Ngày nay khi trời yên, biển lặng, gió tạnh mây quangtrong bối cảnh đất nước thanh bình, khi kinh tế đang trênđà phát triển bước vào hợi nhập cùng thế giới văn minh mà “Bao nhi
Trang 1Vũ Xuân Hào ĐÔI LỜI CẢM NHẬN
§«i lêi c¶m nhËn
Theo triết học cở Phương Đơng: Mỡi con người chúng
ta khi sinh ra đã có mợt ngơi sao chiếu mệnh mà đã là saothì hẳn có mợt quầng sáng của riêng mình
Trong những tháng năm chiến tranh khói lửa, bom đạnmịt mùng, bão dơng vần vũ, ta khó có thể nhận ra dù chỉchỉ là mợt tia sáng nhỏ nhoi của mợt ngơi sao chiếu mệnhnào đố vì nó đã hoà chung vào vận mệnh của đất nướctrước sự mất cịn của cả mợt dân tợc
Ngày nay khi trời yên, biển lặng, gió tạnh mây quangtrong bối cảnh đất nước thanh bình, khi kinh tế đang trênđà phát triển bước vào hợi nhập cùng thế giới văn minh
mà “Bao nhiêu sức mạnh trong thiên hạ đều ẩn chứa trong tiềm lực cá nhân, vì vậy vấn đề lớn nhất của xã hội
là giúp các năng lực con người được tự do phát triển”(theo D.J.HIN).Vì vây: Trước vận hợi mới của dân
tợc, những quầng sáng của mỡi ngơi sao chiếu mệnh dùchỉ loé sáng ngắn ngủi như mợt ngơi sao băng trongkhoảng trời xanh vơ tận cũng đã làm cho đời chúng ta códịp thăng hoa mà thoả mãn ước nguyện của riêng mình làđược cất lên thành lời bằng tiếng hát trái tim, ngợi ca quêhương xứ sở, với trăm thứ giọng hát khác nhau của bầychim đồng nợi
Con chim sâu “lích tích” con sẻ rạ “líu lo” con sơn ca
“lảnh lĩt” Giàu nhạc điệu như “Bách thanh”, cao vút trong trẻo như “Hoạ mi”, não nuợt hoài vọng về cố quốc như chim “Đa đa” hay da diết gọi bạn tình suốt mùa hè
Theo dòng thời gian 1
Trang 2đến héo khơ như con “ Cuốc, cuốc” Tuy vậy khi hoà ca trong dân dã nghe ra cũng “Được, được”.
Có lẽ Vũ Xuân Hào cũng là mợt hồn thơ như vậy Đầunhững thập niên 80 của thế kỷ trước, thiên niên kỷ trướctơi và Vũ Xuân Hào cũng về cơng tác ở mợt trường phởthơng, ở với nhau ba, bốn năm học dễ cũng đến 5,6 nămtơi chỉ thấy Vũ Xuân Hào thỉnh thoảng có viết mợt vàibài báo chống tiêu cực kiểu “đánh mèo ăn vụng cá”chứ
có đợng hề gì đến “Hổ bắt lơn” đâu ! Nhưng như thế
cũng là dũng cảm lắm rồi, với phương châm:
“Ngày ngày quét lá khơ rơi Cịn hơn tác ngập để ruồi nhặng bâu!”
Đúng là mợt chàng “Hiệp sĩ Đơng Ky Sốt của sứ Manta”, dẫu cũng thu được mợt số chiến cơng hiển hách dâng người đẹp ‘‘Đun Xi Nê” nhưng Vũ Xuân Hào làm
thơ! thật sự ngoài sức tưởng tượng của tơi
Trong cơng việc anh thường rất năng nở, sẵn sàng vị
tha, sống cởi mở lại thẳng tính “ giữa đường thấy cảnh bất bình chẳng tha” (Lục Vân Tiên) Hoá ra nhiều khi cũng “lấy lạt buộc vào mình, mua hơi để mà thở!”.
Từ những ngày quen biết nhau đến nay chúng tơi đẫtrở thành đơi bạn tâm giao vui buồn có nhau thấm thoát
ba chục năm có lẻ (mặc dù tơi hơn Xuân Hào gần mợtgiáp) Đơi khi cũng có trao đởi về văn chương, chữ nghĩa
cũng chỉ là chuyện “tầm phào” khi trà dư, tiểu hậu…!
Đùng mợt cái trong tuyển tập thơ “ HƯƠNG ĐẤT VIỆT” tình cờ tơi đọc lại có bài: Bãi muối Hạ Long:
Đêm nằm bãi muối chốn phồn hoa Đích thực thời nay nào dám ngoa
Theo dòng thời gian 2
Trang 3Vũ Xuân Hào ĐÔI LỜI CẢM NHẬN
Mà sao êm ả đêm hè ấy Chỉ tiếng cơn trùng - tiếng hai ta.
