+ Điều kiện lao động Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế xã hội, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động
Trang 1- Về xã hội: Điều kiện chính trị, pháp luật, xã hội và kinh tế
- Về kỹ thuật: Quá trình kỹ thuật, sự trao đổi kỹ thuật, kỹ thuật an toàn, kỹ thuật lao động
- Về khoa học: Khoa học y học, khoa học pháp luật, khoa học kinh tế, khoa học lao động
- Về thị trường: Nhu cầu lao động, điều kiện thị trường, thị trường lao động
- Về môi trường: Vị trí, sự lan truyền, Ánh sáng, tiếng ồn,
Lao động được thực hiện trong một hệ thống lao động và nó được thể hiện việc sử dụng những tri thức về khoa học an toàn
+ Điều kiện lao động
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế xã hội, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó tạo điều kiện cần thiết cho quá trình hoạt động của con người trong quá trình lao động sản xuất
Trang 2Điều chúng ta quan tâm là các yếu tố biểu hiện điều kiện lao động có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe và tính mạng của con người
Để có thể làm tốt công tác bảo hộ lao động, cần phải đánh giá được các yếu tố điều kiện lao động, đặc biệt là phải phát hiện và xử lý được các yếu tố không thuận lợi đe dọa đến an toàn và sức khỏe người lao động trong quá trình lao động Các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện lao động bao gồm:
- Máy, thiết bị công cụ
- Nhà xưởng
- Năng lượng, nguyên vật liệu
- Đối tượng lao động
- Người lao động
- Yếu tố tự nhiên: Ánh sáng, nhiệt độ, tiếng ồn, độ cao, độ sâu,
- Yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội liên quan đến trạng thái tâm lý người lao động Trong đó các điều kiện lao động không thuận lợi được chia ra 2 loại chính:
- Những yếu tố gây chấn thương – Tai nạn lao động
- Những yếu tố có hại đến sức khỏe – Gây bệnh nghề nghiệp
Để đánh giá, phân tích điều kiện lao động cần phải tiến hành đánh giá, phân tích đồng thời trong mối quan hệ tác động qua lại của tất cả các yếu tố nói trên
+Các yếu tố nguy hiểm và có hại
Trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động, ta gọi đó là các yếu tố gây nguy hiểm và có hại, cụ thể là :
- Yếu tố vật lý: Nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi,
- Yếu tố hóa học: các chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ,
- Yếu tố sinh vật, vi sinh vật: các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, động vật có nọc độc,
- Yếu tố không hợp lý nơi làm việc: cao, thấp, chật hẹp, sáng tối, mất vệ sinh,
Trang 3- Các yếu tố không thuận lợi về tâm lý,
Câu 2: nếu ý nghĩa và muc đích của công tác bảo hộ lao động?
Trả lời:
+ Mục đích của công tác bảo hộ lao động
Trong quá trình lao động, dù sử dụng công cụ lao động thông thường hay máy móc hiện đại, dù áp dụng kỹ thuật, công nghệ đơn giản hay áp dụng công nghệ phức tạp, tiên tiến đều phát sinh và tiềm ẩn những yếu tố nguy hiểm, có hại, gây tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động
Một quá trình lao động có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm có hại Nếu không được phòng ngừa, ngăn chặn chúng có thể tác động vào con người gây chấn thương, gây bệnh nghề nghiệp, làm giảm sút, làm mất khả năng lao động hoặc gây tử vong, cho nên việc chăm lo cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động
Đảng và nhà nước luôn luôn quan tâm đến công tác bảo hộ lao động, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình lao động, nhằm mục đích:
- Đảm bảo an toàn thân thể người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất, hoặc không để xảy ra tai nạn, chấn thương, gây tàn phế hoặc tử vong trong lao động
- Bảo đảm người lao động mạnh khỏe, không bị mắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động gây ra
- Bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho người lao động
Công tác bảo hộ lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng và là một trong những yêu cầu khách quan của hoạt động sản xuất kinh doanh
a, Ý nghĩa chính trị
Trang 4Bảo hộ lao động thể hiện quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động thấp, người lao động khỏe mạnh, không mắc bệnh nghề nghiệp là một xã hội luôn coi con người là vốn quý nhất, sức lao động và lực lượng lao động luôn luôn được bảo vệ và phát triển Công tác bảo hộ lao động làm tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe , tinh thần và đời sống người lao động, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý trọng con người của Đảng và Nhà nước Vai trò của con người trong xã hội được tôn trọng
Ngược lại, nếu công tác bảo hộ lao động không được thực hiện tốt, điều kiện làm việc của người lao động còn quá nặng nhọc, độc hại để xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ, uy tín của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút
b, Ý nghĩa xã hội
