Trong nền kinh tế hiện đại, hội nhập, phát triển là một tất yếu khách quan và là một xu thế chung của tất cả các quốc gia trên thế giới. Có “hội nhập” thì mới “phát triển” được. Song song với tiền trình hội nhập diễn ra hết sức mạnh mẽ trên thế giới, quá trình tự do hóa tài chính diễn ra liên tục, các luồng tài chính dòng vốn được giao lưu tự do va xuyên suốt từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh như vậy, nền kinh tế mỗi quốc gia sẽ càng gắn bó chặt chẽ hơn nữa vào tình hình biến động kinh tế chính trị xã hội diễn ra trên thế giới. Do đó, bên cạnh những cơ hội to lớn khi tham gia vào quá trình hội nhập để phát triển, các quốc gia cũng phải đối mặt với rất nhiều những thách thức khó khăn. Một nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, tự chủ tài chính sẽ giúp nền kinh tế quốc gia đó có sức đề kháng trước những cú sốc kinh tế bên ngoài, nhất là các cuộc khủng hoảng kinh tế. Vì vậy điều kiện tiên quyết để đứng vững trên con đường hội nhập đó là mỗi quốc gia phải “chuẩn đoán” ra các căn bệnh của nền kinh tế của nước mình và từ đó tìm các cách “chữa trị’ nó một cách hữu hiệu nhất. Một trong những căn bệnh điển hình mà mỗi quốc gia khi tham gia vào quá trình hội nhập thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển và kém phát triển phải đối mặt, đó chính là tình hình đôla hóa nền kinh tế. Chính vì vây, trong phạm vi nội dung đề tài này, tôi xin phép được trình bày những vấn đề chung nhất về “đôla hóa” nền kinh tế, giúp cho mỗi người có thể hiểu và nắm bắt rõ hơn về căn bệnh điển hình này của nền kinh tế, đặ biệt là các nước đang phát triển và kém phát triển, có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về đôla hóa, từ đó có thể đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm tác hại và đẩy lùi đôla hóa ra khỏi nền kinh tế của quốc gia. Các biện pháp hạn chế đôla hóa
Trang 1Lêi më ®Çu
Trong nền kinh tế hiện đại, hội nhập, phát triển là một tất yếu kháchquan và là một xu thế chung của tất cả các quốc gia trên thế giới Có “hộinhập” thì mới “phát triển” được Song song với tiền trình hội nhập diễn rahết sức mạnh mẽ trên thế giới, quá trình tự do hóa tài chính diễn ra liên tục,các luồng tài chính dòng vốn được giao lưu tự do va xuyên suốt từ quốc gianày sang quốc gia khác Trong bối cảnh như vậy, nền kinh tế mỗi quốc gia sẽcàng gắn bó chặt chẽ hơn nữa vào tình hình biến động kinh tế chính trị xã hộidiễn ra trên thế giới Do đó, bên cạnh những cơ hội to lớn khi tham gia vàoquá trình hội nhập để phát triển, các quốc gia cũng phải đối mặt với rất nhiềunhững thách thức khó khăn Một nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, tựchủ tài chính sẽ giúp nền kinh tế quốc gia đó có sức đề kháng trước những cúsốc kinh tế bên ngoài, nhất là các cuộc khủng hoảng kinh tế Vì vậy điều kiệntiên quyết để đứng vững trên con đường hội nhập đó là mỗi quốc gia phải
“chuẩn đoán” ra các căn bệnh của nền kinh tế của nước mình và từ đó tìmcác cách “chữa trị’ nó một cách hữu hiệu nhất Một trong những căn bệnhđiển hình mà mỗi quốc gia khi tham gia vào quá trình hội nhập thế giới, đặcbiệt là các nước đang phát triển và kém phát triển phải đối mặt, đó chính làtình hình đôla hóa nền kinh tế
Chính vì vây, trong phạm vi nội dung đề tài này, tôi xin phép đượctrình bày những vấn đề chung nhất về “đôla hóa” nền kinh tế, giúp cho mỗingười có thể hiểu và nắm bắt rõ hơn về căn bệnh điển hình này của nền kinh
