1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai

91 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào Thế Anh, Đào Thế Tuấn, Lê Quốc Doanh 2005 cho rằng, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói chung và CDCC cây trồng nói riêng thể hiện ở việc đa dạng hoá sản xuất, phát triển

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

DIỆP BẢO TRUNG

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

DIỆP BẢO TRUNG

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60.31.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Quang Bình

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Đề tài “Chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện

Các số liệu cũng như kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Đà Nẵng, ngày … tháng … năm 2016

Tác giả

Diệp Bảo Trung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Nội dung nghiên cứu 3

7 Tổng quan tài liệu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP 7

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP 7

1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp và đặc điểm của nông nghiệp 7

1.1.2 Vai trò của ngành sản xuất nông nghiệp 9

1.2 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP 12

1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 12

1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp 14

1.3 CÁC NỘI DUNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP 15

1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu theo đầu ra (giá trị sản lượng nông nghiệp) 15

1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu theo diện tích cây trồng 16

1.3.3 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo cây trồng theo vùng 17

1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP 19

1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 19

Trang 5

1.4.2 Điều kiện về nguồn lực 20

1.4.3 Công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG HUYỆN ĐỨC CƠ 24

2.1.THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG CỦA HUYỆN 24

2.1.1 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo đầu ra của huyện Đức Cơ 24

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu theo diện tích cây trồng ở huyện Đức Cơ 28

2.1.3 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo phân vùng chuyên môn hóa huyện Đức Cơ 33

2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP 36

2.2.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế, xã hội 36

2.2.2 Thực trạng các nguồn lực cho chuyển dịch cơ cấu cây trồng 44

2.2.3 Hệ thống chế biến và thị trường tiêu thụ 47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG HUYỆN ĐỨC CƠ 53

3.1 CƠ SỞ ĐỂ ĐƯA RA GIẢI PHÁP 53

3.1.1 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của huyện 53

3.1.2 Quy hoạch phát triển nông nghiệp 55

3.1.3 Quy hoạch các tiểu vùng kinh tế - xã hội 55

3.2 ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG CỦA HUYỆN 57

3.2.1 Định hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất cây lương thực, thực phẩm 57

Trang 6

3.2.2 Định hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất cây công nghiệp 59

3.3 CÁC GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG 61

3.3.1 Hoàn thiện chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng 61

3.3.2 Giải pháp về khoa học công nghệ 65

3.3.3 Giải pháp về vốn 68

3.3.4 Giải pháp về thị trường tiêu thụ 72

3.3.5 Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở Tây Nguyên 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển Ở Việt Nam, nông nghiệp là ngành kinh tế không chỉ đóng góp lớn vào tăng trưởng mà còn giúp cho nền kinh tế bình ổn qua khỏi những biến động lớn trong những năm qua

Ngành trồng trọt là ngành lớn trong nông nghiệp Sự phát triển của ngành này phụ thuộc nhiều vào cơ cấu các loại cây trồng Ở Việt Nam, các địa phương có điều kiện tự nhiên để phát triển ngành trồng trọt với một cơ cấu cây trồng hợp lý và phù hợp với tiềm năng tự nhiên của mình

Đức Cơ là một trong ba huyện biên giới của tỉnh Gia Lai, nằm trên Quốc

lộ 19, cách trung tâm thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai 52km và cách thành phố Bang Lung, tỉnh Rattanakiri, Campuchia 100km; có Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh Đây là nơi trao đổi, mua bán hàng hóa giữa hai nước Việt Nam, Campuchia, đặc biệt là mặt hàng nông sản Huyện có 10 đơn vị hành chính (9

xã, 1 thị trấn), gồm 93 thôn, làng, tổ dân phố; dân số 68.196 người, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 42% dân số; huyện có 71.312 ha, trong đó đất nông nghiệp 66.238,64 ha Với dòng đất đỏ BaJan, cộng với khí hậu 2 mùa mưa nắng rõ rệt, nên rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt ngành trồng trọt

Giai đoạn 2011-2015, huyện đã có nhiều thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp, đúng hướng, trên những lợi thế sẵn có của huyện Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, năng suất lao động còn thấp, nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt Trong ngành này, cây công nghiệp dài ngày chiếm tỷ trọng lớn nhất và giữ vai trò quyết định tới

Trang 10

sự phát triển chung Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do biến đổi khí hậu, nên thời tiết thay đổi thất thường, gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của một số loại cây trồng; mặt khác, sản phẩm đầu ra của cây công nghiệp dài ngày lại phụ thuộc quá nhiều vào nhu cầu thị trường trong nước và thế giới

Chính vì vậy mà Đề tài “Chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Cơ,

tỉnh Gia Lai” có ý nghĩa rất quan trọng đối với địa phương

2 Mục tiêu của đề tài

Cơ trong thời gian qua

trong thời gian tới

3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài phải trả lời các câu hỏi:

nào?

- Cần có những giải pháp nào để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng của huyện trong thời gian tới?

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Chuyển dịch cơ cấu cây trồng”

- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chuyển dịch cơ cấu cây công nghiệp

- Phạm vi không gian: Huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Do tính phức tạp của đề tài, nên phải sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau

Trang 11

- Đầu tiên, nghiên cứu tài liệu để hình thành khung lý thuyết cho nghiên cứu

- Tiếp đó, tham vấn ý kiến chuyên gia để củng cố khung nghiên cứu

- Trên cơ sở đó, tiến hành thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu

- Tiến hành đánh giá và viết báo cáo

Phương pháp phân tích: Các phương pháp bao gồm phân tích thống kê,

so sánh, khái quát và tổng hợp

- Số liệu: Do tính chất của nghiên cứu, nên luận văn chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp từ các cơ quan của huyện, như: Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Cách tiếp cận:

+ Tiếp cận vĩ mô: Phân tích các chính sách phát triển nông nghiệp của

Đảng và Nhà nước

+ Cách tiếp cận thực chứng: Nguyên nhân nào thúc đẩy chuyển dịch cơ

cấu cây trồng của huyện?

