TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC THỦY SẢN BÀI BÁO CÁO NHÓM 1 MÔN: QUI HOẠCH VÀ CHÍNH SÁCH NGHỀ CÁ LỚP: 56QLTS GVHD: TÔ VĂN PHƯƠNG Khánh Hòa, tháng 11 năm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC THỦY SẢN
BÀI BÁO CÁO NHÓM 1
MÔN: QUI HOẠCH VÀ CHÍNH SÁCH NGHỀ CÁ LỚP: 56QLTS
GVHD: TÔ VĂN PHƯƠNG
Khánh Hòa, tháng 11 năm 2017
CHỦ ĐỀ: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG NGHỀ CÁ TẠI THÔN SUỐI CAM – XÃ CAM THÀNH BẮC – HUYỆN CAM LÂM – TỈNH KHÁNH HÒA
Trang 2DANH SÁCH NHÓM 1:
1 TRẦN THÁI HOA
2 VÕ NGUYÊN KIM HOÀNG
3 NGUYỄN THỊ THANH HIẾU
4 LÊ VƯƠNG ANH
5 LÊ NGUYỄN MỸ HẢO
6 TRẦN THÚY VY
7 TẠ ĐÌNH VI
8 NGUYỄN TRUNG NGHĨA
9 NGUYỄN THỊ THANH TÂM
10 TRẦN NGỌC HUYỀN TRÂN
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC HÌNH v
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined. 4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa thực tế của đề tài 2
7 Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ CƠ CẤU KINH TẾ CỦA THÔN SUỐI CAM3 1.1 Khái quát về thôn Suối Cam 3
1.2 Thực trạng nghề cá tại thôn Suối Cam 3
1.2.1 Đối với khai thác thủy sản 3
1.2.2 Đối với nuôi trồng thủy sản 4
1.3 Hợp tác, phân công lao động giữa nam và nữ 5
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG NGHỀ CÁ TẠI THÔN SUỐI CAM 7
2.1 Đời sống kinh tế và tinh thần của người phụ nữ ngư dân 7
2.2 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động thủy sản 7
2.2.1 Vai trò phụ nữ trong khai thác thủy sản 7
2.2.2 Vai trò phụ nữ trong nuôi trồng thủy sản 11
2.2.3 Vai trò phụ nữ trong chế biến thủy sản 13
2.3 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động gia đình và xã hội 15
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO VAI TRÒ PHỤ NỮ NGƯ DÂN TRONG NGHỀ CÁ 17
3.1 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao hiểu biết về nguồn lợi thủy sản và tác động của nghề cá đối với môi trường sinh thái 17
3.2 Hỗ trợ, trợ giúp người phụ nữ tiếp cận thông tin và nguồn vốn 18
3.3 Phát triển du lịch nghề cá 19
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Số liệu điều tra của thôn Suối Cam – Cam Thành Bắc – Cam Lâm – Khánh Hòa 3 Bảng 1.2: Số lượng tàu thuyền và cơ cấu nghề khai thác thôn Suối Cam 4 Bảng 2.1: Xếp hạng mức độ tham gia các hoạt động trong khai thác thủy sản trong gia đình của phụ
nữ 8 Bảng 2.2: Xếp hạng mức độ tham gia các hoạt động trong nuôi trồng thủy sản trong gia đình của phụ nữ 11
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Biểu đồ diện tích và tỉ lệ của các đối tượng nuôi chính ở thôn Suối Cam 5 Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ lao động nam và nữ ở thôn Suối Cam 6
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Phụ nữ trong thôn Suối Cam đan lưới chuẩn bị cho chuyến biển 10
Hình 2.2: Người phụ nữ đang thực hiện hoạt động mua bán sản phẩm sau khai thác 10
Hình 2.3: Hoạt động buôn bán thủy sản tại chợ Mới Cam Thành Bắc 10
Hình 2.4: Công ty TNHH Gallant Ocean Việt Nam 14
