1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam và những biện pháp hạn chế rủi ro

53 755 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rủi Ro Trong Đầu Tư Chứng Khoán Đối Với Nhà Đầu Tư Cá Nhân Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Và Những Biện Pháp Hạn Chế Rủi Ro
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chứng Khoán
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 588,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam và những biện pháp hạn chế rủi ro

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thị trường chứng khoán đầu tiên trên thế giới hình thành vào thế kỷ 15tại một thành phố là trung tâm buôn bán ở phương Tây Sau đó thị trườngchứng khoán lan rộng sang các nước phát triển, nổi bật là thị trường chứngkhoán NewYork, thị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản,… Chođến nay thị trường chứng khoán thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn thăngtrầm Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán xuất hiện năm 2000, phiên giaodịch đầu tiên tại Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM So với cácnước phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam còn rất non trẻ, bởi vậy trênchằng đường phát triển của nó cũng có nhiều biến động Việc gia nhập vào thịtrường chứng khoán Việt Nam khá đơn giản Nên sau 8 năm hoạt động, sốlượng các nhà đầu tư vào thị trường tăng lên khá nhanh Một chủ thể rất quantrọng trên thị trường đó là các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ Nhỏ lẻ là xét trênmức vốn của nhà đầu tư nhưng xét về tổng số thì tổng lượng vốn của họkhông nhỏ chút nào, tới 70% tổng số tài khoản đầu tư trên thị trường chứngkhoán là của nhà đầu tư cá nhân Do áp đảo về số lượng và lượng vốn đầu tưtrên thị trường nên các nhà đầu tư cá nhân là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến

sự lên xuống, biến động hay suy thoái của thị trường chứng khoán Do tínhchất đặc thù của thị trường chứng khoán, chứa đựng trong nó rất nhiều rủi ro

mà các nhà đầu tư có thể gặp phải, đặc biệt thị trường chứng khoán Việt Nam

là thị trường còn khá non trẻ bởi vậy không thể tránh khỏi nảy sinh những rủi

ro ảnh hưởng đến các nhà đầu tư cá nhân nói riêng và thị trường chứng khoánViệt Nam nói chung

Yếu tố rủi ro là yếu tố không thể tránh khỏi trong hoạt động đầu tư Nóảnh hưởng rất lớn đến những lợi ích của nhà đầu tư Đó là lý do tại sao chúng

ta cần phải tìm hiểu các loại rủi ro, bản chất và đặc điểm của mỗi loại để cóthể xác định được mức độ rủi ro của công cụ mà chúng ta muốn đầu tư, tìm ra

Trang 2

các phương pháp dự báo rủi ro và những biện pháp để kiểm soát, hạn chế rủi

ro

Với đề tài: “Rủi ro trong đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam và những biện pháp hạn chế rủi ro” Tôi muốn chỉ ra các loại rủi ro ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán

Việt Nam nói chung và các nhà đầu tư cá nhân nói riêng Đưa ra các phươngpháp phân tích rủi ro, các phương pháp dự báo rủi ro từ đó vạch ra các biệnpháp để hạn chế rủi ro hiện tại và kiểm soát rủi ro có thể gặp phải trong tươnglai Việc nghiên cứu về rủi ro giúp các nhà đầu tư cá nhân có được nhữngcảnh báo nhất định trong hoạt động đầu tư của mình, tránh được những rủi ro

có thể kiểm soát được và thích ứng kịp thời với những rủi ro không kiểm soátđược Từ đó đưa ra được những quyết định đúng đắn, hợp lý cho việc đầu tưcủa mình

Bài viết được tổng hợp từ các tài liệu trong nước và các ý kiến của cácchuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán, bởi vậy bài viết chỉ mang tính chấttham khảo Trong quá trình nghiên cứu và trình bày không tránh khỏi nhữngthiếu sót về nội dung và hình thức, rất mong được bạn đọc góp ý kiến

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

I CHỨNG KHOÁN VÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1 CHỨNG KHOÁN

1.1 Khái niệm chứng khoán

Chứng khoán là những chứng từ có giá được mua bán, trao đổi trên thị thườngchứng khoán Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu

tư, một số loại khác như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đổng tương lai, hợpđồng quyền lựa chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư

a Cổ phiếu

Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏbằng nhau gọi là cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông đượccấp giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phầnmới được phát hành cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thưchứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổđông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu Thông thường hiện nay cáccông ty cổ phần thường phát hành 2 dạng cổ phiếu: cổ phiếu thường và cổphiếu ưu đãi

- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệmđối với công ty như: được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh, được quyềnbầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty, và phải chịu tráchnhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình

- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổphần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chếnhư: lợi tức cố định, không có quyền bầu cử, ứng cử

b Trái phiếu

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán ( người cho vay)

Trang 4

một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, vàphải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.