Anh viết trong mợt lần ghé thăm tơi ở nơi khai hoang.Bài thơ tuy ngắn ngủi nhưng phần nào cũng phản ánhtrung thực và sinh đợng nơi chúng tơi đang sinh sống.Đã là giáo viên, nhất là những giáo viên khoa xã hợilàm dăm ba câu thơ tức cảnh chắc thầy nào cũng có,nhưng mấy câu khả dĩ trụ được khơng phải là dễ! Chẳng
hạn như bài “Bâng khuâng” tặng nhà thơ Nguyễn Thị
Bằng Ủy viên BTV câu lạc bợ thơ Việt Nam đã làm tơithật sự ngỡ ngàng:
“ Rồng mới gặp Ngựa một lần thơi Bâng khuâng để nhớ, để rồi nên thơ Ước gì cách bức dậu thưa
Cĩ người chia sẻ vần thơ xé rào!”
Nghe ra ngở ngáo, bỡ bãm cứ như Chiêu Hở xướnghọa với Hồ Xuân Hương vậy Mới chỉ gặp nhau có mợt
lần đã “Bâng khuâng để nhớ” đúng là mợt gã si tình! “
để rồi nên thơ” hẳn là có duyên kỳ ngợ – nhưng lại “ước cách bức dậu thưa” để được “ xé rào” trước mợt nhà thơ
đã có tiếng Đúng là mợt anh Đồ khơng biết lượng sứcmình
“Anh đồ tỉnh, anh đồ say Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày …”
Hồ Xuân Hương
“ Rồng mới gặp Ngựa một lần thơi” mà đã nhăm nhe
“xé rào” vào Bài thơ đã xé rào về thể Thể thơ lục bát nhưng câu 1 lại 7 chữ Lại “xé rào” về cảm xúc của mợt
Theo dòng thời gian 3
Trang 4thầy đồ, thường thì thầy đồ là những người mơ phạm, sư
phạm Ở đây lại “hăm hở, xấn xổ” như mợt chàng chai tơ
Ước cách bức dậu thưa – để được xé rào làm ta liêntưởng tới:
“Ong non ngứa nọc châm bầu rữa
Dê con mọc sừng húc dậu thưa”
(Hồ Xuân Hương)
Rồng, chắc là tuởi Canh Thìn của anh (sinh năm 1940).Bởi dùng Rồng và Ngựa để chỉ Thìn và Ngọ làm kiểuchơi chữ của các thầy Đồ
Dùng thể lục bát phá cách khiến câu thơ có tính trẻtrung của mợt chàng trai tơ
Khi đọc bài “Bâng khuâng” của anh được in trong tập
thơ “ HƯƠNG ĐẤT VIỆT” Bài thơ chỉ có 4 câu mà đã
gợi cho ta bao liên tưởng, kể thơ cũng được đất chứ!Đọc thơ anh đã gợi trí tị mị của tơi Muốn đi tìm hiểu
và khám phá mợt mảnh “Vườn địa đàng” cịn chứa nhiều
bí ẩn trong tâm hồn người bạn “vong niên” của tơi Ít lâu nay cịn được giấu kín trong khu vườn “Thượng uyển”
đầu vải thiều và cây cảnh nhà anh
Vũ Xuân Hào (tuởi Rồng 1940) đề nay (2010) anh đã
là lớp người “xưa nay hiếm” như cách nói của Bác Hồ đến tuởi “cổ lai hy” mới gom nhặt tất cả những “Trang đời” những “mảnh tâm tình”: Khi làm lính, lúc làm thầy
cho đến khi về hưu thú điền viên để ra tập thơ THEO DÒNG THỜI GIAN” giữ làm kỷ niệm cho mình, làm quàcho người thân, bạn bè và để giao lưu trao đởi vớ bạn thơ
xa gần chẳng phải là mợt thú vui tao nhã của người cầmbút hay sao Thơ anh ngắn gọn xúc tích, giàu tình cảm,khơng mất nhiều thời gian đọc nhưng mất nhiều thời gianTheo dòng thời gian 4
Trang 5Vũ Xuân Hào ĐÔI LỜI CẢM NHẬN
suy ngẫm Chiêm nghiệm Cũng có khi mỉm cười và cũngcó khi ngậm ngùi sa nước mắt
Xin trân trọng giới thiệu “ THEO DÒNG THỜI GIAN”của bạn thơ Vũ Xuân Hào tới bạn đọc xa gần Mong muavui lấy đơi lửa trống canh trong thời đại bùng nở thơngtin này, khi người ta thích nghe, nhìn hơn là thích đọc.Đơi lời thơ thiển của người bạn yêu thơ của tác giả.Rất mong được sự đồng cảm của đợc giả gần xa
Hạ Long, ngày 20/11/2012
Nguyễn Tất Quỳnh
Theo dòng thời gian 5
Trang 6ĐƯỜNG RA TRẬN
MEN SAY
Làm thơ ta vốn rất ham
Khụng hay nhưng hứng để làm men say
Rượu khụng uống, uống gì đõy
Thú vui nờn chọn thứ này thay bia
Trận địa pháo 37