+ Tiếp cận hệ thống:

Mối tương quan giữa phát triển nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng Phát triển của các loại cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Mối quan hệ giữa nhu cầu thị trường và chuyển dịch cơ cấu cây trồng

+ Tiếp cận lịch sử: So sánh những giai đoạn khác nhau trong vận dụng

đường lối phát triển nông nghiệp Việt Nam

6 Nội dung nghiên cứu

Đề tài gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp Chương 2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Cơ Chương 3 Các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Cơ

Trang 12

7 Tổng quan tài liệu

Chuyển dịch cơ cấu (CDCC) cây trồng là một nội dung trong CDCC kinh tế Quá trình này cũng chịu ảnh hưởng từ các điều kiện thị trường, điều kiện tự nhiên và khả năng nguồn lực như CDCC kinh tế nói chung Do vậy, phần tổng quan này cũng sẽ bắt đầu từ tổng quan các nghiên cứu có liên quan tới CDCC kinh tế

Theo H Chenery (1988), khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích lũy của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm Ngoài ra, còn có các quá trình kinh tế, xã hội kèm theo như đô thị hoá, biến động dân số, thay đổi trong việc thu nhập Khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế được sử dụng đồng nghĩa với cụm từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế được một số tài liệu nghiên cứu khác sử dụng, về bản chất chỉ sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế (change hay transformation) Fisher (1935) phân biệt ba khu vực kinh tế Sơ cấp (nông nghiệp), Cấp hai (công nghiệp), Cấp ba (dịch vụ) và trong sự phát triển việc làm và đầu tư chuyển từ khu vực sơ cấp sang cấp hai và một phần sang cấp

ba Clark (1940) phát triển thêm cho rằng, chính năng suất lao động trong các khu vực đã quyết định việc chuyển lao động từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao Song song với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế chung có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và không thể tách rời hai quá trình này

Các tác giả: Shenggen Fan, Xiaobo Zhang và Sherman Robinson (2003)

đã nghiên cứu, phân tích chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giai đoạn 1978 - 1995 Trong bài viết này, các tác giả xem xét nguồn tăng trưởng dựa vào hai yếu tố: yếu tố đầu vào (đất đai, lao động và vốn) và yếu tố tăng năng suất tổng hợp (TFP) hoặc sự thay đổi kỹ thuật; thông qua kết

Trang 13

quả thực nghiệm và ứng dụng mô hình tăng trưởng Solow đã chứng minh sự phân bổ nguồn lực từ các thành phần năng suất thấp sang năng suất cao làm thay đổi cơ cấu ngành kinh tế và tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Trung Quốc

Kinh nghiệm của một số nước cho thấy, muốn phát triển được phải áp dụng các cải tiến kỹ thuật và thể chế cho phép khu vực nông nghiệp tạo ra được thêm thu nhập Phải có các cơ chế để chuyển thu nhập giữa các khu vực thì mới có sự phát triển Thị trường là công cụ để chuyển thu nhập Phải có một thị trường hoàn chỉnh phản ảnh được quan hệ giữa cung, cầu Thu nhập của nông nghiệp sang công nghiệp phải được dùng để sản xuất các vật tư giúp cải tiến kỹ thuật nông nghiệp (Y Hayami, V Ruttan, 1985)

Đào Thế Anh, Đào Thế Tuấn, Lê Quốc Doanh (2005) cho rằng, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói chung và CDCC cây trồng nói riêng thể hiện ở việc đa dạng hoá sản xuất, phát triển nông nghiệp toàn diện

để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng lên của xã hội và phát triển ngành, nghề phi nông nghiệp nhằm rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp và nông thôn, tăng năng suất lao động nông nghiệp và tăng thu nhập của hộ nông dân Trên

cơ sở đó, các nội dung chính của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam trong thời gian tới được xác định là: Tăng năng suất cây lương thực để giải quyết an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo; chuyển dịch cơ cấu cây trồng phát triển cây thức ăn gia súc nhằm phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá cây hàng hoá như rau, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp dài ngày phục

vụ thị trường trong nước và đa dạng hoá xuất khẩu; thúc đẩy đa dạng hoá cây trồng và đa dạng hoá nội ngành thông qua chế biến ở các vùng chuyên môn hoá gặp rủi ro cao như Đồng bằng Sông Cửu long, Tây Nguyên, nhằm ổn định hệ thống sản xuất của hộ nông dân Phát triển công nghiệp chế biến nông

Trang 14

sản nhằm thúc đẩy quá trình đa dạng hoá nội ngành Phát triển công nghiệp nông thôn, cụm làng nghề và dịch vụ nông thôn nhằm đa dạng nguồn thu nhập của nông dân và đẩy nhanh công nghiệp hoá Phát triển các khu công nghiệp phân bố hợp lý trong môi trường nông thôn nhằm tạo sự phát triển cân đối giữa nông thôn và đô thị, giảm sự tập trung cao ở các đô thị lớn Đầu tư vào vốn con người thông qua giáo dục, sức khoẻ, dạy nghề nhằm nâng cao trình độ chuyên nghiệp hoá của nông dân

Bùi Quang Bình (2010) đã phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009 Qua đó, chỉ ra một số khiếm khuyết của mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam, như dựa vào mở rộng quy mô qua thâm dụng vốn nhưng hiệu quả thấp - yếu tố Việt Nam thiếu phải đi vay; không thể khai thác tốt yếu tố tiềm năng lớn nhất của Việt Nam là lao động; chưa thúc đẩy sự phát triển của khu vực nông nghiệp Đồng thời tác giả đã đưa một số kiến nghị

Võ Tấn Danh (2011) đã phân tích thực trạng (xác định hệ số chuyển dịch, đóng góp của các ngành trong 1% tăng trưởng GDP, ), các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chủ yếu cơ cấu ngành giai đoạn 2000 -

2010, phân tích SWOT và đưa ra một số định hướng, giải pháp chuyển dịch

cơ cấu kinh tế tỉnh Kon Tum

Tóm lại, để thúc đẩy nhanh và bền vững quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thì phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, địa phương và tình hình quốc tế để xây dựng một chiến lược cơ cấu ngành mang tính tổng thể Trên cơ sở đó, lấy ưu tiên phát triển những ngành sử dụng nhiều lao động, cần lượng vốn đầu tư ít và định hướng xuất khẩu cao làm chủ lực; mặt khác, lựa chọn một số lĩnh vực có triển vọng thành những ngành có sức cạnh tranh cao trong tương lai để hỗ trợ một cách mạnh mẽ, liên tục, kiên trì,

để tạo bước ngoặc của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa trong tương lai

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG

TRONG NÔNG NGHIỆP

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp và đặc điểm của nông nghiệp

a Khái niệm

Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân, còn là ngành duy nhất sản xuất được lương thực, thực phẩm Hoạt động nông nghiệp có từ lâu đời, nên còn được coi là lĩnh vực sản xuất truyền thống; hoạt động này, không những gắn liền với các yếu tố kinh

tế, xã hội, mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp nếu xét theo đối tượng sản xuất, sẽ bao hàm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản

Khái niệm trên bao hàm: (1) vai trò của nông nghiệp, (2) đặc điểm, (3) tính chất rộng lớn của sản xuất nông nghiệp

b Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Theo cách hiểu nào đó, nông nghiệp chỉ đơn thuần là một trong nhiều ngành công nghiệp nhưng có những nét đặc thù

Thứ nhất, ngành nông nghiệp của một nước ở giai đoạn phát trỉển ban đầu có nhiều nhân công làm thuê hơn hẳn so với các ngành công nghiệp và các lĩnh vực khác (chiếm tới 60-70%) và ở nhiều nước đang phát triển, lạc hậu bao gồm: Trung Quốc và Ấn Độ nhân công làm trong ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ còn nhiều hơn trong tổng số lực lượng lao động của nước đó Ngược lại, những nước có nền kinh tế phát triển sử dụng không quá 10% lực lượng lao động trong nông nghiệp (ở Mỹ chỉ có 3%)

Điểm khác thứ hai là, các hoạt động nông nghiệp đã có từ hàng nghìn

Trang 16

năm nay kể từ khi con người từ bỏ nghề săn bắn, hái lượm thức ăn Do có lịch

sử lâu đời này, mà nền kinh tế nông thôn thường được nói đến như nền kinh

tế truyền thống Với những phương tiện dựa trên nền khoa học và cơ khí hiện đại, con người đã sản xuất được điện và ô tô, nhưng con người thường áp dụng những kỹ thuật đã phát triển từ hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm trước khi có nền khoa học hiện đại để trồng trọt Vì thế, rất khó thay đổi những xã hội ở nông thôn, vì họ đã quen sử dụng những kỹ thuật truyền thống, phát triển và củng cố thêm các cách thức làm việc đã lỗi thời

Đặc điểm thứ ba của nông nghiệp là, làm cho nó khác hẳn các ngành khác là đất đai, một nhân tố của sản xuất chiếm giữ vai trò quyết định Các ngành khác cũng có nhu cầu sử dụng đất, nhưng không phải đối với bất cứ một ngành nào đất đai đóng một vai trò chủ đạo như vậy Việc sẵn có đất trồng có liên quan đến số dân tương đối nhiều ở Châu Mỹ hay việc ít đất trồng ở Châu Phi là cơ sở hình thành những kỹ thuật canh tác có thể sử dụng được, gắn liền với vai trò chủ đạo của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết Không một ngành nào khác ngoài nông nghiệp lệ thuộc vào sự thay đổi thất thường của thời tiết đến như vậy, giống như thời tiết, đất đai ở mỗi nơi khác nhau nên kỹ thuật được áp dụng thích hợp với đất nơi này, nhưng ở những nơi khác thì lại có ít tác dụng Việc sản xuất thép cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với sự khác nhau, những vấn đề tương tự như vậy thường xuất hiện trong các ngành công nghiệp, nhưng những kỹ thuật cơ bản áp dụng trong nhiều ngành sản xuất là giống nhau, ít nhất là trong phạm vi một nước và giữa các nước với nhau Trong nông nghiệp, sự khác nhau về chất lượng đất trồng, khí hậu và nguồn nước sẵn có dẫn đến việc sản xuất lương thực khác nhau và các biện pháp để nâng cao năng suất của một vụ khác nhau không chỉ ở các nước

mà giữa các tỉnh, huyện của một nước

Điểm khác cuối cùng, nông nghiệp là một ngành duy nhất sản xuất lương

Trang 17

thực Con người có thể sống mà không cần thép, than hoặc điện nhưng không thể thiếu lương thực; trên thực tế, phần lớn các sản phẩm chế tạo đều có thể thay thế, nhưng không có sản phẩm nào thay thế được thức ăn Mỗi nước đều phải sản xuất được lương thực hoặc nhập khẩu lương thực

1.1.2 Vai trò của ngành sản xuất nông nghiệp

Cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu xã hội

Có thể nói, lương thực rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người, là cơ sở để duy trì sự sống của toàn xã hội Trong lý luận kinh điển của mình, C Mác và Ănghen đã chỉ rõ: “Trước hết con người cần phải ăn, mặc, ở trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…” Hay theo nhà bác học Việt Nam, Lê Qúy Đôn đã kết luận: “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” Mặc dù ngôn từ diễn đạt khác nhau, nhưng tựu trung đều nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực của nông nghiệp đối với đời sống kinh tế, xã hội

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, cung cấp những sản phẩm tối cần thiết cho con người, đó là lương thực, thực phẩm; là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định cho sự tồn tại, phát triển của con người và phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia; nó giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển, đại bộ phận người dân sống bằng nghề nông nghiệp Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân nước đó

“Nông nghiệp là một ngành duy nhất sản xuất lương thực, con người có thể sống mà không cần sắt thép, than hoặc điện, nhưng không thể thiếu lương thực”

Trang 18

Cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị

Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị Được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây:

- Nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị

- Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý báu cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến

- Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân

Nông nghiệp làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ

Nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của ngành công nghiệp

và dịch vụ Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước, mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng có thể cạnh tranh với thị trường thế giới

Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu

Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ to lớn Các loại nông, lâm, thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp Vấn đề thâm nhập thị trường tiêu thụ đối với các loại hàng hóa là nông, lâm, thuỷ sản dễ hơn so với các hàng hoá công nghiệp

Trang 19

Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thuỷ sản Xu hướng chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hóa, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế Tuy nhiên, xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá cánh kéo giữa hàng nông sản và hàng công nghệ ngày càng mở rộng, làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt Ở một số nước chỉ dựa vào một vài loại nông sản xuất khẩu chủ yếu như Coca ở Ghana, đường mía ở Cuba, cà phê ở Braxin, gạo ở Thái Lan và Việt Nam, đã phải chịu nhiều rủi ro và sự bất lợi trong xuất khẩu Vì vậy, gần đây nhiều nước đã thực hiện đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông, lâm, thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại

tệ đáng kể cho đất nước

Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường

Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường, vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên như: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hóa chất như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh… làm ô nhiễm đất và nguồn nước Trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng Vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp

để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường

Tóm lại, nền kinh tế thị trường, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển bao gồm hai loại đóng góp: Thứ nhất là đóng góp về thị trường cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các khu vực khác; thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch các

