1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các hoạt động cơ bản của ngân hàng cổ phần thương mại vietcombank và các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng của ngân hàng vietcombank

45 445 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 68,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chí

Trang 1

GIỚI THIỆU VỀ VIETCOMBANK

Trải qua 48 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu Vietcombank được xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt của Nhà nước Vietcombank là một trong những thành viên đầu tiên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam và là thành viên của nhiều hiệp hội ngân hàng khác như Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội Tư vấn Doanh nhân APEC, Câu lạc bộ Ngân hàng Châu Á Thái Bình Dương…Vietcombank còn có sự hiện diện thương mại tại nước ngoài thông qua các Văn phòng Đại diện tại Paris, Singapore cùng với Công ty Tài chính Vinafico tại Hồng Kông và mạng lưới ngân hàng đại lý gồm hơn 1.200 ngân hàng tại 85 nước và vùng lãnh thổ trên toàn cầu

Trang 2

Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự án…cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanh ngoại tệ và các công vụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…

Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có lợi thế rõ nét trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng, phát triển các sản phẩm, dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao Các dịch vụ: VCB Internet Banking, VCB Money, SMS Banking, VCB Cyber Bill Payment,

…đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, dần tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) cho khách hàng

Song song với việc phát triển, đa dạng hoá các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng, Vietcombank cũng đang tích cực mở rộng hệ thống mạng lưới nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của khách hàng Sau gần nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, Vietcombank hiện có khoảng 11.500 cán bộ nhân viên, với gần 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 74 chi nhánh và gần 300 phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con tại nước ngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 4 công ty liên doanh, 2 công ty liên kết Bên cạnh đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với khoảng 16.300 máy ATM và điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý tại 100 quốc gia và vùng lãnh thổ

Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…Vietcombank luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của hơn 5,2 triệu khách hàng cá nhân trong và ngoài nước Ngoài ra, Vietcombank còn

Trang 3

tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư… Vietcombank đặt mục tiêu sẽ trở thành tập đoàn tài chính hàng đầu Việt Nam và là ngân hàng tầm cỡ quốc tế ở khu vực trong thập kỷ tới, hoạt động đa năng, kết hợp với điều kiện kinh tế thị trường, thực hiện tốt phương châm “Luôn mang đến cho khách hàng sự thành đạt”.

Bằng trí tuệ và tâm huyết, các thế hệ cán bộ nhân viên Vietcombank đã, đang và sẽ luôn nỗ lực để Vietcombank xứng đáng với vị thế là “Ngân hàng hàng đầu vì Việt Nam thịnh vượng”

Phần I: Cở sở lý thuyết

1 Khái niệm

Ngân hàng thương mại là 1 tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch

dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân.

2 Các hoạt động cơ bản ngân hàng thương mại.

Trang 4

- Vốn tiền gửi: (Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết

kiệm) Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của các

ngân hàng thương mại, bao gồm:

Thông qua các nghiệp vụ nhận tiền gửi thường xuyên, ngân hàng đã huy động được một lượng vốn lớn từ khách hàng Căn cứ vào thời gian gửi tiền và mục đích của khách hàng, có thể chia nguồn vốn này thành các bộ phận sau:

+ Tiền gửi không kỳ hạn

Với loại này, người gửi có thể gửi tiền vào và rút ra bất cứ lúc nào có nhu cầu (nên còn được gọi là tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu – demand deposit) Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển trả cho người thụ hưởng, hoặc chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này

Tiền gửi không kỳ hạn được để trong các tài khoản gọi là tài khoản vãng lai (current account) Người gửi tiền có thể gửi thêm tiền vào hoặc rút tiền ra khỏi tài khoản bất kỳ lúc nào Do tính chất có thể rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền gửi này thường chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được ngân hàng trả lãi (Các ngân hàng thương mại thậm chí còn yêu cầu duy trì một số dư tối thiểu trên tài khoản Trường hợp trong thời gian dài trên tài khoản không có tiền hoặc có số

dư thấp hơn mức tối thiểu quy định thì chủ tài khoản còn phải trả phí duy trì tài khoản cho ngân hàng) nhưng đổi lại người gửi tiền được sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng (phải trả phí dịch vụ thanh toán hay không phải trả phí tùy thuộc vào quy định của ngân hàng đối với từng loại hình dịch vụ thanh toán).

Mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng, do vậy, nó còn được gọi là tiền gửi

thanh toán

Tiền gửi không kỳ hạn có chi phí thấp, bởi vì người gửi tiền sẵn lòng bỏ qua một số tiền lãi để có một tài sản có tính lỏng cao sử dụng trong các hoạt động thanh toán mua hàng Những khoản chi phí của ngân hàng để duy trì loại tiền gửi thanh toán bao gồm tiền thanh toán lãi và những chi phí trong việc phục vụ thanh toán trên các tài khoản tiền gửi loại này như: xử lý lưu trữ chứng từ thanh toán,

phí tổn chuyển tiền và chứng từ, cung cấp thông tin…

Để tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng phải đa dạng hóa và thực hiện tốt các dịch vụ trung gian, thu hút nhiều khách hàng là cá nhân, các doanh nghiệp lớn Với quy mô lớn, cơ cấu đa dạng, cơ chế hoán đổi thời gian đáo hạn của các khoản tiền gửi được thực hiện tốt sẽ làm cho mức dư tiền gửi bình quân tại ngân hàng luôn cao và ổn định, tạo điều kiện cho ngân hàn có thể sử dụng lượng tiền này để cho vay mà không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của

ngân hàng.