tế, đặ biệt là các nước đang phát triển và kém phát triển, có cái nhìn toàn diện
và chính xác hơn về đôla hóa, từ đó có thể đưa ra những biện pháp hữu hiệunhằm giảm tác hại và đẩy lùi đôla hóa ra khỏi nền kinh tế của quốc gia
Trang 2Phần I: Tổng quan về đô la hóa
I.1 Khái niệm đô la hóa:
Đôla hoá có thể hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế khi ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng tiền bản tệ trong toàn bộ hoặc một số chức năng tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là đô la hoá toàn bộ hoặc một phần.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền có ba chức năng
đó là: chức năng phương tiện trao đổi, chức năng đơn vị đo lường và chứcnăng cất trữ giá trị Đối với những nền kinh tế bị đô la hóa, ngoại tệ được sửdụng rộng rãi trong việc niêm yết giá hàng hóa dịch vụ, trong thanh toán vàtrong cất trữ Đôla hóa không chỉ có nghĩa là sự sử dụng rộng rãi USD màcòn bao gồm nhiều loại ngoại tệ mạnh khác như EUR, JPY, GBP Điều đấy
có nghĩa là bất kì một loại ngoại tệ nào có khả năng thay thế đồng nội tệcũng dẫn đến hiện tượng “đôla hóa”
Mặc dù hiệp ước Bretton Wood đã phá sản nhưng từ lâu USD đượcnhìn nhận là đồng tiền mạnh nhất thế giới, đã trở thành phương tiện thanhtoán quốc tế mà không có đồng tiền nào có thể thay thế được Mặt khác, Mỹluôn lợi dụng sự lớn mạnh của nền kinh tế đã gây sức ép với nhiều quốc giatrên thế giới, trong đó hệ thống tiền tệ vốn chưa “hoàn thiện”, và còn rất
“nhạy cảm” ở các nước đang phát triển
Sự thay thế một phần hay hoàn toàn nội tệ ở đây được thể hiện dướihai dạng:
Thứ nhất, là sự thay thế tài sản: đó là việc công chúng nắm giữ tráiphiếu nước ngoài; Tài khoản tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ ở nước ngoài; Tàikhoản tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng trong nước vớimục đích cất giữ giá trị từ đó hạn chế tác động của sự giảm giá trị đồng nội tệđối với tài sản khi lạm phát xảy ra
Thứ hai là sự thay thế tiền tệ: đó là việc công chúng nắm giữ ngoại tệtiền mặt, tài khoản tiền gửi thanh toán bằng ngoại tê trong hệ thống ngânhàng trong nước để thực hiện chức năng phương tiện thanh toán và đơn vị đolường Giá hàng hóa và dịch vụ được niêm yết bằng USD và công chúng sử
Trang 3trong điều kiện lạm phát cao, khi đó chi phí trong việc sử dụng nội tệ tronggiao dịch cao đã thúc đẩy công chúng tìm kiếm một sự thay thế.
I.2 Phân loại đôla hóa:
I.2.1 Căn cứ vào phạm vi:
Dựa vào vị trí, vai trò, cơ sở pháp lý của ngoại tệ và mức độ sử dụngngoại tệ trong nền kinh tế, thái độ của quốc gia đó đối với việc thừa nhận haykhông thừa nhận đồng đôla mà Đôla hóa được chia làm ba loại: đôla hóachính thức, đôla hóa bán chính thức, đôla hóa không chính thức
I.2.1.1 Đô la hóa chính thức:
Là hiện tượng xảy ra khi một quốc gia thống nhất sử dụng ngoại tệ làtiền tệ chính thức, hoàn toàn thay thế nội tệ Nghĩa là đồng nội tệ không tồntại hoặc nếu tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ cấp, tồn tại dưới dạng tiền xu vớimệnh giá nhỏ và không có nhiều ý nghĩa trong việc thực hiện chức năng tiền
tệ Trong khi đó ngoại tệ được lựa chọn là tiền tệ chính thức được sử dụngvới ba chức năng : phương tiện thanh toán, đơn vị đo lường và cất trữ giá trị.Đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữacác bên tư nhân mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính Phủ.Ngân hàng trung ương (NHTW)của các quốc gia này chỉ tồn tại trên danhnghĩa và không có vai trò gì trong việc điều hành chính sách tiền tệ, chínhsách tiền tệ hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trungương Mỹ ( Cục dự trữ liên bang Mỹ-FED) Nền kinh tế đôla hóa chính thức
