Trong dòng chảy văn xuôi lãng mạn trước Cách mạng, chúng ta đã được chứng kiến sự xuất hiện của nhiều nhà văn có tầm nhưng Nguyễn Tuân và cả Thạch Lam vẫn để lại cho người đọc những thế hệ qua nhiều cảm xúc. Hình ảnh một Nguyễn Tuân “chơi ngông”, sống tự do phóng túng, lúc nào cũng thèm khát những cảm giác mới lạ, “suốt đời đi tìm cái đẹp” và giữ trong mình những tâm tư sâu kín về lòng yêu nước sẽ luôn là hình ảnh đẹp trong lòng bạn đọc. Một Thạch Lam mang trong mình phong cách sáng tác bình dị, mộc mạc, bản thân là người giàu tình cảm sẽ được mọi người nhớ đến mãi với những trang văn như dòng suối ngọt lành mà khi đọc, độc giả cứ thấy mình như đang được uống để tận hưởng hương vị ngọt nồng của tình yêu thương. Vì thế mà Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ của hai ông dù đã trải qua bao khắc nghiệt, bao thử thách của thời gian nhưng vẫn sẽ được đón nhận trong vòng tay trân trọng và cảm mến của nhiều người.
Trang 1MỞ ĐẦU
Suốt mười thế kỉ, từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX, nền văn học thành văn ViệtNam hình thành và phát triển trong phong khí xã hội phong kiến trung đại và đạtđược những thành tựu vô cùng to lớn Bước sang đầu thế kỉ XX, tình hình xã hội
và môi trường văn hóa – tư tưởng có quá nhiều biến đổi quan trọng khác với trước,nền văn học dân tộc đã chuyển dần từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trùvăn học hiện đại Chỉ trong khoảng thời gian chưa đầy 50 năm, nền văn học viếtViệt Nam đã có những biến đổi rất sâu sắc, phát triển với nhịp độ mau lẹ và khẳngđịnh được cả mặt số lượng lẫn mặt chất lượng
Trong giai đoạn văn học từ 1900 - 1945, giới nghiên cứu trước giờ vẫn trungthành với cách phân kì ra hai chặng: 1900 – 1930 và 1930 – 1945, trong đó chặng
1900 – 1930 còn được chia nhỏ thành 1900 – 1920 và 1920 – 1930 Chặng từ 1900đến 1930 chứng kiến cơ cấu kinh tế, xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến đổitheo hướng tư bản chủ nghĩa ở các nước thuộc địa Nền văn học bước vào giaiđoạn giao thời Văn chương nhà nho vẫn còn như Nguyễn Khuyến, Tú Xươngnhưng sáng tác với tâm trạng của những kẻ lạc thời Văn học ở khu vực hợp pháp
có sự xuất hiện những áng văn xuôi chữ quốc ngữ ở cả miền Nam lẫn miền Bắc.Các cây bút tiêu biểu như Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học,… đặcbiệt trong số đó có “Tố Tâm” của Song An Hoàng Ngọc Phách (xuất bản năm1925) gây được tiếng vang trong công chúng dù bây giờ đã có nhiều nhìn nhận vềhạn chế của nó Thơ thì có Tản Đà, Trần Tuấn Khải,… và nhiều mảng khác nhưkịch, biên khảo, dịch thuật,… cũng có những thành tựu đáng kể Sang chặng từ
1930 đến 1945, có thể nói là chặng đường phát triển sôi nổi, phong phú và mau lẹcủa văn học dân tộc theo hướng hiện đại Cả hai khuynh hướng lãng mạn và hiệnthực đều có sự phát triển mạnh mẽ Văn xuôi thì có Tự lực văn đoàn, NguyễnCông Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng,…Thơ thì cóphong trào Thơ mới và còn cần điểm qua cả phê bình văn học nữa: Vũ Ngọc Phan,Hoài Thanh – Hoài Chân, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi,… kịch và vănhọc cách mạng (khu vực bất hợp pháp)
Trong các thể loại có mặt ở Việt Nam trong chặng đường 1930 – 1945 thìtruyện ngắn vẫn là nhiều với những truyện viết theo khuynh hướng lãng mạn vàkhuynh hướng hiện thực Trong đó, Nguyễn Tuân và Thạch Lam là hai gương mặtkhá quen thuộc Cả hai người đều đắm mình trong khuynh hướng lãng mạn, sángtác đậm chất lãng mạn nhưng lại có phong cách, cá tính hoàn toàn trái ngược nhau
Nguyễn Tuân với Chữ người tử tù và Thạch Lam với Hai đứa trẻ đã quá gần gũi
với bạn đọc nhưng nếu ta đặt chúng ở cạnh nhau, chú tâm quan sát và phân tích, talại có thể tìm ra ở chúng những điều khác biệt và hứa hẹn là rất thú vị
Trang 2CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ MỘT SỐ LÍ LUẬN
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù
1.1.1 Tác giả nguyễn Tuân
1.1.1.1 Về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) quê ở làng Nhân Mục, nay thuộc phường NhânChính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Ông trưởng thành trong một gia đình nhà Nhokhi Hán học đã tàn Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung thì bị đuổi học vìtham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam(1929) Sau đó ít lâu, ông lại bị đi tù vì “xê dịch” qua Thái Lan mà không có giấyphép Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầunhững năm ba mươi của thế kỉ XX, nhưng phải từ năm 1938, tên tuổi của ông mới