Trang 20

nguồn lực (lao động, vốn ) từ nông nghiệp sang khu vực khác

1.2 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP

1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

a Khái niệm cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành trong một thời gian và trong những điều kiện kinh

tế, xã hội nhất định Nó chỉ ra cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ Do đó, khi xét nền kinh tế là một hệ thống phức tạp thì có rất nhiều bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành, tùy theo cách mà chúng ta tiếp cận nghiên cứu

Mỗi loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận cấu thành

và cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân Thông thường chúng ta thường xét ở các loại sau:

- Cơ cấu các quan hệ sản xuất của nền kinh tế quốc dân: cơ cấu này sẽ cho thấy xu hướng vận động của từng loại thành phần kinh tế trong quá trình phát triển sản xuất xã hội

- Cơ cấu vùng, lãnh thổ: cơ cấu này phản ánh những mối quan hệ kinh tế giữa các vùng, lãnh thổ trong một quốc gia Phân tích nền kinh tế theo cơ cấu này giúp phân bố lại lực lượng sản xuất trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, xây dựng vùng động lực để thúc đẩy cả nền kinh tế phát triển

- Cơ cấu ngành kinh tế: cơ cấu này biểu hiện dưới các hình thức ngành lớn Sự vận động của các ngành và mối liên hệ giữa chúng vừa tuân thủ đặc điểm chung của sự phát triển, vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn, mỗi quốc gia, địa phương Việc nghiên cứu theo hướng này sẽ giúp tìm ra cách thức duy trì tỷ lệ hợp lý giữa các ngành, cũng như phục vụ cho việc điều hành, sử dụng các nguồn lực có hạn để đạt hiệu quả cao nhất

Trang 21

Do đặc thù của Việt Nam, nên việc tính toán, thống kê và phân ngành chưa hoàn toàn trùng khớp với cách thống kê, phân ngành của Tổ chức Thống

kê Liên hiệp quốc (United Nations Statistics Division)

b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo thời gian từ trạng thái và trình độ này sang trạng thái và trình độ khác Ở đây, có sự biến đổi cả về số lượng, chất lượng và mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu Quá trình chuyển hóa từ cơ cấu cũ sang cơ cấu mới đòi hỏi cần có thời gian và phải qua những thang bậc nhất định Nội dung chính của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo

cơ cấu cũ để xây dựng một cơ cấu mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội đề ra

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, vừa mang tính tự phát nhưng cũng vừa có tính chủ động, nhưng đây là một xu hướng tất yếu của nền kinh tế mỗi quốc gia, địa phương, bởi vì: điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi theo thời gian và không gian; nguồn lực của mỗi quốc gia, địa phương là có hạn nên cần phải điều chỉnh những bất hợp lý, mất cân đối để đạt trạng thái tốt hơn Vì vậy, việc xác định một cơ cấu hợp lý sẽ quyết định đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, địa phương Qua nghiên cứu, có nhiều cách nhìn nhận về cách thức chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chẳng hạn như:

- Nếu hướng đến mục tiêu cần đạt được trong tương lai, thì có thể chủ quan định ra một tỷ lệ nhất định của các bộ phận cấu thành rồi tập trung nguồn lực để đạt đến mục tiêu; hoặc hoạch định chủ trương, tạo cơ chế để đạt đến mục tiêu; hoặc tiến hành song trùng cả hai cách trên

- Nếu xét ở góc độ chất lượng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thì có chuyển dịch theo chiều rộng và theo chiều sâu

- Nếu xét ở phạm vi thời gian, thì có chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong

Trang 22

1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp

Từ những lập luận trên và nghiên cứu các tài liệu, có thể rút ra quan niệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp là sự thay đổi cơ cấu này theo thời gian từ trạng thái và trình độ này sang trạng thái và trình độ khác Đây là quá trình biến đổi cả về số lượng, chất lượng và mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp Quá trình này sẽ chuyển hóa từ cơ cấu cũ sang cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp mới và đòi hỏi cần

có thời gian và phải qua những thang bậc nhất định Kết quả của chuyển dịch

cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp là cải tạo cơ cấu cây trồng cũ để xây dựng một cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn

và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội đề ra

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, vừa mang tính tự phát nhưng cũng vừa có tính chủ

Trang 23

động, nhưng đây là một xu hướng tất yếu của nền kinh tế mỗi quốc gia, địa phương, bởi vì: điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thay đổi theo thời gian và không gian; nguồn lực của mỗi quốc gia, địa phương là có hạn, nên cần phải điều chỉnh những bất hợp lý, mất cân đối để đạt trạng thái tốt hơn Vì vậy, việc xác định một cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp hợp lý sẽ quyết định đến quá trình phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, địa phương

1.3 CÁC NỘI DUNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP

1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu theo đầu ra (giá trị sản lượng nông nghiệp)

Mỗi năm, kết quả sản xuất nông nghiệp của mỗi địa phương sẽ được thể hiện bởi giá trị sản xuất nông nghiệp Giá trị sản xuất có thể là giá trị sản lượng và giá trị gia tăng nông nghiệp Tuy nhiên, kết quả này sẽ phụ thuộc vào kết quả sản xuất của các bộ phận cấu thành sản xuất nông nghiệp mà một trong đó là kết quả sản xuất ngành trồng trọt

Ngành trồng trọt bao gồm nhiều loại cây trồng khác nhau Theo cách phân chia của Tổng cục Thống kê Việt Nam sẽ bao gồm cây hàng năm và cây lâu năm và trong mỗi loại lại chia thành các loại cây khác nhau Cây hàng năm bao gồm cây lương thực có hạt, rau, đậu, hoa, cây cảnh và cây công nghiệp hàng năm Cây lâu năm gồm cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm Các loại cây trồng này, hàng năm tùy theo quy mô sản xuất, năng suất và giá cả thị trường của chúng sẽ hình thành giá trị sản lượng ngành trồng trọt Tùy theo mức chi phí trung gian của mỗi loại cây sẽ quyết định tổng giá trị gia tăng của chúng

Kết quả sản xuất của từng loại cây trồng sẽ quyết định tỷ trọng giá trị sản lượng và giá trị gia tăng của chúng trong tổng giá trị sản lượng và giá trị gia tăng hay cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo giá trị sản xuất nông nghiệp