bị điều chỉnh bằng những cú sốc ngoại lai nhiều hơn bằng cách điều chỉnh tỷgiá hối đoái Đôla hóa chính thức không có nghĩa là chỉ một hoặc hai đồngngoại tệ được lưu hành hợp pháp Tuy nhiên hầu hết các quốc gia có nềnkinh tế đôla hóa chính thức chỉ chọn một ngoại tệ là tiền tệ chính thức.Những quốc gia này thông thường là những nước nhỏ với quy mô dân số vàitriệu dân Sáu trong số những nền kinh tế đôla hóa chính thức là thành viêncủa IMF: Kiribati, Marshall Islands, Micronesia, Paula, Panama, San Marino.Trong đó Panama là một quốc gia được biết đến nhiều nhất với nền kinh tếđôla hóa chính thức điển hình Đôla hóa chính thức không phổ biến bằngđôla hóa không chính thức và thậm chí rất hiếm do mọi người đều coi đồng
Trang 4tiền quốc gia là một biểu tượng của dân tộc, mất đi đồng tiền riêng có nghĩa
là giao quyền điều hành chính sách tiền tệ cho NHTW nước ngoài Chính vìvậy, thông thường các quốc gia chỉ áp dụng đôla hóa chính thức sau khi đãthất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế Tuyên bố từ bỏđồng nội tệ đồng thời chấp nhận ngoại tệ là tiền tệ chính thức chỉ là giải phápcuối cùng khi chính phủ nước đó không còn cách nào khác để đưa nền kinh
tế thoát khỏi khủng hoảng, thoát khỏi sự mất ổn định kéo dài
Bảng 1: Danh sách một số nền kinh tế đôla hóa chính thức
năm
Trang 5Là hiện tượng xảy ra khi cư dân một quốc gia nắm giữ một số lượnglớn tài sản bằng ngoại tệ, tuy nhiên nội tệ vẫn là đồng tiền chính thức, hợppháp của quốc gia đó Đôla hóa không chính thức có thể bao gồm các loại cụthể sau:
• Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài
• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước
• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi
Các nhà kinh tế nhìn chung đồng nhất Đôla hóa không chính thức với
sự thay thế tài sản Có nghĩa là ngoại tệ được nắm giữ chủ yếu với chức năngcất trữ giá trị nhằm giảm tác động của sự giảm giá nội tệ trong điều kiện lạmphát Tuy nhiên tùy thuộc vào mức độ đôla hóa nền kinh tế và tùy thuộc vàocác quy định hạn chế trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia về vấn đề
sử dụng ngoại tệ mà có những quốc gia, ngoại tệ còn được sử dụng trong cảthanh toán và niêm yết, thông báo giá hàng hóa dịch vụ Thông thường trongcác quốc gia này, các khoản mục như: lương, thuế và những chi phí hàngngày như hóa đơn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ vẫn được thanh toán bằng nội
tệ còn những hàng hóa dịch vụ xa xỉ hay trong hoạt động kinh doanh bấtđộng sản được niêm yết và thanh toán bằng ngoại tệ Việt Nam là một trongnhững nước ở Châu Á có nền kinh tế bị đôla hóa không chính thức Ở ViệtNam, nhìn chung công chúng nắm giữ ngoại tệ dưới dạng ngoại tệ tiền mặthoặc tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại với chứcnăng cất trữ giá trị còn đối với chức năng phương tiện thanh toán và đơn vị
đo lường, mặc dù pháp luật Việt Nam cũng có đưa ra một số những quy địnhhạn chế nhưng do khâu thực thi pháp luật yếu kém nên giao dịch ngoại tệ vàviệc niêm yết, thông báo giá hàng hóa bằng ngoại tệ vẫn diễn ra phổ biến