1.2 Các công cụ phái sinh

Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ

đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tánrủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận

a Quyền lựa chọn (option)

Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu làquyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất địnhhàng hóa với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhất định Cáchàng hóa cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số tráiphiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai

b Quyền mua trước (right)

Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉvài tuần Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách pháthành thêm các cổ phiếu thường Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếumới phát hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định.Loại quyền này thường được phát hành theo từng đợt, mỗi cổ phiếu đang lưuhành được kèm theo một quyền Số quyền cần để mua một cổ phiếu mới đượcquy định tùy theo từng đợt phát hành mới Giá cổ phiếu ghi trên quyềnthường là thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu Giá của quyền tính bằngchênh lệch giữa giá thị trường hiện hành của cổ phần đang lưu hành và giámua cổ phần mới theo quyền, chia cho số lượng quyền cần có để mua một cổphần mới

c Chứng quyền (warrants)

Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một cổphiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định Quyền này đượcphát hành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốnkhuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu

Trang 5

đãi nhưng có những điều kiện kém thuận lợi Để chấp nhận những điều kiện

đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổphiếu thường

Khác với quyền mua trước, chứng quyền có thời hạn dài hơn, do công ty đãphát hành công cụ cơ sở phát hành đồng thời với công cụ cơ sở Khác vớiquyền lựa chọn, khi chứng quyền được thực hiện, nó tạo thành dòng tiền vàocho công ty và tăng thêm lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường Chứngquyền có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu hay cổ phiếu mà nó đikèm Các điều kiện của chứng quyền được ghi rõ trên tờ chứng chỉ: số cổphiếu được mua theo mỗi chứng quyền( thường là 1:1), giá thực hiện cho mỗi

cổ phiếu tại thời điểm chứng quyền được phát hành, giá này bao giờ cũng caohơn giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định, có thể đượctăng lên định kỳ, và thời hạn của quyền, đa số trường hợp là 5 đến 10 năm

d Hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận trong đó một người mua và một ngườibán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định, tạimột thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vàongày hôm nay Hàng hóa ở đây có thể là bất kỳ thức hàng hóa nào, từ nôngsản, các đồng tiền cho tới các chứng khoán

Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do haibên tự thỏa thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính cá nhân Giáhàng hóa đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hóa cóthể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợpđồng Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đã cam kết mộtmức giá thấp hơn ( bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường

e Hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được nhữngnhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thức tốthơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh Một giao dịch hợp đồng tương lai

Trang 6

nói chung được xử lý trên một sở giao dịch Điểm này cho phép giá cả đượchình thành hợp lý hơn, do các bên mua bán được cung cấp thong tin đầy đủ vàcông khai Trong các giao dịch hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giaodịch, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về đối tác giao dịch củamình, việc giao nhận một khối lượng hàng hóa cụ thể được ấn định thời hạntrước Trong hợp đồng kỳ hạn các khoản lỗ, lãi chỉ được trả khi hợp đồng hếthạn Với một hợp đồng tương lai, bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhậnhàng ngày.

2 ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

2.1 Khái niệm chung về đầu tư chứng khoán

Đầu tư chứng khoán là hình thức bỏ tiền ra để mua chứng khoán và thực hiệncác giao dịch trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời hoặc nắmquyền kiểm soát công ty mà mình đầu tư vào đó

2.2 Giao dịch chứng khoán

2.2.1 Mua bán chứng khoán thông qua thị trường phi tập trung

Đối với loại chứng khoán này có thể thực hiện theo 2 hình thức:

- Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành (công ty): nhà đầu tư phải đăng kýmua và nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán Hình thức nàyrất bất cập, nhất là về mặt địa lý Nếu mua chứng khoán của tổ chức pháthành chưa niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thì việc chuyểnnhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay gặp nhiều khókhăn vì không dễ tìm được người mua và nhà đầu tư cũng phải trực tiếp đến

tổ chức phát hành (hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho ngườimua

- Mua bán thông qua trung gian: tức là mua bán thông qua các nhà đại lýhoặc bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và cácNgân hàng thương mại

- Mua bán trực tiếp giữa 2 cá nhân với nhau: Các nhà đầu tư cá nhân tựgiao dịch với nhau và tự quyết định giá theo thỏa thuận

Trang 7

2.2.2 Mua bán chứng khoán thông qua thị trường tập trung

Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được

đăng ký để mua bán tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Khi mua bánchứng khoán niêm yết, phải tuân thủ theo một số nguyên tắc sau:

- Mọi giao dịch mua bán chứng khoán đều phải qua hệ thống tại Sở Giaodịch, Trung tâm Giao dịch chứng khoán theo phương thức khớp lệnh hoặcphương thức thoả thuận;

- Giao dịch chứng khoán thực hiện theo phương thức khớp lệnh trênnguyên tắc ưu tiên về giá và ưu tiên về thời gian;

- Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữangười đầu tư với công ty chứng khoán thành viên là thành viên của Trung tâmGiao dịch chứng khoán trên nguyên tắc thoả thuận về giá

* Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán:

Toàn bộ quy trình này được tiến hành theo 5 bước:

- Bước 1: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán

tại một công ty chứng khoán

- Bước 2: Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện của công ty tại

Trung tâm giao dịch chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của Trungtâm

- Bước 3: Trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo

kết quả giao dịch cho công ty chứng khoán

- Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư.

- Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền

(nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3ngày làm việc kể từ ngày mua bán nếu quy định về thời gian thực hiện thanhtoán bù trừ chứng khoán là T +3

Trang 8

2.3 Khái niệm rủi ro và phân loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán

2.3.1 Khái niệm rủi ro trong đầu tư chứng khoán

Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một vài tiến trìnhhay từ một vài sự kiện Có thể hiểu rủi ro là những điều không chắc chắntrong công việc mà chúng ta tiến hành và nó có thể đem lại kết quả khôngmong đợi

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được định nghĩa là sự bất ổn, sự biếnthiên có khả năng của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng

2.3.2 Phân loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán

Có rất nhiều loại rủi ro khi đầu tư chứng khoán, nhưng có thể gộp chung về 2loại là rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống

- Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các chứngkhoán Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm GDP,biến động lãi suất, tốc độ lạm phát thay đổi là những minh chứng cho rủi ro

hệ thống, những biến đổi này tác động đến sự dao động giá cả của các chứngkhoán trên thị trường

- Rủi ro phi hệ thống là rủi ro chỉ tác động đến một loại tài sản hoặc mộtnhóm tài sản, nghĩa là rủi ro này chỉ liên quan đến một loại chứng khoán cụthể nào đó Rủi ro phi hệ thống bao gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính,

II TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1 Khái niệm thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán,chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó

có thể là thị trường chứng khoán tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung

ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địađiểm vật chất

Trang 9

2 Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

Việc buôn bán cổ phiếu ở Việt Nam đã diễn ra sôi động kể từ sau khi cácdoanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, nhưng thị trường chứng khoán (TTCK)nước ta mới chính thức hoạt động từ năm 2000, kể từ khi ra đời Trung tâmgiao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28-7-2000 Khi đó mới

có một vài cổ phiếu được giao dịch với tổng số vốn 27 tỉ đồng và 6 công tychứng khoán thành viên Hơn 6 năm đầu, mức vốn hoá của thị trường mới chỉtăng lên 0,5 tỉ USD Vài năm gần đây mức vốn hóa của thị trường chứngkhoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm22,7% GDP) và đến cuối tháng 4- 2007, đạt 24,4 tỉ USD (chiếm 38% GDP),tăng hơn 1400 lần so với năm 2000, và nếu tính cả trái phiếu thì đạt mức 46%GDP

Số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng 704% so với năm 2000 Vốn đầu tưgián tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có

sự gia tăng đáng kể Tính đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đã đổ vàokhoảng 4 tỉ USD Theo dự tính, quy mô của thị trường còn tiếp tục được mởrộng do các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá sẽ tiếp tục niêm yết vàonăm 2007-2008 trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàngCông thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với số vốn lên tới hàng ngàn tỉđồng

Chỉ số VN-Index cũng đã chứng minh sự tăng trưởng nhanh chóng của thịtrường Nếu trong phiên giao dịch đầu tiên ngày 28-7- 2000, VN-Index ở mức

100 điểm thì tháng 3 - 2007, chỉ số này đã đạt ở mức kỷ lục trên 1.170 điểm

và sau một vài tháng giảm sút, hiện nay VN-Index đang dao động xung quanhngưỡng 1.000 điểm (đến giữa tháng 5-2007 đã lên 1.060 điểm), tăng hơn 10lần so với năm 2000 Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị

Trang 10

trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tàikhoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhàđầu tư nước ngoài Số lượng các nhà đầu tư có tổ chức cũng tăng lên đáng kể,hiện có 35 quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó 23 quỹ đầu tưnước ngoài và 12 quỹ đầu tư trong nước Ngoài ra, còn có gần 50 tổ chức đầu

tư theo hình thức uỷ thác qua công ty chứng khoán

Hệ thống các tổ chức trung gian trên TTCK đã hình thành và phát triển nhanhchóng Tính đến nay, trên thị trường có 55 công ty chứng khoán, tăng mạnhhàng năm, vốn điều lệ bình quân đạt 77 tỉ đồng/công ty Ngoài ra, còn có sựtham gia của 18 công ty quản lý quỹ, 41 tổ chức tham gia hoạt động lưu kýchứng khoán, 6 ngân hàng lưu ký

Sự ra đời của Luật Chứng khoán (có hiệu lực từ ngày 01-01-2007) đã tạokhung pháp lý cao cho TTCK phát triển góp phần thúc đẩy khả năng hội nhậpvào thị trường tài chính quốc tế của TTCK Việt Nam

Những vấn đề liên quan đến TTCK, trong đó những quy định về đăng ký, lưu

ký, công khai và minh bạch, giám sát và kiểm tra của các cơ quan chức năngquản lý hoạt động của TTCK từng bước được hoàn thiện Đáng chú ý làChính phủ đã chỉ đạo việc phối hợp giữa Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoánNhà nước và Ngân hàng Nhà nước trong việc tăng cường kiểm soát TTCK ởnước ta, do đó thị trường này vẫn đang ổn định và phát triển khá mạnh