+ Tiền gửi có kỳ hạn (time deposit)

Các khoản tiền gửi có kỳ hạn được đặc trưng bằng những chứng chỉ tiền gửi ghi rõ thời gian đáo hạn và số lượng, khách hàng chỉ được rút ra sau một thời

Trang 5

gian nhất định theo kỳ hạn đã được thỏa thuận khi gửi tiền Tuy nhiên, ngân hàng

có thể giải quyết cho khách hàng rút trước thời hạn khi có yêu cầu, nhưng phải bị phạt tiền bằng việc chuyển từ mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn sang áp dụng mức lãi suất không kỳ hạn thấp hơn Đối với loại tiền gửi có kỳ hạn mục đích của người gửi tiền là lợi tức, không quan tâm đến việc tận dụng những tiện ích thanh toán do ngân hàng cung cấp Vì vậy, để tăng tỷ lệ vốn huy động có kỳ hạn ngân hàng có thể sử dụng công cụ lãi suất và các chính sách khuyến khích lợi ích vật chất khác như xổ số hoặc bốc thăm trúng thưởng… để tạo ra sự quan tâm thu hút khách hàng, đặc biệt là nhóm khách hàng cá nhân Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời gian gửi tiền và sự thỏa thuận giữa hai bên về những điều kiện đảm bảo an toàn trong quan hệ tín dụng, đồng thời được xác định theo nguyên tắc thời gian

càng dài lãi suất càng cao.

Với những đặc tính ổn định của tiền có kỳ hạn, ngân hàng có thể chủ động

kế hoạch hóa việc sử dụng nguồn vốn, tìm kiếm những khoản đầu tư có thời gian

hợp lý và thu lợi nhuận cao.

+ Tiền gửi tiết kiệm (savings deposit)

Là loại tiền gửi để dành của các tầng lớp dân cư, được gửi vào ngân hàng

để được hưởng lãi theo định kỳ Các mức lãi suất tương uwngs với từng kỳ hạn gửi được ngân hàng công bố sẵn Các kỳ hạn thường là 1, 3, 6, 9, 12 tháng hoặc trên một năm (18, 24 tháng) Hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có

sổ Về mặt kỹ thuật, dạng tiền gửi này người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một

sổ dùng để gửi tiền vào và rút tiền ra, đồng thời nó còn xác nhận số tiền đã gửi Ngân hàng không cung cấp các dịch vụ trung gian thanh toán cho khách hàng gửi

tiền tiết kiệm.

Ở Việt Nam, hình thức gửi tiết kiệm phổ biến là:

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền

có thể gửi nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi

này nhưng rất thấp

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi cố

định trước Loại tiền gửi này cũng tương tự như tiền gửi có kỳ hạn ở các điểm là không được phép rút trước hạn, được hưởng lãi cao hơn các dạng tiền gửi không

kỳ hạn và không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Với dạng tiền gửi này, người gửi chỉ được gửi tiền vào một lần và rút ra một lần cả vốn lẫn lãi khi đến hạn Không cho phép bổ sung thêm vào số tiền đã gửi khi chưa hết hạn Mỗi lần gửi được coi là một khoản tiền gửi riêng biệt Mức tối thiểu của mỗi lần

gửi tiền do từng ngân hàng quy định.

Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: thường là hình thức tiết kiệm trung và dài

hạn, người tham gia ngoài việc được ngân hàng trả lãi còn được ngân hàng cấp tín dụng nhằm mục đích bổ sung thêm vốn để mua sắm các phương tiện phục vụ

nhu cầu tiêu dùng.

Trang 6

Như vậy, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch Chúng có cùng tính chất là được hưởng lãi cao và chủ tài khoản không được

phát hành séc.

Lý do phải tách riêng tiền gửi tiết kiệm ra mà không xếp vào hai dạng tiền gửi trên (tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn) mặc dù tính chất của chúng rất giống nhau là vì đây là tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, là tài sản tích lũy của quốc gia, được xem là nguồn vốn nội lực của đất nước, cho nên cần có chính sách ưu tiên bảo vệ (ví dụ: các NHTW thường buộc các ngân hàng thương mại khi huy động dạng tiền gửi này thì phải mua bảo hiểm cho chúng, hoặc các

công ty tài chính không được huy động dạng tiền gửi này)

Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn của ngân hàng thương mại, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh Nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay Chính vì vậy

người tao gọi ngân hàng thương mại là ngân hàng tiền gửi.

- Vốn đi vay (Vay của ngân hàng trung ương, vay của các ngân hàng

thương mại và các tổ chức tín dụng khác, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu)

+ Phát hành các chứng từ có giá

Ngân hàng chủ động phát hành các loại kỳ phiếu ngân hàng để huy động vốn nhằm thực hiện những dự án đầu tư đã định Việc huy động vốn dưới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng được thực hiện theo hai phương thức: phát hành theo mệnh giá (trả lãi sau, người mua trả tiền theo mệnh giá được ghi trên

bề mặt kỳ phiếu): phát hành bằng hình thức triết khấu (trả lãi trước, người mua sẽ

trả một số tiền bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng).

