Điều đáng nói ở đây là Người đã tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài : “Người đã chịu ảnh hưởng tất cả các nền văn hóa, đã tiếp thu mọi cái đẹp và cái hay đồng thời
Trang 1ĐỖ KIM HẢO - ĐẶNG QUỐC KHÁNH - MAI XUÂN MIÊN
TRẦN HÀ NAM - ĐẶNG CAO SỬU
BỒI DƯỠNG NGỮ VĂN 9
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Các em học sinh lớp 9 thân mến,
Cuốn “Bồi dưỡng Ngữ văn 9” được biên soạn nhằm giúp cho các em có thể tự học để mở rộng,nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng về Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn, theo hướng tích hợp của sáchgiáo khoa “Ngữ văn 9”
Ở phần Văn, các tác phẩm và đoạn trích được biên soạn theo các mục : Kiến thức cơ bản và Đề
văn luyện tập (những văn bản nghị luận và văn bản nhật dụng không có mục thứ hai) Mục Kiến thức
cơ bản nhằm giúp cho các em nắm vững được những kiến thức cần thiết về tác phẩm và rèn luyện năng lực đọc – hiểu văn bản Mục Đề văn luyện tập giới thiệu với các em một số đề nghị luận văn chương
kèm theo dàn ý và bài viết gợi ý, nhằm tạo điều kiện cho các em ôn luyện và nâng cao kiến thức văn,đồng thời rèn luyện năng lực nghị luận, năng lực tạo lập văn bản Do khuôn khổ có hạn, ở một số bài,
mục Đề văn luyện tập được thay bằng mục Tư liệu tham khảo, tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với ý
kiến của các nhà nghiên cứu phê bình văn học có uy tín, nhằm mở rộng kiến thức và rèn luyện năng lựccảm thụ văn chương
Ở phần Tiếng Việt và phần Tập làm văn, các bài học được biên soạn theo hai mục : Kiến thức
cần nhớ và Thực hành – Luyện tập Bên cạnh những ví dụ và bài tập tiêu biểu trong sách giáo khoa,
cuốn sách còn giới thiệu với các em những ví dụ và những dạng bài tập mới, vừa thiết thực vừa nângcao
Để sử dụng tốt cuốn sách này, các em cần kết hợp chặt chẽ với sách giáo khoa Muốn tiến bộ, các
em cần biết tự đọc, tự học một cách tích cực, chủ động và sáng tạo
Chúng tôi hi vọng cuốn sách sẽ là người bạn thân thiết, đáng tin cậy của các em trên con đườnghọc tập
Chúng tôi mong nhận được những góp ý xây dựng của bạn đọc xa gần, đặc biệt là của quý thầy
cô giáo và các em học sinh
Thay mặt nhóm biên soạn
ĐỖ KIM HẢO
Trang 3
B Đọc – Hiểu văn bản :
1 Phần đầu của văn bản nói về vốn tri thức văn hóa nhân loại vô cùng sâu rộng của Hồ Chí Minh
: “Trong cuộc đời đầy truân chuyên của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới, cả ở phương Đông và phương Tây Trên những con tàu vượt trùng dương, Người đã ghé lại nhiều hải cảng, đã thăm các nước châu Phi, châu Á, châu Mĩ Người đã từng sống dài ngày ở Pháp, ở Anh Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc : Pháp, Anh, Hoa, Nga … và Người đã làm nhiều nghề Có thể nói ít có vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hóa thế giới sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí Minh Đến đâu Người cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm”.
Cha ông ngày xưa nói “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Bác đi nhiều nơi nên học hỏi
được nhiều Nhưng vấn đề là học bằng cách nào ? Để có được vốn văn hóa sâu rộng ấy, trước hết, Bác
phải nắm vững phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ : “Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc : Pháp, Anh, Hoa, Nga …” ; nắm vững ngôn ngữ để học qua sách vở, qua giao tiếp Bên cạnh đó, còn phải học hỏi qua lao động, qua công việc : “Người đã làm nhiều nghề” Bằng những cách ấy, Bác đã có được một vốn tri thức đạt đến mức “sâu sắc”, “uyên thâm” Điều đáng nói ở đây là Người đã tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài : “Người đã chịu ảnh hưởng tất cả các nền văn hóa,
đã tiếp thu mọi cái đẹp và cái hay đồng thời với việc phê phán những tiêu cực của chủ nghĩa tư bản” Bác tiếp thu trên nền tảng sâu vững của văn hóa dân tộc để tạo nên những giá trị độc đáo : “…điều kì
lạ là tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hóa dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”
2 Phần thứ hai của văn bản nói về lối sống giản dị mà thanh cao của Hồ Chí Minh Tác giả đã
giới thiệu lối sống ấy một cách cụ thể bằng những chi tiết tiêu biểu, từ ngôi nhà cho đến trang phục và
cách ăn uống Mở đầu là một lời bình luận đầy ấn tượng : “Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ
cả thế giới, có một vị Chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao là “cung điện” của mình” Nghệ thuật đối lập đã làm nổi bật vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh : vĩ nhân mà hết sức
giản dị, gần gũi Tác giả khiến người đọc hình dung trong sự đối chiếu các hình ảnh : cung điện củanhững ông vua ngày xưa, những tòa nhà nguy nga tráng lệ của các vị nguyên thủ quốc gia, và ngôi nhà
sàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao”, có ai ngờ hình ảnh đơn sơ mang đậm hồn nông thôn như thế, “chỉ vẻn vẹn có vài phòng”, “với những đồ đạc rất mộc mạc đơn sơ” lại là nơi ở, nơi làm việc của một vị Chủ tịch nước Trong bài “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân
tộc, tinh hoa của thời đại”, khi nói về đức tính giản dị của Bác Hồ, Phạm Văn Đồng cũng nhắc đến ngôi
nhà sàn “luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn” Chủ nhân ngôi nhà sàn đơn sơ ấy “cũng trang phục hết sức giản dị, với bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ như của các chiến sĩ Trường Sơn” Và “việc ăn uống của Người cũng rất đạm bạc, với những món ăn dân tộc không chút cầu kì, như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa” Am
hiểu văn hóa nhân loại mà cách sống lại hết sức dân tộc, rất Việt Nam Khép lại đoạn văn kể về lối sống
Trang 4của Bác cũng là một lời bình luận đầy sức thuyết phục : “Tôi dám chắc không có một vị lãnh tụ nào,một vị tổng thống hay một vị vua hiền nào ngày trước lại sống giản dị và tiết chế đến mức như vậy”.
“Tiết chế” là hạn chế, là giữ không cho vượt quá mức Tuy nhiên, không nên hiểu “tiết chế” là lối sống
khắc khổ theo kiểu nhà tu hành ; cũng không nên hiểu là tự hạn chế mình để trở thành khác đời, hơnđời Sống giản dị, đó không chỉ là một lối sống, thể hiện một quan niệm sống, mà còn gắn với mộtquan niệm thẩm mĩ, quan niệm về cái đẹp : cái đẹp là sự giản dị, tự nhiên Cho nên, sống giản dị màthanh cao chính là ở đó Cái đẹp, cái thanh cao nằm ngay trong cái giản dị Tác giả đối chiếu lối sống
của Bác với lối sống của “các vị hiền triết ngày xưa như Nguyễn Trãi ở Côn Sơn hay Nguyễn Bỉnh Khiêm sống ở quê nhà với những thú quê thuần đức” Bác đã từng tâm sự : ước nguyện của Bác là sau khi hoàn thành tâm nguyện cứu nước cứu dân, Bác sẽ “làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu với vòng danh lợi” Ta chợt nhận ra trong ước nguyện của Bác cái thú điền viên, thú lâm tuyền của
những bậc triết nhân hiền giả ngày xưa gặp lúc thời thế nhiễu nhương không thể hành đạo giúp đời, đã
từ bỏ công danh, tìm đến cuộc sống ẩn dật nơi núi rừng, bạn cùng hoa cỏ gió trăng, giữ tâm hồn trongsạch Nguyễn Trãi xưa về lại Côn Sơn để làm bạn với suối chảy rì rầm, với bàn đá rêu phơi, với bóngmát của rừng thông, rừng trúc xanh mát một màu Nguyễn Bỉnh Khiêm vui thú điền viên với cảnh sống
nơi thôn dã “Một mai, một cuốc, một cần câu”, với cảnh thanh bần “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá – Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” để di dưỡng tinh thần Nhưng có điều, Bác vẫn không phải là nhà hiền
triết ẩn dật, lánh đời Lối sống của Bác là một lối sống rất dân tộc, in đậm nét đẹp của truyền thống,
nhưng vẫn rất hiện đại Theo Phạm Văn Đồng, “Bác Hồ sống đời sống giản dị, thanh bạch như vậy, bởi
vì Người sống sôi nổi, phong phú đời sống và cuộc đấu tranh gian khổ và ác liệt của quần chúng nhân dân Đời sống vật chất giản dị càng hòa hợp với đời sống tâm hồn phong phú, với những tư tưởng, tình cảm, những giá trị tinh thần cao đẹp nhất Đó là đời sống thực sự văn minh mà Bác Hồ nêu gương sáng trong thế giới ngày nay”.
C Tổng kết :
Bằng một lối viết giàu sức thuyết phục, tác giả Lê Anh Trà đã cho người đọc thấy được vẻ đẹpvăn hóa trong phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa dântộc và nhân loại, giữa vĩ đại và giản dị Bài văn có ý nghĩa bồi đắp tình cảm tự hào và kính yêulãnh tụ
ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH
(Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két)
KIẾN THỨC CƠ BẢN
A Giới thiệu :
Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két, nhà văn Cô-lôm-bi-a, sinh năm 1928, là tác giả của nhiều tiểu thuyết
và tập truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo, nổi tiếng nhất là tiểu thuyết “Trăm năm côđơn” (1967) Mác-két được nhận giải thưởng Nô-ben văn học năm 1982
B Đọc – Hiểu văn bản :
Chủ đích của tác giả không phải chỉ là chỉ ra nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa loài người, màcòn nhấn mạnh vào nhiệm vụ đấu tranh để ngăn chặn nguy cơ ấy Vì thế nhan đề của bài được đặt là
“Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”
Luận đề của bài : Chiến tranh hạt nhân là một hiểm họa khủng khiếp đang đe dọa toàn thể loàingười và mọi sự sống trên Trái Đất, vì vậy, đấu tranh để loại bỏ nguy cơ ấy cho một thế giới hòa bình lànhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại
Luận đề cơ bản trên được triển khai trong một hệ thống luận điểm khá toàn diện :
+ Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng hủy diệt cả Trái Đất và các hành tinh kháctrong hệ Mặt Trời
+ Cuộc chạy đua vũ trang đã làm mất đi khả năng cải thiện đời sống cho hàng tỉ người Những ví
dụ so sánh trong các lĩnh vực xã hội, y tế, tiếp tế thực phẩm, giáo dục,… với những chi phí khổng lồcho chạy đua vũ trang đã cho thấy tính chất phi lí của việc đó
Trang 5+ Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí của loài người mà còn ngược lại với lí trí của
tự nhiên, phản lại sự tiến hóa
+ Vì vây, tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh chomột thế giới hòa bình
Phân tích các luận điểm :
1 Nguy cơ chiến tranh hạt nhân
Để cho thấy tính chất hiện thực và sự khủng khiếp của nguy cơ này, tác giả đã bắt đầu bài viết
bằng việc xác định cụ thể thời gian (hôm nay ngày 8 – 8 – 1986) và đưa ra số liệu cụ thể đầu đạn hạt nhân với một phép tính đơn giản : “Hôm nay ngày 8 – 8 – 1986, hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân đã được
bố trí khắp hành tinh Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là tất cả mọi người không từ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ : tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần
mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên Trái Đất”.
Để thấy rõ hơn sức tàn phá khủng khiếp của kho vũ khí hạt nhân, tác giả còn đưa ra những tínhtoán lí thuyết : kho vũ khí ấy có thể tiêu diệt các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốnhành tinh nữa và phá hủy thế thăng bằng của hệ Mặt Trời
Cách vào đề trực tiếp và những chứng cứ rất rõ ràng, mạnh mẽ đã thu hút người đọc, gây ấntượng về tính chất hệ trọng của vấn đề
2 Cuộc chạy đua vũ trang chuẩn bị cho chiến tranh hạt nhân đã làm mất đi khả năng để con người được sống tốt đẹp hơn.
Để làm rõ luận điểm này, tác giả đã đưa ra hàng loạt dẫn chứng với những so sánh thật thuyếtphục trong các lĩnh vực xã hội, y tế, tiếp tế thực phẩm, giáo dục Đây đều là những lĩnh vực hết sứcthiết yếu trong cuộc sống con người, đặc biệt là với các nước nghèo, chưa phát triển Ở mỗi lĩnh vực,tác giả đưa ra từ một đến hai ví dụ :
+ Về lĩnh vực xã hội : chương trình giải quyết những vấn đề cấp bách cho 500 triệu trẻ em nghèo
khổ nhất trên thế giới là “một giấc mơ không thể thực hiện được vì tốn kém 100 tỉ đô la” ; nhưng số tiền khổng lồ đó “cũng chỉ gần bằng những chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của
Mĩ và cho dưới 7000 tên lửa vượt đại châu”.
+ Về lĩnh vực y tế : “giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân kiểu tàu Ni-mít trong số
15 chiếc mà Hoa Kì dự định đóng” cũng đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong 14 năm,
sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em ở châu Phi
+ Về lĩnh vực tiếp tế thực phẩm : chi phí cứu 575 triệu người thiếu dinh dưỡng trên thế giới chỉtốn kém không bằng 149 tên lửa MX… ; chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho cácnước nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm
+ Về lĩnh vực giáo dục : chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xoá nạn mù chữcho toàn thế giới
Nghệ thuật lập luận thật đơn giản mà chắc chắn “Những con số biết nói” trong các ví dụ so sánhlàm người đọc bất ngờ khi biết được sự tốn kém ghê gớm và tính chất phi lí của cuộc chạy đua vũtrang, giúp người đọc nhận thức đầy đủ một sự thật hiển nhiên mà phi lí : cuộc chạy đua hạt nhân đã vàđang cướp đi của thế giới nhiều điều kiện để cải thiện cuộc sống của con người, nhất là các nướcnghèo
3 Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí của loài người mà còn ngược lại với lí trí của tự nhiên, phản lại sự tiến hóa.
Chiến tranh hạt nhân không chỉ tiêu diệt nhân loại mà còn tiêu hủy mọi sự sống trên Trái Đất.Quy luật của tự nhiên là quy luật tiến hóa của sự sống Vì vậy, hủy diệt sự sống là phản tiến hóa, là đingược lại lí trí của tự nhiên
Để làm rõ luận điểm này, tác giả đã đưa ra những chứng cứ từ khoa học địa chất và cổ sinh học
về nguồn gốc và sự tiến hóa của sự sống trên Trái Đất, cho thấy sự sống ngày nay trên Trái Đất và conngười là kết quả của một quá trình tiến hóa hết sức lâu dài của tự nhiên, một quá trình được tính bằng
hằng triệu năm Thế mà hiện nay, con người “chỉ cần bấm nút một cái là đưa cả quá trình vĩ đại và tốn
Trang 6kém đó của hàng bao nhiêu triệu năm, trở lại điểm xuất phát của nó” Sự tương phản giữa hằng trăm
triệu năm và một khoảnh khắc đã làm nổi bật hiểm họa chiến tranh hạt nhân ở tính chất phản tiến hóa,
phản tự nhiên của nó Khi viết : “Trong thời đại hoàng kim này của khoa học, trí tuệ con người chẳng
có gì để tự hào vì đã phát minh ra một biện pháp, chỉ cần bấm nút…”, giọng văn mỉa mai của tác giả
ngầm ý kết tội việc chạy đua hạt nhân là một điều ngu xuẩn
4 Nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
Đây là luận điểm để kết bài, và cũng là chủ đích của thông điệp mà tác giả muốn gửi tới mọingười
Sau khi đã chỉ ra một cách hết sức rõ ràng về hiểm họa hạt nhân đang đe dọa loài người và sựsống trên trái Đất, tác giả không dẫn người đọc đến sự lo âu mang tính bi quan về vận mệnh của nhânloại, mà hướng tới một thái độ tích cực là đấu tranh ngặn chặn chiến tranh hạt nhân, cho một thế giớihòa bình : “Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem tiếng nói của chúng ta tham gia vàobản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, côngbằng” Có thể ai đó sẽ nghi ngờ hiệu quả của tiếng nói đấu tranh Tác giả tiếp tục khẳng định sự cầnthiết phải có mặt trong hàng ngũ những người đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân : “dù tai họa cóxảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích”
Để kết thúc lời kêu gọi của mình, tác giả đề nghị : cần lập ra một nhà băng lưu giữ trí nhớ tồn tạiđược cả sau tai họa hạt nhân, để nhân loại các thời đại sau biết đến cuộc sống của chúng ta đã từng tồntại trên Trái Đất và không quên những kẻ đã vì những lợi ích ti tiện mà đẩy nhân loại vào họa diệtvong Nhà văn muốn nhấn mạnh : nhân loại cần giữ gìn kí ức của mình, lịch sử sẽ lên án những thế lựchiếu chiến đẩy nhân loại vào thảm họa hạt nhân
C Tổng kết :
Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn thể loài người và sự sống trên Trái đất Cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém đã cướp đi của thế giới nhiều điều kiện để phát triển, để loại trừ nạn đói, nạn thất học và khắc phục nhiều bệnh tật cho hàng trăm triệu con người, nhất là ở những nước chậm phát triển Đấu tranh cho hòa bình, ngặn chặn và xóa bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thân và cấp bách của mỗi người, của toàn thể loài người.
Bài “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của nhà văn nổi tiếng Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két
đã đề cập vấn đề cấp thiết nói trên với sức thuyết phục cao bởi lập luận chặt chẽ, chứng cứ phong phú, xác thực, cụ thể và còn bởi nhiệt tình của tác giả.
TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN, QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EMKIẾN THỨC CƠ BẢN
A Giới thiệu :
Văn bản trích phần đầu bản “Tuyên bố” của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp tại trụ sởLiên hợp quốc, Niu Oóc ngày 30-9-1990, in trong cuốn “Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻem” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997)
Hội nghị diễn ra trong bối cảnh mấy mươi năm cuối thế kỉ XX, khoa học kĩ thuật phát triển, kinh
tế tăng trưởng, tính cộng đồng, hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới được củng cố, mở rộng Đó lànhững điều kiện thuận lợi đối với nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em Song bên cạnh đó cũng có không
ít khó khăn, nhiều vấn đề cấp bách đang đặt ra : sự phân hóa rõ rệt về mức sống giữa các nước, về giàu– nghèo, tình trạng chiến tranh và bạo lực ở nhiều nơi trên thế giới, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn, bị tàn tật, bị bóc lột, và nguy cơ thất học ngày càng nhiều …
B Đọc – Hiểu văn bản :
Văn bản gồm 17 mục
Trang 7Sau hai mục đầu khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của mọi trẻ em trên thếgiới, khẩn thiết kêu gọi toàn nhân loại hãy quan tâm đến vấn đề này, 15 mục còn lại được bố cục thành
3 phần Mỗi phần được đặt tiêu đề rõ ràng, thể hiện tính chặt chẽ, hợp lí của văn bản
1 Phần “Sự thách thức” : gồm 5 mục (3, 4, 5, 6, 7), nêu lên những thực tế, những con số về
cuộc sống khổ cực trên nhiều mặt, về tình trạng bị rơi vào hiểm họa của nhiều trẻ em trên thế giới hiệnnay
Phần này liên kết với phần trên bằng một câu văn chuyển ý rất khéo : “Tuy nhiên, thực tế cuộcsống thời thơ ấu của nhiều trẻ em lại không như vậy” (mục 3) Tiếp đó, ba mục 4, 5, 6 đưa ra nhữngdẫn chứng đầy sức thuyết phục để làm rõ cuộc sống khổ cực trên nhiều mặt, về tình trạng bị rơi vàohiểm họa của nhiều trẻ em trên thế giới hiện nay, cụ thể là :
+ Bị trở thành nạn nhân của chiến tranh và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc, chế độ thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài
a-pác-+ Chịu đựng những thảm họa của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, của tình trạng vô gia cư, dịchbệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp
+ Chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật
Trên cơ sở thực tiễn đó, mục 7 khái quát : “Đó là những thách thức mà chúng tôi, với tư cách những nhà lãnh đạo chính trị, phải đáp ứng”.
2 Phần “Cơ hội” :
Phần này gồm 2 mục (8, 9), khẳng định những điều kiện thuận lợi cơ bản để cộng đồng quốc tế
có thể đẩy mạnh việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em, cụ thể là :
+ Sự liên kết lại của các quốc gia cùng ý thức cao của cộng đồng quốc tế trên lĩnh vực này Đã cócông ước về quyền trẻ em làm cơ sở, tạo ra một cơ hội mới
+ Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế ngày càng có hiệu quả cụ thể trên nhiều lĩnh vực ; phong tràogiải trừ quân bị được đẩy mạnh tạo điều kiện cho một số tài nguyên to lớn có thể được chuyển sangphục vụ các mục tiêu kinh tế, tăng cường phúc lợi xã hội
Trong xu thế chung của thế giới, vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở nước ta đang được Đảng vàNhà nước quan tâm một cách cụ thể Nhận thức trong cộng đồng về vấn đề này ngày càng sâu sắc,nhiều tổ chức xã hội và cá nhân đang tích cực tham gia vào các phong trào vì trẻ em…
3 Phần “Nhiệm vụ” : gồm 8 mục (từ mục 10 đến mục 17), xác định những nhiệm vụ cụ thể mà
từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần làm vì sự sống còn, phát triển của trẻ em
Trên cơ sở những thách thức và cơ hội, văn bản nêu lên những nhiệm vụ cấp bách cần làm :+ Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em
+ Quan tâm, chăm sóc trẻ em bị tàn tật và trẻ em có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn
+ Tăng cường vai trò của phụ nữ nói chung và phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ đểthực hiện lợi ích của trẻ em, đặc biệt là các em gái
+ Bảo đảm sao cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở và không để cho một em nào mù chữ.+ Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tạo điều kiện để trẻ em lớn khôn và phát triển trên nền mónggia đình
+ Phải chuẩn bị để các em có thể sống một cuộc sống có trách nhiệm trong một xã hội tự do.+ Vì tương lai của trẻ em, cần cấp bách bảo đảm hoặc khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triểnđều đặn nền kinh tế ở tất cả các nước
Các nhiệm vụ được nêu ra vừa cụ thể, vừa toàn diện, bao quát trên mọi lĩnh vực (y tế, giáo dục,
xã hội), mọi đối tượng (trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn, em trai, em gái),
và mọi cấp độ (gia đình, xã hội, quốc gia, cộng đồng quốc tế)
Điều quan trọng là các nhiệm vụ đó được nêu lên với một thái độ dứt khoát, thể hiện quyết tâm
cao độ của cộng đồng quốc tế Mục 17 nhấn mạnh : “Các nhiệm vụ đó đòi hỏi tất cả các nước cần phải
có những nỗ lực liên tục và phối hợp với nhau trong hành động của từng nước cũng như trong hợp tác quốc tế”.
C Tổng kết :
Trang 8Tóm lại, bảo vệ quyền lợi, chăm lo đến sự phát triển của trẻ em là một trong những vấn đề quan trọng, cấp bách có ý nghĩa toàn cầu Bản “Tuyên bố” của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em ngày 30 – 9 – 1990 đã khẳng định điều đó và cam kết thực hiện những nhiệm vụ có tính toàn diện vì sự sống còn, phát triển của trẻ em, vì tương lai của toàn nhân loại.
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích “Truyền kì mạn lục” – Nguyễn Dữ)
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
A Giới thiệu :
1 Vài nét về tác giả :
Nguyễn Dữ người làng Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương Không rõ ông sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống ở thế kỉ XVI, thời kì triều đình nhà Lê đãbắt đầu suy thoái, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra các cuộc nộichiến kéo dài Nguyễn Dữ học rộng tài cao Theo Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” (1777),Nguyễn Dữ thi Hương đỗ Hương cống, thi Hội trúng kì đệ tam, được bổ làm tri huyện Thanh Tuyền(nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) Nhưng ông chỉ làm quan có một năm rồi xin nghỉ về nhà nuôi mẹ già
và viết sách, sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời
2 “Truyền kì mạn lục” (Ghi chép tản mạn những điều kì lạ được lưu truyền) được viết bằng
chữ Hán, gồm 20 truyện, khai thác từ các truyện cổ dân gian và các truyền thuyết lịch sử, dã sử củaViệt Nam Các truyện được viết bằng tản văn xen lẫn biền văn và thơ ca, từ khúc, cuối mỗi truyệnthường có lời bình của tác giả Nội dung tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc Tác giả lấyxưa để nói nay, lấy cái “kì” để nói cái “thực” Nhân vật chính trong các truyện thường là :
+ Những người phụ nữ đức hạnh, khao khát một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, nhưng các thếlực bạo tàn và cả lễ giáo khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất, bất hạnh.+ Những người trí thức có tâm huyết, bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòngdanh lợi chật hẹp
3 “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyện thứ mười sáu trong số hai mươi truyện của
“Truyền kì mạn lục” Truyện có nguồn gốc từ truyện dân gian “Vợ chàng Trương” Đây là câu chuyện
về số phận oan nghiệt của một người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh dưới chế độ phụ quyền phongkiến, chỉ vì một lời nói ngây thơ của con trẻ mà bị nghi ngờ, bị sỉ nhục, bị đẩy đến bước đường cùng,phải tự kết liễu đời mình để bày tỏ tấm lòng trong sạch Cũng giống như truyện dân gian, truyện thểhiện mơ ước ngàn đời của nhân dân là “ở hiền gặp lành”, người tốt bao giờ cũng được đền trả xứngđáng
B Đọc – Hiểu văn bản :
1 Truyện có thể chia làm 3 đoạn :
+ Đoạn 1 : từ đầu đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”, nói về cuộc hôn nhân giữa Trương
Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách
+ Đoạn 2 : “Qua năm sau … nhưng việc trót đã qua rồi”, nói về nỗi oan khuất và cái chết bi thảm
của Vũ Nương
+ Đoạn 3 : phần còn lại, Vũ Nương được cứu và sống ở thủy cung của Linh Phi Nỗi oan được
giải nhưng nàng quyết không trở lại trần gian
2 Nhân vật Vũ Nương :
“Chuyện người con gái Nam Xương” là chuyện về nàng Vũ Nương – vợ chàng Trương Sinh :
“Vũ Thị Thiết, người con gái Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” Nếu
truyện cổ tích thường chỉ thiên về cốt truyện và hành động của nhân vật, thì ở đây, dưới ngòi bút sángtạo nghệ thuật của Nguyễn Dữ, nhân vật hiện lên có đời sống, có tính cách rõ rệt hơn nhiều Tác giả đãđặt nàng Vũ Nương vào nhiều tình huống khác nhau để khắc họa tính cách nhân vật
Trang 92.1 Trong cuộc sống vợ chồng bình thường : chồng có tính đa nghi, nhưng nàng đã là một
người vợ tốt, biết giữ đạo làm vợ, lúc nào cũng “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”.
2.2 Khi tiễn chồng đi lính, nàng rót rượu tiễn chồng và nói những lời mà ai nghe cũng “đều ứa
hai hàng lệ” Nàng không mong vinh hiển mà chỉ mong cho chồng được bình an trở về : “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm, trở về quê cũ, chỉ xin ngày
về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Đó là mong ước hết sức bình thường của một
người vợ, một người phụ nữ khao khát cuộc sống gia đình bình yên Tình thương chồng còn thể hiện
qua sự cảm thông những vất vả gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng : “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có…”, qua nỗi khắc khoải nhớ nhung : “mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rũ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú ! Dù có thư tín ngàn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng” Trong
nỗi niềm của người vợ xa chồng, nàng cảm thông cho cả nỗi niềm của bà mẹ xa con
2.3 Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thủy chung, yêu chồng tha thiết Tác giả đã miêu tả
thật xúc động nỗi buồn thương nhớ chồng khắc khoải triền miên theo thời gian : “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được” Thời gian trôi qua, không gian cảnh vật thay đổi, mùa xuân vui tươi –
“bướm lượn đầy vườn”, mùa đông ảm đạm – “mây che kín núi”, còn lòng người thì chỉ dằng dặc một
nỗi buồn thương
Nàng còn là người mẹ hiền, dâu thảo Chồng đi chinh chiến xa xôi, một mình nàng vừa nuôi con
nhỏ, vừa chăm sóc mẹ chồng Cách chăm sóc của nàng thật cảm động Mẹ già đau ốm, “nàng hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” Lời trối trăng của bà mẹ
chồng trước khi mất chính là một sự ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của nàng đối với gia
đình nhà chồng : “Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con Chồng con nơi xa xôi, chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, trời xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ” Mẹ mất, “nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình” Nàng làm tất cả những việc đó không phải vì trách nhiệm mà vì tình
nghĩa thực sự trong lòng
Vũ Nương là người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam truyềnthống
2.4 Khi bị chồng nghi oan :
+ Nàng một mực phân trần để chồng hiểu rõ lòng mình Nàng nói về thân phận mình : “Thiếp vốn con nhà kẻ khó, được nương tựa nhà giàu” Nàng nói về tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng thủy chung trong trắng của mình : “Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói” Nàng cầu xin chồng đừng nghi oan :
“Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp” Trong những
lời nói ấy, Vũ Nương đã cố gắng tìm mọi cách để hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ
+ Vũ Nương hết lời phân trần nhưng Trương Sinh vẫn không tin, vẫn “mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” Ngay đến cái quyền được tự bảo vệ mình, nàng cũng không có Lời nói của nàng thâu tóm tất
cả những đau khổ của một đời phụ nữ Hạnh phúc gia đình – “cái thú vui nghi gia nghi thất”, niềm khao khát của cả đời nàng đã tan vỡ Tình yêu cũng không còn : “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió ; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn” Ngay cả nỗi đau khổ chờ chồng đến hóa đá trước đây cũng không còn có thể làm lại được nữa : “nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng phu kia nữa”.
+ Mọi cố gắng của Vũ Nương đều trở thành vô ích Không thể giải được nỗi oan khuất, tất cả đãtan vỡ, nàng đau khổ tuyệt vọng tìm đến cái chết để bày tỏ tấm lòng trong trắng, mượn nước sông để
Trang 10rửa sạch tiếng nhơ oan ức “Nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng :
- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.”.
Lời than như một lời nguyền, xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và tiết sạch giá trong củanàng, của một “kẻ bạc mệnh” đầy đau khổ Hành động tự trẫm mình của nàng là một hành động quyếtliệt cuối cùng để bảo toàn danh dự Truyện cổ tích miêu tả việc tự tử của nàng như một hành động bộtphát trong cơn tuyệt vọng : “Vũ Nương chạy một mạch ra bến Hoàng Giang đâm đầu xuống nước”.Trong tác phẩm của Nguyễn Dữ, hành động ấy có nỗi đau khổ tuyệt vọng nhưng cũng có sự tham gia
của lí trí Có thể thấy rõ điều đó qua chi tiết nàng “tắm gội chay sạch” trước khi quyên sinh, và lời
nguyền của nàng rất rõ ràng, dứt khoát Cái chết của Vũ Nương thể hiện nỗi đau khổ của nàng đã lênđến tột cùng
Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, thùy mị, nết na, hiền thục, lại đảm đang tháo vát,phụng dưỡng mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thủy chung với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúcgia đình Nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, thế nhưng lại phải chết một cách oan uổng,đau đớn Câu chuyện về Vũ Nương đã thể hiện sâu sắc số phận bi kịch của người phụ nữ trong chế độphụ quyền phong kiến đầy bất công
3 Nhân vật Trương Sinh :
3.1 Trương Sinh là “con nhà hào phú, nhưng không có học” Trương lấy Vũ Nương nào phải là
tình yêu, mà chỉ là “mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về” Mầm mống bi kịch
của Vũ Nương có lẽ đã bắt đầu từ những yếu tố này Cuộc hôn nhân vốn đã không bình đẳng giữa nam
và nữ, lại thêm sự cách bức giàu nghèo : Vũ Nương “vốn con kẻ khó”, lấy Trương Sinh là “được nương tựa nhà giàu” Vũ Nương sẽ là nạn nhân của một chế độ đầy bất công.
3.2 Trong đời sống vợ chồng, Trương là người chồng “có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa
quá sức”.
3.3 Hết chiến tranh, Trương Sinh trở về và đối diện với nỗi mất mát : mẹ già thương nhớ con nên
sinh bệnh và đã qua đời
Trong hoàn cảnh và tâm trạng như thế, tính tình chàng càng dễ bị kích động Lời nói ngây thơ củacon trẻ đã kích động tính ghen tuông của Trương Tác giả đã xây dựng đoạn truyện này bằng những chi
tiết đầy kịch tính Chàng bế con, “đứa trẻ không chịu, ra đến đồng, nó quấy khóc” Chàng dỗ dành, đứa con ngây thơ nói “Ô hay ! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít” Lời nói được tách ra thành hai phần, phần sau thông tin càng “ghê gớm” hơn phần
trước Làm sao Trương Sinh khỏi bàng hoàng khi biết đứa trẻ có những hai người cha, người cha –
Trương Sinh biết nói còn người cha trước kia “chỉ nín thin thít” ? Sau đó lại thêm những thông tin :
“một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả” Tục ngữ có câu : “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, trẻ con bao giờ cũng nói thật Những lời
nói ngây thơ của đứa con khiến người ta không thể không nghĩ đến cảnh tượng của một đôi gian phu
dâm phụ, huống chi là Trương Sinh : “Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được” (Cách dẫn dắt tình tiết như vậy là rất chân thực và
khéo léo.)
Tuy nhiên, điều đáng trách là cách xử sự của Trương Sinh Con người ít học này đã hành động
một cách quá nông nổi và hồ đồ Không cần hỏi đến vợ nửa lời, vừa về đến nhà, chàng đã “la um lên cho hả giận” Chàng không còn bĩnh tĩnh để phân tích, phán đoán, mặc kệ những lời phân trần của Vũ Nương, rồi “họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng, cũng chẳng ăn thua gì” Cách duy
nhất để làm sáng tỏ mọi chuyện là giải quyết chính cái nguyên nhân gây xung đột : kể lại câu chuyệncủa đứa trẻ Nhưng điều tệ hại nhất là chàng cũng không cho nàng cơ hội để minh oan khi nhất quyết
Trang 11“giấu khơng kể lời con nĩi” Trương Sinh từ một người chồng độc đốn, ghen tuơng mù quáng, đã trở thành một kẻ vũ phu, thơ bạo : “mắng nhiếc nàng, và đánh đuổi đi” Hàng động ấy đã bức tử Vũ
Nương, đã buộc người phụ nữ đáng thương ấy phải chết một cách bi thảm Đáng giận hơn nữa là cái
chết của Vũ Nương vẫn khơng thể làm cho Trương tỉnh ngộ để tin nàng trong sạch Chàng vẫn “giận là nàng thất tiết” và chỉ “động lịng thương”
Nhân vật Trương Sinh là hiện thân của chế độ phụ quyền phong kiến bất cơng Sự độc đốn,chuyên quyền đã làm tê liệt lí trí, đã giết chết tình người và dẫn đến bi kịch
4 Những yếu tố kì ảo :
Truyện cổ tích “Vợ chàng Trương” kết thúc ở chỗ thằng bé chỉ cái bĩng trên tường, Trương Sinhtỉnh ngộ và thấu nỗi oan của vợ Kết thúc như thế đã là cĩ hậu vì nỗi oan của Vũ Nương đã được giải.Nguyễn Dữ thêm vào đoạn kết, đem lại cho tác phẩm sức hấp dẫn và những giá trị mới
4.1 Câu chuyện ở trần gian đã chấm dứt, tác giả mở tiếp câu chuyện ở thế giới thần linh Sức hấp
dẫn của đoạn truyện này, trước hết và chủ yếu, là ở những yếu tố hoang đường, yếu tố kì ảo : PhanLang nằm mộng thấy người con gái áo xanh, rồi thả rùa mai xanh ; Phan Lang lạc vào động rùa củaLinh Phi, được đãi tiệc yến và gặp Vũ Nương ; câu chuyện Vũ Nương được tiên rẽ nước cứu mạng đưa
về thủy cung ; Phan Lang được sứ giả Xích Hỗn rẽ nước đưa về dương thế ; hình ảnh Vũ Nương hiện
ra sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến Hồng Giang, lung linh huyền ảo với “một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dịng, theo sau cĩ đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sơng, lúc ẩn, lúc hiện”, rồi sau đĩ “bĩng nàng loang lống mờ nhạt dần mà biến đi mất” trong chốc lát.