3 Các loại thị trường chứng khoán đang tồn tại ở Việt Nam

a Căn cứ vào phương diện pháp lý của hình thức tổ chức thị trường

- Thị trường chứng khoán tập trung ( The Stock Exchange): Là thị trường

hoạt động theo các quy định của pháp luật, là nơi mua bán các loại chứngkhoán đã được đăng ký Thị trường chứng khoán tập trung có địa điểm và thờigian mua bán rõ rệt, giá cả được định theo thể thức đầu giá công khai, có sựkiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán Hình thái điển hìnhcủa thị trường chứng khoán là Sở giao dịch chứng khoán Tại Sở giao dịchchứng khoán các giao dịch được tập trung tại 1 địa điểm, các lệnh được

Trang 11

chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh hình thành nêngiá giao dịch.

- Thị trường phi tập trung (Over the counter market – OTC): Là thị trường

mua bán chứng khoán ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung, không

có sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán, không cóngày giờ hay thủ tục nhất định, giá được hình thành do sự thỏa thuận củangười mua và người bán Phương thức giao dịch có thể thông qua điện thoại,mạng internet, thông qua trung gian môi giới chứng khoán hoặc gặp mặt trựctiếp

b Căn cứ vào sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường

- Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.

Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hànhthông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành

- Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành

trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã pháthành

c Căn cứ vào phương thức giao dịch

- Thị trường giao ngay (Spot market): là thị trường thực hiện việc giao dịch

mua bán chứng khoán theo giá thỏa thuận của ngày giao dịch nhưng việcthanh toán và giao hoán sẽ diễn ra tiếp sau đó 2 ngày

- Thị trường tương lai (Future market): là thị trường mua bán chứng khoán

theo một hợp đồng định sẵn, giá cả được thỏa thuận trong ngày giao dịchnhưng việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất địnhtrong tương lai

d Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường

Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thịtrường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán

Trang 12

- Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán

các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi

- Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua

bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các tráiphiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ

- Thị trường các chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và mua đi

bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền chọn, chứng quyền, quyềnmua trước,…

4 Chức năng của thị trường chứng khoán Việt Nam

- Huy động vốn cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhànrỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần

mở rộng sản xuất xã hội Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ vàchính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mụcđích sử dụng và đầu tư phát triển kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xãhội

- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tưlành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thịtrường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu

tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thíchcủa mình

- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứngkhoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn.Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoánđối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốnđầu tư Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả thìtính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao

Trang 13

- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh mộtcách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động củadoanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môitrường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích

áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tếmột cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu

tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, ngược lại giá chứng khoán giảm sẽcho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, thị trường chứng khoánđược gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúpChính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trườngchứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ranguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chínhphủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trườngchứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triểm cân đối củanền kinh tế

5 Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)

UBCKNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chứng khoán và thịtrường chứng khoán

Trang 14

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK)

TTGDCK có chức năng tổ chức, quản lý, điều hành và giám sát hệ thống giaodịch và các hoạt động mua, bán chứng khoán trên thị trường

Công ty chứng khoán (CTCK)

CTCK là tổ chức tài chính trung gian thực hiện một hoặc một số nghiệp vụkinh doanh chứng khoán bao gồm: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành,lưu ký chứng khoán

Các tổ chức phát hành chứng khoán

Các tổ chức được phép phát hành chứng khoán ở Việt Nam gồm: Chính phủ,chính quyền địa phương, các công ty cổ phần, các quỹ đầu tư chứng khoán vàcông ty quản lý quỹ

Nhà đầu tư chứng khoán: là những người thực sự mua và bán chứngkhoán trên thị trường chứng khoán Nhà đầu tư có thể chia thành 2 loại: nhàđầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức

- Nhà đầu tư cá nhân: Gồm nhà đầu tư cá nhân là người Việt Nam và nhàđầu tư cá nhân là người nước ngoài

- Các tổ chức đầu tư có thể là các công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, công

ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán trong vàngoài nước

Các tổ chức có liên quan khác

- Các ngân hàng thương mại;

- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán;

- Các tổ chức tài trợ chứng khoán

- Các tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

6 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:

Trang 15

- Nguyên tắc cạnh tranh: giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung

cầu về chứng khoán và các đối tượng tham gia trên thị trường được cạnhtranh bình đẳng với nhau

- Nguyên tắc công bằng: mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ

những quy định chung, được bình đẳng trong việc chia xẻ thông tin

- Nguyên tắc công khai: công khai về hoạt động của tổ chức phát hành,

giao dịch của các loại chứng khoán trên thị trường

- Nguyên tắc trung gian: mọi hoạt động mua bán chứng khoán đều phải

thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán được phéphoạt động trên thị trường

- Nguyên tắc tập trung: mọi giao dịch đều tập trung tại Trung tâm giao

dịch chứng khoán để đảm bảo việc hình thành giá cả trung thực, hợp lý

Trang 16

CHƯƠNG II: RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT

NAM

I NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1 Đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân

Với số lượng và lượng vốn đầu tư áp đảo so với các nhà đầu tư là tổ chức, cácnhà đầu tư cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán, họ cóthể làm thị trường phát triển rực rỡ, họ có thể khiến thị trường suy thoái trầmtrọng

Đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân được xét trên các khía cạnh sau:

TỔNG CỘNG

CÁ NHÂN

TỔ CHỨC

TỔNG CỘNG

CÁ NHÂN

TỔ CHỨC

TỔNG CỘNG

Trang 18

tư là tổ chức nằm im, chỉ có nhà đầu tư cá nhân giao dịch.