Bựn đờ́n mắt cá vẫn đón xuõn
Nước ở đõ̀u giường ở cả chõn
Buồn vui cái tờ́t trờn mõm pháo
Thuở bộ đờ́n nay mới mụ̣t lõ̀n
Giữa đồng chiờm xó An Bỡnh Gia Lương – Hà Bắc xuõn 1967
Theo doứng thụứi gian 6
Trang 7Vũ Xuân Hào ĐƯỜNG RA TRẬN
Hĩt thuèc l¸
Ta khơng nghiện thuốc cũng phập phè
Thả làn khói bạc tưởng đã ghê
Cho vui giây phút lịng hưu quạnh
Mấy thằng chi kỷ bạn cùng quê
Đêm đĩn giao thừa Xuân 68
Nghe th¬ B¸c
Xuân Mậu Thân âm vang cả nước
Lửa MiỊn Nam giục bước hành quân
Sức Phù §ởng – sức toàn dân
Xuân 68 mùa xuân lịch sử
Theo dòng thời gian 7
Trang 8Mỹ đánh vào trận địa
Rốc kột Mĩ phóng vào trận địa rồi
Mịt mự khói đạn, đất tả tơi
Nũng pháo vươn mình khi khạc nửa
Riờng Thức Phú Bình bị đạn thụi
Trận địa thụn Trung Tiến
xó Hưng Đụng – Hưng Nguyờn Nghệ An
Trận đánh không cân sức
Trận địa Trung Tiờ́n bom lại rơi
Trung trưởng: tượng bom cũng găm rồi
Mụ̣t ngày 3 trận đều khốc liợ̀t
Ngọn lửa hờn căm nhả đạn thụi
Theo doứng thụứi gian 8
Trang 9Vuừ Xuaõn Haứo ẹệễỉNG RA TRAÄN
Trận địa bên miếu
Hoàng Hồng Minh Võ Nhai bị bom rồi
Quốc Sử Lương Sơn cũng đang bơi
Khói tan mới hỏi cũn ai nhỉ?
Trận đánh vừa rồi bị thờ́ thụi
Thành phố Vinh 1/8/1968
Giặc Mỹ đền tội
54 viờn đạn 37
F4H rơiGiữa trời xứ Nghợ̀ – Phú Bình ơi
Toàn trai Đụ̣i Cấn người xứ Thái
Mỹ vào quờ Bác chúng tả tơi
Trận địa trờn nền đất trường sư phạm Thành phố Vinh 25 – 7 – 1968
Theo doứng thụứi gian 9
Trang 10Cê XIN ¡N
Lơ lửng giữa trời dù trên khơng
AK nạp đạn đã nên nịng
Ơ kìa, giặc lái vừa chạm đất
Giơ cờ nước Mü lạy xin ơng!
Mïa thu quª B¸c
Nghi Thu – Nghi Thuỷ - Nghi Kiều
Nghi Khánh – Nghi Đức biết bao nhiêu tình
Sớm hơm cùng lính pháo binh
Đêm làm cơng sự - bình minh diệt thù
NhËn th
Đã lâu mới nhận được thư em
Như xơi bữa tiệc tưởng đỡ thèm
Nào ngờ trái nợm cay trăm món
Mà như vẫn chửa chán thơ em
Theo dòng thời gian 10
Trang 11Vũ Xuân Hào ĐƯỜNG RA TRẬN
Th vỊ hËu ph¬ng
Anh ước rồi đây:
Anh cùng em cùng cả nước biến thành cơn gió lốcCuốn phăng đi tịa Bạch ốc giữa đơ thành
Biến thành “đại bàng” bay bởng khắp trời xanh
Phun lửa trận thiêu cháy bầy Mỹ ác
Cùng cả nước tưới non sơng ta tươi mát
Đứng trên tầm cao anh cùng em tha hồ
xem biển trời ca hátPhóng tâm hồn trong vạn cuốn sách bài thơ
Tạm biệt em hơm nay khi Tở quốc đơi bờ
Bến Thủy – Nghệ An Xuân 1968
Theo dòng thời gian 11
Trang 12TRỞ VỀ BỤI PHẤN
Bôi phÊn
Lại giáo án bút đỏ bút xanh
Trở lại hậu phương việc cũng thành
Dạy người bằng cả Tâm – Trí – Thiện
Lái đò chở chữ tại quê anh
Bắc Ninh 1970
Häc theo ca
18 lớp bổ túc học ca
Nam giới vài người, toàn đàn bà
Chưa hết cấp II nên vất vả
Sớm khuya giáo án dạy theo ca
Trang 13Vuừ Xuaõn Haứo TRễÛ VEÀ BUẽI PHAÁN
Sơ tán
Các lớp học phải ngừng tại đõy
Hàng trăm học viờn những ngày ngày
Bút nghiờng đành gác đi sơ tán
Toạ độ gần cầu khốc liệt thay 1
Cụng nhõn nghỉ học đưa con em đi sơ tỏn
Trại hè
trên đất Hoàng Ninh
Trại hố sơ tán xớ nghiợ̀p may
Gõ̀n trăm trẻ con suốt cả ngày
Nam nữ mười người phõn cụng cả
Học hố, ăn, ở, õ̉n nơi đõy
Việt Yờn – Hà Bắc Năm 1972
Chân dung
một con ngời
1 Cõ̀u Đáp Cõ̀u
Trang 14( Kính tặng anh thương binh Trịnh Văn Lế Giám đốc xí nghiệp may X2 – Đáp Cầu – Bắc Ninh)
Chân tập tễnh dọc đường Yên Dũng
Xe đạp chân mưa gió vẫn đi
Túi tài liệu vải thừa tám mụn
Đưa cặp da – anh bảo cần gì?