Dẫu biết rằng đĩ chỉ là những yếu tố hoang đường, nhưng người đọc vẫn cảm thấy gần gũi và chânthực bởi tác giả đã khéo kết hợp với những yếu tố thực về địa danh , về thời điểm lịch sử, sự kiện vànhân vật lịch sử, những chi tiết về trang phục của các mĩ nhân và Vũ Nương, câu chuyện của PhanLang về tình cảnh nhà Vũ Nương sau khi nàng mất
4.2 Ý nghĩa của những yếu tố kì ảo :
+ Trước hết, những yếu tố kì ảo cĩ ý nghĩa hồn chỉnh thêm nét đẹp của nhân vật Vũ Nương Dù
ở thế giới khác, nàng vẫn nặng tình với cuộc đời, vẫn quan tâm đến chồng con, phần mộ tổ tiên, thương
nhớ quê nhà Khi nghe Phan Lang nĩi về tình cảnh quê nhà, nàng “ứa nước mắt khĩc, rồi quả quyết đổi giọng mà rằng :
- Cĩ lẽ, khơng thể gửi hình ẩn bĩng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa Vả chăng, ngựa Hồ gầm giĩ bắc, chim Việt đậu cành nam Cảm vì nỗi ấy, tơi tất phải tìm về cĩ ngày”.
Và dù khơng cịn là con người của trần gian, nàng vẫn cịn đĩ nỗi đau oan khuất, vẫn khao khát
được phục hồi danh dự : “Nhờ nĩi hộ với chàng Trương, nếu cịn nhớ chút tình xưa nghĩa cũ, xin lập một đàn giải oan ở bến sơng, đốt cây đèn thần chiếu xuống nước, tơi sẽ trở về”.
+ Điều quan trọng hơn, là những yếu tố kì ảo đĩ đã tạo nên một kết thúc cĩ hậu cho tác phẩm, thểhiện mơ ước ngàn đời của nhân dân về lẽ cơng bằng : người tốt dù cĩ trải qua bao oan khuất, cuối cùngcũng được đền trả xứng đáng, cái thiện bao giờ cũng chiến thắng
Tuy nhiên, kết thúc cĩ hậu vẫn khơng làm giảm đi tính bi kịch của tác phẩm Vũ Nương trở về uy
nghi, rực rỡ nhưng chỉ thấp thống, lúc ẩn lúc hiện ở giữa dịng sơng Sau lời tạ từ đầy ngậm ngùi “Đa
tạ tình chàng, thiếp chẳng trở về nhân gian được nữa”, “trong chốc lát, bĩng nàng loang lống mờ nhạt dần mà biến mất” Nàng khơng thể trở lại trần gian, thực ra đâu phải chỉ vì cái nghĩa với Linh Phi : “Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng khơng bỏ”, mà điều chủ yếu là nàng
chẳng cịn gì để trở về Đàn giải oan chỉ là một chút an ủi cho người bạc phận chứ khơng thể làm sốnglại tình xưa Nỗi oan đã được giải, nhưng hạnh phúc thực sự đâu cĩ thể tìm lại được nữa Sự dứt áo ra
đi của Vũ Nương biểu hiện thái độ phủ định cõi trần thế với cái xã hội bất cơng đương thời, cái xã hội
mà ở đĩ người phụ nữ khơng thể cĩ hạnh phúc Điều đĩ càng khẳng định niềm thương cảm của tác giảđối với số phận bi thảm của người phụ nữ trong chế đợ phong kiến
So với truyện dân gian, kết thúc truyện của Nguyễn Dữ cũng làm tăng thêm sự trừng phạt đối vớiTrương Sinh Vũ Nương khơng trở về, Trương Sinh càng phải cắn rứt ân hận vì lỗi lầm của mình
C Tổng kết :
Trang 12“Chuyện người con gái Nam Xương” khẳng định nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời cảm thương cho số phận nhỏ nhoi, đầy tính chất bi kịch của họ dưới chế độ phong kiến Đây
là một áng văn hay, thành công về mặt dựng truyện, dựng nhân vật, kết hợp cả tự sự, trữ tình và kịch.
II ĐỀ VĂN LUYỆN TẬP
Đề : Em hãy phân tích “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ để nêu bật giá trị tố cáo xã hội và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm này.
DÀN Ý
A Mở bài : giới thiệu tác giả và tác phẩm.
B Thân bài :
1 Giá trị tố cáo xã hội của truyện thể hiện qua :
+ Cuộc đời bất hạnh của nhân vật Vũ Nương
+ Những nguyên nhân xã hội tạo nên nỗi bất hạnh đó
2 Giá trị nhân đạo của truyện :
+ Đề cao phẩm giá, ca ngợi tài đức và những tình cảm cao đẹp của Vũ Nương
+ Xót xa trước những bất hạnh của nàng, ao ước cho nàng được sống hạnh phúc
C Kết bài :
+ Đánh giá nội dung và nghệ thuật của truyện
+ Ý nghĩa của truyện đối với đời sống
BÀI VIẾT GỢI Ý
“Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong “Truyền kì mạn lục”, một tác phẩmvăn xuôi bằng chữ Hán ở Việt Nam thế kỉ XVI Truyện được Nguyễn Dữ viết trên cơ sở một truyện dângian Việt Nam, cốt truyện và nhân vật gắn liền với một không gian cụ thể, một chứng tích cụ thể đểphản ánh một vấn đề bức thiết của xã hội đương thời, đó là thân phận con người nói chung, người phụ
nữ nói riêng trong xã hội phong kiến
Truyện kể về cuộc đời và số phận bi đát của Vũ Nương, người con gái ởhuyện Nam Xương nết
na, thùy mị Chồng nàng là Trương Sinh con nhà giàu có nhưng ít học, tính vốn đa nghi, đối với vợthường phòng ngừa quá mức Khi chồng đi lính, nàng sinh con trai và hết lòng dạy con, chăm sóc mẹchồng Khi giặc tan, Trương Sinh về nhà thì mẹ chồng đã qua đời, con trai đang học nói Đứa con nhấtđịnh không chịu nhận chàng là bố vì bố nó “đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũngngồi” Nghe con nói, chàng ngờ vợ thất tiết, đánh đuổi nàng đi Uất ức quá, nàng gieo mình xuống sông
mà chết Được các nàng tiên cứu, nàng sống ở thủy cung cùng vợ vua Nam Hải Một lần gặp ngườilàng là Phan Lang cũng được tiên cứu, nàng nhờ Phan Lang về nói với chồng lập đàn giải oan chonàng Trong lễ giải oan, nàng hiện về và ngỏ lời từ biệt chàng vĩnh viễn
Câu chuyện chỉ là một vụ ghen tuông bình thường trong một gia đình cũng bình thường như trămnghìn gia đình khác, nhưng có ý nghĩa tố cáo xã hội vô cùng sâu sắc Một người phụ nữ nết na lấy phảimột anh chồng hay ghen lại độc đoán Chỉ vì một chuyện bông đùa với con khi xa chồng, và vì chồngnàng quá tin lời con trẻ, nghi oan cho nàng, tàn nhẫn đối với nàng khiến nàng phải tìm lấy cái chết trênbến Hoàng Giang Nỗi oan tày đình của nàng đã vượt ra ngoài phạm vi gia đình, là một trong muôn vànoan khốc trong xã hội vùi dập thân phận con người, nhất là người phụ nữ Sống trong xã hội phongkiến đầy rẫy oan trái, bất công, quyền sống con người không được đảm bảo, người phụ nữ với số phậnbèo dạt, mây trôi, có thể gặp bao nhiêu tai họa giáng xuống đầu mình vào bất cứ lúc nào vì nhữngnguyên cớ vu vơ không thể tưởng tượng được Rõ ràng xã hội phong kiến suy tàn đã sinh ra nhữngTrương Sinh với đầu óc nam quyền độc đoán, đã là nguyên nhân sâu xa của những đau khổ của ngườiphụ nữ Vì vậy, khi sống ở thủy cung, nàng đã có lúc định trở về quê cũ Nhưng tại lễ giải oan, mặc dùcòn nặng lòng với quê hương, lỗi lầm xưa của chồng thì nàng đã tha thứ, nhưng nàng vẫn dứt áo ra đi,đành phải sống ở cõi chết : “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” Chi tiếtmang tính chất truyền kì này đã nói lên thái độ của Vũ Nương, của người phụ nữ đương thời đối với
“nhân gian”, đối với xã hội phong kiến vì ở đó họ không tìm thấy niềm vui, không tìm thấy hạnh phúc
Trang 13Bên cạnh giá trị tố cáo xã hội phong kiến suy tàn, “Chuyện người con gái Nam Xương” còn đềcao phẩm giá của người phụ nữ Khi còn sống, Vũ Nương là người vợ đảm dâu hiếu Lúc sống bênchồng, nàng giữ gìn khuôn phép, không lúc nào để vợ chồng bất hòa Lúc chồng đi lính, một mìnhnàng quán xuyến mọi việc, nuôi con, phụng dưỡng mẹ chồng đau ốm và khi mẹ chồng mất, nàng “loliệu như đối với cha mẹ đẻ mình” Còn đối với chồng, nàng một dạ thủy chung Sau khi đã chết, đượcsống ở thủy cung nguy nga, lộng lẫy, khi Phan Lang gợi đến quê hương, nàng xúc động “ứa nước mắtkhóc” Nàng giãi bày tâm sự : “Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi để mang tiếng xấu
xa Vả chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về cóngày” Đọc đến đây, không ai không xúc động trước tấm lòng nặng nghĩa, nặng tình với quê hương bảnquán của nàng Tuy vừa được cứu sống, tuy được sống trong nhung lụa, bên cạnh có những nàng tiêntốt bụng và là ân nhân của mình, nhưng lòng nàng lúc nào cũng nhớ đến quê cha đất cũ và tâm niệm sẽ
có ngày tìm về Vũ Nương dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ lúc sống ở trần thế với cuộc sống đời thườngcũng như khi làm tiên ở thủy cung lộng lẫy đều là một phụ nữ đẹp, đẹp cả về hình dáng, cả về phẩmgiá, về tâm hồn Người phụ nữ đó lẽ ra phải sống cuộc đời hạnh phúc Nhưng tiếc thay xã hội phongkiến đã chà đạp lên cuộc đời nàng
Như phần trên đã nói, viết “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã lấy cốt truyệntrong dân gian Nhưng rõ ràng với tấm lòng yêu thương con người sâu nặng, bằng bút pháp kể chuyệngià dặn, với tình tiết lúc thì chân thật đời thường, lúc thì kì ảo hoang đường, ông đã xây dựng đượchình tượng nhân vật vô cùng sống động, mang ý nghĩa xã hội cao Do đó, tác phẩm của ông đã giáo dụcchúng ta lòng yêu thương con người sâu sắc, lòng quyết tâm sống chiến đấu vì quyền sống và hạnhphúc của con người
(Bài của học sinh Nguyễn Thị Lưu – “Những bài làm văn chọn lọc 9”, Vũ Nho)
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH
(Trích Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ)
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
A Giới thiệu :
1 Vài nét về tác giả :
Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) tên chữ là Tùng Niên và Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Tiều, tục gọi là
Chiêu Hổ, người làng Đan Loan, huyện Đường An tỉnh Hải Dương (nay là xã Nhân Quyền, huyện BìnhGiang, tỉnh Hải Dương) Ông xuất thân dòng dõi thế gia, cha làm quan đến chức Tuần phủ Sơn Tâydưới triều Lê Cảnh Hưng Phạm Đình Hổ sinh vào thời buổi đất nước loạn lạc nên muốn ẩn cư Dướitriều Tây Sơn, ông lánh về quê sống đời hàn nho Đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng vời ông ra làmquan Ông đã mấy lần từ chức, rồi lại bị triệu ra Ông để lại nhiều công trình biên soạn, khảo cứu có giátrị thuộc đủ các lĩnh vực triết học, lịch sử, địa lí, ngôn ngữ và văn học, tất cả đều bằng chữ Hán
Di sản văn chương của ông tương đối lớn và rất có giá trị Về văn, có hai tập là “Vũ trung tùybút” và “Tang thương ngẫu lục” (viết chung với Nguyễn Án) Về thơ, có hai tập “Đông Dã học ngôn thitập” và “Tùng cúc liên mai tứ hữu”
2 “Vũ trung tùy bút” (tùy bút viết trong những ngày mưa) là một tác phẩm đặc sắc viết bằng
chữ Hán, viết khoảng đầu đời Nguyễn (đầu thế kỉ XIX) Tác phẩm gồm 88 mẩu chuyện nhỏ, viết theothể tùy bút (theo cách hiểu của tác giả là ghi chép tùy hứng, tản mạn, gặp gì ghi nấy, nhớ đâu ghi đó,không cần hệ thống, kết cấu gì cả) Ông ghi lại đủ chuyện cổ kim Có khi là chuyện người thực việcthực đương thời, có khi là chuyện xa xưa thuộc truyền thuyết, cổ tích hay lời ngoa truyền… Ông bàn vềcác thứ lễ nghi, phong tục, tập quán…, ghi chép những việc xảy ra trong xã hội lúc đó, viết về nhữngnhân vật lịch sử, di tích lịch sử, khảo cứu về địa dư, chủ yếu là vùng Hải Dương quê ông Tất cả nhữngnội dung ấy đều được trình bày một cách giản dị, sinh động và hấp dẫn Tác phẩm chẳng những có giátrị văn chương đặc sắc mà còn cung cấp những tài liệu quý về sử học, địa lí, xã hội học
3 “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” là một trong 88 mẩu chuyện của “Vũ trung tùy bút”, kể
việc chúa Trịnh Sâm ham mê tuần du triền miên, hết ngự li cung Tây Hồ lại đến các li cung Tử Trầm,
Trang 14Dũng Thúy… Biết được ý chúa thích chơi “trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch, và chậu hoa cây cảnh
ở chốn dân gian”, bọn hoạn quan thừa gió bẻ măng gây ra không biết bao nhiêu tai họa cho dân.
B Đọc – Hiểu văn bản :
Cảm xúc chủ đạo trong bài văn là thái độ phê phán đối với thói ăn chơi xa xỉ và tệ nhũng nhiễunhân dân của vua chúa và quan lại thời Lê - Trịnh
1 Đoạn thứ nhất (từ đầu đến “kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”) vạch trần thói ăn chơi xa
xỉ, vô độ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận trong phủ chúa bằng nhiều sự việc và chi tiết gây ấntượng mạnh :
- Chúa “thích đi chơi ngắm cảnh đẹp, thường ngự các li cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy” nên cho xây dựng cung điện, đình đài ở các nơi “Việc xây dựng đình đài cứ làm liên tục”,
hao tốn không biết bao nhiêu tiền của và công sức
- Những cuộc dạo chơi của chúa ở Tây Hồ được miêu tả rất tỉ mỉ :
+ Diễn ra thường xuyên “mỗi tháng ba bốn lần”
+ Huy động rất đông người hầu hạ : “binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ”, các nội thần,quan hộ giá, bọn nhạc công…
+ Bày đặt nhiều trò giải trí lố lăng và tốn kém :
* Giả trò mua bán : “các nội thần thì đầu bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh bờ
hồ để bán”, để “thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ”,
* Bố trí dàn nhạc khắp nơi để tấu nhạc làm vui : “bọn nhạc công ngồi trên gác chuông hồ Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc”.
- Chúa cho tìm thu, thực chất là cướp đoạt, những của quý trong thiên hạ như những loài chimquý, thú lạ, những cây cổ thụ, những hòn đá hình dáng kì lạ cổ quái, chậu hoa cây cảnh… về tô điểmcho nơi ở của chúa
Tác giả tập trung miêu tả kĩ để người đọc thấy được việc đưa một cây đa to về phủ chúa phải mất
bao công phu Trước hết, ông miêu tả cây đa để gây ấn tượng : “cây đa to, cành lá rườm rà”, “giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng” Cây đa ấy “phải một cơ binh mới khiêng nổi” Việc di chuyển cây đa mới thật độc đáo, bên cạnh một cơ binh khiêng cây, còn có “bốn người đi kèm, đều cầm gươm, đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay” Lại còn bao nhiêu công phu “từ bên bắc chở qua sông đem về” !
Từ cảnh ngự thuyền đi chơi trên hồ đến cảnh giả trò mua bán, cảnh hoà nhạc, cảnh khiêng cây đa,tất cả đều được miêu tả cụ thể, chân thực và khách quan Tự thân những chi tiết và sự việc ấy đã nói lênrất nhiều thói xa xỉ vô độ của chúa Trịnh và bọn quan lại hầu cận trong phủ
Đến cuối đoạn, tác giả mới xen vào một lời bình gián tiếp : “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”.
Cảnh được miêu tả là cảnh thực ở những khu vườn rộng, đầy “trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch, và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian”, “lại được điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non” Cảnh đẹp nhưng âm thanh lại gợi cảm giác ghê rợn trước một cái gì đau thương, tan tác Tác giả mượn lời “kẻ thức giả” để nhận xét đây là “triệu bất tường”, là điềm gở Nó như báo
trước sự suy vong tất yếu của một triều đại chỉ lo ăn chơi hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt và cả xươngmáu của nhân dân
2 Đoạn còn lại viết về bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa đã “nhờ gió bẻ măng”, nhũng nhiễu
vơ vét của dân
Thủ đoạn của chúng thật bỉ ổi : dò xem nhà nào có vật quý thì đến cướp đi và buộc tội “tàng trữ”vật cung phụng, theo kiểu “vừa ăn cướp, vừa la làng” Khổ chủ vừa bị cướp của, vừa phải mất tiền để
thoát tội Có nhà vừa bị mất của, lại vừa bị “phá nhà hủy tường” Có nhà phải tự tay “đập bỏ núi non
bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ” Tất cả những việc ấy cho thấy bản chất của bọn hoạn
Trang 15quan Bọn chúng khéo xu nịnh nên được nhà chúa sủng ái, ỷ thế nhà chúa mà ngang nhiên hoành hành,tác oai tác quái, gây bao tai vạ cho nhân dân.