- Kiến thức, trình độ, kinh nghiệm của nhà đầu tư cá nhân:

Có câu hỏi cho rằng: “trình độ của nhà đầu tư cá nhân Việt Nam đến đâu”?Thật khó để trả lời chính xác câu hỏi này bởi trên thị trường chứng khoánViệt Nam có nhiều nhóm nhà đầu tư cá nhân khác nhau và họ có những trìnhđộ,kiến thức và kinh nghiệm khác nhau Nếu xét về nghề nghiệp hay tầng lớptrong xã hội chúng ta có thể thấy sự đa dạng trong việc xuất thân của nhà đầu

tư cá nhân Việt Nam Từ những người có bằng cấp về chuyên ngành tàichính, chứng chỉ về chứng khoán, những người làm việc trong văn phòng củacác công ty, cán bộ công chức có điều kiện tiếp xúc với thị trường chứngkhoán, thì hiện nay những người ít tiếp xúc với thị trường chứng khoán nhưngười dân bình thường, những người làm việc đồng áng hay người bán hàngnước cũng đều có thể tham gia thị trường và thực tế đã tham gia giao dịch tạisàn giao dịch

Còn những nhà đầu tư cá nhân là người nước ngoài thì sao? Thường khi thamgia thị trường chứng khoán Việt Nam, hầu hết họ đều có kiến thức về chứngkhoán và tài chính, một số có thể nói là có kiến thức chuyên sâu về chứng

Trang 19

khoán, không chỉ vậy họ còn nói tiếng Việt tốt, am hiểu văn hóa Việt sâu,thích nghi với môi trường bản địa nhanh, có người đã từng viết sách về chứngkhoán Việt Nam

+, Giai đoạn 2000 – 2005:

Có thể tạm gọi là giai đoạn thành lập, thị trường giao dịch rất kém sôi động,lượng nhà đầu tư tham gia ít Những nhà đầu tư tham gia vào thời điểm đó đaphần là những người có kiến thức về tài chính Số tài khoản cá nhân được mởđến giai đoạn này chỉ khoảng hơn 20.000

Đến thời điểm hiện tại, đa số họ đã thành công và thường giữ những vị trí cao

ở các công ty chứng khoán hay các tổ chức tài chính, các cơ quan nhà nước cóảnh hưởng đến thị trường chứng khoán

Dưới đây là đánh giá về đối tượng này theo các tiêu chí đề cập trên Do cókinh nghiệm, kiến thức và quan hệ, họ cũng ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tốkiểu như giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, các báo cáo của các tổ chức

Trang 20

Có thể tạm gọi là giai đoạn khởi động của thị trường chứng khoán Việt Nam,thị trường giao dịch sôi động hơn rất nhiều so với giai đoạn trước Số lượngnhà đầu tư tham gia đông hơn Các công ty có cổ phiếu niêm yết tăng lên về

số lượng, quy mô, ngành nghề Chính sự sôi động trong giai đoạn này đã thuhút số lượng nhà đầu tư cá nhân tham gia đa dạng hơn Xét kỹ hơn về nhữngđối tượng tham gia vào giai đoạn này có thể thấy đối với những người học tàichính, hay liên quan đến tài chính, có hiểu biết về tài chính, độ tuổi trẻ hơn,kinh nghiệm ít hơn và tham gia đúng vào thời điểm thị trường tăng mạnh, nên

ít có thời gian trau dồi kiến thức, do thành công có phần nào đó may mắn nên

có tâm lý chủ quan tự mãn Ngoài ra còn có các đối tượng khác ít điều kiện đểhiểu biết về chứng khoán như công chức hành chính nghiệp vụ, người dân laođộng chân tay,…Hầu hết họ ít hiểu biết về chứng khoán, ít kinh nghiệm vàcác giao dịch mua bán của họ có tính "cờ bạc" hơn nhiều hơn là đầu tư thực

sự Xu hướng chung là thích "lướt sóng", mức độ "lướt sóng" tăng lên theo sự

tự tin Thuật ngữ “lướt sóng” là ngôn từ khá dân dã trên thị trường chứngkhoán, các nhà đầu tư cá nhân mua bán cổ phiếu với chu kỳ rất ngắn, tínhtheo ngày, theo tuần, thậm chí bằng các mẹo của mình mua bán nhỏ hơn giớihạn T+3