Trang 24

Tuy nhiên, tỷ trọng giá trị sản lượng và giá trị gia tăng của từng loại cây trồng nông nghiệp hay cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo giá trị sản xuất nông nghiệp sẽ không thay đổi tùy theo điều kiện và mức độ tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau Khi tỷ trọng giá trị sản lượng và giá trị gia tăng của từng loại cây trồng nông nghiệp thay đổi theo thời gian thì được gọi là chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo giá trị

Xu thế thay đổi chung tùy thuộc điều kiện của các địa phương, nhưng với Tây Nguyên thì dường như tỷ trọng các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao có xu hướng tăng nhanh hơn các cây trồng khác

1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu theo diện tích cây trồng

Đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng là gắn liền với đất đai Chính vì vậy, người ta khẳng định đất đai là

tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp

Nhưng đất đai luôn đi liền với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác; chính điều này quyết định đến diện tích các loại cây trồng trên đất Ngoài ra, các yếu tố như nhu cầu thị trường, giá cả và tiến bộ công nghệ cũng góp phần quyết định cơ cấu cây trồng ở mỗi địa phương

Cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo diện tích là tỷ trọng diện tích từng loại cây trồng trong nông nghiệp ở mỗi địa phương trong một thời kỳ nhất định Cơ cấu này sẽ không cố định mà luôn thay đổi cho dù hiện nay

Trang 25

thường các địa phương đều đã thực hiện quy hoạch diện tích cây trồng vì các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội luôn thay đổi, đặc biệt là nhu cầu thị trường trong và ngoài nước

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo diện tích là sự thay đổi tỷ trọng của các loại cây trồng từ cơ cấu cây trồng cũ để tạo ra một cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội đề ra Nhưng để đạt được điều này, đòi hỏi phải kết hợp giữa tính định hướng của các cơ quan quản lý nhà nước và tín hiệu thị trường; áp dụng mô hình 4 nhà (Nhà nông - nhà nước - nhà khoa học và nhà doanh nghiệp) sẽ có hiệu quả cao để quyết định chuyển dịch cơ cấu này

Theo yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp hiện nay, trên cơ sở quy hoạch vùng, bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ và giống phù hợp với nhu cầu thị trường và giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh Phát triển nông nghiệp trên cơ sở thay đổi cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn Có thể chuyển dịch theo loại cây trồng và cũng có thể thay đổi theo hướng diện tích các vùng chuyên canh

Tiêu chí

- Mức thay đổi tỷ trọng diện tích của cây hàng năm và cây lâu năm

- Mức thay đổi tỷ trọng diện tích các loại cây trồng trong sản xuất cây hàng năm

- Mức thay đổi tỷ trọng diện tích các loại cây trồng trong sản xuất cây lâu năm

1.3.3 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo cây trồng theo vùng

Phân bố sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên rất lớn

và hình thành cơ cấu cây trồng theo vùng

Cơ cấu cây trồng theo vùng phản ánh tình hình phân bổ các yếu tố sản

Trang 26

xuất và năng lực sản xuất cây trồng theo vùng của một địa phương hay nền kinh tế

Quy mô và kết quả sản xuất của từng vùng này cũng thường xuyên thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Kết quả sản xuất kinh doanh của các chủ thể ở các vùng này sẽ quyết định kết quả sản xuất của vùng và chung nền kinh tế vùng Tỷ trọng kết quả sản xuất của từng vùng trong tổng thể nền kinh tế sẽ tạo ra cơ cấu cây trồng theo vùng Do đó chuyển dịch cơ cấu cây trồng vùng là sự thay đổi tỷ trọng của các vùng từ cơ cấu cũ sang một cơ cấu mới trong nông nghiệp mới theo hướng tổ chức sản xuất theo vùng hợp lý hơn, hiệu quả hơn và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội đề ra

Quá trình chuyển dịch cơ cấu này phải theo được định hướng của quá trình tái cấu trúc nông nghiệp hiện nay đã định hướng sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng Đó là quá trình bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ và giống phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện tự nhiên của vùng

Tuy nhiên cơ cấu cây trồng theo vùng lại gắn liền với cơ cấu cây trồng theo sản lượng và diện tích Việc xem xét chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo vùng nhằm xác định vùng chuyên môn hóa trong phát triển nông nghiệp Trong điều kiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất thì việc nghiên cứu này càng quan trọng

Trang 27

1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP

Phần này sẽ làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp Việc phân tích và đánh giá ảnh hưởng của các nhân

tố tới chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp sẽ là cơ sở để phát huy

và khai thác những nhân tố tích cực, đồng thời hạn chế và khắc phục ảnh hưởng từ các nhân tố tiêu cực

1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

Trong các nghiên cứu có liên quan tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khi bàn tới các nhân tố có ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều đã khẳng định vai trò của nhân tố điều kiện tự nhiên này Nhưng riêng với chuyển dịch

cơ cấu nông nghiệp thì yếu tố này tác động rất mạnh

Nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố sản xuất cơ bản, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế Việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định hoàn toàn cho một quốc gia có thu nhập cao, nhưng chính sự phong phú tài nguyên sẽ tạo ra những cơ hội như: thu hút đầu tư vào các nghành, địa phương có lợi thế khai khoáng, tập trung lao động để sản xuất Chính điều đó sẽ quyết định cơ cấu kinh tế mang lại hiệu quả nhất cho mỗi vùng, quốc gia từ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp, cơ cấu lao động cũng sẽ dịch chuyển theo

Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nói chung và chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp nói riêng, vì đây là điều kiện quyết định tới sự phát triển của từng loại cây trồng cũng như hiệu quả sản xuất nó Đây cũng là điều kiện đầu tiên để xác định chuyển dịch cơ cấu và định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Trang 28

Điều kiện kinh tế, xã hội cũng ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển kinh tế vừa tạo ra điều kiện nguồn lực cho quá trình này Sự phát triển kinh tế, xã hội cũng tạo ra điều kiện thay đổi nhu cầu tiêu dùng, dẫn tới thay đổi cơ cấu sản xuất cây trồng trong nông nghiệp Sự phát triển kinh tế sẽ tạo ra thị trường đầu ra và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng Sự phát triển xã hội sẽ tạo ra thị trường người tiêu dùng sản phẩm cây trồng, nhất là cây trồng có chất lượng cao Sự phát triển của công nghiệp chế biến sẽ giúp chế biến nâng cao giá trị và giải quyết đầu ra cho ngành sản xuất này