+ Vay của các ngân hàng và các trung gian tài chính khác

Qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngân hàng có thể khai thác các khoản vốn nhàn rỗi từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác Hoạt động vay mượn này nahwfm mục đích điều hòa nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu

chuyển thông suốt liên tục trong hệ thống ngân hàng.

+ Vay của ngân hàng trung ương

Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được ngân hàng trung ương cấp phép hoạt động đều được vay vốn tại ngân hàng trung ương trong trường hợp cần bổ sung vốn khả dụng Nghiệp vụ vay vốn này được ngân hàng trung ương thực hiện dưới hình thức phổ biến là tái cấp vốn, bao gồm tái chiết khấu các loại giấy tờ có giá và cho vay thế chấp Khoản vay này liên quan đến lượng tiền cung ứng của ngân hàng trung ương, đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

Hiện nay NHNN Việt Nam áp dụng 3 hình thức cấp tín dụng sau:

Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn

hạn khác

Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá

ngắn hạn khác

Trang 7

Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng Thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợ theo yêu cầu của nền kinh tế, như thu mua lương thực, nông sản, dự trữ vật tư, nguyên liệu, sản xuất hàng hóa xuất khẩu thuộc diện ưu

dụng chứng từ - LC)

Với những ngân hàng thương mại có các quan hệ quốc tế rộng lớn, có thể tranh thủ các khoản vốn tín dụng hoặc tiếp nhận từ các tổ chức tài

chính tiền tệ quốc

2.2 Hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng thương mại, thực chất đây là quá trình ngân hàng thương mại cho các tổ chức, cá nhân vay vốn Hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú Có thể nêu một số loại hình chủ yếu sau:

- Cho vay ứng trước: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thương mại

cung cấp cho người đi vay một khoản tiền nhất định để sử dụng trước Người đi vay chỉ phải trả lãi vào lúc hoàn trả nợ gốc

Cho vay ứng trước có 2 loại:

a/ Cho vay ứng trước có bảo đảm:

 Bảo đảm bằng các động sản: như hàng hóa, tài sản hay chứng từ (cho vay

cầm cố): là cho vay trên cơ sở cầm cố tại ngân hàng các tài sản, có thể là hiện vật như vật tư hàng hóa, hoặc là giấy tờ như các giấy sở hữu hàng hóa ( B/L, giấy lưu kho, lưu bãi container), các chứng từ thanh toán (bộ chứng từ liên quan đến người nhập khẩu gồm B/E, chứng từ gửi hàng), chứng từ có giá (thương phiếu, chứng khoán, ), thậm chí cả vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ, số tiền cho vay bằng một tỷ lệ phần trăm của giá trị tài sản cầm cố, tỷ lệ này cao hay thấp là tùy vào quan hệ của ngân hàng và khách hàng, vào uy tín của khách hàng Ngân hàng sẽ quản lý tài sản cầm cố trong suốt thời hạn vay và chỉ hoàn lại khi thu đủ nợ (gốc và lãi) Trong trường hợp người đi vay không có khả năng trả nợ khi đến hạn, ngân hàng có quyền bán tài sản cầm cố để thu nợ

 Bảo đảm bằng bất động sản: như đất đai, nhà cửa (cho vay thế chấp): là cho

vay trên cơ sở nắm giữ các giấy tờ chứng thực quyền sở hữu hợp pháp về bất

Trang 8

động sản đem thế chấp Số tiền vay được tính theo tỷ lệ phần trăm của giá trị tài sản thế thấp (nhỏ hơn giá trị của tài sản thế chấp), tỷ lệ này cao hay thấp phụ thuộc vào quan hệ của ngân hàng và khách hàng và uy tín của khách hàng Cho vay thế chấp khác với cho vay cầm cố ở chỗ trong thời hạn vay người đi vay vẫn được phép sử dụng tài sản thế chấp, ngân hàng chỉ nắm giữ

hồ sơ gốc

 Bảo đảm bằng sự bảo lãnh của bên thứ 3: (cho vay có bảo lãnh): bên bảo

lãnh lập hồ sơ bảo lãnh tại ngân hàng và cam kết hoàn trả nợ nếu bên đi vay không có khả năng thanh toán Ngân hàng cũng có thể đề nghị bên bảo lãnh phải có tài sản cầm cố hoặc thế chấp tại ngân hàng

b/ Cho vay ứng trước không có bảo đảm:

Cho vay ứng trước không có đảm bảo: là hình thức cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng với ngân hàng mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc

sự bảo lãnh Do vậy, còn gọi là vay tín chấp Hình thức này được áp dụng với các khách hàng có uy tín, có quan hệ thường xuyên với ngân hàng hoặc những doanh nghiệp lớn

- Cho vay theo hạn mức tín dụng

Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trước số tiền tối đa (gọi là hạn mức tín dụng) mà khách hàng được vay từ ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định Sau khi đã thỏa thuận về hạn mức tín dụng, khách hàng có thể vay làm nhiều lần trong thời gian thở thuận mà không phải làm đơn xin vay với điều kiện tổng số tiền của các lần vay không vượt quá hạn mức tín dụng Hình thức cho vay này thường áp dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên

Trong hợp đồng tín dụng sẽ có một số nội dung cơ bản sau:

+ Hạn mức tín dụng

+ Số vòng quay vốn

+ Tổng doanh số trả nợ trong quý

Khách hàng có thể vay làm nhiều lần nhưng khi có tiền thu bán hàng, người vay phải nộp toàn bộ số tiền đó vào tài khoản tiền vay để đảm bảo doanh số trả nợ

và vòng quay vốn tín dụng, phần còn lại chuyển về tài khoản tiền gửi để sử dụng Lãi vay thường được ngân hàng tính và thu vào ngày cuối của tháng

- Cho vay thấu chi

Cho vay thấu chi: Là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trong đó ngân hàng cho phép khách hàng chi vượt quá số dư trên tài khoảng tiền gửi thanh toán trong 1 hạn mức và thời gian nhất định trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng

Khác với cho vay ứng trước mức tín dụng thỏa thuận cho vay thấu chi chưa phải là khoản tiền mà ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng (chi vượt số dư) thì mới được coi là tín dụng cấp phát và đầu tính tiền lãi Hình thức

Trang 9

này thường áp dụng cho những khách hàng có khả năng tài chính mạnh và có uy tín.

- Cho vay chiết khấu chứng từ

Cho vay chiết khấu chứng từ: là cho vay dưới hình thức Ngân hàng thương mại mua lại các thương phiếu chưa đến hạn trả tiền với giá thấp hơn số tiền ghi trên thương phiếu Khi đến hạn trả tiền, ngân hàng sẽ đòi toàn bộ số tiền ghi tren thương phiếu từ người trả tiền thương phiếu Phần lãi của ngân hàng chính là khoản chênh lệch giữa giá mua và số tiền ghi trên thương phiếu

Các chứng từ có giá bao gồm: Các loại tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do kho

bạc nhà nước, ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính phát hành: các loại sổ tiết kiệm có kỳ hạn, các chứng chỉ tiền gửi, bộ chứng

từ thanh toán

Các chứng từ trên được chấp nhận chiết khấu nếu thỏa mãn điều kiện: được phát hành hợp pháp, được bảo toàn mệnh giá, có khả năng chuyển nhượng, không

bị tẩy xóa, còn trong thời hạn thanh toán

Phương thức chiết khâu:

+ Chiết khấu toàn bộ thời gian còn lại của chứng từ có giá là phương thức mua bán chứng từ có giá theo giá chiết khấu và khách hàng chuyển giao ngay quyền sở chứng từ có giá đó cho ngân hàng Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng có quyền thanh toán với người phát hành

+ Chiết khấu có thời hạn: Là phương thức mua các chứng từ có giá theo thời hạn và giá chiết khấu đồng thời kèm theo cam kết của khách hàng về mua lại chứng từ có giá đó vào ngày hết hạn chứng khoán Nếu hết hạn chiết khấu mà khách hàng không thực hiện cam kết mua lại chứng từ có giá thì ngân hàng là chủ

sở hữu hợp hợp pháp và hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ các chứng từ có giá đó

2.3 Hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại

Hoạt động đầu tư là hoạt động NHTM dùng vốn của mình để mua chứng khoán (các chứng khoán chính phủ và một số chứng khoán công ty) hoặc đầu tư theo dự án Ở Việt Nam luật các tổ chức tín dụng còn cho phép các ngân hàng được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hay của các tổ chức tín dụng khác

2.4 Hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng

Dịch vụ ngân hàng được phát triển mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường và đưa lại nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng thương mại Hoạt động dịch vụ được thực hiện dưới các hình thức sau:

Trang 10

- Kinh doanh ngoại tệ và vàng: Ngân hàng mua bán ngoại tệ và vàng ở thị

trường trong nước và quốc tế Lợi nhuận mang lại cho ngân hàng là chênh lệch giữa giá bán và giá mua

- Dịch vụ trung gian thanh toán: Dịch vụ này bao gồm thanh toán không

dùng tiền mặt, hoặc thu chi tiền mặt, qua ngân hàng Đây là một nghiệp vụ truyền thống, đồng thời được phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trường Thông qua hoạt động thanh toán, ngân hàng thu được lệ phí, tập trung được nhiều nguồn vốn

và thông qua đó kiểm soát được chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân

Các hình thức thanh toán:

+ Thanh toán bằng séc

+ Ủy nhiệm thu

+ Ủy nhiệm chi

+ Thanh toán bằng thư tín dụng

+ Thanh toán bằng thẻ

- Dịch vụ bảo lãnh: Bảo lãnh là nghiệp vụ trong đó ngân hàng thương mại

chịu trách nhiệm trả tiền thay cho bên được bảo lãnh, nếu họ không thực hiện đầy

đủ nghĩa vụ đối với yêu cầu của một đối tác nào đó Bảo lãnh được thực hiện dưới nhiều hình thức, như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh chất lượng và khối lượng hàng hóa

- Cung cấp các dịch vụ thông tin, tư vấn:

Ngân hàng thương mại là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán Hơn nữa, ngân hàng là tổ chức khá đầy đủ và cập nhật các thông tin về thị trường, giá cả do vậy nó có thể cung cấp các thông tin theo yêu cầu của khách hàng trong giới hạn cho phép

Do có trình độ nghiệp vụ có thông tin, kinh nghiệm nên ngân hàng thương mại có thể tư vấn cho khách hàng về xây dựng dự án đầu tư, phương án huy động vốn, phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp…

- Hoạt động ủy thác (ủy thác và nhận ủy thác): Ngân hàng thương mại

được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác đại lý

3 Chức năng và vai trò của Ngân hàng thương mại

3.1 Chức năng của ngân hàng thương mại

* Chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng này khi nó đóng vai trò là

cầu nối giữa người có vốn với người cần vốn.

Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa những người có vốn dư thừa và những người có nhu cầu về vốn thông qua việc huy động khai thác các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên

Trang 11

quỹ cho vay cấp tín dụng cho nền kinh tế Với chức năng này, ngân hàng vừa đóng

vai trò là chủ thể đi vay, vừa đóng vai trò là chủ thể cho vay.

Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội, ngân hàng thương mại với vai trò là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, nắm bắt tình hình cung cầu về vốn tín dụng sẽ thực hiện tiếp nhận và chuyển giao vốn một cách có hiệu quả Thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lượng lớn, ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu vốn tín dụng về khối

lượng và cả thời gian tín dụng.

Chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng được mô tả qua sơ đồ sau:

- Hộ gia đình, dân cư…

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIHuy

- Cấp tín dụng đầu tư đáp ứng nhu cầu về vốn cho các chủ thể trong nền kinh

tế xã hội.

+ Cho vay ngắn hạn , trung và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế cá nhân.

+ Chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá

Trang 12

+ Cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp và các hình thức cấp tín dụng khác.

* Chức năng trung gian thanh toán:

Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện theo yêu cầu của khách hàng như trích một khoản tiền trên tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào một khoản tiền gửi của khách

hàng từ bán hàng hóa hoặc các khoản thu khác.

Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán làm cho nó trở thành thủ quỹ cho khách hàn Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách làm cho ngân hàng thực hiện được vai trò trung gian thanh toán Trên thực tế, khi việc than toán trực tiếp giữa các chru thể kinh tế bằng tiền mặt gặp nhiều hạn chế và rủi ro cao, do phải tập hợp, kiểm tra, vận chuyển làm cho chi phí thanh toán cao mà lại thiếu chính xác và an toàn, đặc biệt

là khi hai đơn vị này cách xa nhau, điều này tạo nên nhu cầu và gia tăng khối

lượng thanh toán qua ngân hàng.

Chức năng trung gian thanh toán được thể hiện qua biểu đồ sau:

có nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu mở tài khoản giao dịch cho khách hàng khi họ đáp

Trang 13

ứng các yêu cầu theo quy định về việc mở và sử dụng tài khoản giao dịch tại ngân hàng Chức năng thanh toán của ngân hàng chỉ được thực hiện thuận lợi khi các khách hàng tham gia có tài khoản giao dịch tại ngân hàng, do vậy, thủ tục mở tài khoản phải chặt chẽ nhưng đơn giảm, đảm bảo bí mật, an toàn cho khách hàng.

- Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng: thanh toán qua ngân hàng là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, nó được thực hiện qua việc phản ánh trên sở sách ngân hàng Do đó, các chứng từ dùng làm căn cứ hạch toán vào sổ sách phải chuẩn xác do ngân hàng cung cấp và kiểm soát, có như vậy mới đảm bảo cho quá trình thanh toán được nhanh chóng, an toàn và chính xác Vì vậy, ngân hàng sẽ thiết kế và cung cấp cho khách hàng các phương tiện thanh toán khác nhau như: giấy chuyển tiền, ủy nhiệm chi, séc, thư tín dụng Những phương tiện này vừa đáp ứng yêu cầu quản lý và kiểm soát chặt

chẽ, đồng thời đáp ứng yêu cầu linh hoạt, tiện lợi và dễ sử dụng.

- Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng: để đảm bảo yêu cầu thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiện lợi, ngân hàng phải tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng Tùy theo từng phương thức thanh toán sẽ có những quy trình khác nhau, khách hàng cảm nhận được những tiện ích và ưu điểm của từng phương thức để lựa chọn cho từng

giao dịch thanh toán thích hợp.

.

* Chức năng tạo tiền Khi thực hiện hai chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền ghi sổ (bút tệ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại

Những hoạt động mà NHTM thực hiện đã tạo nên một cơ chế tạo tiền trong toàn hệ thống ngân hàng Trên cơ sở số tiền gửi của khách hàng, ngân hàng dùng

nó để cho vay Tuy nhiên, số tiền cho vay không dừng lại ở số tiền mặt gửi ban đầu

mà khoản tín dụng do ngân hàng thực hiện đã tạo ra tiền dưới dạng bút tệ Khi hết hạn vay, người vay trả nợ ngân hàng, tiền vay rút khỏi lưu thông quay trở lại ngân hàng Như vậy, do hoạt động của ngân hàng mà hàng ngày thường xuyên có tiền bơm vào lưu thông (ngân hàng cho vay) và tiền rút khỏi lưu thông (trả nợ vay ngân hàng)

Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thang toán, gnaan hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch

Từ khoản dự trữ tăng lên ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số

mở rộng tiền gửi Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố tỷ lệ dự trữ

Trang 14

bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng Phân tích quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại chúng

ta sẽ thấy rõ sự tác động của các yếu tố này

Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHTW phát hành ra mà còn bao gồm một bộ phần quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng

Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung,

hỗ trợ cho nhau, tỏng đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời, khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng

3.2 Vai trò của ngân hàng thương mại

* NHTM góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của DN cho hoạt động đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh:

