THI NHÂN VIỆT NAM Phần 1: Cung Chiêu anh hồn Tản Đà và tiểu luận một thời đại trong thi ca nguồn ngốc quá trình phát triển của thơ mới và sự phân biệt thơ mới với thơ cũ... Tiểu luận Một
Trang 1CHÀO MỪNG THẦY CÔ VÀ CÁC EM ĐẾN VỚI BÀI HỌC NGÀY HÔM NAY
Trang 2Tiết 107 – 108 MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
( Trích Thi nhân Việt Nam)
Hoài Thanh
Trang 3I Tìm hiểu chung1/Tác giả:
- Trước Cách mạng: tham gia
các phong trào yêu nước.
- Sau cách mạng: ông hoạt
động trong ngành văn hóa
nghệ thuật, giữ nhiều
cương vị quan trọng.
Trang 5- Các tác phẩm chính: Văn chương và hành động,
Thi nhân Việt Nam, Có một nền văn hóa Việt Nam
Sự nghiệp
Trang 6THI NHÂN
VIỆT NAM
Phần 1: Cung Chiêu anh hồn Tản Đà và tiểu luận một thời đại trong thi ca (nguồn ngốc quá trình phát triển của thơ mới và sự phân biệt
thơ mới với thơ cũ
Phần2: 169 bài thơ của 46 nhà thơ
Phần3: Nhỏ to – lời tác giả
Trang 7=> Hoài Thanh xứng đáng được xem là người đại diện ý
thức cho phong
trào thơ mới.
Trang 8- Phong cách phê bình: Lối phê bình “lấy
hồn tôi để hiểu hồn người”
=> Năm 2000, ông được truy tặng giải
thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật Là nhà phê bình văn học xuất
sắc nhất của văn học Việt Nam hiện
đại.
Trang 92 Tiểu luận Một thời đại trong thi ca
- Xuất xứ: Nằm ở phần mở
đầu của cuốn thi nhân Việt
Nam; Là công trình tổng kết
về phong trào Thơ mới; Là
áng văn phê bình bất hủ.
Trang 103 Đoạn trích:
a Vị trí
- Đoạn trích thuộc phần đầu của cuốn Thi nhân
Việt Nam, là phần cuối của tiểu luận Một thời đại trong thi ca.
b Đọc- Bố cục
Trang 11
Bố cục
Phần 1 : Đặt vấn đề nghị luận: tinh thần thơ mới và đưa ra
nguyên tắc xác định tinh thần thơ mới.
Phần 2 : Tinh thần thơ mới: cái
tôi (trong sự đối sánh với tinh
thần thơ cũ)
Phần 3 : sự vận động của thơ mới xung quanh cái tôi và bi kịch của nó
Trang 12II Đọc- hiểu
1 Nguyên tắc xác định thơ mới
Tác giả đưa ra dẫn chứng Người giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: Thuyền qua không buộc chặt.
Thơ mới: hình ảnh ước lệ cổ điển.
Ô hay cảnh cũng ưa người nhi
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ
=> Thơ cũ: giọng trẻ trung!
Trang 13- Khó khăn :
+ Ranh giới giữa thơ mới thơ cũ không phải lúc nào cũng rõ ràng, dễ nhận ra “trời đất
không phải dựng lên cùng một lần…Hôm
nay phôi thai từ hôm qua và trong cái mới
vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ”.
+ Cả thơ mới và thơ cũ đều có những cái
hay, cái dở “khốn nỗi cái tầm thường, cái lố lăng chẳng phải của riêng của một thời
nào”.
Trang 14“Giá các nhà thơ cứ viết những câu như hai câu
trích trên này thì tiện cho ta biết mấy
Giá trong thơ cũ chi có những trần ngôn sáo ngữ… thì tiện cho ta biết mấy Khốn nỗi, cái tầm thường,
cái lố lăng…với bài hay vậy
Âu là ta đành phải nhận rằng trời đất không phải dựng lên cùng một lần với thế hệ chúng ta”
=> Câu văn giả định, cảm thán, giọng
điệu gần gũi, thân mật đã nêu bật được
những khó khăn và khát khao tìm cho
được “tinh thần Thơ mới”
Trang 15- Nguyên tắc:
+ So sánh bài hay với bài hay không
căn cứ vào bài dở (phương pháp so
sánh).
+ Nhìn vào cái đại thể, không nhìn vào
cái cục bộ (Cái nhìn biện chứng nhiều
chiều).
