1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC

22 398 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Chung Về Nền Kinh Tế Tri Thức
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế Tri Thức
Thể loại Báo cáo hoặc Tài liệu tham khảo
Năm xuất bản Chưa rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 129,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Mác từng nói: “ Khoa học là tinh hoa của tiến trình phát triển chung của lịch sử. Hơn thế nữa, đó là đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử, là một lực lượng cách mạng, theo ý nghĩa chính xác nhất của từ đó”. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó là đúng. Ngay từ thế kỉ XVII, khoa học đã từng bước đưa ngành trồng trọt chăn nuôi trở thành cốt lõi của nền kinh tế nông nghiệp, phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên. Đến giữa thế kỉ XVII, nền kinh tế công nghiệp bắt đầu được hình thành. Từ đó đã có hai cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, được đánh dấu bằng sự ra đời của máy hơi nước và máy phát điện. Và đặc biệt, với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đầu thế kỉ XX, loài người đã đi sâu nghiên cứu thế giới từ vi mô đến vĩ mô, tất cả những sự vật nằm ngoài khả năng quan sát của giác quan con người. Hàng loạt những phát kiến vĩ đại về phân tử, nguyên tử, hạt nhân, các hạt cơ bản... đến những hiểu biết về vũ trụ: các vì sao, thiên hà, đại thiên hà, sự giãn nở của vũ trụ... Người ta ước tính rằng trong thế kỉ XX toàn bộ lượng thông tin, tri thức tăng thêm khoảng 1000 lần so với đầu thế kỉ và vượt trội tất cả các tri thức mà loài người tích lũy được trong suốt lịch sử phát triển từ thế kỉ XIX trở về trước. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đó tất yếu sẽ dẫn đến cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất mà ngày nay chúng ta gọi là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, bắt đầu vào khoảng từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại được mở đầu bằng công nghệ thông tin (CNTT). CNTT là nhân lõi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nó phản ánh giai đoạn phát triển mới về chất của sản xuất trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm.

Trang 1

Ngay từ thế kỉ XVII, khoa học đã từng bước đưa ngành trồng trọtchăn nuôi trở thành cốt lõi của nền kinh tế nông nghiệp, phát triển chủ yếudựa vào tài nguyên thiên nhiên Đến giữa thế kỉ XVII, nền kinh tế côngnghiệp bắt đầu được hình thành Từ đó đã có hai cuộc cách mạng côngnghiệp nổ ra nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, được đánhdấu bằng sự ra đời của máy hơi nước và máy phát điện Và đặc biệt, vớicuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đầu thế kỉ XX, loài người đã đi sâunghiên cứu thế giới từ vi mô đến vĩ mô, tất cả những sự vật nằm ngoài khảnăng quan sát của giác quan con người Hàng loạt những phát kiến vĩ đại vềphân tử, nguyên tử, hạt nhân, các hạt cơ bản đến những hiểu biết về vũ trụ:các vì sao, thiên hà, đại thiên hà, sự giãn nở của vũ trụ Người ta ước tínhrằng trong thế kỉ XX toàn bộ lượng thông tin, tri thức tăng thêm khoảng

1000 lần so với đầu thế kỉ và vượt trội tất cả các tri thức mà loài người tíchlũy được trong suốt lịch sử phát triển từ thế kỉ XIX trở về trước Cuộc cáchmạng khoa học kĩ thuật đó tất yếu sẽ dẫn đến cuộc cách mạng về lực lượngsản xuất mà ngày nay chúng ta gọi là cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại, bắt đầu vào khoảng từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại được mở đầu bằngcông nghệ thông tin (CNTT) CNTT là nhân lõi của cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại, nó phản ánh giai đoạn phát triển mới về chất củasản xuất trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm

Trang 2

CNTT bao gồm từ phần cứng như chế tạo các mạch vi điện tử, cácmáy vi tính, máy siêu tính các dây chuyền sản xuất tự động hóa, các thiết

bị ngoại vi cho đến các phần mềm ứng dụng và các phần mềm hệ thống.Một phần quan trọng nữa trong CNTT phải kể đến là các loại thiết bị viễnthông, điện tử công nghiệp, điện tử tiêu dùng Mạng máy tính và internet