Hình 2.5: Một hộ gia đình làm mắm tại thôn Suối Cam – Cam Thành Bắc – Cam Lâm – Khánh Hòa15 Hình 2.6: Một điểm tụ tập đánh bài của phụ nữ ngư dân tại thôn Suối Cam – Cam Thành Bắc – Cam Lâm – Khánh Hòa 16
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam Ngành thủy sản không chỉ cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn là một ngành kinh tế tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân, đặc biệt là ở những vùng nông thôn và ven biển, góp phần phát triển kinh tế,
xã hội, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Vai trò của giới trong phát triển là một vấn đề cần quan tâm không những ở Việt Nam mà còn với cả thế giới Tuy nhiên vấn đề này thường bị lãng quên trong thiết kế và thực hiện các dự án Mặc dù ngành thủy sản trong một thời gian dài được xem là một lĩnh vực dành cho nam giới nhưng hiện nay sự tham gia góp sức của phụ nữ đối với ngành này cũng đóng một tầm quan trọng không kém Ở Việt Nam có khoảng 4 triệu người tham gia vào các hoạt động thủy sản như: khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản, Trong đó có hơn một nửa là phụ nữ ở các vùng nông thôn và địa phương ven biển Người phụ nữ Việt Nam không tham gia nhiều vào các hoạt động đánh bắt nhưng lại góp phần đáng kể trong việc chế biến, buôn bán và các hoạt động dịch vụ hậu cần khác về thủy sản Bên cạnh đó, họ còn góp phần phát triển thế hệ lao động mới thông qua việc chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng con cái
Tuy vậy, hiện nay định kiến về giới và các yếu tố xã hội vẫn còn là rào cản đối với người phụ
nữ Những người phụ nữ sống ở khu vực ven biển góp một phần sức không nhỏ vào thu nhập của gia đình và phát triển ngành thủy sản nhưng vai trò của họ không được chú ý và thừa nhận một cách đầy đủ Vì vậy việc nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong nghề cá là một vấn đề cấp thiết cần được quan tâm để có thể đưa ra được các dự án và chính sách phù hợp nhất cho ngành thủy sản Việt Nam Nhóm 1 quyết định lựa chọn thôn Suối Cam – xã Cam Thành Bắc – huyện Cam Lâm – tỉnh Khánh Hòa làm khu vực nghiên cứu để phân tích, đánh giá và làm rõ vai trò của phụ nữ trong nghề
cá hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Đánh giá vai trò của người phụ nữ ở thôn Suối Cam trong nghề cá của địa phương Từ đó đưa ra các đề xuất, biện pháp để phát triển và nâng cao vai trò của người phụ nữ trong lĩnh vực thủy sản nhằm thúc đẩy sự phát triển nghề cá tại khu vực đang nghiên cứu
• Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao vai trò của người phụ nữ đối với sự phát triển nghề cá tại địa phương
Trang 73 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu
Số liệu thứ cấp: Sử dụng các nguồn tài liệu, số liệu, thông tin từ các biên bản, danh sách kê khai và điều tra về nghề cá tại thôn của trưởng thôn Suối Cam
Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra khảo sát thực tế tại địa phương, sử dụng bảng câu hỏi – trả lời cho người nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tại khu vực nghiên cứu Ngoài ra còn phỏng vấn trực tiếp trưởng thôn Suối Cam, một số hộ làm nước mắm và một số công nhân nữ ở Suối Cam làm việc tại công ty chế biến thủy sản Gallant Ocean Việt Nam trong khu công nghiệp Suối Dầu