Một cách để đo lường quy mô của đôla hóa không chính thức là đolường quy mô trái phiếu quốc tế, tài khỏan tiền gửi ngân hàng và quy mộngoại tệ tiền mặt Tuy nhiên để đo lường chính xác quy mô của các khoảnmục trên là không hề dễ dàng, thông thường các con số có được là do ướclượng mà thành Theo ước lượng của cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) : ngườinước ngoài nắm giữ từ 55-70% đôla tiền giấy Tổng giá trị USD trong lưuthông hiện nay khoảng 480 tỷ trong đó người nước ngoài nắm giữ 300 tỷ
Trang 6Một cách khác để đo lường mức đôla hóa không chính thức là tỷ lệ tài khoảntiền gửi ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng trên tổng phương tiện thanh toán(M2) ( bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có
kì hạn và tiền gửi ngoại tệ) Theo đánh giá của IMF, nếu một quốc gia tỷ lệnày trên 30% thì tình trạng đôla hóa là nghiêm trọng
Trong hầu hết các quốc gia có nền đôla hóa không chính thức, USD làngoại tệ được lựa chọn Trường hợp này đặc biệt đúng với các quốc gia mà
Mỹ là đối tác thương mại, nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất hoặc lớn ,thứ hai.Điển hình là các nước Châu Mỹ Latinh và Caribean Tuy nhiên từ khi đồngtiền chung Châu Âu (EUR) ra đời thì EUR nhanh chóng trở thành ngoại tệlựa chọn của một số quốc gia ở Châu Phi và khu vực Trung Đông
Các quốc gia hiện nay bị đôla hóa không chính thức (U.S dollar) baogồm: hầu hết các nước Châu Mỹ Latinh và vùng Caribean trong đó đặc biệt
là Argentina, Bolivia, Mexico, Peru, và vùng Trung Mỹ; hầu hết các nướcthuộc Liên Xô cũ trong đó đặc biệt là: Armenia, Azerbaijan, Georgia, Russia,Ukraine; ngoài ra còn có Mongolia, Mozambique, Romania, Turkey, ViệtNam
Chúng ta cần phân biệt đôla hóa không chính thức và sự hình thànhđồng tiền chung khu vực Nhiều người cho rằng việc sử dụng đồng tiềnchung khu vực chính là đôla hóa nền kinh tế Nhận định này là không chínhxác vì: Đôla hóa không chính thức là sự xâm nhập bất hợp pháp của mộtđồng tiền mạnh vào nền kinh tế, thay thế một phần nội tệ để sử dụng trongthanh toán, cất trữ và niêm yết giá cả Đây là điều mà Chính Phủ các nướckhông mong muốn và luôn nỗ lực đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tìnhtrạng trên Còn việc hình thành đồng tiền chung khu vực là xuất phát từ cácnước trong cùng khu vực địa lý đã liên kết, hợp tác với nhau thiết lập mộtđồng tiền chung để làm đối trọng với các đồng tiền mạnh khác ngoài khu vựcđồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại giữa các nước trong khuvực đó, hạn chế được các rủi ro trong thương mại như rủi ro tỷ giá ĐồngEUR là một ví dụ cụ thể, Ngày 1/1/1999 tỷ lệ hối đoái giữa EUR và các đơn
vị tiền tệ quốc gia được quy định không thể thay đổi và EUR trở thành tiền tệchính thức Đến ngày 1/1/2002, EUR bắt đầu được phát hành tới người tiêudùng Từ khi EUR ra đời và chính thức được đưa vào sử dụng là tiền tệ hợp
Trang 7pháp của các quốc gia thì thương mại và cộng tác kinh tế giữa các nước trongkhu vực EUR trở nên vững mạnh hơn Hơn thế nữa EUR nhanh chóng trởthành một đồng tiền mạnh, ở thế đối trọng với USD và là tiền tệ lựa chọn củamột số quốc gia trên thế giới Bên cạnh EUR, trong thời gian sắp tới đơn vịtiền tệ chung các nước Châu Á (ACU) sẽ ra đời với 13 thành viên: TrungQuốc, Hàn quốc, Nhật và các nước ASEAN, trong tương lai không xa sẽhình thành đồng tiền chung Châu Á Có thể nói việc hình thành liên minhtiền tệ và sự ra đời của các đồng tiền chung khu vực là xu thế phát triển củathời đại hội nhập trên lĩnh vực tiền tệ quốc tế, không thể coi sự hình thànhnhững đồng tiền chung này là đôla hóa.