đã và đang trở thành hệ thống huyết mạch quan trọng trong mọi hoạt độngkinh tế, văn hóa – xã hội Năm 1993 đã có 1 triệu người nối mạng, đếntháng 3 – 2000 số người dùng đã lên tới 280 triệu Rõ ràng là mạng internetkhông còn là một phương tiện kĩ thuật thuần túy mà đã thành một môitrường mới cho mọi hoạt động của con người và có tác động rất lớn đến sựchuyển biến nhanh chóng của đời sống con người trên khắp hành tinh

Thứ đến là công nghệ sinh học (CNSH), đây là một bước đột phá vàothế giới đầy bí ẩn của sự sống Nó bắt đầu bằng việc khám phá ra các phân

tử hình xoắn kép (ADN) Công nghệ cao này đã tạo ra một tiềm năng vô tậncho sản xuất ra các loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vậtliệu công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

Cùng với CNTT và CNSH là một loạt các công nghệ cao khác: côngnghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng công nghệ hàng không – vũ trụ Nhiều loại vật liệu mới với các tính năng ưu việt không thể tìm thấy trong tựnhiên đã được tạo ra: vật liệu tổ hợp, vật liệu com-pô-zit, các chất bán dẫn Nhiều nguồn năng lượng mới được tạo ra để thay thế các nguồn năng lượng

tự nhiên sắp cạn kiệt, đặc biệt là năng lượng nguyên tử Đáng chú ý là côngnghiệp hàng không-vũ trụ với triển vọng đưa con người đến với các hànhtinh khác trong vũ trụ

Nhờ các công nghệ cao đó, nền kinh tế thế giới đạt mức tăng trưởngchưa từng có Ngày nay, tổng sản phẩm của thế giới ước tính khoảng 30.000

tỉ USD nghĩa là gấp khoảng 123 lần so với tổng sản phẩm thế giới nhữngnăm 50 (1300 tỉ USD) Có thể nói, bộ phận cách mạng nhất tạo ra ngày càng

Trang 3

là khoa học công nghệ Các Mác đã dự báo rằng khoa học sẽ trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp và đã trở thành hiện thực Chính điều đó đã tạo tiền

đề cho sự hình thành kinh tế tri thức

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC

1 Khái niệm kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức là một sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại Nền kinh tế đó đang dần được hình thành, cónhiều tên gọi khác nhau nhưng phổ biến hơn cả là thuật ngữ “kinh tế trithức”(knowledge economy) hay “kinh tế dựa trên tri thức”(knowledge basedeconomy)

Theo cách định nghĩa của tổ chức quốc tế về hợp tác và phát triểnkinh tế (viết tắt là OECD): Kinh tế tri thức là một dạng hình kinh tế trong đó

sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với

sự phát triển của nền kinh tế nhằm tạo ra của cải vật chất, nâng cao chấtlượng cuộc sống con người

Cũng có thể định nghĩa đơn giản hơn: Kinh tế tri thức là nền kinh tếtrong đó khoa học, kĩ thuật và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp, là yếu tố hàng đầu quyết định việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh

và triển vọng phát triển

Như vậy trong nền kinh tế tri thức, vấn đề không chỉ ở việc tạo ra trithức, mà phải thu nhận, sử dụng và truyền bá tri thức Kinh tế tri thức khôngchỉ bao hàm duy nhất các lĩnh vực lao động với công nghệ cao, sử dụng laođộng có tri thức và lao động có kĩ năng cao là chính, mà còn quá trình trithức xâm nhập và chi phối tất cả mọi hoat động kinh tế Nghĩa là không phảitất cả các ngành đều phải dựa trên nền tảng công nghệ kĩ thuật cao, songđiều chắc chắn là tất cả các ngành đều hoạt động dưới sự chi phối của trithức Tóm lại, tri thức vừa là nội dung vừa lầ động lực của nền kinh tế

Trang 4

Có thể hình dung một cách cụ thể về nền kinh tế tri thức thông quabảng so sánh sau:

Hình thái thứ hai (Kinh tế tài nguyên)

Hình thái thứ ba

(Kinh tế thị trường)

1 Định vị

trong sơ đồ

Kinh tế tự nhiên,tương đương vớinền kinh tế nôngnghiệp và xã hộinông dân cổtruyền

Hình thái thịtrường, tươngđương với nềnkinh tế thị trườngcủa đại côngnghiệp cơ khí và