được nhiều người biết đến với các tác phẩm mang phong cách rất độc đáo như Một chuyến đi, Vang bóng một thời,…Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt vì giao du với
những người hoạt động chính trị Mãi đến khi Cách mạng tháng Tám thành công,ông mới lại xuất hiện và trở thành một cây bút tiêu biểu của nên văn học mới đồngthời nhiệt tình tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến Nguyễn Tuân đã từnggiữ chức Tổng Thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam
Bản thân Nguyễn Tuân là một trí thức rất giàu lòng yêu nước và tinh thần dântộc Lòng yêu nước ấy của ông có nét đặc biệt: gắn bó với những giá trị cổ truyềncủa dân tộc Ông yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ, yêu những kiệt tác văn chương củaNguyễn Du, Đoàn Thị Điểm,Tản Đà, yêu những phong cảnh đẹp của quê hươngđất nước, yêu những thú chơi tao nhã như uống trà, chơi hoa, yêu những món ăntruyền thống mang đậm khẩu vị Việt,…Con người này có ý thức cá nhân rấtcao,rất mực tài hoa uyên bác và đồng thời cũng rất quý trọng nghề nghiệp củamình Ngoài văn chương, Nguyễn Tuân còn am hiểu nhiều ngành văn hóa, nhiềumôn nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh,…
Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầutay Ông đã thử qua rất nhiều thể loại như thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực tràophúng Tuy nhiên, phải đến năm 1938 thì ông mới nhận ra sở trường của mình và
thành công xuất sắc với các tác phẩm Một chuyến đi (1941), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1943), Chiếc lư đồng mắc cua (1941),…Tác phẩm của
Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: “Chủnghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “Vang bóng một thời” và đời sống trụy lạc Từ sau Cáchmạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu củadân tộc nhưng Nguyễn Tuân luôn có ý thức phục vụ trên cương vị một nhà văn,đồng thời cũng muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình Ông đãđóng góp cho nền văn học viết nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợiquê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất Vềmặt thể loại, sau Cách mạng Nguyễn Tuân chủ yếu viết kí Các tác phẩm chính của
ông gồm: tập tùy bút Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Kí (1976), Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988).
1.1.1.2 Về quan điểm nghệ thuật
Là một người có phong cách nghệ thuật độc đáo vậy nên quan điểm nghệ thuậtcủa Nguyễn Tuân cũng đặc sắc, hơn người và rất rõ ràng Vì là người có ý thức cá
Trang 3nhân phát triển rất cao nên với ông, viết văn trước hết là để khẳng định cá tínhmạnh và độc đáo của mình Ông ưa sống lối sống tự do phóng túng nên đặc biệttrong những tùy bút của mình, thể loại cho phép phả cái tôi cảm xúc của ngườisáng tác thì ta sẽ thấy rõ từng tí một con người Nguyễn Tuân Ngay từ trước Cáchmạng, một Nguyễn Tuân được nhiều người yêu mến cũng bởi quan điểm minhbạch, rõ ràng này của ông – nghề văn đối lập với tính vụ lợi của nghề con buôn.Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí khổ hạnh
và để chứng minh cho quan niệm đó, ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửathế kỉ của mình
Nếu nhìn từ góc độ lịch sử cụ thể để mà xem xét quan điểm nghệ thuật củaNguyễn Tuân thì chúng ta có thể thấy ông vốn là môn đồ của thuyết “Nghệ thuật vịnghệ thuật”, “trọng cái đẹp hình thức” Nhà văn có quay lưng lại với hiện thựcnhưng đó là hiện thực đen tối của xã hội thực dân phong kiến chứ không phải làquay lưng với những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng như nhữngcảnh đẹp nên thơ của quê hương đất nước Nguyễn Tuân không đủ sức để chốngtrả chế độ thực dân phong kiến dù ông có một lòng yêu nước sâu sắc, có lòng tinvào đất nước mình Vì vậy bằng những gì mà ông yêu quý, những gì mà ông gửigắm vào văn chương, ta có thể thấy được tâm sự và nỗi lòng của ông
1.1.2 Tác phẩm Chữ người tử tù