Để tăng thêm sức mạnh tố cáo, tác giả kể thêm một sự việc của chính gia đình mình : bà mẹ đãphải sai chặt đi một cây lê và hai cây lựu quý có hoa thơm quả đẹp trong vườn nhà mình để tránh taihọa Những địa danh “phường Hà Khẩu”, “huyện Thọ Xương” càng làm tăng thêm tính chân thực và vìthế, sức thuyết phục càng lớn
3 Bài văn được viết theo thể tùy bút Cũng là văn xuôi, nhưng thể tùy bút khác với truyện.
Truyện thuộc loại văn tự sự, phản ánh cuộc sống thông qua số phận con người cụ thể Yếu tố cơbản của truyện là cốt truyện, và gắn liền với nó là hệ thống nhân vật Để triển khai cốt truyện và xâydựng hệ thống nhân vật, truyện phải có một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng bao gồmcác sự kiện, xung đột, chi tiết miêu tả nội tâm, ngoại hình, khắc họa tính cách nhân vật… Truyện chấpnhận cả những chi tiết tưởng tượng, hoang đường
Tùy bút là thể văn xuôi thiên về trữ tình Tùy bút nhằm ghi chép những người thực, việc thực,qua đó tác giả bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc sống.Ngòi bút của nhà văn tuỳ theo cảm hứng, có thể tản mạn, không cần tuân theo một hệ thống, kết cấunào cả, nhưng vẫn nhất quán theo một tư tưởng, một cảm xúc chủ đạo Lối ghi chép ở tùy bút giàu chấttrữ tình hơn các loại văn ghi chép khác như bút kí, kí sự
C Tổng kết :
Bằng thể loại văn tùy bút ghi chép tùy hứng những sự việc một cách cụ thể, chân thực và sinh động, “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” của Phạm Đình Hổ đã giúp chúng ta hiểu về đời sống xa hoa
vô độ của vua chúa, sự nhũng nhiễu của quan lại thời vua Lê chúa Trịnh.
II ĐỀ VĂN LUYỆN TẬP
Đề : Tình trạng đất nước ta vào thời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII qua đoạn trích
“Chuyện cũ trong phú chúa Trịnh” (trích “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ).
DÀN Ý
A Mở bài :
+ Giới thiệu tác phẩm Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ.
+ Đoạn trích : tình trạng đất nước vào thời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII và thái độ phêphán của tác giả
B Thân bài :
1.Tổng :
a Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh : bộ mặt của giới cầm quyền phong kiến thời Lê - Trịnh được
kể lại một cách sinh động, chân thực
b Ngôn ngữ miêu tả và kể chuyện của tác giả không che giấu thái độ căm ghét những kẻ gây hạicho nhân dân
2 Phân :
a Những thú xa hoa của chúa Trịnh Sâm : tô vẽ phô trương vẻ hào nhoáng, thú chơi phong lưu,sính đàn ca nhã nhạc Ngôn ngữ miêu tả của Phạm Đình Hổ tỉ mỉ chi tiết giúp người đọc hình dung đầyđủ
b Bọn cận thần “nhờ gió bẻ măng” : lời kể cụ thể từng vụ việc và thủ đoạn bất lương của bọn taychân nhà Chúa
c Tình cảnh khốn khổ của nhân dân : nhà văn ghi lại câu chuyện có thực kể lại việc xảy ra trongnhà mình
d Thái độ bất bình của nhà văn qua giọng kể
Trang 16C Kết bài :
Nêu cảm nhận sâu sắc của bản thân
BÀI VIẾT GỢI Ý
Tác phẩm Vũ trung tùy bút (tuỳ bút viết trong những ngày mưa) của danh sĩ Phạm Đình Hổ là tập
bút kí sinh động về xã hội Việt Nam thời Lê – Trịnh, vào những năm cuối thế kỉ XVIII Mặc dù đượcviết theo thể tuỳ bút khá tự do, nhưng những điều được ghi lại trong đó đã chứa đựng một giá trị hiệnthực rất sắc sảo, đồng thời bộc lộ rõ cái nhìn phê phán của tác giả với thói xa hoa vô độ của vua chúa
phong kiến Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là một trong những câu chuyện được kể lại trung thực
giúp ta hiểu về bộ mặt thật xấu xa của tập đoàn chúa Trịnh được che đậy trong lớp vỏ vàng son hàonhoáng
Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) là người nổi tiếng với biệt danh Chiêu Hổ, là người am hiểu vănhoá nếp sống của Thăng Long – Kẻ Chợ Vốn dòng dõi quan lại đời Lê nên ông có điều kiện hiểu rõ
những kẻ thuộc giới quý tộc kinh kì Những điều nhà văn ghi lại tưởng như là sự ghi nhận về thời vô
sự – bốn phương yên hưởng thái bình Mỉa mai thay, thực trạng lại là một bức tranh với sắc chói chang
của mũ mão cân đai rỡ ràng đối lập với thực tại tinh thần tối sầm những cảm giác bất an trong đời sống
dân lành Thực trạng ấy từng được mô tả trong Thượng kinh kí sự của Hải Thượng Lãn Ông, Tang
thương ngẫu lục của danh sĩ Nguyễn Án Nhưng câu chuyện của Chiêu Hổ vẫn có sức hấp dẫn riêng Thời gian, khung cảnh câu chuyện được thuật lại tỉ mỉ Trong bối cảnh trong nước vô sự, việc an
hưởng thái bình, du ngoạn cảnh đẹp của một ông chúa có lẽ chẳng có gì đáng nói Việc ăn chơi củaChúa đáng nói ở chỗ “đình đài được làm liên tục” Hãy so sánh với những gì trong phủ Chúa được HảiThượng Lãn Ông mô tả : “ nơi nào cũng lâu đài, đình các, rèm châu cửa ngọc, áng nước mây loà, suốtcõi toàn hoa, hoa cỏ kì lạ, gió thoảng hương trời, thú đẹp chim quý, nhảy nhót bay hót, giữa đất bằngnhô lên một ngọn núi cao, cây to bóng mát, nhịp cầu sơn vẽ bắc qua lạch nước quanh co, lại có lan canlàm toàn bằng đá màu…” Ngoài cung cũng là cả một sự xa xỉ cầu kì như vậy Chúa thưởng ngoạncảnh đẹp kéo theo cả một đội quân tiền hô hậu ủng với binh lính, nội thần, các quan hỗ tụng đại thần…Quang cảnh phô bày qua sự mô tả của tác giả khiến người đọc hình dung một sự sắp đặt nhằm làm đẹplòng Chúa của đám nịnh thần mặt trắng, đồng thời hiện rõ tính chất phồn vinh giả tạo của cuộc sốngkinh kì Thức ngon sẵn bày, đàn hay sáo ngọt Chỉ cần vài cảnh đã cho thấy sự xa hoa tráng lệ xứngđáng với tiếng tăm Thịnh Vương – quyền hành dưới mà trên cả hoàng đế Đàng sau những vẻ phôtrương hào nhoáng đó là sự lố bịch hiện hình : bọn nội thần mặc quần áo đàn bà đứng bán hàng, cảnh đichợ của các quan như trò chơi trẻ con cho thấy sự phồn vinh giả tạo Nhằm thoả mãn nhu cầu ích kỉ củamình, “bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian,Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì” Quyền lực, xa xỉ, ngang ngược, hống hách là những gìchúng ta có thể hình dung về ông Chúa nổi tiếng ăn chơi này Tác giả đã bình bằng một điềm báo :
“Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường” Câu văn miêu tả vẽ ra viễn
cảnh u ám, đầy âm khí, như kết đọng nỗi oán hờn của dân gian, chứa đựng ý nghĩa cảnh báo sự sụp đổkhông thể tránh khỏi của một vương triều quái thai mục ruỗng
“Thượng bất chính, hạ tắc loạn” (Trên không nghiêm, dưới sinh loạn) ! Quả thật, những gì PhạmĐình Hổ diễn tả tiếp nối về hành động của bọn tay chân nhà Chúa đục nước béo cò, “nhờ gió bẻ măng,
ra ngoài dọa dẫm” Nhà dột từ nóc, bởi thế người đọc không nghi ngờ gì về bản chất thối nát của vươngtriều Lê – Trịnh Tất yếu, những hành vi của chúng gây tác hại cho dân lành lương thiện như thế nào :
bị vu oan, hãm hại cửa nát nhà tan Không phải là cách nói ví von mà Phạm Đình Hổ còn kể lại câuchuyện sinh động : “Hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá thì thậm chí phải phá nhà hủy tường để khiêngra” Người giàu có của bỗng thành miếng mồi ngon cho bầy diều quạ hung dữ mượn danh Chúa đụckhoét, hành hạ Không những thế, người kể chuyện còn đưa ra bằng chứng ngay trong gia đình mình
như xác minh tính chân thực của câu chuyện kể : “Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa trắng xoá thơm lừng ; trước nhà trung đường, cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung nhân ta đều sai
Trang 17chặt đi cũng vì cớ ấy” Bản thân gia đình tác giả thuộc hàng quý tộc chốn cung đình, vậy mà còn trở
thành nạn nhân của Chúa Trịnh Ta chứng kiến cái đẹp bị hủy hoại bởi lẽ không cái đẹp nào có thểđược phát triển tự nhiên dưới ách bạo quyền Câu chuyện kết thúc ở đó, nhưng giá trị tố cáo đã thật đầy
đủ, không cần nói thêm, viết thêm
Một chuyện cũ viết lại qua lời kể chuyện, miêu tả sinh động của Phạm Đình Hổ đã giúp ta hìnhdung tất cả sự thối nát tàn bạo của triều đình vua Lê - chúa Trịnh và hiểu rõ nguyên nhân sụp đổ của
nó Khi những kẻ cầm quyền chỉ biết vun vén bản thân, bỏ mặc nhân dân, chắc chắn sẽ mất lòng dân,lời ta thán của dân chúng sẽ biến thành sức mạnh khởi nghĩa lật nhào chế độ Có lẽ, đó còn là lời nhắcnhở, cảnh tỉnh của Chiêu Hổ cho triều đại nhà Nguyễn đương thời Ông đã vạch đúng bản chất chungcủa giai cấp phong kiến, qua những trang tùy bút đặc sắc
Vũ trung tùy bút là tập kí họa về thời đại qua tài hoa của cây bút Phạm Đình Hổ Dù thời ấy đã
qua, nhưng những câu chuyện trong đó vẫn còn giá trị tư liệu, giá trị lịch sử và văn chương Người đọc
có thể nhận thấy sức mạnh hủy diệt của thế lực đồng tiền khi song hành với quyền lực và bả phù hoalàm hủy hoại nhân tính con người đến mức nào !
“Hoàng Lê nhất thống chí” là tác phẩm của Ngô gia văn phái – một tập thể các tác giả thuộc dòng
họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, trong đó hai tác giả chính
là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du
Ngô Thì Chí (1753 – 1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống Ông
là người tuyệt đối trung thành với nhà Lê Khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn HữuChỉnh (1787), Ngô Thì Chí chạy theo Lê Chiêu Thống, dâng “Trung hưng sách” bàn kế khôi phục nhà
Lê Sau đó ông được Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lưu vong, lập nghĩa binhchống Tây Sơn, nhưng trên đường đi ông bị bệnh, mất tại huyện Gia Bình (Bắc Ninh)
Ngô Thì Du (1772 – 1840) là anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí Ông học giỏi nhưng không
đỗ đạt gì Dưới triều Tây Sơn, ông ẩn mình ở vùng Kim Bảng (nay thuộc Hà Nam) Thời nhà Nguyễn,ông ra làm quan, được bổ Đốc học Hải Dương đến 1827 thì về nghỉ
2 “Hoàng Lê nhất thống chí” (ghi chép về sự nhất thống của vương triều nhà Lê) là tác phẩm
văn xuôi chữ Hán được viết theo thể chí, một thể văn cổ vừa có tính chất văn học, vừa có tính chất lịch
sử Đây thực chất là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, viết theo lối tiểu thuyết chương hồi Tác phẩm gồm
17 hồi, trong đó 7 hồi đầu do Ngô Thì Chí viết, 7 hồi giữa của Ngô Thì Du, 3 hồi còn lại do người khácviết (có tài liệu cho là Ngô Thì Thiến)
Tác phẩm tái hiện chân thực bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam đầy biến động khoảng ba mươinăm cuối thế kỉ XVIII và mấy năm đầu thế kỉ XIX, trong đó tập trung vào hai nội dung chính :
+ Vạch trần sự thối nát, mục ruỗng dẫn đến sự sụp đổ tất yếu của các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh :
Mở đầu là sự sa đọa, thối nát đến cực độ của các nhân vật đứng đầu các tập đoàn phong kiến Cácông vua thời Lê mạt thì chẳng ra vua : Lê Hiển Tông chỉ biết “chắp tay rủ áo”, cam phận làm bù nhìn,bạc nhược đến mức phó mặc trách nhiệm cho nhà chúa “Chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui” ; Lê ChiêuThống rước giặc vào nhà, rước voi giày mả tổ, “đê hèn, khuất phục” trước giặc Mãn Thanh, mong cứuvãn cái ngai vàng sắp sụp đổ ; ông vua cuối cùng Lê Duy Mật “chỉ là một cục thịt trong cái túi da màthôi” Bên phủ chúa, Trịnh Sâm hoang dâm vô độ, say mê Đặng Thị Huệ, dẫn đến việc phế con trưởng
là Trịnh Tông, lập con thứ là Trịnh Cán lên làm thế tử Trịnh Sâm chết, nhà chúa loạn, gây nên cảnh nồi
Trang 18da nấu thịt, anh em đánh giết lẫn nhau, rồi đến nạn kiêu binh ỷ thế lộng hành Sự tranh giành quyền lựcgiữa các phe phái phong kiến đã đến hồi quyết liệt, dữ dội.
+ Phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn và người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ :
Trong bối cảnh xã hội phong kiến rối ren, thối nát, cuộc nổi dậy của phong trào nông dân TâySơn là một tất yếu Người anh hùng Nguyễn Huệ liên tiếp lập nên những chiến công oanh liệt chốngthù trong giặc ngoài, đánh tan giặc xâm lược Mãn Thanh, lập nên triều đại Tây Sơn
Nhưng cơ nghiệp Tây Sơn ngắn ngủi, chúa Nguyễn lại dần dần hồi phục thế lực, dẹp Tây Sơn,lập vương triều mới (1802) Kết thúc tác phẩm là tình trạng thảm hại, nhục nhã của vua tôi Lê ChiêuThống nương thân ở nước người
Tất cả những sự kiện lịch sử trên được miêu tả một cách thật cụ thể, sinh động Nổi bật trên nềnthời đại ấy là vóc dáng của những con người thuộc các phe phái đối lập, đặc biệt là hình ảnh sáng ngờicủa một Quang Trung Nguyễn Huệ, người anh hùng tiêu biểu cho sức mạnh quật cường của cả một dântộc
3 Hồi thứ mười bốn kể lại chiến công oanh liệt của Quang Trung Nguyễn Huệ tiêu diệt 20 vạn
quân Thanh
Hai hồi trước (12 và 13) kể việc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ hai để bắt
Vũ Văn Nhậm Lê Chiêu Thống sợ hãi bỏ kinh thành Thăng Long chạy lên phía Bắc, chiêu mộ quânbinh để mưu tính sự nghiệp trung hưng nhà Lê Việc không thành, Lê Chiêu Thống cử người bí mậtsang Trung Quốc cầu viện triều đình Mãn Thanh Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị được lệnh thiêntriều liền kéo đại quân sang nước ta với danh nghĩa phù Lê, diệt Tây Sơn Trước thế giặc mạnh, quânTây Sơn rút lui về cố thủ ở Tam Điệp Quân Thanh kéo thẳng tới Thăng Long, không gặp sức kháng cựnào, sinh kiêu căng, tự mãn Lê Chiêu Thống cũng theo về, nhận sắc phong An Nam Quốc Vương, nhấtnhất mọi việc đều theo lệnh của Tôn Sĩ Nghị Nghị nghênh ngang, ngạo ngược, không kể gì tới ai
Mở đầu hồi mười bốn kể về tình trạng của quân tướng Tôn Sĩ Nghị chỉ lo “chơi bời, tiệc tùng,không hề để ý đến việc quân”, lính thì “tự tiện bỏ cả đội ngũ, đi lại lang thang, không còn có kỉ luật gìcả” Thái hậu nghe tin, lo sợ nói với Lê Chiêu Thống Vua hoảng sợ, xin Tôn Sĩ Nghị xuất quân, bị hắnmắng vào mặt Vua sợ bị quở trách nữa nên lại lui về
B Đọc – Hiểu văn bản :
Đoạn trích ở phần sau của hồi mười bốn Có thể chia làm ba đoạn :
+ Đoạn 1 (từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788)”) : được tinbáo quân Thanh đã chiếm Thăng long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế và thân chinhcầm quân ra Bắc dẹp giặc
+ Đoạn 2 (tiếp theo đến “vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi kéo vào thành”) : cuộchành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung
+ Đoạn 3 (phần còn lại) : sự đại bại của quân Thanh và tình trạng thảm hại của vua tôi Lê ChiêuThống
1 Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ :
Trong đoạn trích, hình tượng Nguyễn Huệ nổi lên sáng ngời phẩm chất của người anh hùng
a Hành động mạnh mẽ, quyết đoán :
Trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn luôn thể hiện là một con người hành động một cáchxông xáo, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long,chiếm cả một vùng đất đai rộng lớn, Nguyễn Huệ vẫn không hề nao núng, “định thân chinh cầm quân
đi ngay” Rồi sau đó, chỉ trong vòng một tháng (từ 24 tháng 11 đến 30 tháng chạp), Nguyễn Huệ đã làmđược bao nhiêu việc lớn : “tế cáo trời đất” lên ngôi Hoàng đế, “đốc xuất đại binh” ra Bắc, gặp gỡ
“người cống sĩ ở huyện La Sơn” Nguyễn Thiếp, tuyển mộ quân lính và mở cuộc duyệt binh ở Nghệ An,phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiếnthắng
b Trí tuệ sáng suốt, sâu sắc và nhạy bén :
Trang 19+ Trí tuệ ấy biểu hiện trong việc xét đoán và dùng người Khi đến Tam Điệp, gặp Ngô Văn Sở vàPhan Văn Lân “đều mang gươm trên lưng và xin chịu tội”, Nguyễn Huệ xử trí vừa có lí vừa có tình.Ông rất hiểu sở trường, sở đoản của các tướng sĩ, khen chê đều đúng người, đúng việc.
