xộn,nhốn nháo,thấy được tình cảnh đất nước,sự áp đảo của ngoại

bang

Trang 9

2.Hai câu thực

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quang trường miệng thét loa

của những sĩ tử

=> Họ không có tư thế của những sĩ tử đi thi,của người làm chủ kiến

thức trong kì thi

năng ậm oẹ,ấp úng,ra oai gượng gạo

thi

=> Cảnh hỗn độn,nhếch nhác,tàn tạ,không mang tính chất của cuộc thi

Trang 10

3.Hai câu luận

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến

Váy lê quét đất,mụ đầm ra

cuộc thi

‚ sự phô trương về hình thức, nhố nhăng,lôi thôi

- Phép đối:quan sứ >< bà đầm

lọng cắm >< váy lê

-> bức tranh biếm hoạ

‚ trường thi đầy rẫy những đối lập,ngược đời,trớ trêu

=> Tiếng cười mỉa mai,chua chát của Tú Xương

Trang 12

4.Hai câu kết

Nhân tài đất Bắc nào ai đó

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà

- Câu hỏi: “nhân tài đất Bắc nào ai đó” ‚ lời kêu

gọi những người có lòng tự tôn dân tộc hãy thức tỉnh lại để:“Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”

- “Ngoảnh cổ”: thái độ,tâm thế không cam tâm

sống mãi trong cảnh đời nô lệ

- “cảnh nước nhà”: hiện trạng đất nước và nỗi

nhục mất nước

=> Tấm lòng yêu nước,căm ghét bọn thực dân

xâm lược,thức tỉnh lòng tự tôn dân tộc

Trang 13

III.Tổng kết

1.Nội dung

- Thể hiện thái độ châm biếm,đả kích của Tú

Xương

- Tâm trạng đau đớn,chua xót của nhà thơ trước

hiện thực đất nước

2.Nghệ thuật

- Kết hợp hài hoà giữa châm biếm đả kích và trữ

tình

- Nghệ thuật đảo ngữ,đối lập => bức tranh trường

thi và sự nhố nhăng của khung cảnh tiếp đón

quan sứ

Trang 14

Cảm ơn cô và các

bạn đã theo dõi

Ngày đăng: 12/12/2017, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w