1.1.2.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Truyện ngắn Chữ người tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng (tạp chí Tao đàn, 1938), sau được tuyển in trong tập Vang bóng một thời (một tập truyện
ngắn có giá trị như một kiệt tác viết về những thú chơi tao nhã, về những con
người tài hoa thời phong kiến) và đổi tên là Chữ người tử tù Tác phẩm ra đời khi
tên tuổi của Nguyễn Tuân bắt đầu được biết đến và ông bắt đầu định hình rõ được
sở trường, con đường đi của mình Đây là một trong những thiên truyện xuất sắcnhất của tập sách
1.1.2.2 Nội dung – chủ đề của tác phẩm
Nội dung truyện xoay quanh cuộc gặp gỡ kì lạ và éo le của hai nhân vật chính:Huấn Cao có tài viết chữ đẹp, có thiên lương và khí phách đã lãnh đạo nông dânkhởi nghĩa và bị bắt giam vào trại giam tỉnh Sơn với viên quản ngục, một kẻ say
mê chữ đẹp của ông Huấn Cao, quyết tâm tìm mọi cách để xin chữ của Huấn Cao.Truyện kết thúc bằng cảnh cho chữ - một cảnh tượng xưa nay chưa từng có Qua
đó, truyện như là một bài cảm hứng động viên con người cố gắng giữ vẻ đẹp thiênlương của mình dù trong bất kì hoàn cảnh nào
1.2 Vài nét về tác giả Thạch Lam và tác phẩm Hai đứa trẻ
1.2.1 Tác giả Thạch Lam
1.2.1.1 Về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Thạch Lam (1910 – 1942) sinh ra tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốcquan lại, thuở nhỏ chủ yếu sống ở quê ngoại, phố Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.Ông có tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh Năm 15 tuổi, vì cần tăng thêm tuổi
để đi học vượt cấp, ông làm lại giấy khai sinh, đổi tên thành Nguyễn Tường Lân vàgiữ tên này cho đến khi mất Bút hiệu chính của ông là Thạch Lam,ngoài ra ôngcòn có bút danh khác là Việt Sinh Ông nội Thạch Lam là cụ Nguyễn Tường Tiếp– làm quan triều Nguyễn (tri huyện Cẩm Giàng, Hải Dương) Cha của Thạch Lam
Trang 4là cụ Nguyễn Tường Nhu, một người tài giỏi, “văn võ song toàn”, tuy nhiên, ôngqua đời sớm khi Thạch Lam vừa lên bảy Cảnh nhà khó khăn, mẹ Thạch Lam phảitần tảo buôn bán để nuôi các con ăn học Các anh đi học ở Hà Nội, thỉnh thoảngmới về Thạch Lam và chị Thế ở nhà trông coi quầy hàng tạp hóa cho mẹ Sớmgần gũi với những người bình dân, Thạch Lam thấu hiểu cảnh ngộ cùng nỗi lòngcủa họ Tuổi thơ nơi phố huyện nghèo cùng với những thân phận nhỏ bé, quẩnquanh trong nhịp sống đơn điệu, tù túng hiện lên đầy ám ảnh trong các trang văncủa ông.
Năm 1932, sau khi ở Pháp về, Nhất Linh đứng ra thành lập nhómTự lực văn
đoàn, lấy tờ Phong hóa làm cơ quan ngôn luận Cũng từ đấy,Thạch Lam đi vào con
đường sáng tác văn chương và có một chân trong nhóm Ông viết bài cho các báo
Phong hóa, Ngày nay với nhiều thể loại, từ phóng sự, phỏng vấn tới truyện ngắn,
truyện dài,…Con người Thạch Lam rất đa cảm, điềm đạm, tinh tế, luôn nhạy cảmtrước những vấn đề của cuộc sống Ông trầm tĩnh, kín đáo, thiên về đời sống nộitâm Thạch Lam không thích sự ồn ào, thái quá, ít khi phản ứng một cách bồng bột,mạnh mẽ Ông luôn cẩn trọng, chân thành trong từng cử chỉ, từng hành động nhỏ
và dường như ông luôn đặt vào đấy rất nhiều suy nghĩ, cả sự nâng niu Theo Đỗ
Đức Thu, “Thạch Lam là người giàu tình cảm, chỉ vì trường đời tạo cho anh ta cái thái độ dè dặt, bắt anh sống cái đời con ốc trong một vỏ kín bưng” Ông mất vì
bệnh lao tại nhà riêng ở Yên Phụ, Hà Nội, để lại người vợ hiền cùng ba con nhỏ
Thạch Lam bắt đầu cầm bút năm 1931 Dù đã có nhiều truyện ngắn được inbáo nhưng tên tuổi của ông mới thực sự được khẳng định vào năm 1937, khi tập
truyện ngắn Gió đầu mùa ra mắt độc giả Từ đây,Thạch Lam viết khá đều và thử
bút trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình, tiểu luận, tùy bút,…Cuộc đời sáng tác của Thạch Lam thật ngắn ngủi Trong khoảng thời gian gầnmười năm cầm bút, không kể những bài báo chưa được gom lại để in thành sách,ông đã để lại những tác phẩm chính sau đây:
- Ba tập truyện ngắn (hầu hết trước khi được in thành sách đã in trên báo
Ngày Nay của Tự lực văn đoàn): Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938 ), Sợi tóc (1942).
- Tiểu thuyết Ngày mới (1939).
- Hai truyện viết cho thiếu nhi: Quyển sách (1940), Hạt ngọc (1940)
- Tập tiểu luận Theo giòng (1941).
- Tập kí Hà Nội băm sáu phố phường (1943).