Trong nền kinh tế thị trường, để mở rộng được qui mô sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn lớn để đổi mới thiết bị và công nghệ lạc hậu,

áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại Trong điều kiện đó, ngân hàng thương mại một mặt đáp ứng đầy đủ và nhu cầu vốn thiếu hụt, cung cấp dịch vụ thanh toán

và các dịch vụ ngân hàng khác nhau nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh

Mặt khác, thông qua cung ứng vốn tín dụng và các dịch vụ ngân hàng nhanh chóng, thuận tiện đã thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hóa, luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí và từ đó nâng cao hiệu quả sản suất kinh doanh cho từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế

* Ngân hàng thương mại góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực tài chính giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế quốc dân và tạo điều kiện cân đối nền kinh tế:

Thông qua các nghiệp vụ của mình, NHTM một mặt góp phần hình thành, duy trì và phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu ngành và khu vực nhất định Mặt khác, các NHTM góp phần điều chỉnh ngành, khu vực khi xuất hiện sự phát triển mất cân đối hoặc khi cần có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thị trường

Trang 15

Khi muốn phát triển hay hạn chế phát triển một ngành hay một lĩnh vực nhất định nào đó, có thể thông qua hoạt động cho vay của ngân hàng để điều tiết

* Ngân hàng thương mại tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền

tệ của NHTW :

Để thực thi chính sách tiền tệ, Ngân hàng truong ương phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở, Chính các ngân hàng thương mại là “môi trường” để ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ này

Nói cụ thể hơn, ngân hàng thương mại còn là tổ chức phải chấp hành những quy định trong nội dung cả các công cụ chính sách tiền tệ và đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế

Thông qua các ngân hàng thương mại, ngân hàng trung ương phát hành thêm hoặc thu hồi bớt tiền từ lưu thông về cũng thông qua ngân hàng thương mại,

sự biến động lãi suất, tỷ giá hối đoái… của nền kinh tế được phản hồi về ngân hàng trung ương để ngân hàng trung ương có giải pháp điều tiết thích hợp theo yêu cầu của chính sách tiền tệ

Trang 16

Phần II: Các hoạt động cơ bản của ngân hàng cổ phần thương mại

Vietcombank

2.1.Hoạt động tạo lập vốn

Ban lãnh đạo của VCB đã quán triệt trong toàn hệ thống coi công tác huy động là một trong những nhiệm vụ tọng tâm hàng dầu và xuyên suốt trong năm Kết quả huy động vốn năm 2009: Tổng huy động vốn từ 2 thị trường I và II năm

2009 tăng 17,5 % Huy động từ nền kinh tế ( thị trường I) đạt 169,457 tỷ quy đồng, tăng 5,9 % so với 2008 Huy động VND từ KH tăng 18,8 % so với năm tước, huy động tiền gửi từ dân cư tăng trưởng khá tốt (+34,5 %) Bảng số liệu:

- Chứng khoán kinh doanh

- Chứng khoán đầu tư

- Cho vay khách hàng

- Góp vôn đầu tư dài hạn

255.496

29.660 47.463 6 33.061 141.621 3.741

222.090

34.044 30.377 404 41.905 121.793 3152

15

-12.9 56.2 -98.5 -21.1 25.6 18.7

Ngân hàng Ngoại thương Việt thương cho biết, tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế trong năm 2011 tăng trưởng 17% so với năm 2010, đạt gần 242.300 tỷ đồng Trong đó huy động vốn từ dân cư của Vietcombank tăng mạnh ở mức trên 23% so với năm trước, đạt gần 122.000 tỷ đồng

2.1.1 Vốn chủ sở hữu (vốn điều lệ, vốn bổ sung trong qua trình hoạt động, các quỹ của các ngân hàng thương mại)

* Về vốn điều lệ và vốn bổ sung trong quá trình hoạt động:

1/4/1963, Ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) được thành lập với vốn điều lệ hơn 3.955 tỷ đồng Trải qua thời gian dài hoạt động được cổ phần hóa từ 2/6/2008 thì vốn điều lệ của VCB đã không ngừng tăng lên Cụ thể:

Trang 17

Theo báo cáo đã được kiểm toán theo tiêu chuẩn của Việt Nam (VAS), tại thời điểm 31/12/2006, vốn chủ sở hữu của Vietcombank đạt 11.127 tỷ đồng, trong

đó vốn điều lệ đạt 4.356 tỷ đồng và vốn Nhà nước tại ngân hàng này được xác định 10.978 tỷ đồng Đến cuối 2006, tổng tài sản của Vietcombank đạt 171.862 tỷ đồng Cũng trong năm này, về cơ cấu huy động vốn, hiện Vietcombank có tổng tiền gửi đạt 102.000 tỷ đồng, tiền vay đạt 5.520 tỷ đồng và phát hành giấy tờ có tổng giá trị 2.139 tỷ đồng Ngân hàng này đang chiếm 18,2% thị phần huy động vốn toàn ngành

Ngày 26/9/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1289/QĐ-TTg phê duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Cũng theo Quyết định này, cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại NHTMCPNT Việt Nam là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước Vốn điều lệ của Ngân hàng là 15 nghìn tỷ đồng Việt Nam