Xã hội côngnghiệp

Hình thái Cộngsản chủ nghĩa(CSCN), tươngđương với nềnkinh tế có tốc độphát triển cao và

xã hội tự dochân chính

2 Phương

thức tồn tại

Tự cấp tự túc,khép kín trongtừng cộng đồngriêng biệt

Phân công laođộng và trao đổi bịgiới hạn bởi cácbiên giới địaphương, quốc gia

Phân công vàtrao đổi phổbiến thông quamạng kiên kếttoàn cầu khôngbiên giới

Trang 6

2 Một số phạm trù trong kinh tế thị trường

Mỗi một hình thái kinh tế mới ta đời đều có những phạm trù kinh tếriêng đặc trưng cho nó Đối với nền kinh tế tri thức, chúng ta có thể tìm hiểumột số phạm trù sau đây

• Thông tin và tri thức:

- Đây là hai nguồn lực chủ yếu của kinh tế tri thức Vấn đề đặt ra

là phải phân biệt hai phạm trù này vì như John Naribett nói: “ Chìm ngậptrong thông tin mà vẫn thiếu tri thức”

+ Thông tin là dữ liệu được xếp thành trật tự có nghĩa, có thể thunhận được, có thể dùng hoặc không

+ Tri thức là thông tin đã được thu thập, xử lí và nhận thức, là việc ápdụng và sử dụng một cách có ích các thông tin

Theo quan điểm triết học, tri thức được hiểu là kết quả của quá trìnhnhận thức, là phản ánh trung thực của thực tiễn vào tư duy con người, tínhđúng đắn của nó thể hiện bằng sự kiểm nghiệm thực tế, đồng thời phù hợpvới các nguyên lí của lí luận về nhận thức trên cơ sở phương pháp duy vậtbiện chứng

- Thông tin là nội dung của tri thức được truyền đạt nhưng khi trithức được hệ thống hóa lại trở thành thông tin Thông tin là đầu vào của quátrình sản xuất ra tri thức

• Sản phẩm tri thức:

Tri thức là sản phẩm của lao động, là biểu hiện cụ thể về năng lực tưduy mà chỉ duy nhất loài người mới có Sản phẩm tri thức có nhiều tính chấtđặc biệt khác với vật thể thông thường:

Trang 7

- Vì tri thức thuộc phạm trù tinh thần nên nó luôn được mang,chứa trong những hình thức hiện vật nhất định: bộ nhớ trong não, băng từ,đĩa

- Đối với sản phẩm thông thường, người mua có quyền sở hữu về

nó, nghĩa là có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Còn đối với sảnphẩm tri thức, người mua chỉ có quyền sở hữu vật mang nó và có quyền sửdụng đối với nội dung tri thức Đặc tính này có nguồn gốc sâu xa ở chỗ chỉduy nhất con người mới có khả năng tư duy

- Quá trình tiêu dùng sản phẩm tri thức dù là tiêu dùng sản xuấthay tiêu dùng cho cá nhân, nói chung đều mang tính chất cuả một quá trìnhnghiên cứu, học tập và trực tiếp hoàn thiện sản phẩm tri thức đó Đôi khingười tiêu dùng còn phát hiện ra tính năng mà chính tác giả của nó khôngngờ tới

- Việc sản xuất ra các loại sản phẩm tri thức thường tạo ra giá trịgia tăng rất lớn Đây là một đặc điểm tạo nên ưu thế vượt trội của sản phẩmtri thức so với các sản phẩm thông thường khác Chẳng hạn E Sanchez và

D Mync sản xuất bộ phim “ Đồ án Blair Witch” bằng kĩ thuật số, phát hànhtrên internet, chỉ riêng trong nước Mĩ đã thu được 140 triệu USD, và chỉ vớichi phí 500.000 USD, nghĩa là có tỷ suất lợi nhuận 280 Theo ước tính,trong ngành chế tạo thiết bị điện tử, tỷ suất giá trị gia tăng trên giá trị đầuvào là khoảng 300, còn trong ngành công nghệ phần mềm tỷ suất đó tiến tới

vô hạn (!)