1.2.1.2 Về quan điểm nghệ thuật
Là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn nhưng dường như Thạch Lam kháchoàn toàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo – những người vẫn thường viếtnhững cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly mang màu sắc cải lương,
là những phản kháng yếu ớt trước sự trói buộc của đạo đức phong kiến diễn ratrong các gia đình quyền quý Dù thế nào thì trước sau, Thạch Lam vẫn chỉ hướngngòi bút của ông đi gần với cuộc sống của những người bình thường, nghèo khổ
Khi viết lời giới thiệu cuốn Gió đầu mùa của mình, Thạch Lam có viết: “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự
Trang 5quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có,
để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” Có thể xem đó như là “Tuyên ngôn
nghệ thuật” của ông và thật sự thì trong suốt quãng thời gian cầm bút của mình, tuyngắn ngủi nhưng lại cho ta thấy sự nhất quán trong quan điểm nghệ thuật củaThạch Lam khi mà không một trang văn nào không thấy thấm đượm tinh thần đó
Nhà xuất bản văn học có viết lời của mình khi tiến hành in cuốn Gió đầu mùa, trong đó có đoạn:“Cái riêng, cái độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, chính là ở lòng nhân ái, và vẻ đẹp tâm hồn quán xuyến trong mọi tác phẩm của ông Nhân vật Thạch Lam, bất luận ở hoàn cảnh nào, vẫn ánh lên trong tâm hồn cái chất nhân ái Việt Nam Đọc truyện ngắn Thạch Lam rõ ràng ta thấy yêu con người, quý trọng con người hơn Và cũng từ đó ta thương cảm, nâng niu, chắt gạn từng chút tốt đẹp trong mỗi một con người” Chúng tôi thiết nghĩ chính những điểm
sáng ấy mới là điều cần thiết giúp tác phẩm của ông dù đã trải bao thử thách khắcnghiệt của thời gian thì vẫn vẹn nguyên giá trị của nó và vẫn được nhiều thế hệ bạnđọc tìm đến với một niềm say mê trân trọng
1.2.2 Truyện ngắn Hai đứa trẻ
1.2.2.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Nhà văn đã có những ngày tháng sống tại phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh HảiDương - quê ngoại của nhà văn những năm trước Vốn là người nhạy cảm nhà vănnhận thấy đồng cảm và thương xót với cuộc sống của người dân nên Thạch Lam đãsáng tác nên tác phẩm này
1.2.2.2 Nội dung – chủ đề của tác phẩm
Tác phẩm là câu chuyện về về cuộc sống và con người phố huyện nghèo đượchiện lên qua cái nhìn của hai chị em Liên và An Đó là cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt
và theo chu kì của người dân phố huyện Ở nơi đó, người đọc cũng thấy được ước
mơ, khát vọng đổi đời của những tâm hồn trẻ thơ Qua đó hiểu được tấm lòngthương cảm sâu xa của Thạch Lam đối với những kiếp sống tối tăm, mòn mỏi; thái
độ nâng niu, trân trọng của ông đối với những đứa trẻ nơi phố huyện và có trongmình khát vọng yêu thương, tin tưởng vào cuộc sống
1.3 Một số lý lí luận liên quan đến đề tài
1.3.1 Chủ nghĩa lãng mạn và khuynh hướng lãng mạn ở Việt Nam
1.3.1.1 Chủ nghĩa lãng mạn
Chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu tư tưởng và nghệ thuật của văn hóa châu
Âu, bào trùm mọi loại hình nghệ thuật và khoa học, có thời kì phồn thịnh vào cuốithế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện do nhiều nguyênnhân khác nhau nhưng cơ sở ý thức xã hội chủ yếu quyết định sự có mặt của nóvẫn là tác động từ cuộc Cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794) Nhiều tư tưởng củachủ nghĩa này trong thời gian tồn tại đã bị biến đổi ở mức đáng kể nhưng tâm thếchung thì những tính chất thế giới quan vẫn được phát triển trong một định hướngthẩm mĩ thống nhất
Trung tâm của phong trào lãng mạn ở châu Âu là nước Đức Nhiều nhà lãngmạn thấy được những ảo tưởng sản sinh ra từ Cách mạng Pháp Hiện thực đổ vỡcủa cuộc cách mạng khiến họ cảm thấy cuộc sống tư sản này thật tầm thường,dung tục Họ nhận ra rằng trong xã hội ấy không có chỗ đứng cho tâm hồn trong