1.4.2 Điều kiện về nguồn lực

Lý thuyết phát triển kinh tế nói chung, lý thuyết hàm sản xuất hay mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp nói riêng đều khẳng định tầm quan trọng của các yếu tố nguồn lực Vì chính các nguồn lực là yếu tố cơ bản để tiến hành các hoạt động sản xuất trong các ngành kinh tế nói chung và sản xuất cây công nghiệp lâu năm nói riêng, chúng không chỉ quyết định quy mô mà còn cả năng suất, tức là quyết định mức sản lượng được tạo ra Các nguồn lực này bao gồm đất đai, lao động, vốn và khoa học công nghệ

Việc sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các yếu tố nguồn lực được huy động vào sản xuất cây công nghiệp lâu năm là tất yếu khách quan, nó đòi hỏi tất cả các tổ chức và hộ sản xuất cây trồng phải coi trọng việc bảo vệ và phát triển hợp lý, đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa các yếu tố nguồn lực, trong đó phải chú trọng khai thác theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất

Do sản xuất nông nghiệp nói chung và cây công nghiệp lâu năm phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với mức độ rủi ro rất lớn và lợi nhuận thấp trong kinh doanh nông nghiệp Từ đó, việc huy động nguồn lực vào nông nghiệp không phải dễ, đặc biệt là những địa phương có điều kiện tự nhiên không thuận lợi như các huyện miền núi hay vùng sâu, vùng xa

Trang 29

Vốn là một trong những yếu tố quan trọng trong sản xuất, để có được vốn phải thực hiện đầu tư, nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững Tuy nhiên, sự hạn chế về nguồn lực vốn sẽ không cho phép đầu tư một cách giàn trải, thiếu tính khoa học, mà phải có sự tính toán để vốn được sử dụng hiệu quả nhất Sự tính toán đó thể hiện quy mô vốn vào từng ngành, từ đó hình thành cơ cấu vốn đầu tư Quy mô vốn đầu tư ở từng ngành khác nhau, thì yêu cầu về lao động cũng khác nhau, yếu tố này tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động

Muốn chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, cần phải cấu trúc

và điều chỉnh phân bổ nguồn lực, mà trong đó vốn là yếu tố rất quan trọng Đây là điều kiện để bảo đảm cho quá trình này thực hiện được hay không Chẳng hạn muốn chuyển dịch sang sản xuất các cây trồng có giá trị gia tăng cao và có thể tham gia vào chuỗi giá trị thế giới, thì cần phải có khối lượng vốn đầu tư nhất định, mà trong đó quan trọng nhất là cơ sở hạ tầng

1.4.3 Công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ

Thị trường là nơi người tiêu dùng mua sắm các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Mỗi thị trường tiêu dùng có nhu cầu về số lượng, chất lượng và loại hàng hóa khác nhau; để đáp ứng được nhu cầu này, các ngành sẽ có cơ cấu cho phù hợp ở mỗi thị trường

Hệ thống chế biến và thị trường tiêu thụ bảo đảm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp nói chung và cây trồng trong nông nghiệp nói riêng Đồng thời, đây cũng là điều kiện cho phép nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất cây trồng

Cây công nghiệp dài ngày là loại cây mà sản phẩm của nó chủ yếu cung cấp cho công nghiệp chế biến nguyên liệu cho các công nghiệp hay xuất khẩu,

Trang 30

với chu kỳ kinh doanh dài và đầu tư lớn Nếu chỉ dựa vào thị trường thế giới

và xuất khẩu thô, thì sẽ có nhiều khó khăn để phát triển cây công nghiệp lâu năm này Cụ thể, (1) Biến động về cầu khá lớn của thị trường thế giới khiến giá cả dao động mạnh, gây khó khăn cho người sản xuất; (2) Giá trị gia tăng thấp, do chỉ đảm bảo khâu sản xuất ban đầu ra sản phẩm thô để bán, nên trình

độ công nghệ thấp

Sự phát triển công nghiệp chế biến cây công nghiệp lâu năm không chỉ giúp gia tăng đáng kể giá trị của nông sản này, mà còn giúp chủ động hơn trong đàm phán cung cấp hàng hóa Hiện tại nông sản của Việt Nam nói chung và sản phẩm cây công nghiệp lâu năm mà nước ta xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô hay mới sơ chế, do đó giá trị thấp, tiềm năng để tăng giá trị khá lớn và nằm ở tất cả các khâu của thu hoạch chế biến Chỉ riêng trong khâu thu hoạch, thì mức hao hụt và giảm chất lượng do công nghệ thấp đã làm giá trị sản phẩm cây trồng thấp hơn khoảng 10-15% Sản phẩm sơ chế với công nghệ thấp, chất lượng thấp, thường bán với giá thấp và bị chèn ép, nên hiệu quả thấp Việc áp dụng công nghệ chế biến cao ngay từ những khâu sơ chế sẽ giúp tăng đáng kể giá trị của cây công nghiệp lâu năm Sự phát triển công nghiệp chế biến từ sơ chế tới chế biến sâu là điều kiện quyết định tăng giá trị và chủ động trong sản xuất cây trồng này

Các nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng, nhu cầu, thị hiếu và cơ cấu tiêu dùng sẽ quyết định cơ cấu sản xuất Đối với sản phẩm nông nghiệp, thì tính chất quyết định của thị trường càng mạnh; đồng thời tính cạnh tranh của thi trường cũng rất lớn Do đó, chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp phải xem xét, đánh giá đầy đủ tác động của yếu tố này và chỉ khi đánh giá đúng, đầy đủ thì mới đảm bảo định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp với nhu cầu thị trường và tránh được những rủi ro trong sản xuất cây trồng nông nghiệp

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Những trình bày trên đây là hình thành khung lý thuyết cơ bản cho việc phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng cho một địa phương

Sự phát triển nông nghiệp gắn liền với những điều chỉnh thay đổi trong

cơ cấu của ngành sản xuất này Cơ cấu cây trồng trong ngành trồng trọt sẽ quyết định sự phát triển của ngành này gắn liền với điều kiện tự nhiên và kinh

tế, xã hội của mỗi vùng

Khái quát từ lý luận và các công trình nghiên cứu liên quan cho thấy, chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp là sự thay đổi cơ cấu này theo thời gian, từ trạng thái và trình độ này sang trạng thái và trình độ khác Đây là quá trình biến đổi cả về số lượng, chất lượng và mối quan hệ trong nội

bộ cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp được thể hiện ở các nội dung sau: (i) chuyển dịch cơ cấu theo đầu ra (giá trị sản lượng nông nghiệp); (ii) chuyển dịch cơ cấu theo diện tích cây trồng; (iii) chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo vùng

Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng sẽ phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đó là điều kiện tự nhiên, điều kiện nguồn lực, điều kiện thị trường, cơ chế chính sách…

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG

HUYỆN ĐỨC CƠ 2.1 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÂY TRỒNG CỦA HUYỆN Phần này tập trung phân tích chuyển dịch cơ cấu cây trồng của huyện

Thực chất cơ cấu này là cơ cấu ngành trồng trọt Việc phân tích này rất quan trọng, vì trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của huyện, tỷ trọng của ngành trồng trọt hiện vẫn chiếm khoảng 97% trong tổng giá trị sản xuất ngành nông

nghiệp toàn huyện

2.1.1 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo đầu ra của huyện Đức Cơ

Bảng 2.1 Thực trạng về giá trị sản lượng cây trồng huyện Đức Cơ qua các năm

(Nguồn: Xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Trước hết hãy xem xét giá trị sản lượng ngành trồng trọt huyện Đức

Cơ mà được thể hiện trên bảng 2.1 Tính theo giá trị, giá trị sản lượng của cây lương thực và cây công nghiệp dài ngày tăng; trong khi, cây thực phẩm

Trang 33

và cây công nghiệp ngắn ngày giảm Cây lương thực có giá trị từ 11,8 tỷ đồng năm 2011 tăng lên 22 tỷ năm 2015, gần gấp 2 lần Cây công nghiệp dài ngày có giá trị tăng từ 677 tỷ đồng lên 812 tỷ đồng trong thời gian này

Xu thế thay đổi giá trị của các loại cây trồng cho thấy về cơ bản đã phần nào thể hiện xu thế chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Cơ những năm gần đây

Nếu tính theo giá cố định, cho thấy xu thế tăng trưởng của giá trị ngành trồng trọt hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi của giá trị cây công nghiệp lâu năm

Bây giờ xem xét cơ cấu giá trị cây trồng trong tổng thể chung Tình hình này thể hiện trên bảng 2.2 Thông tin ở bảng này cho thấy những nhận định trên càng rõ Trong cơ cấu cây trồng của huyện, cây công nghiệp lâu năm vẫn

là cây chủ đạo của nền kinh tế này

Bảng 2.2 Thực trạng về chuyển dịch cơ cấu cây trồng huyện Đức Cơ theo giá

(Nguồn niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Để thấy rõ hơn, cần phân tích xu thế thay đổi cơ cấu giá trị ngành

trồng trọt

Trang 34

Bảng 2.3 Cơ cấu giá trị ngành trồng trọt của huyện Đức Cơ

(ĐVt: %)

2015/ 2011 Cây lương thực

(Nguồn: Xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Bảng 2.3 cho thấy tỷ trọng giá trị của cây lương thực và thực phẩm giảm dần từ 17.4% năm 2011 xuống còn 12.8% năm 2015, giảm 4.6% Trong thời gian này tỷ trọng giá trị của cây công nghiệp đã tăng từ 82.6% lên 87.7% Như vậy, xu thế chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo giá trị đang dịch chuyển sang cây công nghiệp

Bảng 2.4 Cơ cấu giá trị của cây lương thực, thực phẩm của huyện Đức Cơ

(Nguồn: Xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Trong cây lương thực, thực phẩm của huyện, cây lấy củ chiếm tỷ trọng cao nhất, gần 90%; cây lương thực có tỷ trọng lớn thứ 2 và cuối cùng là cây thực phẩm Tuy nhiên, tỷ trọng của cây lương thực lại có xu hướng tăng (tỷ trọng năm 2011 là 8.26% và năm 2015 là 18.52%, tăng khoảng 10.26%) Trong thời gian này, tỷ trọng của cây lấy củ giảm từ hơn 88% xuống 79.62%

Trang 35

hay giảm 8.54% và tỷ trọng của cây thực phẩm giảm từ 3.58% xuống 1.86%, tức giảm 1.72%

Bảng 2.5 Cơ cấu giá trị cây công nghiệp của huyện Đức Cơ

(ĐVt: %)

2015/ 2011

(Nguồn: Xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Trong 5 năm qua, trong cơ cấu cây công nghiệp của huyện, do giá trị cây công nghiệp dài ngày tiếp tục tăng, đã kéo theo tỷ trọng của cây này đã gần như chiếm toàn bộ giá trị cây trồng Từ đây có thể thấy cơ cấu giá trị cây trồng của huyện là cơ cấu sản xuất cây công nghiệp dài ngày

Phần tiếp theo, sẽ xem xét cơ cấu trong các cây công nghiệp dài ngày của huyện, để có thể đánh giá chính xác hơn những thay đổi cơ cấu cây trồng theo những thay đổi của thị trường thế giới

Trong giá trị sản lượng của cây công nghiệp dài ngày, tỷ trọng của cây cao su vẫn chiếm khá cao, hơn 52%; tiếp đó là cây cà phê, có tỷ trọng khoảng gần 30%

Xu thế thay đổi cơ cấu giá trị sản lượng cây trồng này cho thấy tỷ trọng của cây cao su đã giảm dần từ 64.5% năm 2011 xuống còn 52.2% năm 2015, giảm 13.2% Trong thời gian này, tỷ trọng giá trị sản lượng của cây cà phê đã tăng từ 18.8% lên 27.7%, tăng 8.9%; tỷ trọng giá trị sản lượng của cây hồ tiêu đã tăng dần từ 1.2% lên 3.2% tăng 2 %; cây điều tăng 2.3%

Trang 36

Bảng 2.6 Cơ cấu giá trị cây công nghiệp dài ngày của huyện Đức Cơ

(Nguồn: Xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Những thay đổi cơ cấu giá trị sản lượng này phản ánh những tác động rất lớn từ sự thay đổi nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm cây công nghiệp lâu năm Đồng thời, cũng thể hiện sự yếu kém trong chiến lược phát triển sản xuất khi thiếu đi sự phát triển của công nghiệp chế biến

Nhìn chung, cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo giá trị sản lượng ngành trồng trọt huyện Đức Cơ đã có sự thay đổi nhất định tỷ trọng của cây công nghiệp (tăng lên đáng kể và chiếm tỷ trọng lớn) Cây công nghiệp dài ngày đang là cây chủ lực của huyện Điều này cũng phù hợp với điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng này ở huyện và xu thế thay đổi nhu cầu của thị trường thế giới

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu theo diện tích cây trồng ở huyện Đức Cơ