Nền kinh tế tri thức được nuôi dưỡng bằng nguồn năng lượng vô tận

và năng động là tri thức nên phát triển nhanh và khả năng bền vững rất cao

• Công nhân tri thức

Phạm trù này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế trithức, bởi đây là lực lượng trực tiếp tiếp thu tri thức, khoa học – công nghệ

để tiến hành sản xuất theo phương thức hiện đại Sự ra đời của công nhân tri

Trang 8

thức là tất yếu khách quan cùng với sự ra đời của nền kinh tế tri thức đồngthời cũng là sự phủ định có kế thừa của giai cấp công nhân trong nền kĩthuật - công nghệ hiện đại thế kỉ XX Công nhân tri thức có nhiều điểm tiến

bộ so với công nhân trước đó, biểu hiện:

- Công nhân tri thức có sở hữu trí tuệ Sở hữu này cho phép họ

có thu nhập cao hơn công nhân công nghiệp bình thường khiến họ có tư hữuchứ không còn là vô sản nữa

- Công nhân tri thức làm chủ một nền kĩ thuật mà phần lớn cácngành kĩ thuật đều dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học

- Giai cấp công nhân có sự tăng tiến cả về mặt số lượng lẫn chấtlượng Trên cơ sở tri thức khoa học đang dần dần trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp, số lượng công nhân có tri thức, có tay nghề cao ngày càngtăng Đồng thời nền kinh tế tri thức mang đặc tính sáng tạo, thích hợp vớibản chất của người công nhân, do đó sẽ kích thích họ không ngừng học hỏi,nghiên cứu nâng cao trình độ khoa học – kĩ thuật của mình Như vậy, trithức sẽ đóng vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển chất lượng người côngnhân

• Các ngành kinh tế tri thức

Chúng ta đã đề cập nhiều đến kinh tế tri thức, vậy trong nền kinh tếhiện nay những ngành kinh tế nào thì được coi là ngành kinh tế tri thức? –Theo giáo sư, viện sĩ Đặng Hữu: Các ngành sản xuất và dịch vụ do côngnghệ cao tạo ra như các dịch vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ tin học, cácngành công nghiệp công nghệ cao được gọi là ngành kinh tế tri thức

• Các tiêu chí cơ bản của một nền kinh tế tri thức

- Về cơ cấu GDP: hơn 70% do các ngành sản xuất, dịch vụ vàứng dụng công nghệ cao

Trang 9

- Cơ cấu giá trị gia tăng: hơn 70% do lao động trí óc đem lại.

- Cơ cấu lao động: hơn 70% công nhân tri thức

- Cơ cấu tư bản: hơn 70% là vốn con người

Ngoài ra còn có các tiêu chí khác, trong đó có tiêu trí về vai trò rấtquan trọng của giáo dục và bình quân trình độ văn hóa là trung học chuyênnghiệp

3 Đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức

Là một hình thái kinh tế mới của xã hội loài người, kinh tế tri thức cónhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước đó Những đặcđiểm này còn đang được định hình và tiếp tục phát triển Nhưng ta có thểthấy điều cốt yếu trong kinh tế tri thức đó là việc thu thập, sử dụng và truyền

bá các thông tin tri thức Dưới đây là một số đặc trưng của kinh tế tri thức:

- Tri thức, đặc biệt là khoa học và công nghệ trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp Nhờ cuộc cách mạng khoa học -công nghệ hiện đại, hànglọat các công nghệ cao đã được phát minh và ứng dụng ngay vào quá trìnhsản xuất tạo nên sự thay đổi rõ rệt cả về số lượng lẫn chất lượng Các yếu tốvật chất của quá trình sản xuất cũng như giá trị của hàm lượng vật chất trongcác sản phẩm ngày càng giảm để nhường chỗ cho các yếu tố tri thức Chính

vì vậy trình độ khoa học-công nghệ và vốn con người trong cuộc đua tranh,cạnh tranh phát triển

- Sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang các ngành kinh tế tri thức:Nền kinh tế nông nghiệp dựa trên sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế côngnghiệp thì công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu, còn trong nền kinh tế tri thức,các ngành kinh tế tri thức sẽ chiếm vai trò thống trị, nhất là các dịch vụ trítuệ (nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, tư vấn thiết kế, y tế, tài chính, thông tinliên lạc ) sẽ trở thành họat động kinh tế chiếm phần chủ yếu với số ngườitham gia nhiều nhất

Trang 10

- Kinh tế tri thức là nền kinh tế mở cao, mang tính chất toàn cầuhóa Với sự phát triển cao của CNTT, các tri thức mới, đặc biệt là thành tựukhoa học-công nghệ được phổ biến và ứng dụng một cách nhanh chóng trênphạm vi toàn cầu Hoạt động kinh tế và phân công lao động sẽ vượt ra khỏibiên giới các quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu Nền kinh

tế thế giới sẽ trở thành một mạng lưới gồm nhiều quan hệ đan xen giữa cácnền kinh tế quỗc gia Tuy nhiên, trong mạng kinh tế toàn cầu đó, vẫn tồn tạinhững mảng, vùng có trình độ phát triển còn kém xa những mảng, vùngkhác Việc tham gia vào mạng lưới này có thể giúp các quốc gia kém pháttriển tạo được sự bứt phá nhưng đồng thời cũng đưa đến những rủi ro tụt hậurất lớn, tùy thuộc vào khả năng của từng quốc gia