Trang 6các mối quan hệ xã hội và họ không thể chấp nhận được điều đó Các nhà lãngmạn đau đớn, trải nghiệm sự đổ vỡ những ước vọng, những khát khao mà họ mongchờ cuộc đại Cách mạng sẽ mang đến và làm thay đổi cuộc đời họ Thực tại lịch sửkhông phục vụ lí trí, vậy nên dẫn đến những sự thất vọng, chán chường, bất tincũng là điều dễ hiểu Vì thế con người bất bình với trật tự xã hội, lưu luyến nhữngthứ đã qua, hoang mang trước tương lai mờ mịt và tan vỡ hi vọng Sụp đổ niềm tinvào thực tại, con người đi tìm niềm tin nơi một xã hội lí tưởng chân chính Những
cơ sở đó là tiền đề để xuất hiện chủ nghĩa lãng mạn với khuynh hướng chạy trốnthực tại, lấy lí tưởng đối lập với thực tại
Với chủ nghĩa lãng mạn thì nhân vật trung tâm là những con người thoát li vớithực tại, quay về với quá khứ hoặc cũng có những nhân vật chọn đi vào ảo mộng,thu mình trong cái Tôi nhỏ bé Về nguyên tắc xây dựng tính cách nhân vật thì chủnghĩa lãng mạn rất coi trọng vẻ riêng, cái đặc biệt, độc đáo của nhân vật Điều này
ta có thể dễ dàng nhận thấy khi so sánh với nguyên tắc này ở chủ nghĩa hiện thực,khi mà chủ nghĩa hiện thực chú trọng vẻ chung và riêng Vẻ riêng trong tính cáchcủa nhân vật thậm chí còn được tác giả đẩy đến mức cực đoan, mang tính phithường, ngoại lệ Ngoài chú ý vẻ riêng thì với chủ nghĩa này, nhân vật được xâydựng theo nguyên tắc chủ quan Tính cách nhân vật không có logic khách quan,nghĩa là đáng lẽ đời thực con người bình thường phải như thế này nhưng trong tácphẩm thuộc chủ nghĩa lãng mạn thì mọi thứ bị đảo lộn, không theo thông thườngnữa Tính cách đó phát triển hay chuyển biến là đều tuân theo ảo tưởng chủ quancủa nhà văn Nói cách khác, nhân vật chẳng qua là sự phân thân của tác giả, là “cái
Tôi thứ hai” của tác giả Điều này ta sẽ nhận thấy nếu nghiên cứu Chữ người tử tù
và Hai đứa trẻ, khi mà Huấn Cao trong Chữ người tử tù cũng có chất ngông,
không chịu khuất phục giống Nguyễn Tuân và cuộc sống ở nơi phố huyện nghèocủa chị em Liên ta cũng sẽ bắt gặp khi tìm hiểu về cuộc đời của Thạch Lam.Những ai nếu không rõ sẽ nghĩ đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên những làm gì cóngẫu nhiên ở đây, thực chất là tuân thủ nguyên tắc chủ quan của tác giả mà thôi Các nhà văn lãng mạn xem nghệ thuật như là lĩnh vực giải phóng các năng lực
đa dạng của cá nhân, như lĩnh vực mà các cá nhân tự thực hiện mình một cách tự
do và tự nguyện Quan điểm này cho ta thấy rõ rằng với chủ nghĩa lãng mạn, trướcnhất là đề cao cái Tôi cá nhân Con người ra sức bảo vệ tự do, chủ quyền và giá trị
tự thân của cá nhân Họ chú ý nhiều đến cái đơn nhất, không lặp lại ở con người,sùng bái cái cá nhân, đôi khi là đến mức cực đoan Bên cạnh đó, chủ nghĩa lãngmạn rất coi trọng thiên nhiên và thường kêu gọi trở về với thiên nhiên, bởi lẽ vớithiên nhiên, người ta coi như là nghỉ ngơi và tĩnh tâm; về với thiên nhiên, người taquên đi bộ mặt thực tại của xã hội, quên đi những phiền nhiễu của thế gian Điểmđáng lưu tâm nữa là chủ nghĩa lãng mạn phá vỡ mọi quy định ràng buộc của chủnghĩa cổ điển và sự phá vỡ đó có thể được cụ thể như sau: “Đối lập với nguyên tắc
“bắt chước tự nhiên” của chủ nghĩa cổ điển, các nhà lãng mạn đề cao tính tích cựcsáng tác, quyền cải biến thực tại của nghệ sĩ: anh ta tạo ra một thế giới đặc biệt,của mình, đẹp hơn, chân thực hơn cái thực tại kinh nghiệm; bởi vì nghệ thuật, sángtạo là thực chất thầm kín, là ý nghĩa sâu kín và là giá trị cao nhất của thế giới, cũng
có nghĩa nó là thực tại cao nhất […] Các nhà lãng mạn nhiệt liệt bảo vệ tự dosáng tác của người nghệ sĩ, bảo vệ quyền tưởng tượng của nghệ sĩ, bác bỏ tính quy
Trang 7phạm” [5, tr 289, 290] Thiên tài không lệ thuộc các quy tắc mà là kẻ sáng tạo racác quy tắc là quan điểm của chủ nghĩa lãng mạn.