3.2 Phương pháp phân tích, đánh giá
Sau khi tiến hành thu thập, xử lý sơ bộ các số liệu thông tin có liên quan một cách chọn lọc, tiến hành phân tích số liệu, thông tin đã thu thập, từ đó đưa ra được một số nhận định, đánh giá mức
độ ảnh hưởng, tác động từ các số liệu thu thập được
3 Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ tham gia vào hoạt động nghề cá, cụ thể là về nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản trong thôn Suối Cam – Cam Thành Bắc – Cam Lâm – Khánh Hòa
5 Ý nghĩa thực tế của đề tài
Việc phân tích vai trò của phụ nữ tại thôn Suối Cam trong hoạt động sản xuất thủy sản sẽ giúp đánh giá được vị thế và tầm quan trọng không thể chối bỏ của người phụ nữ trong việc phát triển nghề cá Qua đó góp phần xóa bỏ định kiến giới đã tồn tại từ lâu và hiện vẫn còn ở nhiều lĩnh vực trong xã hội Đề tài quan tâm nghiên cứu, đánh giá hoạt động của người phụ nữ trong nghề cá cũng góp phần hiểu rõ hơn về vấn đề giới trong ngành thủy sản từ đó xây dựng được các chính sách hay chương trình phù hợp tạo nên các sinh kế bền vững
6 Kết cấu đề tài
Nội dung và kết cấu của đề tài này ngoài lời mở đầu, kết luận bao gồm 3 chương như sau: Chương 1: Đặc điểm tự nhiên, xã hội và cơ cấu kinh tế của thôn Suối Cam
Chương 2: Vai trò của phụ nữ trong nghề cá tại thôn Suối Cam
Chương 3: Các biện pháp phát triển và nâng cao vai trò phụ nữ ngư dân trong nghề cá
Trang 8CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ CƠ CẤU KINH TẾ CỦA
THÔN SUỐI CAM
1.1 Khái quát về thôn Suối Cam
Thôn Suối Cam có dân số khoảng 1760 người với 360 hộ gia đình Trong đó số nữ giới khoảng 784 người (chiếm tỉ lệ 44,55% so với số nam giới trong thôn)
Vị trí thôn nằm gần đầm Thủy Triều nên có tiềm năng rất lớn trong khai thác và nuôi trồng thủy sản Suối Cam là thôn ngư nghiệp điển hình của xã Cam Thành Bắc, huyện Cam Lâm với sự
đa dạng về phương thức đánh bắt Không những phát triển trong lĩnh vực khai thác, lợi thế về địa bàn cũng khiến thôn phát triển mạnh nghề nuôi trồng hải sản với nhiều đối tượng nuôi đa dạng và đem lại giá trị kinh tế cao
Dưới đây là bảng số liệu điều tra về thôn Suối Cam được cung cấp từ trưởng thôn của thôn Suối Cam (số liệu mới nhất năm 2016)
Bảng 1.1: Số liệu điều tra của thôn Suối Cam – Cam Thành Bắc – Cam Lâm – Khánh Hòa
1.2.Thực trạng nghề cá tại thôn Suối Cam
1.2.1 Đối với khai thác thủy sản
Theo điều tra khảo sát, ngư dân trong thôn Suối Cam tham gia khai thác thủy sản 100% ở đầm Thủy Triều huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa Đầm Thủy Triều có diện tích hơn 2.500 ha, là quần thể đầm phá đặc trưng của hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đầm có nguồn thức ăn phong phú, đa dạng, chế độ thủy văn, thủy triều thuận lợi, tạo điều kiện cho các loài thủy sản sinh sống, phát triển,
là vùng ương nuôi các loài tôm, cá, cua tạo quần đàn cho các khu vực lân cận Tuy nhiên, nguồn lợi