+ Trí tuệ ấy biểu hiện trong việc phân tích tình hình thời cuộc và tương quan ta – địch Trong lờiphủ dụ quân lính ở Nghệ An, vua Quang Trung khẳng định chủ quyền dân tộc của ta và hành động xâm
lăng phi nghĩa, trái đạo trời của giặc (đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng) ; nêu bật dã tâm của giặc (bụng dạ ắt khác… giết hại nhân dân, vơ vét của cải) ; nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm
của dân tộc ta từ xưa ; kêu gọi quân lính “đồng tâm hiệp lực ; ra kỉ luật nghiêm minh… Lời phủ dụ nhưmột bài hịch ngắn gọn mà ý tứ thật phong phú, sâu xa, có tác dụng kích thích lòng yêu n ước và truyềnthống quật cường của dân tộc
c Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng : mới khởi binh đánh giặc, chưa giành lại được
một tấc đất nào, vậy mà vua Quang Trung đã tuyên bố chắc chắn như đinh đóng cột “phương lược tiếnđánh đã có tính sẵn”, lại còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng một nước “lớn gấpmười nước mình” để có thể “dẹp việc binh đao”, “cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng”
d Tài dụng binh như thần :
Đến tận hôm nay, chúng ta vẫn còn kinh ngạc vì cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn
do vua Quang Trung chỉ huy Ngày 25 tháng chạp bắt đầu xuất quân ở Phú Xuân (Huế), ngày 29 đã tớiNghệ An, vượt khoảng 350 km qua núi, qua đèo Đến Nghệ An, vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừaduyệt binh, chỉ trong vòng một ngày Hôm sau, tiến quân ra Tam Điệp (cách khoảng 150km) Và đêm
30 tháng chạp đã “lập tức lên đường”, tiến quân ra Thăng Long Mà tất cả đều là đi bộ Có sách còn nóivua Quang Trung sử dụng cả biện pháp dùng võng khiêng, cứ hai người khiêng thì một người đượcnằm nghỉ, luân phiên nhau suốt đêm ngày Từ Tam Điệp ra Thăng Long (khoảng hơn 150 km), vừahành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung định kế hoạch chỉ trong vòng 7 ngày, mồng 7 thánggiêng sẽ vào ăn tết ở Thăng Long Trên thực tế, đã thực hiện kế hoạch sớm hai ngày : trưa mồng 5 đãvào Thăng Long Hành quân xa liên tục như vậy, thường quân đội sẽ mệt mỏi, rã rời, nhưng nghĩa binhTây Sơn thì cơ nào đội ấy vẫn chỉnh tề Đó là do tài tổ chức của người cầm quân : hơn một vạn quânmới tuyển đặt ở trung quân, còn quân tinh nhuệ từ đất Thuận Quảng ra thì bao bọc ở bốn doanh tiền,hậu, tả, hữu
e Lẫm liệt trong chiến trận :
Hoàng đế Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa Ông là một tổng chỉhuy chiến dịch thực sự : hoạch định phương lược tiến đánh, tổ chức quân sĩ, tự mình thống lĩnh mộtmũi tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha tên đạn, bày mưu tính kế… Đội quân của vua QuangTrung không phải toàn là lính thiện chiến, lại vừa trải qua những ngày hành quân cấp tốc, không có thìgiờ nghỉ ngơi, vậy mà dưới sự lãnh đạo tài tình của Quang Trung, đã đánh những trận thật hào hùng,thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù (bắt sống hết quân do thám của địch ở Phú Xuyên, giữ được bí mật để tạothế bất ngờ, vây kín làng Hà Hồi, “quân lính luân phiên dạ ran” làm cho lính trong đồn “ai nấy rụng rời
sợ hãi” xin hàng ; công phá đồn Ngọc Hồi, lấy ván ghép phủ rơm dấp nước để làm mộc che, dàn trậntiến đánh, khi giáp lá cà thì “quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa, những người cầmbinh khí theo sau cũng nhất tề xông tới”…) Khí thế của đội quân này làm cho kẻ thù phải khiếp vía
“Thật là : tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên, và hình ảnh người anh hùng cũng được khắchoạ thật lẫm liệt Trong trận đánh đồn Ngọc Hồi, giữa cảnh “khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấygì”, nổi bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” Có sách ghi khi Quang Trung vào đến ThăngLong, tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng
* Cách trần thuật của đoạn văn thật đặc sắc, không chỉ nhằm ghi lại những sự kiện lịch sử diễnbiến gấp gáp, khẩn trương qua từng mốc thời gian, mà còn chú ý miêu tả cụ thể từng hành động, lời nóicủa nhân vật chính, từng trận đánh và những mưu lược tính toán, thế đối lập giữa hai đội quân (một bênthì xộc xệch, trễ nãi, nhát gan, một bên thì xông xáo dũng mãnh, tổ chức nghiêm minh) Qua đó, hìnhảnh người anh hùng được khắc họa khá đậm nét, có tính cách quả cảm, mạnh mẽ, có trí tuệ sáng suốt,
Trang 20nhạy bén, có tài dụng binh như thần, là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại Đây là đặcđiểm khẳng định rõ tính chất thể loại tiểu thuyết lịch sử của tác phẩm.
* Dường như có sự mâu thuẫn giữa nhan đề tác phẩm với nội dung tác phẩm Nhan đề mang ýnghĩa ca ngợi nhà Lê, nhưng nội dung tác phẩm lại vạch rõ sự thối nát, mục ruỗng của triều đình nhà
Lê, và ca ngợi người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ Điều đó nói lên quan điểm phản ánh hiện
thực của các tác giả là tôn trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc Dù có cảm tình với nhà Lê, họ không
thể bỏ qua sự thực là ông vua nhà Lê hèn yếu đã cõng rắn cắn gà nhà Dù không theo Tây Sơn, họkhông thể không thấy chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung là niềm tự hào lớn lao của dân tộc Bởithế nên các tác giả họ Ngô đã viết thực và viết hay về người anh hùng Nguyễn Huệ
2 Sự thảm bại của bọn quân tướng nhà Thanh :
Tôn Sĩ Nghị kéo quân sang An Nam là nhằm những lợi ích riêng, lại không muốn tốn nhiềuxương máu Hơn nữa, y còn là một tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết được tình hình thực hư
ra sao, lại còn kiêu căng tự mãn, chủ quan khinh địch Dù đã được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, yvẫn không chút đề phòng, suốt mấy ngày Tết chỉ “chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không lo chi đếnviệc bất trắc”, cho quân lính mặc sức vui chơi
Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người khôngkịp mặc giáp… chuồn trước qua cầu phao”, quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời sợ hãi” xin rahàng” hoặc “bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, “quân sĩ các doanh nghe tin, đều hoảng hồn,tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu qua sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều” đến nỗi “nướcsông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa” Cả đội binh hùng tướng mạnh chỉ còn biếttháo chạy, mạnh ai nấy chạy “đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”
3 Số phận thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống :
Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành với ông ta đã vì mưu lợi ích riêng của dòng họ màcõng rắn cắn gà nhà, đem vận mệnh của cả dân tộc đặt vào nanh vuốt của kẻ thù xâm lược Bọn ngườiphi nghĩa ấy đã phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh van xin, và cuối cùng phải chịu chung sốphận bi thảm của kẻ vong quốc Khi có biến, Lê Chiêu Thống cùng bọn bề tôi thân tín vội vã “đưa tháihậu ra ngoài”, chạy trối chết, cướp thuyền dân để qua sông, chạy “luôn mấy ngày không ăn” May gặpngười thổ hào thương tình cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn Đuổi kịp được Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉcòn biết “cùng nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt” Đoạn văn miêu tả chân thực tình cảnhkhốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống, phơi bày tất cả sự thảm hại trong kết cục của một ông vua phảndân hại nước Nhưng có thể thấy tác giả vẫn gửi gắm ở đó chút tình cảm riêng của một bề tôi cũ nhà
Lê Lòng thương cảm của tác giả biểu hiện qua những giọt nước mắt và thái độ săn sóc tận tình củangười thổ hào Giọng văn cũng có phần ngậm ngùi, khác với âm hưởng sôi nổi, hào hứng ở đoạn trên
C Tổng kết :
Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí”
đã tái hiện chân thực, sinh động hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của các tướng lĩnh nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.
“TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU
Trang 211 Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
+ Nguyễn Du sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống
về văn học Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng Anh cùng cha khác mẹ làNguyễn Khản cũng từng làm quan to dưới triều Lê – Trịnh
+ Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội Những thay đổi lớn laocủa lịch sử đã tác động sâu sắc tới tình cảm và nhận thức của Nguyễn Du để ông hướng ngòi bút vàohiện thực
+ Nguyễn Du là người có hiểu biết sâu rộng về văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc.+ Sự từng trải trong cuộc đời đã tạo cho Nguyễn Du có một vốn sống phong phú và một trái timgiàu lòng yêu thương, thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân
Những yếu tố trên đã góp phần tạo nên một Nguyễn Du – thiên tài văn học của Việt Nam, đượccông nhận là danh nhân văn hóa thế giới
2 Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn, cả chữ Hán lẫn chữ
3 “Truyện Kiều” là kiệt tác số một của Nguyễn Du Tác phẩm có tên là “Đoạn trường tân thanh”
(tiếng kêu mới đứt ruột), nhưng nhân dân ta quen gọi là “Truyện Kiều”.
Gọi là “Truyện Kiều” bởi đây là câu chuyện về nàng Vương Thúy Kiều Viết “Truyện Kiều”,Nguyễn Du có dựa vào cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc).Tuy nhiên, Nguyễn Du đã có nhiều sáng tạo, cụ thể là :
+ Sáng tạo về nội dung :
“Kim Vân Kiều truyện” chỉ là một câu chuyện tình ở Trung Quốc đời Minh Nguyễn Du đã biếnthành một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, nói lên “những điều trông thấy” trong giai đoạnlịch sử đầy biến động của Việt Nam cuối Lê đầu Nguyễn
+ Sáng tạo về nghệ thuật :
- Nguyễn Du đã lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo và một số chi tiết khác của các nhân vật trong
“Kim Vân Kiều truyện”, sáng tạo thêm một số chi tiết mới để tô đậm câu chuyện về tình người ; biếncác sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể ;chuyển trọng tâm của truyện từ sự kiện sang nội tâm của nhân vật chính Ngòi bút tả cảnh, tả tình, tảngười rất điêu luyện của Nguyễn Du đã làm cho các nhân vật sống hơn, sâu sắc hơn
- Về thể loại : “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân là tiểu thuyết chương hồi gồm
20 hồi, bằng văn xuôi “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là truyện Nôm gồm 3254 câu lục bát, mang tínhchất tiểu thuyết bằng thơ
4 “Truyện Kiều” là tác phẩm có giá trị lớn lao về cả nội dung và nghệ thuật.
4.1 Giá trị nội dung : “Truyện Kiều” có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.
+ “Truyện Kiều” còn cho thấy sức mạnh ma quái của đồng tiền đã làm tha hóa con người Đồng
tiền làm đảo điên (“Dẫu lòng đổi trắng thay đen khó gì”), đồng tiền giẫm lên lương tâm con người và xóa mờ công lí (“Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”).
b Giá trị nhân đạo :
Trang 22+ “Truyện Kiều” là tiếng nói thương cảm, là tiếng khóc đau đớn trước số phận bi kịch của con người Thúy Kiều là nhân vật mà Nguyễn Du yêu quý nhất Khóc Thúy Kiều, Nguyễn Du khóc cho
những nỗi đau lớn của con người : tình yêu tan vỡ, tình cốt nhục lìa tan, nhân phẩm bị chà đạp, thânxác bị đày đọa…
+ “Truyện Kiều” đề cao con người từ vẻ đẹp hình thức, phẩm chất đến những ước mơ, những khát vọng chân chính.
- Hình tượng nhân vật Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, hiếu hạnh đủ đường là nhân vật lí tưởng, tậptrung những vẻ đẹp của con người trong cuộc đời
- “Truyện Kiều” là bài ca về tình yêu tự do, trong sáng, chung thủy Bước chân “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” của Kiều đến với Kim Trọng đã phá vỡ những quy tắc thánh hiền về sự cách
biệt nam nữ
- “Truyện Kiều” là giấc mơ về tự do và công lí Qua hình tượng Từ Hải, Nguyễn Du gửi gắm ước
mơ anh hùng “đội trời đạp đất” làm chủ cuộc đời, trả ân báo oán, thực hiện công lí, khinh bỉ những
“phường giá áo túi cơm”
Nguyễn Du là thiên tài văn học, danh nhân văn hóa, nhà nhân đạo chủ nghĩa, có đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam “Truyện Kiều” là kiệt tác văn học, kết tinh giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc
CHỊ EM THÚY KIỀU
(Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)
KIẾN THỨC CƠ BẢN
A Giới thiệu :
1 “Chị em Thúy Kiều” là đoạn trích ở phần mở đầu “Truyện Kiều”, giới thiệu gia cảnh nhà
Vương viên ngoại Sau bốn câu thơ kể về gia đình họ Vương :
Có nhà viên ngoại họ Vương, Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng, Vương Quan là chữ nối dòng nho gia.
, Nguyễn Du dành hai mươi bốn câu thơ để nói về chị em Thúy Kiều, Thúy Vân
2 Đoạn thơ gồm 3 phần :
+ Bốn câu đầu : giới thiệu chung về hai chị em Thúy Kiều
+ Bốn câu tiếp : gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân
+ Mười sáu câu còn lại : gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều
Kết cấu như thế là chặt chẽ, thể hiện cách miêu tả nhân vật tinh tế của Nguyễn Du : từ ấn tượngchung về vẻ đẹp của hai chị em, nhà thơ gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân làm nền để cực tả vẻ đẹp của ThúyKiều
B Đọc – Hiểu văn bản :
1 Bốn câu đầu giới thiệu chung về hai chị em :
Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Trang 23Cách giới thiệu thật giản dị, ngắn gọn mà đầy đủ Hai người con gái đầu lòng của gia đình họ
Vương đều đẹp (hai ả tố nga), chị là Thúy Kiều, em là Thúy Vân Câu thơ “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” có hai hình ảnh ước lệ gợi tả vẻ đẹp của hai chị em : cốt cách duyên dáng, thanh cao như mai và tinh thần trắng trong như tuyết Cả hai đều đẹp “mười phân vẹn mười”, nhưng “mỗi người một vẻ”,
mỗi người có một vẻ đẹp riêng
2 Vẻ đẹp của Thúy Vân được gợi tả qua bốn câu thơ :
Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang.
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Câu thơ đầu giới thiệu ấn tượng chung về Thuý Vân, đó là sự “trang trọng khác vời”, là vẻ đẹpcao sang, quý phái Những câu thơ tiếp theo lần lượt miêu tả từng nét đẹp cụ thể Trong thiên nhiên có
bao nhiêu cái đẹp, Nguyễn Du chọn những cái đẹp nhất để so sánh với vẻ đẹp của Thúy Vân : trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết Từ những hình ảnh miêu tả theo bút pháp ước lệ mà cụ thể đến từng chi tiết, có
thể hình dung ra một Thúy Vân với gương mặt đầy đặn, hiền dịu như vầng trăng tròn, lông mày sắc nét,đậm như con ngài, mái tóc óng ả mượt hơn mây trời, làn da trắng hơn tuyết, miệng cười tươi thắm nhưhoa, giọng nói trong như ngọc… Vẻ đẹp của Thúy Vân là một vẻ đẹp cao sang mà phúc hậu Bức chândung ấy ngầm thông báo về một tính cách hiền dịu, một số phận bình lặng, êm đềm
3 Vẻ đẹp của Thuý Kiều hiện lên qua mười hai câu thơ :
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn : Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương, lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên “bạc mệnh” lại càng não nhân.
Câu thơ đầu khái quát đặc điểm nhân vật : “Kiều càng sắc sảo mặn mà”, tức là không chỉ đẹp
một cách “sắc sảo mặn mà”, mà còn “sắc sảo” về trí tuệ và “mặn mà” trong tình cảm Câu thơ thứ hai
làm phép so sánh giữa Thúy Kiều và Thúy Vân : “So bề tài sắc lại là phần hơn” Tuy “mỗi người một vẻ”, nhưng Thúy Kiều đẹp hơn và có tài hơn Thúy Vân.
Ngòi bút Nguyễn Du tiếp tục sử dụng những hình tượng nghệ thuật ước lệ gợi tả sắc đẹp tuyệttrần của Kiều, đẹp đến mức “hoa ghen”, “liễu hờn”, “nghiêng nước nghiêng thành” Tả Kiều, nhà thơkhông liệt kê nhiều chi tiết như khi tả Vân, mà chỉ tập trung vào đôi mắt : đôi mắt đẹp, trong sáng longlanh như làn nước mùa thu, lông mày đẹp thanh thoát như nét núi mùa xuân Phải là đôi mắt, bởi đó lànơi thể hiện tinh anh của trí tuệ và tâm hồn
Tả Vân, nhà thơ chỉ gợi tả nhan sắc Tả Kiều, tác giả dành ba câu thơ để tả sắc đẹp, lại dành đến
sáu câu thơ để nói về tài năng của nàng Quả là “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” Kiều thông minh
và có tài Theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến, một con người có tài năng phải giỏi “cầm, kì, thi, họa”(đánh đàn, chơi cờ, làm thơ, vẽ tranh) Kiều đã đạt đến mức lí tưởng ấy Đặc biệt, sở trường hơn người
của nàng là đánh đàn : “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương” Nàng giỏi nhạc đến mức soạn riêng
cho mình khúc nhạc “bạc mệnh” Tài năng âm nhạc bao giờ cũng gắn với vẻ đẹp tâm hồn Cung đàn
“bạc mệnh” chính là sự thể hiện chân thực của một trái tim đa sầu, đa cảm
Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp cả sắc – tài – tình Từ bức chân dung Thúy Kiều, người đọc đã cóthể dự cảm về một số phận không bình lặng Nếu sắc đẹp của Thúy Vân tạo sự hòa hợp, êm đềm với
Trang 24chung quanh (mây thua, tuyết nhường) thì vẻ đẹp của Thúy Kiều lại khiến cho tạo hóa phải ghét ghen (hoa ghen, liễu hờn) “Tạo hóa đố hồng nhan”, số phận Kiều sẽ gặp nhiều trái ngang, đau khổ.