- Kinh tế tri thức là nền kinh tế năng động với tốc độ biến đổicực kì cao Nó thể hiện ở tốc độ sản sinh tri thức tăng theo cấp số nhân, ởtốc độ ứng dụng các phát minh khoa học vào quá trình sản xuất và ở sự biếnđổi của giá cả trên thị trường Điều này đòi hỏi các nền kinh tế, các doanhnghiệp không ngừng sáng tạo, đổi mới công nghệ sản xuất (sáng tạo và đổimới là linh hồn của nền kinh tế), nâng cao trình độ quản lí, thực hiện chiếnlược đi tắt đón đầu để bắt kịp với tốc độ phát triển chung Những biến đổitrên cũng đồng thời kéo theo biến đổi về cấu trúc giai cấp-xã hội ở các quốcgia

- Kinh tế tri thức phải dựa trên cơ sở pháp luật rõ ràng, có hiệulực và có đầy đủ thông tin Cần tránh hiện tượng lừa đảo, chụp giật, gâynhiễu thông tin Kinh nghiệm các nước chỉ rõ rằng CNTT cho phép kiểmsoát rất có hiệu quả mọi giao dịch, giảm bớt tình trạng trốn lậu thuế

4 Tác động của xu thế phát triển kinh tế tri thức đến quan hệ kinh tế quốc tế

Quá trình chuyển từ kinh tế công nghệ công nghiệp sang kinh tế trithức có tác động mạnh đến quan hệ kinh tế quốc tế, từ phương thức hoạt

Trang 11

động đến nội dung, cấu trúc các mối quan hệ đó Có thể đưa ra một số tácđộng chủ yếu như sau:

- Kinh tế tri thức đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa, làm cho nótrở thành xu thế bao trùm quan hệ quốc tế hiện đại Do kinh tế tri thức chủyếu dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri thức vốn mang tính chất năng động,lan tỏa không biên giới, trước hết là khoa học-công nghệ nên lực lượng sảnxuất thế giới và các hoạt động kinh tế của con người ngày càng được đadạng hóa, đa phương hóa trên phạm vi toàn cầu

Trên thực tế, không ít công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng toàn cầuhóa ngày nay là một xu thế khách quan và phổ biến, được thúc đẩy chủ yếubởi những tiến bộ của khoa học và công nghệ Hiện nay, mỗi ngày tổng giátrị các giao dịch tài chính quốc tế lên tới 3500 tỉ USD Trên 50.000 công tyxuyên quốc gia với khoảng 300.000 công ty con nằm khắp các nước trên thếgiới Các công ty con cũng ra sức nắm bắt và ứng dụngnhững tiến bộ mới vềkhoa học và công nghệ để tăng sức cạnh tranh và mở rộng thị trường củamình Trên phương diện vĩ mô, các nước đều tăng cường hội nhập kinh tếquốc tế để tận dụng tối đa các cơ hội và hạn chế các bất lợi của quá trìnhtoàn cầu hóa

- Quá trình phát triển kinh tế tri thức làm cho phân công lao độngtrở nên sâu sắc và rộng khắp toàn cầu Cùng với quá trình chuyển từ kinh tếcông nghiệp sang kinh tế tri thức, tri thức mà trước hết là khoa học và côngnghệ sẽ phát triển nhanh chóng, làm cho phân công lao động quốc tế pháttriển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Bởi vì trong thời đại kinh tế này, khoahọc-công nghệ và con người sẽ áp đảo các lợi thế về đất đai, tài nguyên Một xu thế khác là sự phân công chuyên sâu trong hợp tác quốc tế cũngđược tăng cường theo hướng ngày càng có nhiều công ty đi chuyên sâu vàosản xuất một mặt hàng, một chi tiết cụ thể nào đó của một sản phẩm hoặcchỉ cung cấp một dịch vụ chuyên môn nhất định

Ngày đăng: 25/07/2013, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái thứ nhất (Kinh tế sức người) - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC
Hình th ái thứ nhất (Kinh tế sức người) (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w