Tuần 31. Một thời đại trong thi ca tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các lĩ...
Trang 2- Quê hương: xã Nghi
Trung, huyện Nghi Lộc,
tỉnh Nghệ An.
- Gia đình: xuất thân trong
một gia đình nhà nho yêu
nước.
Trang 3- Bản thân:
+ Sớm tham gia phong
trào yêu nước.
Trang 4+ Trong đó nổi tiếng nhất là Thi nhân Việt Nam (1942).
Trang 6nước ta trong nhiều thập kỉ qua.
- Tính đến năm 2006,
tác phẩm đã được in lại 33 lần.
Trang 7+ Ông được xem là nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của Văn học Việt Nam hiện đại
+ Ông gọi lối phê bình của mình là “lấy hồn tôi
để hiểu hồn người”.
+ Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng
Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm
2000.
Trang 8Hoài Thanh quan niệm về cách phê bình của
mình là “Lấy hồn tôi để hiểu hồn người”,
cụ thể là như thế nào?
- Văn bản sử dụng nhiều từ ngữ, hình ảnh
thấm đẫm tình cảm như: yêu vô cùng, chia
sẻ buồn vui với cha ông, hứng vong hồn,…
- Nhiền lần dùng chữ ta (trong đó có tác giả)
để nói cái chung.
Trang 9b) Bài tiểu luận Một thời đại
trong thi ca
- Đây là bài tiểu luận mở đầu
cuốn Thi nhân Việt Nam.
- Nội dung: Bài tiểu luận
tổng kết một cách sâu sắc
về phong trào Thơ mới
(1932 – 1945)
- Đoạn trích trong sách giáo
khoa thuộc phần cuối bài
tiểu luận Một thời đại
trong thi ca.
Trang 10c) Bố cục: 3 phần.
- Phần một (từ đầu đến “đại thể”): Cách nhận
diện “Tinh thần thơ mới”
- Phần hai (tiếp theo đến “cùng Huy Cận”):
Tinh thần thơ mới: chữ Tôi.
- Phần ba (còn lại): Bi kịch thời đại của “cái
Tôi” và giải pháp cho bi kịch đó.
Trang 11II Phân tích
1 Cách nhận diện tinh thần thơ mới.
a) Cái khó trong việc tìm ra “Tinh thần thơ mới”
- Ranh giới giữa thơ cũ và thơ mới không phải
rạch ròi, dễ nhận ra (“Âu là ta đành phải… ít nhiều cái cũ”).
- Thơ thời nào cũng có cái hay, cái dở; cái kiệt
xuất, cái tầm thường, lố lăng Chính sự xáo
trộn ấy đã khiến cho việc chọn được bài để so sánh, để cho thật hiểu cái “Tinh thần thơ mới”
là không phải dễ.
Trang 12- Ông đã đưa ra hai câu thơ để nói rõ cái khó này:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.
(Xuân Diệu, thơ mới)
=> Hình ảnh ước lệ, cổ điển.
Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ!
Ai nấy ai mà chẳng ngẩn ngơ?
(thơ cũ)
=> Giọng điệu trẻ trung, hiện đại.
Nếu không biết tác giả thì không thể xác định
đâu là thơ cũ đâu là thơ mới.
Trang 13b) Tác giả đề nghị phương pháp nhận diện:
- So sánh bài hay với bày hay.
- So sánh giữa thơ cũ và thơ mới.
- So sánh trên nguyên tắc đại thể.
* Lập luận theo lối quy nạp, luận cứ xác đáng, luận điểm rõ ràng, luận chứng tiêu biểu, khác quan, giản dị sinh động.
Trang 14Câu hỏi
- Nội dung chính của đoạn 1 là gì?
- Tác giả đề nghị phương pháp nhận diện gì?
Trang 152 Tinh thần thơ mới: chữ Tôi
Theo Hoài Thanh, điều cốt lõi
mà thơ mới đem đến cho thi đàn Việt Nam lúc bấy giờ là
gì?
Chữ Tôi – Với ý nghĩa tuyệt đối
Trang 16- Khẳng định: Tinh thần thơ mới là ở cái tôi cá
nhân.
Về đại thể: Xã hội Việt Nam
xưa không có cái tôi cá nhân.
Thảng hoặc có những bậc kì tài
ghi dấu ấn riêng của mình
⇒Nhưng đó không phải là cái tôi
cá nhân với ý nghĩa tuyệt đối của nó.
* Cách trình bày vấn
đề chặt chẽ,
sắc sảo
Trang 17Hoài Thanh đã quan niệm như thế nào về
cái tôi – ta trong thơ cũ và thơ mới?
Thơ cũ + Cái Ta – cái phi ngã.
+ Cốt cách hiên ngang,
khí phách.
Thơ mới
+ Cái Tôi, ý thức cá nhân
+ Tội nghiệp, rên rỉ, khổ sở, cô đơn, đầy bi kịch
Trang 18Hoài Thanh đã chỉ ra cách thâu tóm tinh
thần thơ mới dựa vào yếu tố nào?
* Chỉ ra cách thâu tóm tinh thần của thơ mới trên cơ sở làm rõ những khác biệt giữa thơ
mới và thơ cũ.
Trang 19- Cách thâu tóm tinh thần thơ mới.