Tuy rằng những tiêu chí đánh giá chưa được chính xác và sự cho điểm phầnnào có sự cảm tính, nhưng hy vọng giúp người đọc có cái nhìn sâu hơn vềtrình độ nhà đầu tư cá nhân Việt Nam

Đây có thể giải thích cho sự biến động bất thường của thị trường chứng khoánViệt Nam xét chung cả VN-Index hay của một số cổ phiếu riêng biệt

Trang 21

STT Tiêu chí đánh giá Điểm

tư cá nhân rất lớn, minh chứng rằng: trong giai đoạn cuối năm 2007, đầu năm

2008, áp lực trả nợ đã buộc nhiều nhà đầu tư cá nhân phải bán tháo, góp phầndẫn thị trường xuống dốc nghiêm trọng Tiếp nữa, khi đầu tư, nhà đầu tư cánhân thường dùng tất cả số tiền mình có để mua cổ phiếu và không có dựphòng rủi ro, thậm chí chỉ mua một cổ phiếu thay vì một danh mục đầu tư, vớimong muốn thu được khoản lợi nhuận càng nhiều càng tốt

Còn đối với nhà đầu tư cá nhân là người nước ngoài thì họ có tiềm lực tàichính tốt hơn, tuy số lượng ít nhưng tính tổng giá trị danh mục đầu tư thì đây

là một khoản tiền không nhỏ chút nào Tính đến tháng 4/2007, nhà đầu tưnước ngoài vẫn mạnh nhất trên thị trường niêm yết, trong đó giá trị đầu tư vào

Trang 22

cổ phiếu của các công ty niêm yết chiếm đến 68% trong tổng giá trị đầu tưcủa nhà đầu tư nước ngoài; đầu tư vào trái phiếu niêm yết chiếm 25%; đầu tưvào trái phiếu không niêm yết chỉ chiếm 6% và đầu tư vào cổ phiếu khôngniêm yết chỉ vẻn vẹn có 1% Hiện có khoảng 5.568 tài khoản giao dịch nhànhà đầu tư nước ngoài (5.353 tài khoản cá nhân và 215 tài khoản tổ chức) vàhiện có khoảng 260 quỹ nhà đầu tư nước ngoàiđầu tư vào thị trường chứngkhoán Việt Nam với tổng giá trị danh mục đầu tư ước tính khoảng 5 tỷ USD.

- Hành vi phổ biến:

Do thiếu kiến thức, kinh nghiệm và tiềm lực tài chính yếu kém dẫn đến hành

vi phổ biến là đầu tư theo phong trào của nhà đầu tư cá nhân Việt Nam Họmua bán cổ phiếu dựa trên cảm tính và cảm hứng, ảnh hưởng nhiều bởi tinđồn, khi có thông tin xấu về cổ phiếu mình đang nắm giữ hoặc do áp lực phảitrả nợ, hay một lý do nào đó về nhu cầu vốn họ sẵn sàng bán tháo Hầu hết có

xu hướng đầu tư mua bán ngắn hạn nhiều hơn, các chu kỳ giao dịch có thểtheo tuần, theo ngày, thậm chí mua bán nhỏ hơn giới hạn T+3

Và chính những nhà đầu tư cá nhân thiếu kinh nghiệm sẽ là người gánh chịunhiều rủi ro nhất Cách thức mua bán chứng khoán của họ mang đến thất bạicho họ đó là: Mua lúc giá cao và bán lúc giá thấp với hy vọng mua nhanh vìgiá sẽ tiếp tục lên để kiếm lời hoặc bán ngay vì giá sẽ còn giảm nữa Mặtkhác, khả năng phân tích tình hình tài chính, hoạt động của DN của nhóm nhàđầu tư này hạn chế nên việc chọn lựa mua cổ phiếu cũng không chính xác.Một ví dụ điển hình là giao dịch của cổ phiếu BBT trong thời gian tăngtrưởng nóng tháng 4/2006 rất lớn và giá CP này được đẩy từ mức 11.000đ lêntrên 22.000đ chỉ trong vài tuần Chỉ số giá trên thu nhập (P/E) của BBT lêntới trên 100 lần, tức là giá giao dịch hiện tại cao gấp 100 lần mức lợi nhuận

mà một cổ phiếu BBT đem lại cho nhà đầu tư Sau hơn 3 tháng thị trường đixuống, giá BBT thấp nhất chỉ còn 12.500đ/CP

Còn đối với nhà đầu tư cá nhân là người nước ngoài thì họ lại có cách đầu tưkhác với nhà đầu tư cá nhân Việt Nam Họ dựa vào kiến thức của mình để

Trang 23

phân tích, đánh giá thị trường và không đầu tư theo phong trào, họ có chiếnlược đầu tư dài hạn khi đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam vàkhông ít nhà đầu tư cá nhân nước ngoài đã thành công.