Nếu ở phần trên đã xem xét cơ cấu giá trị sản lượng cây trồng của huyện hay thực chất đã xem xét cơ cấu theo đầu ra của sản xuất ngành trồng trọt của huyện Phần này sẽ xem xét cơ cấu cây trồng theo diện tích hay cơ cấu đầu vào

Trang 37

Bảng 2.7 Thực trạng về diện tích cây trồng huyện Đức Cơ qua các năm

Loại cây trồng ĐVT 2011 2012 2013 2014

2015

Thay đổi 2015-2011

dài ngày ha 12.611,3 13.331,8 13.789,7 13.919,2 14.374,2 1762.9 Tổng cộng 18.541,5 18.123,9 18.223,3 18.309,1 18.403,7 -137.8

(Nguồn: xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Trước hết, hãy xem xét diện tích các loại cây trồng của huyện Đức Cơ Tổng diện tích các loại cây trồng có sự thay đổi khá thất thường, nhưng xu hướng chung vẫn là giảm Nếu năm 2011 là hơn 18.5 ngàn ha, thì năm

2015 là 18.4 ngàn ha Trong các loại cây trồng, diên tích cây công nghiệp dài ngày tăng từ hơn 12.6 ngàn ha năm 2011 lên 14.3 ngàn ha năm 2015, tăng khoảng hơn 1700 ha Trong thời gian này, hầu như diện tích các loại cây trồng khác đều giảm Nhìn chung, diện tích cây công nghiệp dài ngày vẫn chiếm tỷ trọng cao và tăng mạnh những năm qua Hay nói cách khác, nguồn lực đất đai của huyện đang được tập trung phân bổ cho sản xuất cây công nghiệp là chủ yếu

Hãy xem xét tỷ trọng và sự thay đổi tỷ trọng diện tích cây trồng của

huyện Tình hình này thể hiện ở bảng 2.8

Trang 38

Bảng 2.8 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo diện tích của huyện

(Nguồn: xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Trong cơ cấu diện tích cây trồng của huyện Đức Cơ, diện tích cây công nghiệp dài ngày vẫn chiếm tương đối cao, chiếm 78% năm 2015; xếp thứ hai

là diện tích cây lấy củ, hơn 15% và thấp nhất là cây công nghiệp ngắn ngày, chỉ khoảng 0.12%

Sự thay đổi tỷ trọng diện tích các loại cây trồng theo hai chiều hướng khác nhau Trong khi diện tích cây công nghiệp dài ngày tăng hơn 10% trong giai đoạn 2011-2015, thì diện tích các cây trồng khác đều giảm

Phần tiếp theo, sẽ phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu diện tích cây trồng theo từng nhóm cây trồng Đây là những thông tin quan trọng để hình dung ra toàn cảnh sự chuyển dịch cơ cấu diện tích của từng nhóm và thể hiện

rõ hơn xu thế phân bổ diện tích đất cho sản xuất các loại cây trồng

Cơ cấu diện tích cây trồng trong ngành trồng trọt của huyện Đức Cơ phân theo hai ngành chính là, cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp, được thể hiện trên Bảng 2.9 Theo số liệu ở đây cho thấy, diện tích cây công nghiệp vẫn chiếm đa số, hiện vẫn là 78.2% và diện tích cây lương thực, thực

Trang 39

phẩm chỉ là 21.8% Xu thế thay đổi tỷ trọng diện tích cây trồng cho thấy, tỷ trọng diện tích dành cho sản xuất cây công nghiệp tăng từ 68,3% năm 2011 lên 78.2% năm 2015, tăng 9.9% Trong thời gian này, tỷ trọng diện tích sản xuất cây lương thực, thực phẩm đã giảm từ 31.7% xuống 21.8%, hay giảm 9.9%

Bảng 2.9 Cơ cấu diện tích cây trồng trong ngành trồng trọt của huyện Đức Cơ

(ĐVt: %)

2015/ 2011 Cây lương thực và

(Nguồn: Xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Xu thế này thể hiện rõ chiều hướng phân bổ tài nguyên đất đai cho sản xuất theo nhu cầu của thị trường sản phẩm và điều kiện tự nhiên của địa phương Hãy xem xét sự thay đổi tỷ trọng diện tích các loại cây trồng trong sản xuất cây lương thực và thực phẩm

Xu thế chuyển dịch cơ cấu diện tích các loại cây lương thực, thực phẩm đang có sự thay đổi theo chiều hướng giảm dần tỷ trọng cây lấy củ và tăng dần cây lương thực Tỷ trọng cây lương thực tăng từ 21.4% năm 2011 lên 28.1% năm 2015, tăng 6.7%; trong khi đó tỷ trọng của cây lấy củ giảm từ 76.4% xuống còn 69.9%, tức giảm đi 6.6% trong thời kỳ này Lưu ý, cây lấy

củ chủ yếu vẫn là cây sắn Người sản xuất trồng sắn để cung cấp sản phẩm sắn lát khô xuất khẩu và sắn tưới cho các nhà máy chế biến tinh bột sắn, nhưng sắn lát khô vẫn là chủ yếu Nhưng giá cả biến động cộng với việc chính quyền địa phương đang khuyến khích chuyển đổi và giảm diện tích loại cây trồng này nên diện tích đang giảm dần

Trang 40

Bảng 2.10 Cơ cấu diện tích của cây lương thực, thực phẩm của huyện Đức Cơ

(Nguồn: Xử lý từ niên giám thống kê năm 2015 của huyện Đức Cơ)

Tỷ trọng cơ cấu diện tích cây công nghiệp lâu năm được thể hiện trên bảng 2.11 Trong sản xuất cây công nghiệp lâu năm, tỷ trọng diện tích sản xuất chủ yếu vẫn là cây cao su, hiện diện tích vẫn chiếm hơn 55%; tiếp đó là

tỷ trọng diện tích cây cà phê, hiện chiếm khoảng 26%, cây điều chiếm khoảng 16% và thấp nhất là cây tiêu chỉ khoảng 3%

Tuy nhiên, xét về xu thế chuyển dịch cơ cấu theo diện tích cây công nghiệp dài ngày Tỷ trọng diện tích cao su đã giảm từ 67.4% năm 2011 xuống 55.2% năm 2015, giảm 12.2% Các loại cây trồng khác đều tăng dần, trong đó cây cà phê có diện tích tăng 8%

Bảng 2.11 Cơ cấu diện tích của cây công nghiệp dài ngày của huyện Đức Cơ

Ngày đăng: 27/11/2017, 21:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w