Tinh thầnThơ cũ Tinh thầnThơ mới
Trang 20- Sự xuất hiện và phát triển của cái Tôi cá
nhân.
- “Ngày thứ nhất”:
+ Bỡ ngỡ, lạc loài.
+ “…bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu”.
- “Ngày một ngày hai”:
+ Vô số người quen.
+ Thương cảm tội nghiệp.
+ “Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ Tôi”.
+ “Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ Tôi”.
+ “ Chữ Ta với họ to rộng quá”.
Trang 21Tâm hồn của họ chỉ vừa thu vừa trong khuôn khổ
Nhỏ bé, tù túng
Thương
cảm
Trang 22Nguyễn Công Trứ
Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch,
ăn chẳng cầu no.
Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho,
đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.
Xuân Diệu
Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt,
Cơm áo không đùa với khách thơ.
Cười trước cảnh nghèo
Khóc than trước cảnh nghèo
Yếu đuối, khổ
sở, thảm hại
Trang 233 Bi kịch của cái Tôi và giải pháp cho bi kịch
a) Bi kịch của cái Tôi:
Vì sao Hoài thanh lại nói “cái tôi với ý nghĩa tuyệt đối của nó” lại “đáng thương” và “tội nghiệp”?
- Cái Tôi của các nhà thơ mới “đáng thương” và
“tội nghiệp” vì nó đã đem đến cho tâm hồn họ nỗi buồn lạnh, bơ vơ, muốn thoát khỏi nhưng không được Bởi họ là những thi nhân sống
trong cuộc đời mong mỏi, tù túng của thân
phận mật nước, mang trong mình cái cô đơn bé nhỏ của thi nhân, phản ánh bi kịch của thi nhân lãng mạn và tâm lí thời đại, bi kịch lớp người trẻ
Trang 24- Tương phản giữa khát vọng thoát thân và thực tế tù túng, bế tắc để thấy bi kịch của thi sĩ lãng mạn.
Điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên
Phiêu lưu t
rong trường tình
cùng Lưu trong
Động tiên
đã khép
Rồi tỉnh
Trang 25* Đoạn văn ngắn gọn, hàm súc, vừa khái quát vừa cụ thể không chỉ chỉ ra nguyên nhân mà còn thấy cả tiến trình báo trước kết quả của tinh thần thơ mới.
* Cách dùng từ chính xác, cách dùng điệp từ, dùng tương phản để tạo giọng điệu, cảm
xúc.
* Đây là một trong những đoạn văn hay nhất của bài tiểu luận Nó được nhiều thế hệ
người đọc hết sức khâm phục và đồng cảm.
Trang 26b) Hướng giải quyết bi kịch:
Các nhà thơ lãng mạn, những “người thanh niên” lúc bây giờ đã giải tỏa bi kịch của cuộc đời mình bằng cách nào? Vì sao?
- Bằng cách gửi cả vào tiếng Việt: “họ yêu vô
cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông Họ dồn tình yêu quê
hương trong tình yêu tiếng Việt” Hoài Thanh đã dùng hình ảnh “tấm lụa” và “tâm hồn bạch” để nói lên tình cảm đẹp đó.
- Vì tiếng Việt là tiền đề của tâm hồn và bề dày lịch
sử văn hóa dân tộc: “Tiếng Việt là tấm lụa đã
hứng vong hồn những thế hệ qua”, “Truyện Kiều
Trang 27Tại sao Hoài Thanh mượn câu nói của ông chủ báo Nam phong “Truyện kiều còn, tiếng
ta còn ; tiếng ta còn, nước ta còn”, ông chủ báo ấy là ai?
- Là học giả Phạm Quỳnh.
- Lí do Hoài Thanh trích dẫn câu nói đó vì ông
đề cao tiếng Việt, đề cao những đóng góp to lớn của phong trào thơ mới cho sự cách tân tiếng Việt, đưa tiếng Việt vào quỹ đạo ngôn ngữ hiện đại.
- Vì khằng định lòng yêu nước của những cai
Trang 284 Nghệ thuật đặc sắc:
a) Tính logic:
- Lập luận chặt chẽ, rõ ràng, đảm bảo tính logic,có
khả năng thuyết phục cao, khẳng định một ưu thế của văn nghị luận phê bình.
- Dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc, phân tích tinh tế.
- Cách dẫn dắt vấn đề tự nhiên, linh hoạt, độc đáo.
- Chuyển ý khéo léo tạo sự tiếp nối.
b) Tính nghệ thuật:
- Ngôn ngữ độc đáo, đặc sắc, dung dị, dễ hiểu mà
vẫn súc tích, có giá trị biểu cảm cao.
- Giọng điệu trong sáng, tha thiết, cảm thông, thấm
đượm tình người.
- Lời văn giàu chất thơ, so sánh gợi nhiều liên
Trang 29III Tổng kết
1 Nội dung:
“Tinh thần thơ mới” Từ đó tác giả thể hiện thái độ trân trọng, cổ vũ sự xuất hiện của ý thức cá nhân trong thơ ca và tấm lòng của các nhà thơ mới đối với dân tộc.
2 Nghệ thuật:
giàu cảm xúc, nhưng cũng rất dí dỏm.