tự nhiên ở đầm Thủy Triều ngày càng cạn kiệt bởi cách đánh bắt, khai thác vô tôi vạ của người dân, trong khi không có kế hoạch tái tạo, bổ sung Theo phỏng vấn ngư dân tham gia khai thác ở đầm Thủy Triều, 93% các hộ được phỏng vấn đều xác nhận sản lượng đánh bắt được trong đầm giảm mạnh trong vòng 5 năm trở lại đây, 7% hộ còn lại trả lời sản lượng đánh bắt của họ không thay đổi theo các năm Đánh giá lí do giảm sản lượng khai thác, có 81,50% số hộ trả lời do số lượng tàu
Trang 9thuyền khai thác trong đầm quá nhiều dẫn đến nguồn lợi bị cạn kiệt; 70,15% cho là do sử dụng phương tiện khai thác hủy diệt; khoảng 50,52 % hộ khai thác cho rằng nguồn lợi giảm do ô nhiễm môi trường và một số ít cho rằng do cạnh tranh giữa các nghề (khoảng 4,5%)
Bảng 1.2: Số lượng tàu thuyền và cơ cấu nghề khai thác thôn Suối Cam
Nghề khai thác chính Số lượng tàu
bờ bị suy kiệt nghiêm trọng, từ đó sinh kế của ngư dân hoạt động khai thác thủy sản cũng sẽ bị ảnh hưởng và gặp nhiều khó khăn
1.2.2 Đối với nuôi trồng thủy sản
Trong thôn có tổng cộng 25 hộ tham gia nuôi trồng thủy sản Qua kết quả điều tra, phỏng
vấn trưởng thôn Suối Cam năm 2017 cho thấy 100% các hộ nuôi trồng thủy sản sử dụng hình thức nuôi ao đìa ven đầm, trong đó các hộ nuôi trong thôn chủ yếu nuôi cá mú (có 12 hộ nuôi), có 4 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng, 3 hộ nuôi cá chẽm, 2 hộ nuôi tôm sú, 4 hộ nuôi vẹm xanh và hầu sữa
Trang 10Biểu đồ 1.1: Biểu đồ diện tích và tỉ lệ của các đối tượng nuôi chính trong thôn Suối Cam
Số liệu của biểu đồ 1.1 được lấy từ danh sách bản kê khai ban đầu về nuôi trồng thủy sản của thôn Suối Cam, thu thập thông tin từ ngày 10/6/2017 đến ngày 15/8/2017
Với tiềm năng nuôi trồng thủy sản 78920 m2, hằng năm thôn Suối Cam đạt sản lượng tôm cá khoảng gần 91 tấn, giá trị sản phẩm có thể đạt đến hơn 17 tỉ đồng Tuy nhiên trong những năm gần đây thời tiết thay đổi thất thường, bão về làm triều cường tăng, mực nước biển dâng cao đập vào các
bờ chắn và các màn chắn gây vỡ đìa, làm cá tràn ra biển gây tổn thất nặng nề cho người nuôi Thêm vào đó vụ xả nước thải ra đầm thủy trều của Nhà máy Đường Khánh Hòa vào tháng 3/2017 đã khiến một vùng đầm nhuốm màu đen, nguồn nước bị ô nhiễm nặng, rất nhiều loại cá biển đã chết dạt vào bờ, bốc mùi hôi thối nồng nặc Cá lớn, cá nhỏ đều chết trắng, đặc biệt nhiều loại cá ở tầng đáy như: hồng, chai, bống, chình biển, thậm chí cua và ghẹ cũng chết Hàng loại người dân trong thôn vì bơm nước từ đầm Thủy Triều vào đìa nuôi đã khiến cá tôm chết hàng hoạt trên diện rộng gây tồn thất vô cùng nghiêm trọng Trong vòng 3 năm gần đây, lợi thế về “thiên thời, địa lợi” của thôn Suối Cam đang dần mất đi, do hệ lụy của việc nuôi tự phát, ô nhiễm môi trường, cùng với biến đổi khí hậu, đã làm cho dịch bệnh xảy ra thường xuyên hơn, gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi, nghề nuôi trồng thủy sản của thôn bị sụt giảm mạnh Vì vậy nếu người dân được trang bị thêm nhiều kiến thức khoa học, công nghệ và kĩ năng trong hoạt động nuôi trồng, có được vốn đầu tư, sự tư vấn và