1.3.1.2 Khuynh hướng lãng mạn ở Việt nam
Khuynh hướng hay trào lưu là “những cộng đồng các hiện tượng văn học đượcliên kết lại trên cơ sở một sự thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mĩ – tưtưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật […].Ứng với quan niệm được dùngphổ biến, khái niệm khuynh hướng ghi nhận tính cộng đồng về cơ sở tư tưởngthẩm mĩ của nội dung nghệ thuật” [5, tr.737] Khuynh hướng khác với trường pháivăn học – vốn đòi hỏi phải có một sự gần gũi về tư tưởng và nghệ thuật của cácthành viên trong trường phái, có cương lĩnh lí luận rõ ràng và có các nhà văn có têntuổi Khuynh hướng cũng rất khác với trào lưu văn học, trào lưu chỉ là biến thể củakhuynh hướng
Ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện với tư cách là một trào lưu văn học
ở những năm 30 của thế kỉ XX Tiêu biểu cho trào lưu văn học này là văn xuôilãng mạn của nhóm Tự lực văn đoàn và thơ ca lãng mạn của phong trào Thơ mới.Mỗi một trào lưu văn học xuất hiện đều dựa trên cơ sở hoàn cảnh xã hội – văn hóa
cụ thể, vậy những tiền đề xã hội – văn hóa nào ở nước ta ở thời điểm đó làm xuấthiện trào lưu văn học lãng mạn? Do kết quả của cuộc khai thác thuộc địa của Pháp,sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, xuất hiện đồng thời hai lực lượng – một giaicấp tư sản bản xứ yếu hèn ra đời và một giai cấp vô sản tương đối mạnh mẽ đượcsản sinh Ngay sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914), giai cấptiểu tư sản (bao gồm tiểu thương, viên chức, giáo viên, học sinh – sinh viên,…)cũng hình thành và với sự góp mặt của giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản, một lốisống văn minh ở thành thi xuất hiện Họ quen với việc đi xe ô tô, dùng quạt điện,nghe hòa nhạc, xem chiếu bóng,…Những lối sinh hoạt mới nói trên cùng với sựtiếp xúc với văn hóa Pháp, văn học Pháp (văn học lãng mạn), đã làm thay đổi conngười ít nhiều Họ bắt đầu có những tư tưởng, tình cảm mới, thị hiếu thẩm mĩ bắtđầu phát triển và có những đòi hỏi cao hơn Bối cảnh này sẽ thấy rõ qua nhận định
của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam: “Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta Ta không thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giân hờn nhất nhất như ngày trước” Chính những đổi thay nhanh chóng
của hoàn cảnh lịch sử - văn hóa của nước ta giai đoạn này, văn học cũ không thểđáp ứng nổi và như một lẽ tất yếu, văn học lãng mạn ra đời như để đáp ứng nhữngnhu cầu tình cảm cũng như thị hiếu thẩm mĩ mới của lớp công chúng thành thịđương thời
Chúng ta thường nghĩ văn học lãng mạn và văn học hiện thực là hai phạm trùhoàn toàn khác nhau, hoàn toàn tách biệt, nhưng thực sự có phải thế không? Câutrả lời là không hề có ranh giới tuyệt đối giữa chúng Có thể thấy những truyệnngắn của Thạch Lam, yếu tố hiện thực lại hiện lên rất rõ Văn học hiện thực và vănhọc lãng mạn có mối quan hệ vừa ảnh hưởng, vừa đấu tranh với nhau, có khi lạithâm nhập, chuyển hoá cho nhau và không bài trừ nhau
Đặc điểm của trào lưu văn học lãng mạn ở Việt Nam:
Thứ nhất, về cảm xúc thẩm mĩ, có thể thấy ở văn học lãng mạn khuynh hướngcảm xúc thuộc về sự đào sâu thế giới chủ quan của cá nhân Những tác phẩm văn
Trang 8học lãng mạn như cuộc phiêu lưu vào thế giới nội tâm, nhìn nhận cuộc sống theolăng kính chủ quan và mang tính hướng nội.
Thứ hai, về khuynh hướng tư duy, văn học lãng mạn như một chiếc xe điềukhiển và chở đầy cảm xúc Cảm xúc được giải phóng đến mức tối đa Thế giới lãngmạn tràn trề cảm xúc và tưởng tượng Văn học ko chỉ viết về cái thực mà còn nóiđến những cái hư ảo của thế giới nội tâm tưởng tượng Không chỉ vậy, việc kiếntạo hình tượng nghệ thuật, nhân vật trung tâm ở văn học lãng mạn còn mang tính
lý tưởng hóa đến mức hoàn thiện, tròn trịa Ví dụ như hình tượng nhân vật Huấn
Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân hay ngay việc trảm đầu
trong “Chém treo ngành” cũng được Nguyễn Tuân nâng lên tầm nghệ thuật mộtcách hoàn thiện Quả thật, văn học khuynh hướng lãng mạn luôn hướng tới sự hoànhảo chưa có và cần có
Thứ ba, hệ thống đề tài của văn học lãng mạn chủ yếu xoay quanh những chủ
đề như tình yêu, thiên nhiên và tôn giáo Về chủ đề tình yêu, tình yêu trong vănhọc lãng mạn được mỗi tác giả nhìn theo những hướng khác nhau Một là tình yêuđược nhìn theo lối lý tưởng hóa, như một bản tình ca đẹp, tình yêu vượt lên trên tất
cả những cảm xúc phàm tục ở đời, chỉ cần nghĩ đến nhau, trong tâm hồn lúc nào
cũng có nhau là hạnh phúc lắm rồi như dạng Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng.