I.2.1.3 Đôla hóa bán chính thức:
Là đôla hóa của các quốc gia mà ở đó có hệ thống lưu hành chínhthức hai đồng tiền
Ở những quốc gia này, ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp vàchiếm tỉ trọng lớn trong tổng số tiền gửi ngân hàng nhưng việc trả lương,thuế và các chi tiêu hàng ngày vẫn được thực hiện bằng nội tệ Các quốc gianày vẫn duy trì NHTW để thực hiện chính sách tiền tệ của họ Một số quốcgia có nền kinh tế đôla hóa bán chính thức điển hình: Cuba, Bahamas,Cambodia, haiti, Laos, Liberia ( U.S dollar); Bhutan (India rupee), Bosnia(German Mark, Croatia kuna, Yugoslav dinar); Brunei ( Singapore dollar);Channel islands, isle of Man ( British pound); Lesotho, Namibia (SounthAfrican rand); Taijikistan (Russian ruble)
I.2.2 Căn cứ vào hình thức:
Đôla hóa được thể hiện dưới ba hình thức sau:
I.2.2.1.Đôla hóa thay thế tài sản:
Thể hiện qua tỷ lệ gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán(FCD/M2) Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì nền kinh tế đó bị đôla hóanghiêm trọng, tạo ra các lệch lạc trong việc điều hành tài chính tiền tệ vĩ mô.Nhìn chung với các nền kinh tế chuyển đổi thì tỷ lệ đôla hóa bình quân hiệnnay là 29%
Trang 8I.2.2.2.Đôla hóa phương tiện thanh toán:
Là mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh toán Các giao dịch thanh toánbất hợp pháp bằng ngoại tệ rất khó đánh giá nhất là đối với những nền kinh
tế tiền mặt như Việt Nam
I.2.2.3 Đôla hóa định giá, niêm yết giá:
Là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằng ngoại tệ
Trang 9Phần II: Nguyên nhân dẫn đến Đôla hóa
Ta phân chia các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đôla hóa nền kinh tếcủa các quốc gia thanh nguyên nhân chủ quan ( xuất phát từ ý chí của cácnhà lãnh đạo) và nguyên nhân khách quan ( các nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng đôla hóa nền kinh tế mặc dù các quốc gia không hề mong muốn)
II.1 Nguyên nhân chủ quan:
Theo thống kê, các quốc gia có nền kinh tế đôla hóa chính thức đều lànhững quốc gia nhỏ cả về quy mô và diện tích Đôla hóa thường gặp khi mộtnền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, sức mua đồng bản tệ giảm sút thì người dânphải tìm công cụ dự trữ khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín
Tình trạng đôla hóa bao gồm cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệbao gồm:
• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị
• Chức năng làm phương tiện cất trữ
• Chức năng làm phương tiện thanh toán
Đối với các quốc gia này đôla hóa chính thức nền kinh tế còn có thểxuất phát từ ý chí chủ quan của các nhà lãnh đạo Theo họ, việc chấp nhậnmột ngoại tệ mạnh là tiền tệ chính thức góp phần làm cho nền kinh tế ổn địnhhơn, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng ở mức cao và họ chấp nhận đánh đổi chủquyền về tiền tệ để đạt được sự ổn định này, vì suy cho cùng mục tiêu củachính sách tiền tệ cũng là tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và ổnđịnh giá trị đồng tiền
Một cách lí giải nữa của việc chấp nhận đôla hóa chính thức nền kinh
tế của các quốc gia là do sự yếu kém trong việc họach định, thực thi chínhsách tiền tệ của NHTW và sự hoạt động kém hiệu quả của hệ thống ngânhàng thương mại trong nước NHTW không đủ năng lực để điều hành chínhsách tiền tệ do đó chấp nhận trao quyền điều hành cho NHTW nước ngoài để
ổn định và phát triển kinh tế quốc gia mình
II.2 Nguyên nhân khách quan:
Trang 10Trên đây là những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ ý chí của cácnhà lãnh đạo và người dân Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân kháchquan dẫn tới tình trạng đôla hóa nền kinh tế mặc dù các quốc gia không hềmong muốn.
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tình trạng đôla hóa của các quốc gia có
liên quan đến sự sụp đổ của hệ thống Bretton Wood Hệ thống Bretton Wood(BWS) là một hệ thống tiền tệ quốc tế được đi vào hoạt động từ năm 1947.Đây là một hệ thống chế độ tỷ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh Mỗiđồng tiền quốc gia được ấn định một tỷ giá trung tâm với USD và được phépdao động trong khoảng biên độ (+-1%), tỷ giá đồng USD tự nó được cố địnhvới giá vàng là 35$/ounce Một đặc điểm nữa của BWS là sự hình thành hai