Theo Giấy phép số 138/GP-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định cấp ngày 23/5/2008 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VietcomBank) chính thức chuyển sang hoạt động theo cơ chế và mô hình của một ngân hàng thương mại cổ phần với vốn điều lệ là 12.100.860.260.000 đồng Tổng tài sản của VCB tính đến ngày 31-12-2008 là 221.950 tỷ đồng

Ngày 23/11/2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có công văn số 9096/NHNN-TTGSNH thông báo ý kiến của Ngân hàng Nhà nước về việc thay đổi mức vốn điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Theo đó, Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc Vietcombank tăng vốn điều lệ từ 13.223.714.520.000 đồng lên 17.587.540.310.000 đồng theo phương

án tăng vốn điều lệ đã được Đại hội đồng cổ đông Vietcombank thông qua ngày 9/11/2010

Tính đến hết 31/12/2011, tổng tài sản của Vietcombank đạt hơn 369.200 tỷ đồng, tăng 20,3% và vốn chủ sở hữu đạt gần 29.200 tỷ đồng

Ngày 22/3/2012, Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định về việc sửa đổi giấy

Trang 18

nước đã ký quyết định chấp thuận việc sửa đổi mức vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Ngoại thương (Vietcombank) lên 23.174.170.760.000 đồng (trên 1 tỷ USD).

Mặt khác để tăng cường sức cạnh tranh và có được nhiều vốn, thì Vietcombank và Ngân hàng Nhật – Mizuho đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược và mua - bán cổ phần Theo đó, Mizuho sẽ đăng ký mua 347,6 triệu cổ phiếu phổ thông, do Vietcombank phát hành mới với tổng giá trị tương đương 567,3 triệu USD Số tiền sẽ được thanh toán trong quý I/2012 và giúp nhà băng này có thêm khoảng 11.800 tỷ đồng để tăng vốn Vốn điều lệ hiện tại của Vietcombank là 24.623 tỷ đồng Sau khi mua cổ phiếu và thực hiện pha loãng, Mizuho sẽ có số cổ phần tương đương 15% vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Nhà băng này cũng sẽ là đối tác chiến lược duy nhất của Vietcombank và được cử một đại diện tham gia vào hội đồng quản trị Một chi tiết đáng chú ý trong thương vụ này là mức giá 34.000 đồng một cổ phần mà 2 bên thỏa thuận cao hơn khá nhiều

so với giá đóng cửa phiên 30/9 của cổ phiếu VCB tại Sở Giao dịch chứng khoán

TP HCM (27.300 đồng một cổ phiếu) Tuy nhiên, lượng mua (15% vốn điều lệ) lại thấp hơn so với con số tối đa 20% mà Đại hội cổ đông Vietcombank phê duyệt hồi tháng 4 năm nay

* Về các quỹ của Ngân hàng thương mại:

Từ 12/1/2006, Vietcombank đã chính thức khai trương Công ty Liên doanh quản lý Quỹ đầu tư chứng hoán Vietcombank (VBCF) và Quỹ thành viên Vietcombank 1 (VPF1) Vietcombank cho biết, ngay sau khi được cấp phép thành lập công ty quản lý quỹ (ngày 2/12/05), VCBF cho ra mắt Quỹ thành viên VPF1 Đây là một Quỹ thành viên dạng đóng có quy mô 200 tỷ đồng, tương đương với 12.5 triệu USD Sau VPF1, VCBF dự kiến sẽ tiếp tục huy động vốn từ các nhà đầu

tư nhằm lập các quỹ khác tại Việt Nam, cũng như tại nước ngoài dưới dạng quỹ thành viên cũng như quỹ công chúng (mutual fund) Trong đó, Quỹ VPF1 vì là quỹ thành viên nên sẽ không niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Các quỹ tiếp theo

có thể là quỹ công chúng, quỹ nước ngoài, và có thể được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán nước ngoài VCBF dự định sẽ đầu tư vào các công ty có lịch sử kinh doanh tốt, có tiềm năng phát triển, được cổ

Trang 19

phần hoá hoặc có kế hoạch phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn hoặc có kế hoạch niêm yết trên thị trường trong nước và ngoài nước VCBF dự kiến những ngành nghề lĩnh vực đầu tư trọng điểm của các Quỹ là Dầu khí, Ngân hàng và Bảo hiểm, Công nghệ thông tin và Viễn thông …

cả các điểm giao dịch của Vietcombank trên toàn quốc Với số dư nhất định trên sổ tiết kiệm, khách hàng có thể yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế Vietcombank – Visa, Vietcombank – MasterCard và Vietcombank – American Express để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam và nước ngoài với thời hạn trả tiền sau không tính

Trang 20

lãi từ 15 đến 45 ngày Khách hàng cũng có thể sử dụng sổ tiết kiệm để xác nhận số

dư nhằm mục đích chứng minh khả năng tài chính khi đi du lịch, du học, chữa bệnh… ở nước ngoài Số tiền tối thiểu cho mỗi lần gửi tiền là: đối với VNĐ là 100

000 VNĐ, còn đối với ngoại tệ là 10 USD hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương

Để có thể huy động nhiều vốn hơn từ các khách hàng thì Vietcombank đã không ngừng triển khai các chương trình khuyến mại như là: Chương trình khuyến mãi chào mừng ngày 30/4 và 1/5/2011; Tiền gửi trực tuyến (từ 5/4/2012); Chương trình khuyến mại “Quà tặng kim cương” thời gian triển khai từ 26/3/2012- 23/6/2012, với nhiều hình thức tiết kiệm có nhiều ưu đãi cộng giải thưởng hấp dẫn, đảm bảo thu hút được lượng lớn nguồn vốn từ những người gửi tiết kiệm…