Hai là tình yêu như những tấn bi kịch, lâm li bi đát và đầy buồn đau như dạng
Đoạn Tuyệt của Nhất Linh Tuy nhiên cả hai hướng của tình yêu trong văn học
lãng mạn tuy ngả về hai chiều rất khác nhau nhưng lại có điểm tương đồng đó làtình yêu không gắn liền với hôn nhân và gia đình, tình yêu thoát ra khỏi hôn nhân –điều rất mới trong tư tưởng của những nhà văn lãng mạn Về chủ đề tôn giáo thìtôn giáo cũng được xem như là sở trường của văn học lãng mạn Tôn giáo chất đầynhững trang thơ của Hàn Mặc Tử hay như Xuân Diệu“làm nên một thế giới trong
đó tình yêu được tôn thờ như một tôn giáo mà đã là người thì không có ai là kẻ ngoại đạo” Nói cách khác, những nhà thơ, nhà văn lãng mạn đã tôn giáo hóa văn
học, biến những thứ mình thích thành đam mê Còn với thiên nhiên, tuy khôngphải là chủ đề mới trong văn học nhưng đến trào lưu văn học lãng mạn, thiên nhiênnhư mới hơn với cái nhìn cảm quan của nhà văn Thiên nhiên không còn là chuẩnmực để ước lệ mà thiên nhiên là đối tượng để tác giả lãng mạn bày tỏ tình cảm,tâm tư của mình Thiên nhiên được tiếp nhận chủ quan theo cảm xúc của nhà văn,
chẳng hạn như “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/ Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng” (Đây mùa thu tới – Xuân Diệu)
Thứ tư, về hệ thống thể loại, văn học lãng mạn chú trọng đến những thể loại trữtình, dễ lồng cảm xúc cá nhân như thơ, truyện ngắn, tùy bút,… Về truyện ngắn,nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, vừa bám sát thực tế đời sống,vừa đào sâu vào thế giới chủ quan Riêng những truyện ngắn viết về đề tài tình yêukhông đơn thuần là những câu chuyện mua vui, lấy sự giải trí, thương cảm của độcgiả mà còn là tiếng nói giải phóng con người khỏi những lễ giáo hà khắc, cổ hủ củachế độ phong kiến suy tàn Đặc biệt, thơ là thể loại đặc trưng nhất cho tư duy lãngmạn Và Thơ mới chính là dấu ấn, điểm nhấn quan trọng cho trào lưu văn học lãngmạn ở nước ta đầu thế kỉ XX Chữ “mới” ở đây để chỉ rõ sự thay đổi, canh tân từnội dung đến hình thức thơ Nếu như thơ cũ là những loại thơ niêm luật chặt chẽ, ý
tứ rõ ràng, nội dung bị đóng khung bởi những đề tài “phong hoa tuyết nguyệt” thì
Trang 9Thơ mới lại mới ở sự tự do hóa hình thức và nội dung thơ Về hình thức, nhữngcâu thơ được giải phóng tối đa câu chữ, cách ngắt dòng, ngắt nhịp cũng được tự dohóa.
Từ những đặc điểm trên, có thể thấy trào lưu văn học lãng mạn ở Việt Namtuân thủ theo những nguyên tắc của chủ nghĩa lãng mạn Và vì thế mà khi nắm rõnhững lí luận về chủ nghĩa lãng mạn và khuynh hướng lãng mạn ở Việt Nam thìbạn đọc và người nghiên cứu mới có cơ sở để hiểu các tác phẩm văn học lãng mạn
mà cụ thể trong bài là hai tác phẩm Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ.