tổ chức quốc tế mới là IMF và WB với hạn mức tín dụng thường xuyênnhằm hỗ trợ cho những quốc gia bị thâm hụt tạp thời BP Có thể nói BWShoạt động với sự thành công rõ ràng và đáng ghi nhận, trong suốt những năm
từ 1947 đến 1971 chỉ xảy ra một số lần điều chỉnh đột xuất Tuy nhiên sau 24năm tồn tại, BWS bị sụp đổ với những lý giải xuất phát từ rất nhiều nguyênnhân khác nhau Sau sự sụp đổ của BWS, các quốc gia đều tiến hành thả nổi
tỷ giá, và đặc trưng của hệ thống tỷ giá thả nổi này là không có trật tự và rốiloạn Có một số quốc gia khó khăn trong việc tìm kiếm và lựa chọn một mộtchế độ tỷ giá phù hợp, điều này cũng trở nên khó khăn hơn trong điều kiệnthị trường vốn và thị trường thương mại quốc tế tự do hội nhập Một trongnhững cách giải quyết tương đối hiệu quả vấn đề này là từ bỏ đồng tiền chínhthống của mình và chấp nhận một tiền tệ ổn định hơn của quốc gia khác.Cũng sau khi BWS sụp đổ xảy ra cú sốc dầu đầu tiên Các nước kém pháttriển (LDCs) không xuất khẩu dầu gặp nhiều khó khăn, một mặt do giá dầunhập khẩu tăng, mặt khác do kinh tế các nước công nghiệp bị suy thoái nênxuất khẩu vào những quốc gia này có xu hướng giảm sút Kết quả là LDCs lànhóm quốc gia chịu thâm hụt cán cân vãng lai với khối lượng khổng lồ Đểcân bằng cán cân thanh toán, các quốc gia tiến hành vay nợ nước ngoài vàkhủng hoảng nợ đã xảy với các nước LDCs đặc biệt là các nước Châu MỹLatinh Khủng hoảng nợ dẫn đến khủng hoảng tài chính và đây chính là điềukiện để ngoại tệ xâm nhập vào nền kinh tế trong nước thay thế nội tệ, thựchiện các chức năng của tiền tệ
Trang 11Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ những sự bất ổn tiền tệ trong các
quốc gia như khủng hoảng tài chính Điển hình là cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ năm 1997 xảy ra với các quốc gia Đông Nam Á Thái Lan đượccoi là quốc gia châm ngòi cho cuộc khủng hoảng này và dần dần cuộc khủnghoảng đã lan ra hầu hết các nược trong khu vực Trược khủng hoảng, NHTWThái Lan cố gắng duy trì một tỷ giá cố định của đồng baht so với USD.Chính vì vậy trong một thời gian dài đồng baht được định giá quá cao so vớigiá trị thực và đấy là cơ hội để các nhà đầu cơ nhảy vào cuộc, họ mua và gămgiữ ngoại tệ, chờ đến lúc đồng baht phá giá Cũng trong thời gian này, thịtrường chứng khoán Thái Lan phát triển quá nóng song không ổn định, dòngvốn gián tiếp ồ ạt chảy vào Thái Lan nhưng lại không được kiểm soát chặtchẽ Có thể nói nguyên nhân khủng hoảng ở Thái Lan là sự tấn công đầu cơ
và rút ra hàng loạt của các dòng vốn gián tiếp Ngày 1/7/1997 Thái Lanchính thức tuyên bố thả nổi đồng baht và chỉ sau một đêm, đồng baht đã bịmất giá 20% so với đồng USD và mức vốn hóa của thị trường chứng khoán
đã sụt giảm mạnh mẽ Giá cả hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài trở nên đắt
đỏ từ đó làm tăng mức giá chung của nền kinh tế Đồng baht bị mất giá sovới USD, lạm phát trong nước ở mức cao đã làm mất lòng tin của côngchúng khi nắm giữ đồng baht và tất yếu dẫn đến việc đồng tiền yếu đuổiđồng tiền mạnh ra khoi lưu thông, họ sử dụng USD để cất trữ Thời gian này,nguồn vốn huy động của các NHTM Thái Lan bị đôla hóa nghiêm trọng
Cũng có một số quốc gia sau khi đối mặt với khủng hoảng tài chính,không thể hồi phục lại nền kinh tế và do đó giải pháp cuối cùng là từ bỏ nội
tệ, chấp nhận ngoại tệ là đồng tiền chính thức của quốc gia mình
Nguyên nhân thứ ba, nền kinh tế phải đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao
hoặc siêu lamj phát trong khi lãi suất tiền gửi nội tệ không mấy hấp dẫn sovới lãi suất tiền gửi ngoại tệ, tất yếu công chúng tìm đến một sự thay thế đó
là việc nắm giữ và sử dụng rộng rãi ngoại tệ mạnh, ổn định trong cất trữ vàthanh toán
Nguyên nhân thứ tư, mức độ đô la hóa ở mỗi nước khác nhau phụ
thuộc vào trình độ dân trí và tâm lý của người dân, trình độ phát triển của hệthống ngân hàng và cơ chế quản lý ngoại hối Ở một số quốc gia, trình độcủa người dân về lĩnh vực tài chính tiền tệ còn hạn chế, họ có tâm lý ưu thích