C Tổng kết :
Đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả đặc sắc của ngòi bút Nguyễn Du trong “Truyện Kiều, cho thấy đặc trưng của bút pháp nghệ thuật ước lệ cổ điển : lấy vẻ đẹp thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp con người Đây cũng là một đoạn thơ giàu chất nhân văn, thể hiện ở thái độ trân trọng, đề cao, ca ngợi vẻ đẹp của con người.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“… Cũng như các thiếu nữ khác trong thi ca cổ điển, Thúy Kiều tượng trưng cho nhan sắc nữgiới theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến Quan niệm này dẫn đến khuynh hướng lí tưởng hóa hình thứccủa nhân vật chính diện Giống như Nhụy Châu trong “Song tinh bất dạ”, Quỳnh Như trong “Sơ kínhtân trang”, Bạch Hoa trong “Lí công”, Thúy Kiều là một giai nhân với “làn thu thủy, nét xuân sơn”…kiều diễm vô song Khác với Trương Chi “người thì thậm xấu, hát thì thậm hay”, khác với Sọ Dừa cómột tiền thân quái dị, những nhân vật chính diện trong “Truyện Kiều” – Thúy Kiều, Thúy Vân, ĐạmTiên, Kim Trọng… đều phải là “nam thanh nữ tú” cả
Là mẫu giai nhân lí tưởng, Thúy Kiều có dung mạo hoàn toàn giống với những bè bạn khác củanàng như công chúa Nam Việt “môi son mắt phượng, má đào tốt tươi” (“Hoàng Trừu”), như Ngọc Hoa
“má đào mặt ngọc, tóc mây rườm rà” (“Phạm Tải Ngọc Hoa”)… Tuy nhiên, trong “Truyện Kiều” cũng
đã xuất hiện một bức “chân dung thiếu nữ” có thể đã khiến cho bao thế hệ nhà nho bối rối […]
Người phụ nữ phong kiến lí tưởng phải là con người “công, dung, ngôn, hạnh” toàn vẹn, và cũngchỉ cần có như vậy Ý thức hệ phong kiến không khẳng định khả năng lao động sáng tạo nói chung vàkhả năng trí tuệ nói riêng của người phụ nữ Chữ “tài”, chữ “trí” chỉ gắn liền với người quân tử, kẻtrượng phu “Phụ nhân nan hóa” (đàn bà khó cải hóa, khó giáo dục) Và từ nghìn năm qua, cửa Khổngsân Trình – học đường phong kiến, đã đóng chặt cửa đối với nữ giới Sự bồi dưỡng “cầm, thi” trongmột số gia đình quý tộc […] chỉ là những hoa lá để trang trí cuộc sống gia đình, để thực hiện tốt đẹpđạo “tam tòng” của người phụ nữ Những phương diện bồi dưỡng ấy không có gì khác biệt với mọi nữcông nữ xảo khác :
Thập tam năng chức tố,
Thập tứ thiện tài y.
(Mười ba tuổi biết dệt lụa,
Mười bốn tuổi thạo cắt áo)
Nguyễn Du, ngược lại, đã thốt lên lời tiếc hận cho một tài năng sớm bị vùi dập khi Thúy Kiều tựvẫn ở sông Tiền Đường :
Đành thân cát dập sóng vùi,
Tiếc công cha mẹ thiệt đời thông minh.
Khái quát về Thúy Kiều, Nguyễn Du thường hay viết “kiếp đoạn trường”, “phận hồng nhan” vàđồng thời cũng viết :
… Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
… Anh hoa phát tiết ra ngoài
… Tiếc công cha mẹ thiệt đời thông minh
“Đời thông minh”, “đời tài hoa” ! Biết bao trân trọng cảm thông và cũng biết bao phát hiện mới
mẻ trong một xã hội mà quan niệm “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “Khôn ngoan cũng dễ đàn bà– Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông” hầu như đã trở thành một chân lí bất khả xâm phạm ! Quan điểmphong kiến chính thống chỉ có thể ngợi ca nhan sắc và đức hạnh chứ không thể khẳng định tài năng trítuệ của người phụ nữ Điều đó xuất phát từ quan điểm áp bức và quan điểm hưởng thụ của giai cấpphong kiến ! Ngược lại, trong các truyện nôm, nhiều nhân vật phụ nữ đồng thời là những trí tuệ kiệt
Trang 25xuất […] Cùng dòng tư tưởng, Nguyễn Du đã thể hiện nhận thức khẳng định tài hoa, trí tuệ có tínhchất sáng tạo của người phụ nữ thông qua hình tượng Thúy Kiều Tài đàn có sức chinh phục tuyệt đốicủa nàng dựa trên sự rung cảm có tính chất sáng tạo của người nghệ sĩ đứng trước mọi tình huống củacảnh giới và tâm giới […].
Trong một thời đại có cả một khuynh hướng đề cao khả năng người phụ nữ trong văn học vàngoài cuộc đời, […], hình tượng Thúy Kiều với tài hoa rực rỡ, trí tuệ thông minh như vậy mang một ýnghĩa lãng mạn đẹp đẽ, đồng thời cũng là sự biểu hiện một nhận thức đi ngược lại với quan điểm chínhthống…”
(Giáo sư Đặng Thanh Lê)
CẢNH NGÀY XUÂN
(Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
A Giới thiệu :
1 Đoạn trích ở phần đầu “Truyện Kiều” Sau khi giới thiệu gia cảnh Vương viên ngoại và miêu
tả chị em Thúy Kiều, tác giả tả cảnh ngày xuân, chị em Thúy Kiều đi chơi xuân
2 Đoạn thơ gồm ba phần :
+ Bốn câu đầu : gợi tả cảnh đẹp ngày xuân
+ Tám câu tiếp : gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh
+ Sáu câu cuối : cảnh chị em Thúy Kiều đi chơi xuân trở về
Đoạn thơ được kết cấu theo trình tự thời gian của cuộc du xuân
B Đọc – Hiểu văn bản :
1 Bốn câu đầu gợi tả khung cảnh thiên nhiên mùa xuân :
Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Hai câu đầu vừa nói thời gian vừa gợi không gian mùa xuân Chim én là tín hiệu riêng của mùaxuân Hình ảnh “chim én đưa thoi” vừa gợi không gian mùa xuân, vừa ngầm ý ngày xuân trôi quanhanh quá, mới đó mà đã hết sáu mươi ngày xuân Mùa xuân có ba tháng, lúc này đã là tháng ba Trongtháng cuối cùng của mùa xuân, những cánh chim én vẫn dập dìu bay liệng giữa bầu trời cao rộng, trongsáng
Hai câu sau là bức tranh tuyệt đẹp về mùa xuân với những hình ảnh, màu sắc hài hòa Làm nềncho bức tranh xuân là màu xanh tươi mát bất tận của thảm cỏ non trải rộng đến chân trời Trên nền màuxanh non ấy điểm xuyết nhẹ nhàng mà nổi bật vài bông hoa lê trắng vô cùng thanh khiết Cái hồn riêngcủa mùa xuân hiện ra trong một không gian bao la, trong trẻo, cảnh vật tinh khôi, giàu sức sống Hoa
cỏ vốn vô tri vô giác, nhưng chữ “điểm” đã làm cho cành hoa lê trở nên có hồn, hết sức sinh động
2 Tám câu thơ tiếp theo gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh :
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Ngổn ngang, gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
Vào ngày Thanh minh, tiết đầu tháng ba, mùa xuân khí trời mát mẻ, người ta đi tảo mộ (quéttước, sửa sang lại phần mộ của người thân) nên có lễ tảo mộ Mùa xuân cũng là dịp để đi chơi ở chốn
Trang 26đồng quê Được giẫm lên cỏ xanh giữa đất trời mùa xuân trong trẻo là một cái thú, nên việc chơi xuân
ấy mới trở thành ngày hội, gọi là hội đạp thanh Những câu thơ của Nguyễn Du gợi tả không khí lễ hội
bằng cả một hệ thống từ ngữ giàu sức biểu đạt Những từ ghép là danh từ như yến anh, chị em, tài tử, giai nhân gợi tả sự đông vui, nhiều người, mà chủ yếu là trai thanh gái lịch Những từ ghép là động từ như sắm sửa, dập dìu gợi tả không khí rộn ràng, náo nhiệt của ngày hội Những từ ghép là tính từ như gần xa, nô nức tả tâm trạng háo hức của người đi hội Cụm từ “nô nức yến anh” là một ẩn dụ gợi lên
hình ảnh từng đoàn nam thanh nữ tú nô nức đi chơi xuân như những đàn chim én, chim oanh bay ríurít Những so sánh rất giản dị “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” giúp người đọc hình dung cảnhngày hội vô cùng náo nhiệt : ngựa xe nối nhau như dòng nước bất tận, người dự hội mặc trang phụcđẹp đi lại đông đúc, chật như nêm cối Trong lễ tảo mộ, người ta rắc những thoi vàng vó, đốt tiền giấyhàng mã để tưởng nhớ người đã khuất nên mới có cảnh “Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay” Tám câuthơ tả cảnh lễ hội ngày Thanh minh mà khắc họa được cả truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa
3 Sáu câu thơ cuối gợi tả khung cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về :
Tà tà, bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Buổi chiều, mặt trời từ từ (tà tà) ngả bóng về tây Ngày lễ hội đông vui đã đi qua, chị em Thúy
Kiều dắt tay nhau đi về Cảnh chiều xuân đẹp một cách dịu dàng, mọi chi tiết cảnh đều thanh nhẹ :nắng về chiều đã nhạt, một nhịp cầu nhỏ bắc ngang khe nước nhỏ Mọi hoạt động cũng thật nhẹ nhàng :mặt trời chầm chậm ngả bóng, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh Cảnh vẫn đẹp, vẫnthanh, nhưng đã nhuốm màu tâm trạng Đó là tâm trạng bâng khuâng xao xuyến mà người ta vẫnthường có sau một cuộc vui Nhưng đâu chỉ có thế, những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao”không chỉ biểu đạt sắc thái của cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người Những từ ấy, đặc biệt là từ
“nao nao”, thoáng gợn lên một nét buồn khó hiểu Ngay sau cảnh này là cảnh Thúy Kiều gặp mộ ĐạmTiên, sau đó gặp chàng thư sinh Kim Trọng “Phong tư tài mạo tót vời – Vào trong phong nhã, ra ngoàihào hoa”, những sự kiện làm xáo trộn cuộc sống “Êm đềm trướng rũ màn che – Tường đông ong bướm
đi về mặc ai” của Thúy Kiều Đoạn thơ tả cảnh mà chứa đựng một linh cảm về điều sắp xảy ra Đócũng là cái tài kể chuyện của Nguyễn Du
C Tổng kết :
Với bút pháp nghệ thuật tả cảnh đặc sắc và một hệ thống từ giàu chất tạo hình, Nguyễn Du đã gợi tả thật sinh động bức tranh thiên nhiên mùa xuân và cả không khí lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng.
II ĐỀ VĂN LUYỆN TẬP
Đề : Phân tích nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Du trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”
DÀN Ý
A Mở bài :
- Trong “Truyện Kiều” có nhiều đoạn thơ tả cảnh thiên nhiên đặc sắc
- Đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” là bức tranh xuân đẹp, bối cảnh cuộc gặp gỡ Kim Kiều
B Thân bài :
Phân tích cách dùng từ ngữ gợi hình gợi tả, bút pháp nghệ thuật miêu tả cổ điển ước lệ tả cảnhthiên nhiên mùa xuân theo trình tự không gian thời gian
1 Bốn câu đầu : gợi tả khung cảnh ngày xuân :
- Ngày xuân thấm thoắt trôi mau, tiết trời đã sang tháng ba, những cánh én rộn ràng bay giữa bầutrời trong sáng
Trang 27- Bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân : thảm cỏ non trải rộng tới chân trời, trên nền màu xanh nonđiểm xuyết vài hoa lê trắng
- Màu sắc hài hòa tuyệt diệu gợi nét đặc trưng mùa xuân : mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống (cỏnon) khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời), nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bônghoa) Từ “điểm” làm cảnh vật sinh động
2 Tám câu tiếp : gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh
- Các hoạt động của lễ tảo mộ (viếng mộ, quét tước, sửa sang phần mộ người thân )
- Hội đạp thanh (đi chơi xuân ở đồng quê)
- Phân tích giá trị biểu cảm của các danh từ ( yến anh ,chị em, tài tử, giai nhân ) gợi tả đông vui,nhiều người cùng đến hội ; các động từ ( sắm sửa, dập dìu ) gợi tả sự rộn ràng náo nhiệt ; các tính từ(gần xa, nô nức) làm rõ tâm trạng người đi hội ; hình ảnh ẩn dụ “nô nức yến anh” gợi tả nổi bật khôngkhí hội xuân nhộn nhịp, dập dìu nam thanh nữ tú
- Khắc họa truyền thống lễ hội văn hóa xa xưa trong tiết Thanh minh
3 Sáu câu cuối : cảnh chị em Kiều du xuân trở về
- Cảnh tan hội lúc chiều tàn, không còn nhộn nhịp rộn ràng mà nhạt dần, lặng dần, nhuốm buồn
- Những từ láy (tà tà, thanh thanh, nao nao) biểu đạt sắc thái cảnh vật, bộc lộ tâm trạng con
- Lấy cảnh xuân tươi đẹp trong sáng nhưng ẩn chứa những mầm mống đau thương làm bối cảnh
để Kim Kiều gặp gỡ, Nguyễn Du dụng ý dự báo mối tình hai người sẽ không trọn vẹn, đời Kiều saunày sẽ bất hạnh
BÀI VIẾT GỢI Ý
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã bao lần dụng công phác họa, tô điểm những bức tranh thiên
nhiên tương xứng với từng hoàn cảnh, tâm trạng Thúy Kiều, nhân vật chính mà ông ưu ái Nhiều bứctranh tứ thời Xuân, Hạ, Thu, Đông thật đặc sắc, sinh động, gợi cảm Có bức là cảnh chiều xuân Kiềugặp Kim Trọng, có bức là tâm cảnh cô đơn của Kiều ở lầu Ngưng Bích, có bức là cảnh Thúc Sinh từbiệt Kiều giữa chiều thu rừng xao xác lá nhuốm màu quan san…
Cảnh nào cũng có dụng ý dự báo những biến động của đời nhân vật Mối tình của Thúy Kiều vàKim Trọng đầy ước mơ đẹp đẽ nhưng cũng đầy đau xót bi thương nên Nguyễn Du đã lấy bối cảnh ngàyxuân tươi đẹp trong sáng nhưng đã ẩn chứa những mầm mống buồn bã để hai người hội ngộ Đoạn thơ
“Cảnh ngày xuân” là một đoạn thơ biểu hiện nghệ thuật miêu tả cảnh thiên nhiên thật tài tình, tuyệtdiệu
Đoạn thơ có kết cấu hợp lí, miêu tả theo trình tự thời gian, không gian cuộc du xuân của chị emThúy Kiều trong tiết Thanh minh Bốn câu đầu gợi tả khung cảnh ngày xuân với những nét đẹp đặctrưng của mùa xuân :
Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Hai câu đầu vừa nói thời gian, vừa gợi không gian mùa xuân Ngày xuân thấm thoắt trôi mau, tiếttrời đã bước sang tháng ba Trong tháng cuối cùng của mùa xuân, những cánh én vẫn rộn ràng bayliệng giữa bầu trời trong sáng như thoi đưa Bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân là cảnh thảm cỏ non trảirộng chân trời, trên màu xanh non điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng Nguyễn Du đã phỏng theo ý
Trang 28hai câu thơ cổ “ Phương thảo liên thiên bích, lê chi sổ điểm hoa” ( Cỏ thơm liền với trời xanh, hoa lê đã
nở trên cành vài bông) Màu sắc có sự hài hòa, ánh lên vẻ đẹp mới mẻ tinh khôi, giàu sức sống, nhẹnhàng, thanh khiết khoáng đạt của mùa xuân Từ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động có hồnchứ không tĩnh tại
Vẫn bằng bút pháp cổ điển vừa gợi vừa tả, vừa chấm phá vừa điểm xuyết, trong tám câu thơ tiếptheo Nguyễn Du đã tái hiện cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh và hoạt cảnh du xuân Ở đoạn này, với
ngôn ngữ giàu chất tạo hình bao gồm một loạt từ ghép là danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân), động từ (sắm sửa, dập dìu), tính từ (gần xa, nô nức) và cách nói ẩn dụ “ nô nức yến anh”, đoạn thơ đã
biểu hiện rõ nét hai hoạt cảnh lễ tảo mộ và hội đạp thanh, làm hiện lên trước mắt người đọc động tháitâm trạng của những đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én chim oanh bay ríu rít, nhữngngười đi quét tước, sửa sang phần mộ, viếng mộ người thân Trong hội đạp thanh ( tiết thanh minh đichơi xuân ở đồng quê, giẫm lên cỏ xanh ), tấp nập rộn ràng náo nhiệt nhất là những nam thanh nữ tú,những tài tử giai nhân :
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Qua cuộc du xuân của ba chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa một truyền thống v ăn hóa lễhội xa xưa : tiết Thanh minh mọi người sắm sửa lễ vật để đi tảo mộ, sắm sửa áo quần để vui hội đạpthanh Người ta rắc những thoi vàng vó, đốt tiền giấy hàng mã để tưởng nhớ những người thân đã khuất:
Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
Hai câu thơ gợi hình ảnh một vùng mộ địa chạy từ thấp lên cao, từ đồng bằng lên đồi núi.Nguyễn Du không hề đề cập đến đồi núi nhưng ta vẫn hình dung được khung cảnh một vùng mồ mảnằm theo sườn đồi thoai thoải Trong cảnh trong sáng tươi đẹp của mùa xuân, vui vẻ của lễ hội, cảnh
ngổn ngang gò đống kéo lên, thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay ẩn chứa một nỗi buồn kín đáo, phớt qua
như gió cuốn thoi vàng, tro tiền bay nhẹ ; tình cảm nỗi buồn tự nhiên mà ai cũng có khi đứng trướccảnh mộ địa dù trong ngày xuân
Sáu câu cuối là cảnh ba chị em du xuân trở về Tác giả chuyển cảnh thật tài tình Cảnh buổi sángchị em Thúy Kiều đi thanh minh nhộn nhịp bao nhiêu thì cảnh buổi chiều lúc về trông thật buồn :
Tà tà, bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân : nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu nhỏbắc ngang Mọi chuyển động nhẹ nhàng : Mặt Trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn,dòng nước uốn quanh Tuy nhiên cái không khí tưng bừng rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cảđang nhạt dần, lặng dần Cảnh mùa xuân ở bốn câu cuối và bốn câu đầu bên cạnh những nét giống nhaucòn có sự khác nhau bởi thời gian, không gian thay đổi (sáng khác chiều tà, lúc vào hội khác lúc tanhội), nhưng điều quan trọng là cảnh được cảm nhận qua tâm trạng Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”,
“nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người Hai chữ “nao
nao”(Nao nao dòng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật Cảm giác bâng khuâng
Trang 29xao xuyến về một ngày vui xuân đang còn mà sự linh cảm về điều sắp xảy ra đã xuất hiện Dòng nướcuốn quanh “nao nao” như báo trước ngay sau lúc này thôi Kiều sẽ gặp nấm mồ Đạm Tiên, sẽ gặp chàngthư sinh “phong tư tài mạo tót vời” Kim Trọng, sẽ khởi đầu ám ảnh giấc mộng Tiền Đường đeo đẳngsuốt mười lăm năm sau, khởi đầu một cuộc tình đầy dở dang tiếc nuối với Kim Trọng, khởi đầu nhữngtháng ngày ảm đạm bạc mệnh
Đoạn thơ rất thành công trong nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên Nguyễn Du không những là mộtnhà thơ lỗi lạc mà còn là một họa sĩ tài tình Bức tranh xuân ít màu mà thật linh hoạt Toàn thể cảnh sắc
là một màu xanh lan rộng trong tâm hồn người đọc : trời xanh, cỏ xanh, nước xanh, trời nước đượmmột màu xanh, màu buồn Bức tranh như có linh hồn, làm rung cảm người đọc một cách nhẹ nhàng
(Đặng Quốc Khánh)
KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH
(Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
A Giới thiệu :
1 Gia đình gặp tai biến, Kiều phải bán mình cứu cha và em Tưởng là bán mình làm vợ lẽ, không
ngờ bị Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục và đưa về lầu xanh, lại còn bị Tú Bà mắng nhiếc, đánh đập.Kiều nhất quyết không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh Đau đớn,phẫn uất, tủi nhục, nàng định tự vẫn Tú Bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều Mụ vờchăm sóc thuốc thang, hứa khi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế Mụ đưa Kiều ra sống riêng ởlầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để chuẩn bị một âm mưu đê tiện hơn
2 Đoạn thơ có thể chia làm ba phần :
+ Sáu câu thơ đầu : hoàn cảnh cô đơn của Kiều ở lầu Ngưng Bích
+ Tám câu thơ tiếp : Kiều thương nhớ Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ
+ Tám câu cuối : cảnh được cảm nhận qua tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều
B Đọc – Hiểu văn bản :
1 Sáu câu thơ đầu gợi tả hoàn cảnh cô đơn, đáng thương của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích :
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Ngay ở câu thơ đầu, đã thấy ngay hoàn cảnh của Thúy Kiều : lầu Ngưng Bích là nơi khóa kín tuổixuân, giam lỏng cuộc đời Thúy Kiều Đã biết bao nhiêu đêm, nàng cô đơn, thao thức nơi ngôi lầu ấy
Và Nguyễn Du đã tả tâm trạng của Kiều vào một đêm trăng Ngồi trên lầu cao nhìn ra xa, Kiều thấydãy núi và mảnh trăng như ở cùng trong một bức tranh Cảnh đẹp, nhưng thật buồn, vì ở nơi ấy, nàngtrơ trọi giữa không gian, thời gian, xung quanh nàng là mênh mông, hoang vắng Ngồi trên lầu cao nhìn
ra xa “bốn bề bát ngát”, chỉ thấy những cồn cát vàng, những dặm đường xa cuốn bụi hồng Phép đối
“cồn nọ” – “dặm kia” mở rộng không gian ra nhiều phía, càng tô đậm thân phận cô đơn của Thúy Kiềuđang bị giam lỏng ở ngôi lầu cao trơ trọi Ngày lại qua ngày, Kiều chỉ biết làm bạn với áng mây buổisớm, ngọn đèn canh khuya Đối diện với mây đèn, càng thấm thía cái bẽ bàng của thân phận Cảnh ấy,tình ấy làm lòng Thúy Kiều tan nát
2 Tám câu thơ tiếp theo diễn tả tâm trạng Kiều thương nhớ người thân Hình thức ngôn ngữ
độc thoại nội tâm đã diễn tả sâu sắc tâm trạng ấy
Trước tiên, nàng nhớ đến Kim Trọng :
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Trang 30Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Có người đặt vấn đề tại sao Kiều lại nhớ Kim Trọng trước mà không phải là nhớ cha mẹ trước ?Cần thấy được sự tinh tế trong ngòi bút của Nguyễn Du ở đoạn này Khi từ biệt gia đình để đi theo MãGiám Sinh, Kiều đã xa Kim Trọng một thời gian Mặt khác, khi bán mình để cứu gia đình, Kiều đã giảiquyết mối xung đột giữa chữ hiếu và chữ tình :
Duyên hội ngộ, đức cù lao, Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn ?