1.3.2 Thể loại truyện ngắn
Theo Từ điển văn học: “Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được
viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xãhội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyệnngắn thích hợp với việc người tiếp nhận đọc nó liền một mạch không nghỉ” [5,tr.1846] Ở thời trung đại, văn học nước ta vốn cũng có những tác phẩm thể truyệnnhưng với truyện ngắn mang trong mình những đặc điểm riêng biệt chỉ thực sựphát triển ở nền văn học hiện đại
Đặc điểm của truyện ngắn sẽ được thể hiện rõ qua những mặt sau:
Dung lượng: Truyện ngắn thường có dung lượng ngắn bởi thể loại là lát cắt của
đời sống, của tâm trạng hay của một tình trạng quan hệ Tuy nhiên độ dài ngắn củatruyện không phải là tiêu chí quan trọng nhất để phân biệt với các thể loại khác bởitrong thời hiện đại, ranh giới của các thể loại càng ngày càng bị xóa mờ
Cốt truyện: Truyện ngắn có cốt truyện thường tự giới hạn về thời gian, không
gian Thể loại này thường nhận ra điều gì đó sâu sắc về cuộc đời, về con người nêncốt truyện thường rất nổi bật, dồn nén và đầy bất ngờ Kết cấu thường gồm nhiềutầng, nhiều tuyến, được dựng theo kiểu tương phản hoặc liên tưởng
Chi tiết: Vì có dung lượng ngắn nên tất cả những chi tiết trong truyện đều có
hàm lượng thông tin và có tính thảm mĩ lớn Các chi tiết được tinh lọc và có yếu tốtạo truyện cao Trong truyện ngắn, chi tiết và lời văn là hai yêu tố quan trọng
Nhân vật: Truyện ngắn rất ít nhân vật, nhân vật truyện ngắn ít khi trở thành
một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách trọn vẹn, thường khi là hiện thân cho mộttrạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người
Tựu chung thì truyện ngắn là một thể loại xuất hiện muộn trong lịch sử văn học.Truyện ngắn thường hướng đến phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinhthông qua những chi tiết đơn giản Tiếp nhận những lí luận về truyện ngắn sẽ tạo
cho ta tiền đề tiếp cận hai truyện ngắn Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ một cách
thấu đáo hơn, đặc biệt là về đặc điểm nghệ thuật
Trang 10CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN CHỮ NGƯỜI
TỬ TÙ CỦA NGUYỄN TUÂN VÀ TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ CỦA
THẠCH LAM
2.1 Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Chữ người tử tù
2.1.1 Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện
Tác phẩm chứa đựng rất nhiều những tình tiết chính như Huấn Cao dỗ gông,Huấn Cao nhận cơm rượu, Huấn Cao ân hận, Huấn Cao cho chữ,…Tuy nhiênnhững sự việc này đều không có tính chi phối cao, tất cả những tình tiết này góp lạilàm thành một sự kiện lớn hơn và đó mới là “tình thế nảy ra truyện” Sự kiện lớn
ấy chính là cuộc gặp gỡ đầy oái oăm giữa Huấn Cao và viên quản ngục Chúng taxem đó là cuộc gặp gỡ oái oăm bởi những lí do như thế nào?
Về không gian và thời gian diễn ra cuộc gặp gỡ là ở nơi đề lao giữa viên quảnngục và Huấn Cao trong những ngày cuối cùng trước khi Huấn Cao phải chịu án tửhình do cầm đầu đám phản nghịch chống lại triều đình Sự éo le trong thân phậnhai nhân vật: Về chính trị xã hội, hai con người này thuộc về hai giới tuyến khácnhau, là kẻ thù của nhau nhưng trên phương diện nghệ thuật, họ lại là tri kỉ củanhau Nếu Huấn Cao là hiện thân của cái đẹp cao cả thì viên quản ngục là tấm lòngngưỡng mộ cái đẹp cao cả đó Chính trong hoàn cảnh đầy mâu thuẫn và xung đột
ấy, tính cách các nhân vật đã được bộc lộ rõ nét Huấn Cao là tử tù, theo nghĩa đen;còn viên quản ngục là kẻ bị tù chung thân, không hoàn toàn theo nghĩa bóng.Trước đến giờ, bề ngoài Quản ngục vẫn là một viên quan của triều đình thối nát,nhưng bên trong lại tôn thờ những giá trị cao quý tương phản với triều đình ấy(thuộc về những người chống đối triều đình) Con người chức phận trói buộc cầm
tù con người khát vọng Quản ngục vẫn sống theo lối "xanh vỏ đỏ lòng" Khôngphải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân đã chọn một lối so sánh rất đẹp để viết về viên
quản ngục :" Trong cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người của viên quan coi ngục này
là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn
xô bồ" [6, tr.110].
Thông qua tình huống truyện đặc sắc này, chủ đề của truyện cũng được tô đậm
Đó là sự ngợi ca cái đẹp, cái thiên lương cao quý
2.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Nhân vật trong truyện ngắn Chữ người tử tù được Nguyễn Tuân xây dựng bằng
bút pháp lãng mạn, sự cường điệu, lí tưởng hóa và tập trung chủ yếu vào hai conngười là Huấn Cao và viên quản ngục
Xuyên suốt tác phẩm ta thấy nhân vật Huấn Cao hiện lên với đầy đủ vẻ đẹp củamột trang anh hùng đầy khí khách, đặc biệt là luôn hướng tâm mình về cái thiênlương cao cả Nguyễn Du khi khép lại Truyện Kiều đã nói những điều gan ruột
“chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Có lẽ Nguyễn Tuân cũng rất đồng ý với suy
ngẫm của cụ Tố Như và đã xây dựng tính cách ông Huấn Cao nghiêng về chữ
“tâm” Trong khi có thể nói rằng Nguyên Tuân khá cực đoan trong việc miêu tả, catụng hết lời những người có tài Nói chính xác hơn là “cái tài” luôn là cảm hứng
chủ đạo trong sáng tác Nguyễn Tuân Đọc Chữ người tử tù, cảm giác của độc giả
là rất kính mến, trân trọng Huấn Cao không chỉ ở “cái tài” mà còn ở “cái tâm”
Điều này thể hiện rõ ở chỗ ông cho chữ viên quản ngục mặc dù “tính ông vốn