=> Nguyên tắc thuyết phục vì khi nhìn nhận, đánh giá phải nhìn một cách toàn diện
Trang 162 Tinh thần thơ mới
- Tinh thần thơ mới là chữ tôi với cái nghĩa tuyệt đối của nó
- Cách hiểu về chữ tôi : So sánh :
Giống nhau:
Khác nhau:
Trang 17Thời xưa –thơ cũ
- Thảng hoặc họ cũng ghi hình họ trong văn thơ…
-Quan niệm cá nhân, gắn liền với cá nhân,
Trang 19- Ngày một ngày hai
Vô số người quen
Một người khách không mời
Một kẻ ngụ cư
Một cô dâu mới
Đặt cái tôi trong cái nôi lịch sử
Trang 203 Sự vận động của thơ mới xung quanh
cái tôi và bi kịch của nó.
* Sự vận động của Thơ mới
• Ngày thứ nhất : Nó thực bỡ ngỡ, như lạc loài nơi đất khách, bao nhiêu con mắt nhìn nó với
vẻ khó chịu => Bị khó chịu, ác cảm
• Ngày một, ngày hai : Nó mất dần cái vẻ bỡ
ngỡ Nó được vô số người quen Người ta
còn thấy nó đáng thương => Được quen dần
và thương cảm.
=> Cái tôi được đặt trong cái nhìn lịch sử để xem xét với giọng điệu giàu cảm xúc
Trang 21Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình
bịch, người quân tử ăn chẳng
cầu no
Đêm năm canh an giấc ngáy
kho kho, đời thái bình cửa
thường bỏ ngỏ
Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ
Cười trước
cảnh nghèo
Khóc than
trước cảnh nghèo
Cái Tôi thơ mới yếu đuối, khổ sở, thảm hại
Cái tôi đáng thương và rơi vào bi kịch
NGUYỄN CÔNG TRƯ
XUÂN DIỆU:
Trang 22Bế tắc
Tôi
Phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư
Đắm say cùng Xuân Diệu
Điên cuồng cùng HMT, CLV
Động tiên
đã khép
Ngơ ngẩn cùng Huy Cận
Bơ vơ
Rồi tỉnh
Tho¸t lªn tiªn cïng ThÕ Lư
Tình yêu không bền
Trang 23* Cái tôi đáng thương và đáng tội nghiệp
vì :
+ Mất cốt cách hiên ngang : không có khí
phách ngang tàng như Lí Bạch, không có lòng
tự trọng khinh cảnh cơ hàn như Nguyễn Công Trứ
+ Rên rỉ, khổ sở, thảm hại.
+ Thiếu một lòng tin đầy đủ vào thực tại, tìm
cách thoát li thực tại nhưng lại rơi vào bi kịch
Cách trình bày có tính khái quát cao (về sự
bế tắc của cái tôi thơ mới và phong cách
riêng của từng nhà văn), lập luận logic, chặt chẽ; mà cách diễn đạt lại giàu cảm xúc và có tính hình tượng
Trang 24* Bi kịch của thơ mới:
• - Mất hết cái cốt cách hiên ngang.
•Bi kịch của người thanh niên thời ấy :
Cô đơn, buồn chán, tìm cách thoát li thực tại
vì thiếu lòng tin vào thực tại nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bế tắc (Đây cũng chính là đặc
trưng cơ bản của thơ mới).
Cái tôi bi kịch này “đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại” nên nó vừa có ý nghĩa văn chương vừa có ý nghĩa xã hội.
Trang 25* Giải quyết bi kịch :
- Gửi cả tình yêu vào tiếng Việt
- Bởi vì : họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt ; tiếng Việt là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ đã qua
Giọng văn giàu cảm xúc, giãi bày, đồng cảm, chia sẻ cùng những câu văn mềm mại uyển
Trang 26III.Tổng kết
1 Nghệ thuật:
- Kết cấu chặt chẽ, lập luận khoa hoc
- Văn chương giàu chất nghệ thuật, giàu chất thơ, giàu nhịp điệu
2 Nội dung:
“ Một thời đại trong thi ca” đã nêu rõ nội dung cốt yếu của” tinh thần thơ mới”: Lần đầu tiên chữ tôi với cái nghĩ tuyệt đối của nó xuất hiện trong thi ca đồng thời cũng nói lên” cái bi kịch ngấm ngầm trong hồn người thanh niên” thời bấy giờ