Để lời thệ hải minh sơn, Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
Trong lòng nàng luôn ám ảnh mặc cảm phụ tình chàng Kim Đến khi bị Mã Giám Sinh làm nhục
và giờ đây đang bị ép làm gái lầu xanh, nỗi đau lớn nhất của Thúy Kiều là “Tấm son gột rửa bao giờcho phai”, thân mình đã nhơ nhuốc không còn xứng đáng với Kim Trọng nữa Cho nên ở lầu NgưngBích, nàng nhớ đến Kim Trọng trước là phù hợp với logic của tình cảm Nhớ người yêu, Kiều nhớ đếnlời thề của tình yêu : “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng” (sau này, khi đã là gái lầu xanh, nhớ KimTrọng, nàng cũng nhớ đến lời thề ấy : “Nhớ lời nguyện ước ba sinh”) Ở lầu Ngưng Bích, Kiều tưởngtượng nơi phương xa chàng Kim đang ngày đêm đau đáu mong chờ mình : “Tin sương luống những ràytrông mai chờ” trong khi mình đang “bên trời góc bể bơ vơ” Câu thơ “Tấm son gột rửa bao giờ chophai” diễn tả nỗi đau của Kiều khi tấm lòng son của Kiều bị dập vùi hoen ố, biết bao giờ gột rửa chohết Câu thơ cũng có thể hiểu theo một cách khác : tấm lòng son sắt của Thúy Kiều đối với Kim Trọngkhông bao giờ có thể nguôi, tình yêu chung thủy của nàng không bao giờ phai nhạt
Bốn câu thơ tiếp theo diễn tả tâm trạng Kiều nhớ đến mẹ cha :
Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ ? Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Nghĩ về cha mẹ, lòng Kiều ngập tràn thương xót Nàng xót cho cha mẹ già sớm chiều tựa cửangóng tin con Nàng lo lắng ở nhà không ai phụng dưỡng, đỡ đần cha mẹ thay mình (sau này, nàngcũng có lần lo : “Sân hòe đôi chút thơ ngây – Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình ?”) Nguyễn Du dùngthành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, những điển cố “sân Lai”, “gốc tử” để diễn tả tấm lòng hiếu thảo và nỗinhớ thương cha mẹ của Kiều Từ khi xa nhà đến nay “Sân Lai cách mấy nắng mưa”, có lẽ mưa nắng đãlàm cảnh quê nhà đổi thay nhiều, “gốc tử” đã lớn “vừa người ôm”, cha mẹ ngày một thêm già yếu.Càng nghĩ, càng thêm xót xa cho cha mẹ
Trong cảnh ngộ hiện tại, Kiều là người đáng thương nhất Nhưng nàng không nghĩ về mình màchỉ nghĩ cho người thân Quên cảnh ngộ của mình mà nghĩ về Kim Trọng, Kiều là người tình chungthủy Quên cảnh ngộ của mình mà nghĩ về cha mẹ, Kiều là người con hiếu thảo Những điều đó làmnên phẩm chất cao quý của Kiều, một con người vị tha, nhân hậu
3 Tám câu cuối thể hiện tâm trạng buồn lo của Kiều :
Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu ? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Đoạn thơ là một minh chứng cho nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du.Tám câu thơ với bốn lần điệp ngữ “buồn trông” tạo âm điệu trầm buồn, mở ra bốn cảnh Mỗi cảnh đều
Trang 31nhuốm màu tâm trạng Trong cảnh “cửa bể chiều hôm”, hình ảnh “thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xaxa” như vời vợi nỗi nhớ cha mẹ, nhớ quê hương Cảnh “hoa trôi man mác biết là về đâu” trên “ngọnnước mới sa” như mang theo nỗi buồn cho thân phận trôi dạt của người con gái Trong cảnh “nội cỏ rầurầu”, Nguyễn Du mượn sắc màu u buồn của không gian cảnh vật để diễn tả nỗi buồn trong cảnh ngộ
ảm đạm của Kiều Ở cảnh cuối cùng, thiên nhiên hiện ra thật dữ dội : chung quanh Thúy Kiều là sónggió ầm ào Cảnh tượng ấy hé ra một dự cảm đáng sợ cho tương lai : rồi đây thân phận Thúy Kiều chỉ làcánh hoa bé nhỏ mong manh giữa sóng gió cuộc đời Bốn cảnh được miêu tả theo trình tự từ xa đếngần, hình ảnh và màu sắc từ mờ nhạt đến rõ đậm, âm thanh từ tĩnh đến động ; tình thì từ nỗi buồn manmác đến kinh sợ, hãi hùng
C Tổng kết :
“Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn tả cảnh ngụ tình thành công nhất trong
“Truyện Kiều” Đoạn thơ cho thấy tấm lòng thủy chung, nhân hậu của Thúy Kiều.
II ĐỀ VĂN LUYỆN TẬP
Đề : Tâm trạng Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.
DÀN Ý
A Mở bài :
- Nêu vị trí đoạn thơ trong truyện
- Đoạn thơ là bức tranh tâm tình, xúc động, biểu hiện tâm trạng Thúy Kiều
B Thân bài :
Phân tích các tâm trạng của Kiều :
1 Buồn, cô đơn, trơ trọi trước cảnh thiên nhiên rộng lớn quanh lầu Ngưng Bích.
2 Nhớ :
- Nhớ Kim Trọng, ân hận vì đã phụ thề
- Nhớ cha mẹ, xót xa thương cha mẹ già yếu, sớm chiều tựa cửa ngóng trông con
- Nhớ Kim Trọng trước cha mẹ là phù hợp với tâm lí Kiều, không phải là trái đạo lí vì Kiều đãtrọng hiếu hơn tình, tự nguyện bán mình để cứu cha và em
BÀI VIẾT GỢI Ý
Bị Mã Giám Sinh làm ô nhục, bị Tú Bà ép phải làm gái lầu xanh, Kiều đau đớn, tủi nhục đã tựvẫn để dứt nợ hồng nhan nhưng không chết Sợ mất cả chì lẫn chài, Tú Bà liền đưa Kiều ra ở lầuNgưng Bích với hứa hẹn sẽ giúp Kiều “Tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà” Những thời khắc ở lầuNgưng Bích, bị giam lỏng để đợi “gả chồng”, thân phận Kiều thật đáng thương, tâm trạng Kiều thật bithiết Đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh tâm tình đầy xúc động về tình cảnh, tâmtrạng của Kiều, gợi sự đồng cảm, thương xót sâu sắc cho người đọc
Trang 32Hai mươi hai dòng lục bát, âm điệu nhẹ nhàng, man mác, mênh mang nỗi buồn vô tận phát khởi
từ lòng người, lan truyền vào cảnh vật, rồi từ cảnh vật lại xoáy vào lòng người Bốn dòng đầu là bứctranh thiên nhiên quanh lầu Ngưng Bích :
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Cảnh mênh mông vắng lặng, tô đậm vẻ cô đơn bẽ bàng của Kiều Trơ trọi thẫn thờ, từ trên lầucao, Kiều nhìn ra dãy núi trùng điệp xa mờ Trước mắt nàng, phía xa là những cồn cát vàng trải dài vôtận, trên đầu là mảnh trăng sầu Cảnh núi xa, trăng sáng, cát vàng, bụi đỏ, bát ngát, quạnh hiu Mỗidòng thơ là một cặp đối xứng “vẻ non xa – tấm trăng gần” mờ ảo, “cát vàng cồn nọ – bụi hồng dặmkia” tầng tầng lớp lớp Tất cả gợi lên bao nỗi ngổn ngang bi lụy trong tâm hồn Kiều Đối lập với khônggian rộng lớn, Kiều cảm thấy cô đơn, nhỏ bé Nàng như muốn kéo cả “vẻ non xa, tấm trăng gần” đến ởchung để bớt cô độc Nghĩ đến những biến cố mới xảy ra trước đó không lâu, Kiều buồn tủi, chánchường Giờ đây, Kiều không còn là một thiếu nữ trong trắng với cuộc sống êm đềm của gia đình màtấm thân này đã bị ô nhục, lưu lạc nơi đất khách quê người, không thân thích Sớm sớm nhìn mây, đêmđêm đối diện ngọn đèn, cảnh buồn, tình buồn hòa nhập vào nhau thành nỗi buồn chất ngất trong lòngKiều :
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nữa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Cảnh gắn với lòng người, tình cảnh hòa quyện Nét đặc sắc của Nguyễn Du là tả cảnh làm nền đểbộc lộ nội tâm nhân vật Cảnh buồn làm người buồn, người buồn nhìn đâu cũng thấy cảnh buồn, đúngnhư Nguyễn Du đã viết ở đoạn khác trong “Truyện Kiều” :
Trang 33Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Những dòng thơ tiếp theo tràn đầy xúc cảm buồn nhớ của Thúy Kiều Trước hết nàng nhớ đếnKim Trọng, nhớ đến lời thề nguyền hôm nào dưới ánh trăng, chén rượu thề nguyền chưa ráo, vầngtrăng vẫn còn kia mà ước mơ hạnh phúc tình đầu đã tan vỡ Kiều hình dung giờ đây Kim Trọng ở LiêuDương đang ngóng đợi tin nàng với nỗi sầu tư ! Kiều thấy thương Kim Trọng vô hạn, cảm thấy ân hận
vì mình đã phụ thề Lòng Kiều xót xa vì mối tình đầu :
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những ngày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Càng thương nhớ người yêu, càng nuối tiếc mối tình không trọn, Kiều càng thấm thía tình cảnh
cô độc và hiểu rằng tấm lòng son sắt của nàng đối với chàng Kim sẽ không bao giờ phai nhạt
Chưa nguôi nỗi nhớ người yêu, tâm can Kiều lại chồng chất thêm nỗi thương nhớ cha mẹ :
Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Với cha mẹ, nỗi nhớ của Kiều thật xót xa, da diết Nguyễn Du thật tài tình khi dùng từ “tưởng” đểdiễn tả nỗi nhớ của Kiều đối với Kim Trọng, từ “xót” để tả nỗi nhớ của Kiều đối với cha mẹ Tuy đã
“Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân” tự nguyện bán mình để cứu cha và em, Kiều vẫn cảm thấy mình
Trang 34chưa trọn đạo làm con sớm thăm tối viếng, chắc giờ này cha mẹ già yếu đang mòn mỏi ngóng trôngcon, không ai quạt nồng ấp lạnh Một nỗi buồn mênh mông tràn ngập lòng Kiều.
Để Thúy Kiều nhớ Kim Trọng trước nhớ cha mẹ không phải là trái đạo lí mà đây là sự tài tình,hiểu biết tâm lí nhân vật của Nguyễn Du Kiều là người biết trọng hiếu hơn tình, đã hi sinh bản thân,tình yêu để cứu gia đình khỏi nạn Giờ đây gia đình đã yên ổn, Kiều đã cảm thấy có phần an ủi thì tâmtrạng nhớ Kim Trọng là phù hợp vì như nhà thơ Thế Lữ đã viết :
Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.
Có thể nói Kiều “Hai bên vẹn cả tình cùng hiếu” như Chu Mạnh Trinh đã nhận xét Trong cảnhđau khổ, Kiều luôn nhớ đến Kim Trọng Dù bản thân đã mất hết những gì quý giá, mất tình yêu, trinhtiết, nhân cách Kiều vẫn vị tha, nhớ thương cha mẹ, nặng lòng hiếu đạo
Từ buồn nhớ, Kiều lại cảm thấy lo sợ cho tương lai mờ mịt của mình Trong tám câu cuối củađoạn thơ, nỗi buồn của Thúy Kiều càng thêm chất ngất Với vần bằng âm hưởng trùng điệp, từ ngữ gợihình gợi tả biểu cảm, điệp ngữ liên hoàn “buồn trông”, Nguyễn Du đã cực tả được nỗi buồn tầng tầnglớp lớp đang dâng ngập lòng Kiều Có những nét tả thực cảnh vật với cửa bể, chiều hôm, cánh buồm,bụi cỏ, chân mây, màu xanh, tiếng sóng … nhưng đều chứa đựng nghĩa ẩn dụ, gợi mở, liên tưởng phảnánh tâm trạng Kiều :
Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu.
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Trang 35Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Kiều ghi nhận những cảnh khác nhau, mỗi cảnh gợi cho nàng một nỗi buồn lo khác nhau Cảnh
“cửa bể chiều hôm thấp thoáng cánh buồm xa xa” gợi nhớ quê hương, cảnh “hoa trôi man mác” gợinàng nghĩ đến thân phận bất hạnh của mình không biết sẽ trôi dạt về đâu trên dòng đời vô định Cảnh
“nội cỏ rầu rầu”, “chân mây mặt đất một màu xanh xanh” gợi cho Kiều nỗi buồn chán, tủi thân về cuộcsống lạnh lùng vô vị Đặc biệt âm thanh của tiếng sóng “kêu” phủ chụp xuống Kiều làm cảm thấy hãihùng trước những bão táp, tai biến sẽ ập đến
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Đó là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên
“Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn thơ hay nhất trong “Truyện Kiều” Với haimươi hai dòng thơ tả cảnh ngụ tình, tả tâm trạng nhân vật, Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng văn chươngxuất chúng của mình Nhưng quan trọng nhất, giàu tính nhân văn nhất vẫn là cái tình, là tấm lòng nhânđạo của nhà thơ đối với kiếp người bất hạnh ẩn chứa trong thơ
(Đặng Quốc Khánh)
MÃ GIÁM SINH MUA KIỀU
(Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) (Bài tự học có hướng dẫn)
Đề : Tính cách đê tiện, bỉ ổi của Mã Giám Sinh và tâm trạng đau đớn hổ nhục của Thúy Kiều qua đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”.