Th¨m nhµ
BÝch Ngäc
Nhận lời anh đến quê em
Đường đi khủng khiếp màn đêm buông dần
Sông Thương đây, cây cầu giặc đánh
Anh sang rồi, quay lại dắt em
Vào trong thị xã cảnh ngổn ngang
Hố bom chằng chịt đất chắn đường
Nhà đổ, phố tan, cây trơ trụi
Im lìm, buồn tẻ cảnh tang thương
6 – 1 – 1972 Từ xã Đoan Bái – Hiệp Hòa
Về Hà Vị – Thọ Xương – Bắc Giang
Göi bu ®iÖn
Trang 15Vũ Xuân Hào TRỞ VỀ BỤI PHẤN
Gửi đường “dây thép” tặng Chu Mai
Định vượt tàu xe quãng đường dài
Kh«ng ngờ xe háng, tàu lỡ chuyến
Mong rằng thơng cảm nhé Anh Hai!
Th¨m Bỉ §µ
Trại hè về hết các em
Nằm khàn mãi chán lên thăm Bở Đà 2
Lại Thị Tịch – Xuân Hào ngắm mãi
Đỉnh đồi cao tầm mắt phóng xa
Mặt trời chiều đã xế tà
Dắt nhau xuống núi về nhà vừa khuya
2 Chùa Bổ Đà: Việt Yên – Bắc Giang
Trang 16Dự đám cới
Đám cưới hai họ rất lốo bốo
Chưa hố nóng lực cảnh buồn teo
Thời chiờ́n bom gõ̀m vui cũng vụ̣i
Nghe bài quan họ gõ nhịp theo
Xó Bớch Sơn – Bớch Động Việt Yờn – hố 1972
Dự khai giảng 3
Có dõn – có Đảng – có thõ̀y trũ
Mọi viợ̀c khó khăn cũng bớt lo
Lớp đụ̉ lại xõy phũng học mới
Thiờ́u tre, thiờ́u dạ có dõn cho
3 Năm học: 1972 – 1973 trường cấp II xó Đoan Bỏi – Hiệp Hũa mời đại học tổng hợp - Thiết kế điện than Địa chất và trường BTVH xớ nghiệp may Đỏp Cầu phỏt biểu ý kiến
Trang 17Vũ Xuân Hào TRỞ VỀ BỤI PHẤN
ChuyĨn hå s¬
Đã hơn mợt tháng chuyển hồ sơ 4
Tâm trạng giờ đây đã mỏi nhừ
Vất vả cũng nhiều, chơi cũng chán
Hết hạ – sang thu xong việc hè
Vui – Vui
(Trao đổi thơ)
Phịng phó thư ký cơng đoàn
Cái phố, cái tã, khăn quàng đầy dây
Nguyễn Đức Thành
Giám đốc XN may X 2
4Chuyển từ trường Việt Tiến – Việt Yên về trường Ngọc Vân – Tân Yên về Bắc Ninh.
Trang 18Bởi vì thiếu thốn quá nhiều
Nên phòng ông phó tiêu điều thế ni
Hỏi rằng Giám đốc nghĩ gì
Xây xây, phá phá, thôi thì rối tinh
Vũ Xuân Hào
Văn phòng công đoàn XN may X2 Cùng ngồi dự lễ trao phần thường thi đua Cho Đoàn TN nhà máy 1973
Th¬
Ta say con chữ nét ngây thơ
Mộc mạc chân quê tự bao giờ
Cay đắng tháng ngày, ừ đẫ trải
Để tình tứ ấy vần thơ
Trang 19Vuừ Xuaõn Haứo TRễÛ VEÀ BUẽI PHAÁN
Những pha
không đẹp mắt
“Nguyờ̃n Thành Tõm”
(Đăng trờn bỏo Hà Bắc số 1292 ra 1/10/1975)
Bài báo ngỡ nặng ngàn cõn
Cải họ thay tờn mới khó lõ̀n
Mấy nhà lãnh đạo giờ mới quýnh
Chõn thành nói mãi chẳng nghe dõn
Tung hứng
(Kết quả của bài bỏo số 1296 – Hà Bắc)
Ta tung ta hứng để chơi
Tiờ́p thu kiểu ấy mọi người lại say
Bụ̣ cụng nghiợ̀p đã về ngay 5
Cho tiền xõy dựng khu này vợ̀ sinh!