2 Chính sách đối với nhà đầu tư cá nhân

- Theo Quyết định số 39/2000/QĐ-TTg ngày 27/3/2000 của Thủ tướngChính phủ quy định tạm thời về ưu đãi thuế đối với hoạt động kinh doanh CK

và Thông tư số 74/2000/TT BTC ngày 19/7/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫnthi hành Quyết định 39 nêu trên Nhà đầu tư cá nhân (trong nước và nướcngoài) được miễn thuế thu nhập với người có thu nhập cao đối với khoản thunhập từ cổ tức, lãi trái phiếu và chênh lệch mua bán chứng khoán Thuế suấtchuyển lợi nhuận ra nước ngoài đối với khoản thu nhập từ đầu tư chứngkhoán của nhà đầu tư nước ngoài là 5%

Nhưng theobản dự thảo mới nhất ngày 29/8/2008 của Thông tư hướng dẫn thihành Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định của Chính phủ quy định chitiết một số điều của luật trên Thu nhập từ góp vốn mua cổ phần, cổ phiếu, tínphiếu, trái phiếu (trừ trái phiếu Chính phủ), cổ phiếu thưởng đều phải nộpthuế Thu nhập chuyển nhượng chứng khoán phải chịu thuế không phải chỉ có

ở thì hiện tại, mà cả tương lai, bao gồm chứng quyền, hợp đồng tương lai,quyền chọn mua, chọn bán Thậm chí nhận thừa kế từ chứng khoán cũng phảinộp thuế Như vậy kể từ 1/1/2009 các nhà đầu tư cá nhân phải nộp thuế thunhập cá nhân từ cổ tức, lãi chênh lệch mua bán chứng khoán Mức thuế tùythuộc văn bản quy định

- Theo quy định tại Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ ngày 15/4/2009: Kể từ ngày 1/6 tới, nhà đầu tư nước ngoài mua khi bánchứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được nắm giữ tối đa 49%tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại chúng

- Chỉ thị 03/2007 của Ngân hàng Nhà nước quy định các ngân hàngthương mại phải khống chế dư nợ vốn cho vay đầu tư chứng khoán dưới mức3% tổng dư nợ tín dụng Quy định này ảnh hưởng đến việc kinh doanh nói

Trang 24

chung của các nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư cá nhân nói riêng trên thịtrường chứng khoán Việt Nam, bởi việc khống chế việc vay vốn để đầu tư,kinh doanh chứng khoán khiến các cơ hội đầu tư, kinh doanh chứng khoáncủa nhà đầu tư cá nhân giảm.

II NHỮNG RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG TỚI NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN.

1 Rủi ro thị trường:

Là rủi ro dao động giá cả chứng khoán do những nhân tố ảnh hưởng tới thịtrường nói chung Thảm họa tự nhiên cũng có thể là một trong những nhân tốnày Thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu bị ảnh hưởng do giá cảtăng và giảm do sự qua lại của những giai đoạn giá cổ phần tăng và giảm

- Rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các nhà đầu tư đối với cáchiện tượng trên thị trường Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường lànguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhânnhỏ lẻ và họ sẽ cố gắng rút vốn Phản ứng dây chuyền này làm tăng số lượngbán, giá chứng khoán sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở, hay giá trị thựccủa nó Đây là việc các nhà đầu tư mua bán chứng khoán theo tâm lý đámđông, đầy cảm tính và cảm xúc, làm phá vỡ các quy luật vận động bìnhthường của thị trường, gây nên rủi ro về mặt hệ thống

- Rủi ro thị trường còn xuất hiện khi chịu ảnh hưởng của các chấn độngbên ngoài như các cuộc khủng hoảng tài chính của các nước trên thế giới

2 Rủi ro lãi xuất:

Rủi ro lãi suất ảnh hưởng tới các chứng khoán lợi tức cố định và dùng để chỉ

rủi ro xảy ra khi giá trị khoản đầu tư thay theo sự thay đổi mức lãi suất Ví dụnhư bạn đầu tư vào một chứng khoán có mức sinh lợi là 8% trong vòng banăm Nếu tỉ lệ lãi suất tăng lên 9% một năm, một chứng khoán tương tự cóthể được phát hành với mức lãi suất 9% một năm Do mức sinh lợi thấp hơn,nên giá trị chứng khoán của bạn cũng bị giảm theo

Trang 25

- Khi lãi xuất thị trường càng tăng thì xu hướng các nhà đầu tư bán cácchứng khoán để gửi vào tiết kiệm tăng, điều này làm cho giá của các chứngkhoán giảm

- Đối với việc đầu tư vào trái phiếu, khi lãi xuất thị trường tăng thì giá tráiphiếu giảm, khi lãi xuất thị trường giảm thì giá trái phiếu tăng Nguyên nhânchính là do lãi xuất của trái phiếu đã được ấn định từ trước nên khi lãi suất thịtrường giảm, trái phiếu cũ với mức lãi xuất cao hơn sẽ trở nên hấp dẫn hơn vàngược lại Trái phiếu có thời gian đáo hạn càng dài thì mức độ tăng hay giảmgiá càng cao