Trang 36B Thân bài :
Phân tích :
1 Tính cách, bản chất Mã Giám Sinh :
+ Lai lịch bất minh, giả danh sinh viên Quốc tử giám ở kinh đô
+ Đỏm dáng, đàng điếm, thô lỗ, vô học (qua tả ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động)
+ Sành sỏi với thủ đoạn con buôn tàn nhẫn, cò kè mặc cả trả giá một cách đê tiện, bỉ ổi, xemKiều như món hàng
+ Là tên ma cô “buôn thịt bán người” chuyên đi mua gái cho lầu xanh của mụ Tú Bà ở Lâm Tri
2 Tâm trạng Thúy Kiều :
+ Đau đớn, tủi nhục, ê chề, nước mắt đầm đìa
+ Câm lặng, thụ động như một cái máy vì tự nguyện bán mình
C Kết bài :
- Đoạn thơ đặc sắc về tả người, tả tâm trạng nhân vật
- Nguyễn Du đồng cảm nỗi khổ của Kiều, lên án bọn người xấu xa độc ác và thế lực của đồngtiền
BÀI VIẾT GỢI Ý
Đang “chập chờn nửa tỉnh nửa mê” trong ước mơ hạnh phúc tình đầu với Kim Trọng thì bỗngđâu cảnh nhà tai biến vì thằng bán tơ vu oan giá hoạ, Thúy Kiều không đành lòng để gia đình tan nát
nên tự nguyện bán mình để cứu cha và em Mã Giám Sinh mua Kiều là một đoạn thơ tự sự trữ tình đặc
sắc thành công về tả người, tả tâm trạng nhân vật Đó là màn bi hài kịch vừa khắc hoạ rõ nét tính cách
bỉ ổi, đê tiện của Mã Giám Sinh, vừa gợi tả xúc động tâm trạng xót xa đáng thương của Thúy Kiều
Ngòi bút tài tình của Nguyễn Du đã tập trung những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ tả thực cụ thể vềtuổi tác, ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động, làm hiện rõ nhân thân họ Mã trước mắt người đọc.Hắn là một tên lai lịch mờ ám, giả danh, đỏm dáng, đàng điếm, thô lỗ, vô học :
Quá niên trạc ngoại tứ tuần, Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao, Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng…
Những từ nhẵn nhụi, bảnh bao đã không hàm ý đẹp, lại ở một kẻ ngoại tứ tuần càng gợi lên sự không lương thiện Từ tót đã đặc tả được thái độ lố bịch, vô giáo dục của Mã Giám Sinh Nguyễn Du quả thật có tài lột tả cái “thần” của nhân vật chỉ bằng một từ Từ tót trong ngồi tót tả họ Mã, cũng như
từ lẻn chỉ Sở Khanh, từ ngây tả Hồ Tôn Hiến là những từ đắt, những “nhãn tự” trong ngôn ngữ Truyện Kiều Tả ngoại hình, Nguyễn Du để nhân vật tự bộc lộ tính cách, bản chất Ngay phút đầu xuất hiện, họ
Mã đã làm người đọc căm ghét, khinh bỉ
Bước vào “lễ vấn danh” trá hình, Mã Giám Sinh lộ nguyên hình là một tên con buôn với những
thủ đoạn sành sỏi, tàn nhẫn Nào có ai đến coi mắt xin cưới vợ mà lại ép, thử, cân, đo xem Kiều như
một món hàng giữa chợ :
Đắn đo cân sắc cân tài
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ
…
Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm
Dù cố dùng những lời lẽ hoa mĩ như lễ vấn danh, canh thiếp, nạp thái, vu quy, họ Mã cũng
không che đậy được chân tướng xấu xa của hắn khi Nguyễn Du kết thúc tấn bi kịch, lật ngửa con bài,lật mặt nạ chỉ rõ họ Mã là kẻ chuyên đi mua gái cho lầu xanh, một tên “buôn thịt bán người”:
Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong
Trang 37Thì ra Mã Giám Sinh chẳng phải là sinh viên trường Quốc tử giám ở kinh đô đến xin cưới vợ
mà thực chất hắn là “gã chồng hờ”, là kẻ “mạt cưa mướp đắng” cùng với mụ Tú Bà chủ nhà chứa ở
Lâm Tri “chung lưng mở một ngôi hàng/ Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề” Đích thực, hắn là
công cụ của số mệnh và thế lực đen tối của đồng tiền đến gieo rắc tai hoạ cho đời Kiều Nếu Từ Hải làngười anh hùng độ lượng, là ánh sáng cứu vớt đời Kiều khỏi vũng bùn nhơ thì chính Mã Giám Sinh là
kẻ đê tiện, là bóng tối đã làm Kiều bị ô nhục, đã đẩy nàng vào chốn đoạn trường khổ nhục suốt 15 năm
Thuý Kiều trong cảnh mua bán dơ dáng này thật đáng thương Đang là người con gái trong
trắng, cuộc sống lễ giáo kín đáo “êm đềm trướng rủ màn che” bỗng rơi vào nghịch cảnh, bị xem như
một “món hàng” để bọn con buôn mặc cả trả giá, Kiều vô cùng đau đớn nhục nhã Vì tự nguyện bánmình nên Kiều cam chịu, câm lặng, thụ động như một cái máy theo sự điều khiển của mụ mối và họ
Mã Từ lúc quyết định bán mình, Kiều đã xác định mình là món hàng có giá duy nhất còn lại trong nhà,sau khi bọn sai nha cướp phá Nhưng chắc chắn Kiều chưa hình dung hết sự ê chề nhục nhã trong tìnhcảnh này Gia đình trong cơn tai biến, cha và em bị đánh đập, bắt giam, chàng Kim thì đã về LiêuDương, tình yêu mới chớm nở đành tan vỡ, nếu không có cuộc mua bán này lòng Kiều cũng đã tan nát.Nước mắt tuôn đẫm từng bước chân nàng :
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng Ngại ngùng dợn gió e sương
Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày
Từng câu thơ lạnh lùng, tưởng như nhà thơ khách quan đứng ngoài cuộc kể lại diễn biến “lễ vấndanh” Nhưng chắc rằng nước mắt Thúy Kiều cũng thấm đẫm trái tim nhân đạo của Nguyễn Du và khiviết đoạn thơ này, nhà thơ đã đứng về phía Kiều để lên án bọn độc ác, vô nhân
Đoạn thơ không chỉ thành công trong cách tả nhân vât phản diện Mã Giám Sinh mà còn thànhcông trong cách tả tâm trạng Thúy Kiều, biểu hiện nỗi đau xót sâu sắc của người con gái tài hoa nhưngbất hạnh Nguyễn Du là bậc thầy tả người, tả nhân vật nào ra nhân vật ấy, không nhân vật nào lẫn vớinhân vật nào Điều đó đúng với nhận xét : “Truyện Kiều cho ta một kiểu mẫu hoàn bị về kĩ thuật vănchương của một nhà thơ tài hoa nhất thế kỷ XIX”
(Đặng Quốc Khánh)
THÚY KIỀU BÁO ÂN BÁO OÁN
(Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)
Đoạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” miêu tả cảnh Kiều đền ơn những người đã cưu mang giúp đỡnàng và trừng trị những kẻ đã hại nàng Trước đó, Từ Hải đã cho quân đưa về doanh tất cả những người
có ân oán với Thúy Kiều:
Mấy người phụ bạc xưa kia, Chiếu doanh tầm nã bắt về hỏi tra.
Lại sai lệnh tiễn truyền qua, Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
Mụ quản gia, vãi Giác Duyên,
Trang 38Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời.
2 Đoạn trích gồm 34 câu thơ (đã lược bớt một số câu đối thoại giữa Kiều và Hoạn Thư), chia làm
2 phần :
+ Mười hai câu đầu : Thúy Kiều báo ân ;
+ Hai mươi hai câu còn lại : Thúy Kiều báo oán
B Đọc – Hiểu văn bản :
1 Mười hai câu thơ đầu kể việc Thúy Kiều báo ân.
Trong những người có ơn với mình, Thúy Kiều trước hết nhớ đến Thúc Sinh Điều đó là hợp líbởi Thúc Sinh là người đã cứu Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh của Tú Bà, và giữa hai người cũng đã cótình nghĩa như vợ chồng Hiện tại, hai người gặp lại trong cảnh khá oái oăm : Thúc Sinh được mời tớitrong cảnh oai nghiêm của phiên tòa mà Thúy Kiều là chánh án :
Quân trung gươm lớn giáo dài,
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi.
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi, Bác đồng chật đất, tinh kì rợp sân.
Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Chàng Thúc vốn tính cách đã nhu nhược, trước cảnh ấy lại càng khiếp sợ đến mặt tái xanh lạc cả
thần sắc (mặt như chàm đổ), người run lên (mình dường dẽ run) Và có lẽ càng bất ngờ hơn khi Thúc
được nghe những lời nói giàu ân tình của Kiều :
Nàng rằng : “Nghĩa nặng nghìn non, Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không ? Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng, Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân ?
“Người cũ”, “cố nhân”… Những cách gọi đó bộc lộ thái độ của Kiều đối với Thúc Sinh : vừa
thân mật gần gũi, vừa trang trọng Trong đoạn thơ, những từ Hán Việt (nghĩa, tòng, cố nhân) và điển cố (Sâm Thương) càng tô đậm thêm sắc thái trang trọng ấy Rõ ràng Kiều chưa hề quên tấm lòng Thúc
Sinh ngày trước đã yêu thương nàng, cứu nàng ra khỏi lầu xanh và cho nàng những ngày tháng êmđềm Nàng trân trọng gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”, bày tỏ tấm lòng biết ơn chân thành Tuy chẳng
được làm vợ chồng với Thúc Sinh “Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng”, lại còn phải chịu nỗi khổ nhục
của kiếp tôi đòi, nhưng Thúy Kiều không hề trách Thúc Sinh Nàng hoàn toàn thông cảm và hiểu không
phải tại Thúc Sinh : “Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân ?” Đền ơn “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”, Thúy Kiều cũng hiểu được “nghĩa nặng nghĩa non” không gấm vóc bạc vàng nào trả được nên cũng chỉ
“Tạ lòng, dễ xứng báo ân gọi là”.
Kiều không trách Thúc Sinh, nhưng Kiều cũng không quên được nỗi đau do Hoạn Thư gây ra.Cho nên ngay trong khi đang nói với Thúc Sinh, nàng đã nhắc đến Hoạn Thư :
Vợ chàng quỷ quái tinh ma, Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu, Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.
Cách nói đã thay đổi Nói về ân nghĩa của Thúc Sinh, cách nói của Kiều rất trang trọng Nhưngnhắc đến Hoạn Thư, cách nói lại chuyển sang nôm na như kiểu nói của người bình dân Những thành
ngữ “kẻ cắp bà già gặp nhau”, “kiến bò miệng chén” và câu nói dứt khoát “Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa” hứa hẹn một cuộc báo oán theo quan điểm của nhân dân : cái ác phải bị trừng phạt, “ác
giả ác báo”
2 Hai mươi hai câu thơ còn lại kể việc Thúy Kiều báo oán.
Sau cảnh báo ân là màn báo oán :
Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra, Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Trang 39Thoắt trông nàng đã chào thưa :
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây !”
Hành động vội vã chào thưa và lối xưng hô của kẻ tôi đòi trong lời nói của Kiều bộc lộ thái độmỉa mai và sự ghi nhớ sâu sắc một cuộc oán thù Ngày trước, Thúy Kiều là hoa nô nhà họ Hoạn nênphải một điều “chào thưa”, hai điều “tiểu thư” Bây giờ đã thay bậc đổi ngôi, Kiều là quan toà, HoạnThư là tội phạm, Kiều vẫn dùng lối xưng hô ấy, làm cho Hoạn Thư càng xấu hổ và sợ hãi hơn nữa.Nói với Hoạn Thư, lời nói của Kiều có giọng đay nghiến chất chứa bao căm giận :
Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan !
Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.
Từ ngữ được lặp đi lặp lại, lời nói như dằn ra từng tiếng : dễ có, dễ dàng, mấy tay, mấy mặt, mấy gan, đời xưa, đời này, càng… càng…, lắm, nhiều… Hoạn Thư vốn là con người “bề ngoài thơn thớt nói cười – Mà trong nham hiểm giết người không dao” Cách nói của Kiều dành cho loại người ấy quả là
phù hợp
Hoạn Thư đúng là loại “đàn bà dễ có mấy tay”, rất bản lĩnh, khôn ngoan và giảo hoạt Lúc đầu có
“hồn lạc phách xiêu” nhưng sau đó kịp định thần mà “khấn đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca” Những
“điều kêu ca” của Hoạn Thư thực chất là lí lẽ để gỡ tội.
Cái lí lẽ thứ nhất Hoạn Thư đưa ra là tâm lí thường tình của người phụ nữ :
Rằng : “Tôi chút phận đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.”
Tài cho Hoạn Thư ! Chỉ mấy chữ “chút phận đàn bà” đủ gợi sự cảm thông từ đối phương, bởi hơn ai hết, Kiều chính là người đã nếm trải đủ cay đắng của “chút phận đàn bà” ấy Đã là đàn bà với
nhau, ai lại đi kết tội sự ghen tuông – cái tâm lí thường tình của phụ nữ ! Vợ ghen tuông để giữ chồng
là do chồng chứ có phải do vợ đâu ? “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai” mà ! Cho nên Thúy Kiều –
quan tòa và Hoạn Thư – tội nhân bỗng trở thành người cùng cảnh ngộ : nạn nhân của chế độ đa thê.Cái lí lẽ thứ hai Hoạn Thư đưa ra là cái ơn đối với Thúy Kiều :
Nghĩ cho khi gác viết kinh, Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Hai câu thơ nhắc lại việc Hoạn Thư cho Thúy Kiều ra viết kinh ở gác Quan Âm, và không bắt giữkhi Thúy Kiều trốn khỏi nhà họ Hoạn
Cuối cùng thì Hoạn Thư nhận tất cả tội lỗi về mình “Trót lòng gây việc chông gai” Nói “trót
lòng”, Hoạn Thư muốn nói là việc bất đắc dĩ mà sinh ra như vậy Bây giờ chỉ còn biết trông cậy vào
tấm lòng khoan dung độ lượng rộng lớn như trời biển của Thúy Kiều : “Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng” Trong tình cảnh ấy mà còn có thể ăn nói đến mức vậy, Hoạn Thư quả là con người “sâu sắc nước đời”, khôn ngoan đến mức “quỷ quái tinh ma”.
Lời lẽ của Hoạn Thư thật có lí có tình, Kiều phải buộc miệng khen :
Khen cho : “Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”.
Khi bắt đầu cuộc báo oán, Kiều bảo mọi người ngồi lại để “xem cho rõ mặt, biết tôi báo thù”,
nghĩa là Kiều kiên quyết trừng phạt Bây giờ, trước lí lẽ của Hoạn Thư, Kiều băn khoăn khó xử, khôngbiết nên trừng phạt hay tha thứ :
Tha ra, thì cũng may đời, Làm ra, thì cũng con người nhỏ nhen.
Dân gian có câu : “Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại” Hoạn Thư đã biết lỗi,Kiều cũng độ lượng thứ tha :
Đã lòng tri quá thì nên, Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Hành động ấy bộc lộ tấm lòng vị tha nhân hậu tuyệt vời của Kiều
Trang 40C Tổng kết :
Qua ngôn ngữ đối thoại, tác giả đã làm nổi bật lên tính cách nhân vật Thúy Kiều và nhân vật Hoạn Thư “Thúy Kiều báo ân báo oán” là sự thể hiện ước mơ công lí chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân : con người bị áp bức đau khổ vùng lên cầm cán cân công lí, “ở hiền gặp lành, ở
ác gặp ác”.
LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA
(Trích “Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu)
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
A Giới thiệu :
1 Vài nét về tác giả :
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên –
Huế, nhưng sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh)
Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều trắc trở gian truân Nhưng vượt lên nỗi đau, cuộc đờiông là bài học lớn về nghị lực sống, sống để cống hiến cho đời Bị mù đôi mắt, nhưng Nguyễn ĐìnhChiểu không chịu đầu hàng số phận, vẫn sống và làm nhiều việc có ích : dạy học, làm thuốc, sáng tácthơ văn Là một thầy giáo, ông đặt việc dạy người cao hơn dạy chữ, được nhiều thế hệ học trò kính yêu
Là thầy thuốc, ông xem trọng y đức, lấy việc cứu người làm trọng Là nhà thơ, Cụ Đồ Chiểu quan tâmđến việc dùng văn chương để hướng con người đến cái thiện, đến một lối sống cao đẹp, đúng đạo lí làmngười Khi quê hương bị thực dân Pháp xâm lược, Đồ Chiểu dùng thơ văn để khích lệ tinh thần chiếnđấu của nhân dân
Nguyễn Đình Chiểu còn là tấm gương sáng ngời lòng yêu nước và tinh thần bất khuất chốngngoại xâm Ngay từ những ngày đầu giặc Pháp xâm lược Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu cao lậptrường kháng chiến, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn bạc việc chống giặc và sáng tác thơ văn để khích
lệ tinh thần chiến đấu của các nghĩa sĩ Khi triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, bất lực đến phải dâng cảNam Kì lục tỉnh cho giặc Pháp, Đồ Chiểu đã nêu cao khí tiết, giữ gìn lối sống trong sạch, cao cả, từchối mọi cám dỗ của thực dân, không chịu hợp tác với kẻ thù
2 “Truyện Lục Vân Tiên” là truyện thơ Nôm có 2082 câu thơ lục bát, được Nguyễn Đình Chiểu
sáng tác vào khoảng đầu thập kỉ 50 của thế kỉ XIX Truyện được lưu truyền rộng rãi, có sức sống mạnh
mẽ và lâu bền trong lòng nhân dân, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ
+ Cốt truyện gồm 4 phần :
- Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga
- Lục Vân Tiên gặp nạn và được cứu giúp
- Kiều Nguyệt Nga gặp nạn mà vẫn giữ lòng chung thủy
- Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga gặp lại nhau
Tác phẩm có tính chất một thiên tự truyện, nhiều yếu tố trùng hợp giữa những tình tiết của truyệnvới cuộc đời của chính tác giả Nguyễn Đình Chiểu như việc bỏ thi về chịu tang mẹ, bị mù, bị bội hôn,sau này lại gặp cuộc hôn nhân tốt đẹp Lục Vân Tiên là nhân vật tự truyện của Nguyễn Đình Chiểu.Nhưng Nguyễn Đình Chiểu không được như Lục Vân Tiên : gặp tiên cho thuốc, mắt lại sáng, thi
đỗ Trạng nguyên và cầm quân đánh giặc thắng lợi Những gì chưa làm được trong cuộc đời mình,Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm vào nhân vật Lục Vân Tiên Cho nên Lục Vân Tiên cũng là nhân vật lítưởng của Đồ Chiểu, là nơi nhà thơ gửi gắm ước mơ và khát vọng của mình
+ Nội dung truyện đề cao đạo lí làm người, cụ thể là :
- Ca ngợi tình nghĩa giữa con người với con người trong xã hội : tình cha con, mẹ con, nghĩa vợchồng, tình bạn bè, lòng yêu thương sẵn sàng cưu mang đùm bọc những người gặp cơn hoạn nạn
- Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng ra tay cứu khổn phò nguy
- Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc đời :thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà
+ Với tính chất truyện để kể hơn là để đọc, “Truyện Lục Vân Tiên” chú trọng đến hành động củanhân vật nhiều hơn là miêu tả nội tâm Tính cách nhân vật thường bộc lộ qua hành động Dó đó, truyện