5Bộ trưởng Bộ cụng nghiệp nhẹ Trần Hữu Dư cho tiền xõy dựng khu vệ sinh và giếng khoan
Trang 20Gãp ý
Gặp nhau góp ý em lại buồn
Tinh nghịch tháng ngày cứ thế luôn
Cải tuổi xuân thì sao đẹp thế
Vườn hồng hương sắc rất tinh khôi
§ªm nay
(Thân tặng Đặng T.Minh Thành)
Đêm nay tắm ánh trăng hồng
Sương khuya buông xuống ngợp đồng quê ta
Đêm hè trăng nở cùng hoa
Hương đồng phảng phất như là tiết xuân
Hội diễn nghệ thuật tại xã Quang Tiến
Trang 21Vũ Xuân Hào TRỞ VỀ BỤI PHẤN
NÕu kh«ng ch¾c lý 6
Hai mươi bốn tháng mười tám bẩy 7
Phủ Tân Yên lúc nhúc đến chầu
Bệ rồng có cả đầu trâu
Bủa vây tứ phía, buơng câu rợn người
Giáo gươm đe búa cơng toi
Anh chàng Trần Vũ vẫn cười như xưa
Đã quen gợi nắng tắm mưa
Tả xung hữu đợt vẫn trơ trơ lịng
Gần trưa kẻng đã tan tầm
Tướng Khanh đã ngán lầm dầm nhỏ to
Bãi chầu yến tiệc qua loa
Sang chiều họp lại huyện nhà “định chơn”
Vũ ta cũng chẳng kinh hồn
Nhảy lên yên ngựa tung cơn bỏ chầu
Phủ rồng trơ mắt nhìn nhau
Đỏ ngầu “mắt cọp” dấu đâu triện vào
Quân quyền chen chúc thi nhau
Ký ngang, ký ngửa gửi đâu mặc mày
Vũ phi ngựa sắt 8 như bay
Mợt ngày đọ sức khơng ngày nào quên
Phúc nhà 9 nhân nghĩa vẫn yên
Nếu khơng chắc lý, trận tiền quay lơ!
6 Xét đơn cĩ nhan đề “Trưởng PGD Phạm Khoan lừa trên dối dưới cố tình bảo với bọn ăn cắp trấn áp người phát hiện bắt nạt giáo viên thường”.
7 Ngày 24 – 10 - 1987
8 Ngựa sắt: Xe đạp
9 Tuyên bố bỏ họp
Trang 2230 tết 1991 TRỰC TRƯỜNG PHÚC SƠN
Trong phòng:
Không phích, không chén, đèn không dầu
Họ hàng nhà chuột nó bảo nhau
Trong này chỉ có hai thau rách
Thày cô nghiêm túc trực thay nhau
Sáng mùng một tết Hào CT công đoàn viết
vào sổ trực, bàn giao cho HT Hoàng Đình Đắc
TIẾP ĐOÀN KIỂM TRA 10
Mấy anh cán bộ phòng ban
Thanh – Kha toán trưởng đi làm kiểm tra
Phúc Sơn chính hiệu chủ nhà
Cấp II , cấp I như hoa đến kỳ
Thày Hào tựa ghế từ bi
Bâng khuâng không biết lấy gì đãi đây
Cô Dung má đỏ hây hây
Vừa nhanh vừa thoáng vừa đầy niềm tin
Chủ nhà mến khách “đãi chim”
Dự giờ thăm lớp để tìm đúng sai
Suất năm soạn giảng miệt mài
Phải đâu đọng ở vài bài kiểm tra
XÓA MÙ CHƯ
10 Kỷ niệm: Vũ Xuân Hào CTCĐ Hoàng Đình Đắc HT, Dương Công Thắng VT,
bắn 127 chim sẻ lấy thực phẩm tiếp đoàn Thanh tra Giáo dục Tân Yên - Bắc Giang
Trang 23Vũ Xuân Hào TRỞ VỀ BỤI PHẤN
Quan trường nhắm mắt bịa xóa mù 11
Xoá toàn người sáng để được thu
Lấy tiền bỏ túi toàn xếp rởm
Báo được đăng lên xếp trả thù!
CHUNG GÁNH NƯỚC NON
Nhớ thời được thưởng đẻ nhiều con
Bốn gái, hai trai, dạ vẫn cịn 12
Thêm vài cơ cậu cho đủ chục
Góp phần chung gánh với nước non
CÓ NHƯNG NGÀY ĐỂ NHỚ
(Thân tặng Trần Thị Hương Giang)
Nhớ bến sơng xưa chiếc thuyền con
Chia tay đơi ngả như vẫn cịn
Bên bờ Như Nguyệt chiều thu ấy
Tạc khối tình sâu với nước non
Thu 1978
BẾN XƯA
11 Chị Vương Thị Nhu – xĩm Ngị Thái học hết lớp 10/10 lấy chồng làng Cảm và chị Nguyễn Thị Bàn học 8/10 được mời ra đĩng kịch học lớp “Xĩa Mù chữ” được lấy cơng điểm và nhà báo Nguyễn Thương phĩng viên báo Hà Bắc đã
“Cứu” tơi khỏi tội “Vu khống” và lần này tơi được nghỉ việc từ 15-10-1992 về nhà xơi nước, ngày 1-1-1994 anh Nghiêm Xuân Hồng đưa sổ hưu.