hỗ trợ của cán bộ địa phương thì sẽ phát huy được tiềm năng hiện có một cách tốt nhất, đưa lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của thôn phát triển mạnh hơn nữa từ đó sẽ tạo được công ăn việc làm rất lớn cho đội ngũ lao động nữ
1.3 Hợp tác, phân công lao động giữa nam và nữ
Với dân số khoảng 1760 người, số người trong độ tuổi lao động của thôn gồm 753 người trong đó nam 439 người, nữ 314 người (chiếm 41,70%)
Trang 11Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ lao động nam và nữ ở thôn Suối Cam
Vì sống ở ven biển, người phụ nữ trong thôn Suối Cam có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nghề cá của thôn Phụ nữ nơi đây trợ giúp cho người chồng cả trong hoạt động khai thác lẫn nuôi trồng thủy sản Một số lao động nữ khác thì góp phần tham gia vào sản xuất nghề cá bằng các hoạt động như: Chế biến nước mắm, làm công nhân tại các công ty chế biến, buôn bán thủy sản tại các chợ trong thôn, xã, quản lý kinh tế gia đình và chăm lo con cái khi chồng đi biển, …
Trang 12CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG NGHỀ CÁ TẠI THÔN
SUỐI CAM
2.1 Đời sống kinh tế và tinh thần của người phụ nữ ngư dân
Đời sống của ngư dân nói chung và phụ nữ ngư dân nói riêng ở thôn Suối Cam hiện còn gặp nhiều khó khăn Do điều kiện vật chất còn thiếu thốn dẫn tới đời sống tinh thần của ngư dân còn nhiều hạn chế Hơn nữa ngư dân ít được học hành đến nơi đến chốn, đời sống nơi thôn quê nên còn hạn chế trong việc tiếp cận với các tiến bộ xã hội Với đặc thù của nghề cá, hầu hết các gia đình ngư dân đều có chồng đi biển từ 10 - 20 ngày do đó mọi công việc còn lại trong gia đình đều đổ lên vai người phụ nữ Hoặc đối với những gia đình đi biển trong ngày thì người phụ nữ còn vừa cùng chồng đi biển vừa quán xuyến mọi việc trong gia đình, họ sắp xếp mọi việc trong nhà tươm tất: lo cho con cái, nhà cửa, chuẩn bị thức ăn cho con và nguyên vật liệu cho chuyến biển đầy đủ rồi mới cùng chồng đi biển Ngoài ra, có những hộ gia đình nuôi tôm, cá, … thì người phụ nữ còn gồng gánh nhiều công việc hơn nữa Họ phải chăm sóc, phụ giúp chồng chăm nuôi, trông coi đìa như cho
ăn, vệ sinh đìa bọng, ao nuôi Hầu hết những người phụ nữ thôn quê, điển hình là thôn Suối Cam có cuộc sống chỉ chủ yếu dựa vào nghề biển nên người phụ nữ phải chịu rất nhiều vất vả, gánh trên vai bao khó khăn, cực khổ nhưng họ vẫn rất kiên cường và làm rất tốt nhiệm vụ của mình
Mức sống của cả gia đình cũng như người phụ nữ nơi đây chủ yếu phụ thuộc vào những chuyến đi biển, nuôi tôm, cá gia đình và trồng lúa nông nghiệp, còn lại họ không hề có một nghề phụ nào khác để xoay sở Thu nhập của họ không cố định, gió yên, biển lặng, thời tiết, con nước không có sự biến động nhiều thì họ đi biển suôn sẻ, có thu nhập cũng như việc trồng lúa được mùa
sẽ giúp họ đỡ lo lắng, vất vả hơn Nhưng nếu biển động, mưa nhiều, lúa mất mùa, dịch bệnh thì coi như họ mất trắng, không có thu nhập để xoay sở được cho cuộc sống hằng ngày Bên cạnh đó cũng