- Còn đối với việc đầu tư vào cổ phiếu Khi lãi suất tăng khiến vốn đi vayngân hàng của doanh nghiệp phải chịu mức lãi xuất cao hơn sẽ làm tăng chiphí đầu vào, có thể làm giảm lợi nhuận dẫn đến giá cổ phiếu giảm

3 Rủi ro lạm phát:

Lạm phát là hiện tượng cung tiền tệ kéo dài làm cho mức giá cả chung của

nền kinh tế tăng lên liên tục trong một thời gian nhất định

- Lạm phát gia tăng thì giá phải trả để sử dụng vốn của người khác sẽ tănglên để tương xứng với mức độ gia tăng của giá cả Chính vì vậy, lãi suất huyđộng của ngân hàng phải tăng lên dẫn tới lãi suất cho vay của các ngân hàngcũng tăng lên, nó tác động đến hành vi tiêu dùng của các cá nhân và chiếnlược kinh doanh của các doanh nghiệp, gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp,khiến cho thu nhập thấp hơn và cuối cùng là nó có khuynh hướng làm cho thịtrường chứng khoán trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư

- Lạm phát làm tăng chi phí đầu vào, tăng lãi xuất danh nghĩa do đó ảnhhưởng đên giá cổ phiếu Rủi ro về lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp do vậy ảnh hưởng đến kết quả lợi nhuận vàảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và khoản đầu tư vào cổ phiếu của doanhnghiệp, làm giảm giá trị cổ phiếu Rủi ro về lạm phát không chỉ ảnh hưởngđến doanh nghiệp và còn ảnh hưởng rất lớn đến nhà đầu tư cá nhân Lợi

Trang 26

nhuận của doanh nghiệp giảm dẫn đến cổ tức của nhà đầu tư giảm, giá trị cổphiếu mà nhà đầu tư đang nắm giữ cũng giảm

- Còn đối với nhà đầu tư cá nhân đầu tư vào trái phiếu, vấn đề lạm phát làmột rủi ro lớn, khi lạm phát càng cao, lãi xuất thực của trái phiếu (bằng lãixuất danh nghĩa của trái phiếu trừ đi lạm phát) càng giảm, do vậy làm mất giátrị của trái phiếu Ví dụ nếu một trái phiếu trả lãi 8%/năm, lạm phát bình quân

là 3%/năm thì lãi xuất thực của trái phiếu là 5%/năm

4 Rủi ro do tính thanh khoản thấp:

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi cung về tiền ít hơn cầu về tiền Tính thanhkhoản của chứng khoán là khái niệm thể hiện khả năng chuyển đổi dễ dàng từtiền sang chứng khoán và ngược lại

- Một giá trị của thị trường tập trung là tạo nên tính thanh khoản cao, hỗ trợnhà đầu tư giao dịch và chủ động trước các quyết định mua/bán Tuy nhiên,

có những phiên giao dịch, cột dư mua trống ngay từ đầu phiên, chủ động bángiá sàn nhưng vẫn khó thành công Đó là điểm lo sợ nhất đối với nhà đầu tư,bởi nắm chứng khoán trong tay, thấy lỗ qua từng ngày và khả năng thanhkhoản ngày một thu hẹp

- Tính thanh khoản thấp của chứng khoán mà nhà đầu tư đang sở hữu có thể

do chứng khoán đó khó và thậm chí không thể bán được, hoặc không đượcphép bán hay chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư

- Nhà đầu tư gặp rủi ro thanh khoản khi nhà đầu tư mua phải cổ phiếu của

những công ty, tổ chức có tình trạng tài chính thiếu lành mạnh và triển vọngcung cấp các yếu tố đầu vào, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra củacông ty, tổ chức đó không đảm bảo hiệu quả vững chắc Rủi ro đối với nhàđầu tư sẽ là tối đa khi công ty, tổ chức phát hành chứng khoán bị phá sản hoặcđơn giản là lặng lẽ “biến mất” trên thương trường sau những lần “tự đánhbóng” khá chuyên nghiệp, giật gân nhằm thu hút, dẫn dụ những nhà đầu tư. cótình trạng tài chính thiếu lành mạnh

Ngày đăng: 05/08/2013, 10:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG SỐ LIỆU TÀI KHOẢN (10/2007) - Rủi ro  trong đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam  và những biện pháp hạn chế rủi ro
10 2007) (Trang 16)
Bảng   1.   Hệ   số   bêta   của   30   công   ty   tham   gia   chỉ   số   DJIA   ngày 19.01.2005 - Rủi ro  trong đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam  và những biện pháp hạn chế rủi ro
ng 1. Hệ số bêta của 30 công ty tham gia chỉ số DJIA ngày 19.01.2005 (Trang 37)
Bảng 2. : Hệ số beta, rủi ro tổng thể và rủi ro phi hệ thống của các cổ - Rủi ro  trong đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam  và những biện pháp hạn chế rủi ro
Bảng 2. Hệ số beta, rủi ro tổng thể và rủi ro phi hệ thống của các cổ (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w