12 Con út Vũ Thị Toan sinh tháng 6 - 1978
Trang 24Nhớ bến sông xưa người lái đò
Chở toàn kiến thức để băng qua
Hỏi bờ bên ấy còn ai nhỉ
Lớp- lớp trò ngoan ai nhớ ta !
Trang 25Vuừ Xuaõn Haứo LệễNG TRI LAỉ THEÁ ẹAÁY
LƯƠNG TRI LÀ THấ́ ĐẤY
Ta đã về đây
Tưởng về sống giữa với đời thường
Tõm hồn thanh thản chốn quờ hương
Khụng ngờ thiờn hạ nhiều oan trái
Nờn lũng vẫn nhói chút tơ vương
* * *
Ta đã về đõy thụi viợ̀c trường
Ngắm vườn hoa trái cảnh cố hương
Vẫn nghiợ̀p góp phõ̀n trừ cỏ dại
Xum xuờ vườn quả mấy yờu thương
Trang 26Hu trờng thì đã
mà cha hu nhà
Về hưu nào đã được hưu
Nụ̃i oan khắp ngả, sớm chiều tìm thăm
Lẽ nào ngoảnh mặt cho xong
Để đời nước mắt tháng năm tuụn trào?
Các anh về
( Kớnh tặng những người về nghỉ hưu của xó Tõn Đức)
Các anh về, vườn nhà thờm hoa trái
Vẫn người xưa trang trải cho quờ
Giữa đờm đụng ngỡ buụ̉i nắng hố
Mặc cứ gì đõu lúc anh về?
Quê tôi
Nhìn lại làng tụi nhìn lại quờ
Trang 27Vũ Xuân Hào LƯƠNG TRI LÀ THẾ ĐẤY
Cái thời nhà dợt nghĩ chán ghê
Bởi thiếu bàn tay người sửa nóc
Nên nhà lênh láng lúc mưa về
* * * *Khi nhà đã dợt ai chẳng chê
Thương các cụ già mắt đỏ hoe
Suốt đời cực nhọc nhà vẫn nát
Cịn thằng sống lỏi có lầu che!
G¬ng mỈt lµng quª
Lợi dụng năm ngưu để ăn gian
Mấy đời hậu sản bởi uống càn
Lệ làng quyền thế bên bờ vực
Tớ thày ủ rũ miệng cịn than!
Thêi tiÕt
Thời tiết lúc đầu giơng tố mãi
Trang 28Xuân về cây cối lại đơm hoa
Rác rưởi quét dần sau trận bão
Oi nồng ngày ấy cũng đã qua
Đường còn khúc khuỷu
Quê ta năm tháng bớt nỗi buồn
Đường còn khúc khuỷu nhưng đỡ hơn
Xóm, xóm vươn mình khoe nắng mới
Làng, làng cây cối lại xanh hơn
VÒ víi §¶ng
(Kính tặng anh Đào Duy Đáp – Đào Duy Văn
và Nguyễn Tuấn Quảng)
Anh đòi trọn vẹn cả búa liềm
Vung bút trừ tà bởi lòng kiên
Phúc đức tu nhân xưa nay hậu
Gian tà chi mấy cũng bớt điên!
B·o tan råi
(Kính tặng anh Đào Duy Đáp)
Nửa hàm răng tặng đất Ăng Co
Trang 29Vuừ Xuaõn Haứo LệễNG TRI LAỉ THEÁ ẹAÁY
Phong sương dõ̀u dãi chưa hờ́t lo
Về đõy cũn lắm đường khúc khuỷu
Hằng ngày khụng muốn cũng phải qua
* * *
Ta muốn vun trồng cả vườn hoa
Diợ̀t trừ coe dại, che nắng mưa
Khó khăn hơn cả nơi tiền tuyờ́n
Bão táp tan dõ̀n, ta vẫn ta!
Đời là thế đấy
(Kớnh tặng anh Đào Duy Văn)
Thiờn hạ biờ́t, họ chịu anh rồi
Nhưng phường hụi hám vẫn chưa thụi
Vẫn đốo “khiển trách” làm có chuyợ̀n
Rằng có “sai lõ̀m” dễ khua mụi
Vì mọi ngời
Giúp anh tìm lại cái gặt mựa
Trang 30Trúng “Khổ Đồng Tử” nên họ thua
Chém cha cả lũ đồ mất dạy
Cái chuyện đe – đen – nó trả thù
Anh vµ t«i
Cuộc trường chinh ấy mết chưa
Huynh đệ thuỷ chung sức dư thừa
Nếu xóm nhỏ chọn ta làm bệ phóng
Bão táp bốn mùa đâu né xa
Trang 31Vuừ Xuaõn Haứo LệễNG TRI LAỉ THEÁ ẹAÁY
Cỏ lồng vực 13
Làng ta cỏ đụ̣c sạch rồi
Su hào - bắp cải bời bời lờn xanh
Ngụ đồng trụ̉ bắp tươi cành
Mấy thằng chuụ̣t nhắt rập rình muốn xơi
Mốo tuy nhỏ nhưng chẳng tồi
Chuụ̣t ta đo ván nằm phơi giữa làng
Đợc mấy thơng
(Nhớ về XN may X-2 Đỏp Cầu)
Tham nhũng nhiều phen tớ thẳng thừng
Cậy quyền, dựa thờ́ mặt nó sưng
Ta về với nghiợ̀p mi ở lại
Ăn cắp của đời được mấy thưng?