2.1.3 Vốn đi vay

2.1.3.1 Phát hành cổ phiếu

Khi VCB cổ phần hóa thì hình thức cổ phần hóa của Vietcombank giữ nguyên vốn nhà nước hiện có, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn theo nguyên tắc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (NHTMCPNT) qua nhiều giai đoạn với tỷ lệ vốn Nhà nước giảm dần nhưng không thấp hơn 51/% vốn điều lệ Cơ cấu cổ phần phát hành của NHTMCPNT chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn 1, tổng khối lượng cổ phần phát hành là 30% vốn điều lệ, trong đó cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tối đa không quá 20% Giai đoạn 2, phát hành và niêm yết quốc tế không vượt quá 15% vốn điều lệ Với tôn chỉ Bảo vệ lợi ích và tối đa hóa lựa chọn cho Khách hàng, Vietcombank và công ty chứng khoán của mình VCBS với đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các ngành hàng, sẵn sàng cung cấp các dịch vụ trong quá trình phát hành trái phiếu doanh nghiệp:

- Tư vấn phát hành: Tư vấn cho Doanh nghiệp Sản phẩm phát hành phù hợp (số lượng, mức lãi suất trái phiếu, kỳ hạn trái phiếu, thời điểm phát hành…)

và tư vấn xây dựng phương án phát hành

Trang 21

- Bảo lãnh phát hành: Là việc cam kết bao tiêu một phần hay toàn bộ lượng trái phiếu do Doanh nghiệp phát hành trong trường hợp lượng trái phiếu không bán được hết ra thị trường.

- Bảo lãnh thanh toán: Để tăng tính hấp dẫn của trái phiếu đối với thị trường, Vietcombank xem xét bảo lãnh cho khả năng hoàn trả nợ trái phiếu của Khách hàng

Đồng thời việc thành lập Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương VN theo Quyết định số 27/QĐ-HĐQT ngày 07/01/2002 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS) , có thể giúp VCB huy động được lượng vốn lớn thông qua phát hành trái phiếu VCBS tự hào là một trong những công ty đầu tiên tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam và đã tạo dựng được thương hiệu và uy tín là một trong những công ty dẫn đầu trên thị trường trong nhiều năm VCBS được phép thực hiện tất cả các nghiệp vụ chứng khoán và kinh doanh chứng khoán, bao gồm:

- Môi giới Chứng khoán

- Tư vấn đầu tư Chứng khoán

Bên cạnh phương thức huy động vốn từ ngân hàng thương mại và phát hành

cổ phiếu, việc phát hành trái phiếu để huy động vốn được xem là một trong những công cụ tài chính hữu ích đối với các Doanh nghiệp hiện nay

Trong tháng 3/2012, VCB vừa công bố tờ trình Đại hội cổ đông về việc phát hành trái phiếu quốc tế Việc gia tăng nguồn vốn ngoại tệ trung và dài hạn thông qua phát hành trái phiếu quốc tế giúp cân đối nguồn vốn cho các khoản tín dụng ngoại tệ trung và dài hạn đã cho vay cũng như các cam kết giải ngân tín dụng trung dài hạn ngoại tệ mà VCB đã ký kết với khách hàng Phát hành trái phiếu quốc tế

Trang 22

cũng góp phần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn ngoại tệ dài hạn bên cạnh việc vay vốn từ các tổ chức, ngân hàng quốc tế, phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước Qua đó, nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của VCB Cùng với đó phát hành TP Quốc tế cũng góp phần đa dạng các hình thức huy động vốn ngoại tệ dài hạn bên cạnh việc vay vốn từ các tổ chức, ngân hàng quốc

tế HĐQT đề nghị phát hành trái phiếu quốc tế, cụ thể:

- Khối lượng phát hành tối đa là 1 tỷ USD

- Kỳ hạn: tối đa 10 năm

- Ngày phát hành dự kiến trong năm 2012 hoặc thời điểm phù hợp

- Lãi suất: phù hợp với điều kiện thị trường tại thời điểm phát hành

2.1.3.3 Vay vốn thông qua một số tổ chức tài chính khác

* Công ty bảo hiểm:

Ngày 30/01/2007, tại Hà Nội, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (Sea Bank) đã cùng ký hợp đồng với đối tác Cardif (thuộc tập đoàn tài chính quốc tế BNP Paribas) thành lập Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Vietcombank – Cardif (Tên tiếng Anh: VCB Cardif Life Insurance Limited Company) Vốn điều lệ của công ty là 140 tỷ đồng Việt Nam với sự đóng góp theo tỷ lệ của 3 cổ đông sáng lập bao gồm: Vietcombank (45%); Cardif (43%) và SeaBank (12%) Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ VCB Cardif hoạt động trên các lĩnh vực: Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ; Kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ; Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất, Giám định tổn thất; Quản lý quỹ và đầu tư vốn; Lĩnh vực khác liên quan đến bảo hiểm nhân thọ được pháp luật cho phép

* Công ty Tài chính:

Năm 1978, VCB thành lập Công ty Tài chính ở Hồng Kông – Vinafico Hong Kong

2.1.4 Vốn khác

Ngày đăng: 09/11/2015, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w