có một vài hộ gia đình tham gia chế biến sản xuất nước mắm nhưng chỉ với quy mô nhỏ, lẻ, chỉ đủ cung cấp cho gia đình tiêu dùng hoặc buôn bán nhỏ Nhìn chung cuộc sống kinh tế và tinh thần của người dân cũng như người phụ nữ nơi đây còn thiếu thốn, khó khăn Người phụ nữ hằng ngày vất
vả tất bật lo cho cuộc sống gia đình nên họ còn chưa được tiếp xúc nhiều với những thông tin mới, những tiến bộ của xã hội
2.2 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động thủy sản
2.2.1 Vai trò phụ nữ trong khai thác thủy sản
Thôn Suối Cam 100% là hoạt động khai thác ven bờ, quy mô nghề cá nhỏ, đa số người dân chỉ đi khai thác trong ngày rồi về Do đó người phụ nữ trong thôn thường theo chồng đi đánh bắt
Để đánh giá mức độ tham gia của phụ nữ trong khai thác thủy sản, nhóm 1 đã lập ra bảng câu hỏi xếp hạng 4 mức độ tham gia các hoạt động của phụ nữ trong lĩnh vực khai thác của gia đình
Trang 13Bảng 2.1: Xếp hạng mức độ tham gia các hoạt động trong khai thác thủy sản ở gia đình của
phụ nữ
STT Mô tả sơ lược hoạt động Trả lời
Số lượng người trả lời cho mỗi lựa
chọn
1
Chuẩn bị chuyến biển (chuẩn
bị thức ăn, nước uống, ngư
Trang 14Nguồn: Số liệu điều tra thực tế 50 hộ đánh bắt thủy sản
Qua kết quả điều tra thực tế cho thấy ngoại trừ hoạt động đánh bắt tôm/ cá và tham dự các buổi khuyến ngư do cán bộ chính quyền địa phương tổ chức người phụ nữ hiếm khi tham gia thì hầu như cả quá trình hoạt động khai thác thủy sản đều có sự đóng góp tích cực của phụ nữ Trước mỗi chuyến đánh bắt trong ngày, người phụ nữ làm các công việc hâ ̣u cần nghề cá như chuẩn bị đầy
đủ thức ăn, nước uống, mồi thả, lưới, … rồi cùng chồng đi biển Trong quá trình đánh bắt, họ phụ giúp chồng thả lưới sau đó kéo lưới lên, gỡ sản phẩm thu được bảo quản vào thùng xốp hoặc xô Sau khi trở về họ thực hiện nhiệm vụ phân loa ̣i, chế biến, và bán sản phẩm cho các mối buôn thủy hải sản hoặc đem đến các tụ điểm chợ trong thôn để bán Khi đã tiêu thụ xong sản phẩm khai thác, người phụ nữ còn còn phải đảm nhiệm việc kiểm tra lưới, vá lưới, các ngư cụ đi biển, chuẩn bị để tiếp tục cho chuyến biển ngày mai Bên cạnh đó, vào những thời gian rảnh rỗi, nữ giới thường tranh thủ đan lưới, chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng phòng trường hợp chồng con đi biển có thể bị rách hay trục trặc về lưới thì có sẵn lưới để thay thế, không làm gián đoạn các chuyến biển
Trang 15Hình 2.1: Phụ nữ trong thôn Suối Cam đan lưới chuẩn bị cho chuyến biển
Như chúng ta thấy đó, người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong hoạt động khai thác cũng như trong cuộc sống hàng ngày của gia đình, họ là những người vợ, bà mẹ âm thầm làm các nhiệm
vụ tuyến sau để phụ giúp cho chồng, lo cho con, cung cấp đến cho người tiêu dùng những con cá, con tôm với chất lượng đảm bảo Bên cạnh đó người phụ nữ còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản Chúng ta có thể thấy nếu như người phụ nữ không đồng tình khi chồng con họ đánh bắt các loài, các đối tượng trái phép, chưa đủ điều kiện để đánh bắt thì chắc với những lời khuyên của người vợ, người mẹ có thể chồng con họ sẽ nghe theo từ đó sẽ giảm thiểu được phần