(Nghe kể ăn cắp bàn là 22-12 năm ấy)
Quả đất tròn
Thượng đờ́ sinh ra quả đất trũn
Chức trọng quyền cao lắn kẻ dũm
Có ụ,có lọng tha hồ vột
Cố vị tham quyền lắm mồi ngon
Ta thấy rồi
13Nhạc sĩ Trọng Điềm đó phổ nhạc nhịp ắ bài này
Trang 32Ta đã thÊy đỉnh ngọn đa còn lắm bụi
Huống hồ mặt đất cách hai gang
Ngồi yên xe dù có kêu làng
Có lẽ cũng vô ích bởi xung quanh toàn bụi
Chuét khoÐt
Chém cha lũ chuột khoét cả ngày
Lấp lánh, đỏ lòe kêu rất hay
Chuột to, chuột nhỏ đều thấy cả
Công quỹ tháng ngày vẫn cứ bay
ChÕt v× danh
(Kính tặng anh Vũ Xuân Thưởng làng Quyên Bảo Lý)
18 năm bị đuổi khỏi nghành
Can tội đấu tranh để giữ danh
Cho ngành Tòa án quê Độ Cấn 14
Phải về buôn rượu cũng thành danh
* * *
Tôi hiểu lòng anh rất chân thành
Nên đành vào cuộc để cùng anh
Ơn nhờ Tòa soạn Tuần tin tức
Anh Phạm Vũ Tâm việc mới thành 15
Trêi
Anh như thuyền nhỏ giữa biển khơi
Sóng dập, gió vui giữa dòng đời
14 Tòa án Bắc Thái (nay là Thái Nguyên)
15 Anh Phạm Vũ Tâm - Tổng Biên tập Báo tuần tin tức
Trang 33Vũ Xuân Hào LƯƠNG TRI LÀ THẾ ĐẤY
Ai hiểu lịng ta bằng tình mẹ
Màn đêm đã khép sáng lại rồi! 16
Ta vÉn lµ ta
Ta như cây sến giữa rừng già
Bão táp qua rồi thác vượt qua
Cho đời con cháu nơi bến đỡ
Như dịng sơng chảy nặng phù sa
Th»ng n»m gi÷a
Kẻ nằm giữa khề kề trục lợi hơn người
Ném đá giấu tay xưa nay thế
Phải, trái mặc, toe toét, khú gầm mặc kệ
Dương đơng, khích tây - thừng dốt há mồm vẫn nểCất đỏ vào hịm – Anh mới là sai
Thức lâu mới biết đêm dài
Có qua thực tế mới biết ai lọc lừa
Lµng QuÉn khi xu©n vỊ 17
(Kính tặng anh Trần Bộ - Chi hội trưởng Người cao tuổi)
Xuân về man mác nỡi buồn vui
Cái “Rét” năm qua đã ngấy rồi
Mong người “đừng rét” mừng thiên hạ
16Anh Vũ Xuân Thưởng được truy lĩnh lương18 năm khơng làm việc và được về hưu Sau đĩ tại tịa án Thái Nguyên 1999
17 Nhạc sĩ Trọng Điềm đã phở nhạc bài thơ này.
Trang 34Để lúa của làng có oản xôi
* * *
Thời tiết năm qua hết tình rồi
Quanh năm sâu bọ phá làng tôi
Năng xuất lúa ngô đều giảm sút
Phải đâu lười biếng thu hoạch tồi?
* * *
Đình sửa ùa về sắp hết năm
Lòng người trĩu nặng những tháng năm
Gió thuận mưa hòa sao chẳng thấy
Đất trời khắc nghiệt dạ còn căm
Ta mong cứ mãi trăng rằm
Trời quang mây tạnh mùa không mất mùa
Chỉ mong gió thuận mưa hòa
Lúa ngô tươi tốt nhà nhà lại vui
* * *Đông tàn đã sắp qua rồi 18
Đớn xuân hoa nở lòng người xốn sang
Chiêm xuân trĩu nặng mùa vàng
Tiếng chim ríu rít xóm làng lại vui
TiÒn chïa
Anh khoe đỏ loét anh tài
Xuýt xoa ngất ngưởng tài nhai tiền chùa
Ra vào khúm lúm xun xoe
Tài nịnh, tài hót, tài be đủ chiều
18 Sắp hết nhiệm kỳ.
Trang 35Vũ Xuân Hào LƯƠNG TRI LÀ THẾ ĐẤY
Đích cua lải nhải kêu kêu
Con dân trố mắt sớm chiều im de
LËp dÞ
(Tặng thầy Vũ Khoa)
Cở nhân đã dạy biết thì thưa
Ra vẻ ta đây chớ có đùa
Dựa cợt cịn hơn là thày phán
Phán chẳng ra chi – tợi phán bừa
Khai!
Khai lắm thầy ơi đừng có khua
Thế gian tưởng thế nó sẽ chừa
Tở sư thằng khoắng làm khó ngửi
Điệp khúc lỡi thời chẳng ai ưa!
Trang 36V« t×nh hay h÷u ý
(Tặng D – V – K – và V – Đ)
Toán lớp 2 thầy làm chẳng ra
Hữu tình trái chín bảo sai hoa
Hai thằng cảng cổ rằng nó đúng
Hớp rượu nhì nhằng nó hại ta
* * *
“Khoanh tròn lại” chính tâm bảo thế
Ngậm tăm tre ta ngắm sự đời
Lặng thầm ngắm một cuộc chơi
Vô tình hữu ý chúng người đảo điên
Hạ Long, ngày 5 – 8 – 2008
Lim dim
Đánh mất lòng tin rất khó tìm
Khác nào cơ thể có trái tim
Tham mưu khờ khạo nhầm chỗ để
Đêm ngày chẳng ngủ cưa lim dim
Trang 37Vũ Xuân Hào LƯƠNG TRI LÀ THẾ ĐẤY
Ph¨ng teo
(Tặng D – D – L…)
Chẳng phải dậu đở bìm mới leo
Nhân nào quả ấy cố chống chèo
Khờ khạo dấn thân vào cửa tử
Khơng hùng biện nởi để phăng teo
Nĩp sau gÊu quÇn
(Tặng ơng Cờ Rét)
Thể là ơng đánh mất tơi rồi
Đây vàng mười mấy chẳng chuyện chơi
Bởi ơng “ném đá” đành phải chịu
Thủy chung trĩu nặng giữa đất trời
Ai sÏ “th¨ng thiªn”
Chiếc cặp ta chẳng có mấy tiền
Thế mà có kẻ sướng phát điên
An ninh nghiên cứu hơn mợt tháng 19
Phán đoán kẻ nào sẽ “tăng thiên”
BiÕt hay kh«ng biÕt
19 Cơng an Phú Bình giữ lưu mợt tháng Ngày 11/01 Tân Mùi, chú Đoàn – Cơng
an huyện mới đem về.
Trang 38(Tặng cụ giỏo Vũ Thị Ninh) 20
Bớt nói thật và biờ́t trung thõ̀n
Phải tập nịnh hót và mị dõn
Xem ra trời đất cũn đồ rởm
Thờ́ mới vinh hoa và yờn thõn?
Quên cả tổ tông
(Nhắn kẻ vụ loài)
Thờ́ gian sửng sốt nó rất kỳ
Họ hàng ruụ̣t thịt hắn bỏ đi
Quờn cả tụ̉ tụng xa nguồn gốc
Cả đời lì lợm kiờ́p sống quỳ
Hãy nhớ đừng quên
Trọng nghĩa xưa nay rất vững bền
Văn hóa nhõn cách sẽ làm nờn
Bản sắc ơn sõu tình mẫu tử
Đời đời kiờ́p kiờ́p nhớ đừng quờn
Cá không ăn muối
20Cô giáo Ninh nhờ thầy Dơng Công Thắng hỏi chú Hào hộ “có sách vở nào dạy ngời ta không nói thật”
Trang 39Vũ Xuân Hào LƯƠNG TRI LÀ THẾ ĐẤY
Tưởng gì, khơng hơn chú chíp hơi
Hung hăng xấc xược giữa dịng đời
Coi thường cha mẹ, thày cơ giáo
Học hành chểnh mảng thật cơng toi
Ra vẻ ta đây lũ học địi
Học đồ mất dạy thật khó coi
Lưới trời lồng lợng đành cất vó
Cơm tù nhếch nhác hết ra oai
Cã mét lµng nh thÕ
Làng ở trên non lắm trị hề
Hơn cả Xuân Hinh thế mới ghê
Hỏi ơng “Thượng đế” sao ngồi đó
Cũng đỏ, cũng đen cũng đến đình
Khoe
Rùm beng cũng mõ cũng chiêng
Cùng cờ phướn lọng xin tiền thập phương
Mượn hịm cơng đức phơ trương
Khoe từng dịng họ khói hương mịt mù
Trang 40§©u ph¶i tïng dinh
(Tặng làng ai khánh thành chùa 21 - 1 Đinh Sửu)
Rất tiếc làng ai dột nóc đình
Cháu, con, thiên hạ khỉnh khình khinh
Vã bà hai mảng ê chề quá
Lẽ nào đổ vấy lũ tùng dinh
Dï
Họ bảo trước kia nó có dù
Anh Quyền, em Lợi nói vi vu
Bây giờ tất cả đều tan vỡ
Thôi về mượn tạm chiếc váy u
MÑ nu«i
Ta không có mẹ chết lâu rồi
Nó giằng, nó xé, nó bôi vôi
Nó chăng, nó trói, nó chôn vùi
Vì ta có mẹ giữa dòng đời !