Bảo hộ lao động là chăm lo đời sống, hạnh phúc người lao động Bảo hộ lao động là yêu cầu thiết thực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động Các thành viên trong mỗi gia đình ai cũng mong muốn được khỏe mạnh, lành lặn, trình độ văn hóa, nghề nghiệp được nâng cao để cùng chăm lo hạnh phúc gia đình và góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh, phát triển
Bảo hộ lao động đảm bảo cho xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao động được sống khỏe mạnh, làm việc có hiệu quả cao và có vị trí xứng đáng trong xã hội, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ khoa học kỹ thuật
Tai nạn lao động không sảy ra, sức khỏe lao động được đảm bảo thì Nhà nước và xã hội sẽ giảm bớt được những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả và tập trung đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội
c, Ý nghĩa Kinh tế
Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt
Trong sản xuất nếu người lao động được bảo vệ tốt, có sức khỏe, không bị ốm đau bệnh tật, điều kiện làm việc thỏai maí, không nơm nớp lo sợ bị tai nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp thì sẽ an tâm, phấn khởi sản xuất; Phấn đấu để có ngày công, giờ công
Trang 5cao; Phấn đấu nâng cao năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, ghóp phần hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất công tác Do vậy phúc lợi tập thể được tăng lên, có thêm những điều kiện để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và tập thể lao động Từ đó có tác dụng tích cực bảo đảm đoàn kết nội bộ và đẩy mạnh sản xuất
Ngược lại, nếu để môi trường làm việc quá xấu, tai nạn lao động, ốm đau xảy ra nhiều
sẽ gây nhiều khó khăn cho sản xuất
Người bị tai nạn lao động, ốm đau phải nghỉ việc để chữa trị, ngày công lao động sẽ giảm, nếu nhiều người lao động bị tàn phế, mất sức lao động thì ngòai việc khả năng lao động của họ sẽ giảm, sức lao động của xã hội vì thế cũng giảm sút; Xã hội còn phải lo việc chăm sóc chữa trị và các chính sách xã hội khác liên quan
Chi phí bồi thường tai nạn lao động, ốm đau, điều trị ma chay, là rất lớn, đồng thời kéo theo những chi phí lớn do máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu bị hư hỏng
Nói chung tai nạn lao động, đau ốm xảy ra dù ít hay nhiều đều dẫn tới sự thiệt hại về người và tài sản, gây trở ngại cho sản xuất Vì vậy, quan tâm thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động là thể hiện quan điểm đúng đắn về sản xuất Sản xuất phải an toàn – An toàn để sản xuất – An toàn là hạnh phúc của người lao động; là điều kiện đảm bảo cho sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao
Câu 3: nêu tính chất công tác bảo hộ lao động ?
Ba tính chất này có quan hệ hữu cơ với nhau và hỗ trợ lẫn nhau
a, Bảo hộ lao động mang tính pháp luật
Trang 6Tính chất luật pháp của bảo hộ lao động thể hiện ở tất cả các quy định về công tác bảo hộ lao động, bao gồm:
- Các quy định về kỹ thuật: Quy phạm, quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn
- Các quy định về tổ chức, trách nhiệm và chính sách, chế độ bảo hộ lao động đều là những văn bản pháp luật bắt buộc mọi người có trách nhiệm phải tuân theo, nhằm bảo vệ sinh mạng, toàn vẹn thân thể và sức khỏe người lao động
- Mọi vi phạm tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn, tiêu chuẩn vệ sinh lao động trong quá trình lao động sản xuất đều là những hành vi vi phạm pháp luật về bảo hộ lao động Đặc biệt với quy phạm và tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn có tính chất bắt buộc rất cao, nó đảm bảo tính mạng của người lao động, vì không thể châm chước hoặc hạ thấp Các yêu cầu và biện pháp đã quy định, đòi hỏi phải được thi hành nghiêm chỉnh, vì nó luôn liên quan đến tính mạng con người và tài sản quốc gia
b, Bảo hộ lao động mang tính khoa học công nghệ
Bảo hộ lao động gắn liền với sản xuất, khoa học kỹ thuật về bảo hộ gắn liền với khoa học công nghệ sản xuất
Người lao động sản xuất trực tiếp trong dây chuyền phải chịu ảnh hưởng của bụi, của hơi, khí độc, tiếng ồn, sự rung sóc của máy móc, và những nguy cơ có thể xảy ra tai nạn lao động Muốn khắc phục được những nguy hiểm đó, không có cách nào khác là áp dụng các biện pháp khoa học, công nghệ
Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là khoa học tổng hợp dựa trên tất cả các thành tựu của các môn khoa học cơ bản như: Cơ, Lý, Hóa, Sinh, và bao gồm tất cả các ngành như
Cơ khí, Điện, Mỏ, Xây dựng
Muốn thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động phải tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động gắn liền với việc nghiên cứu triển cải tiến trang bị, cải tiến kỹ thuật công nghệ sản xuất Ở các cơ sở sản xuất, những vấn đề kỹ thuật an toàn, cải thiện điều kiện làm việc cần được đưa vào chương trình tiến bộ kỹ thuật, công nghệ để huy động đông đảo cán bộ và ngưòi lao động tham gia
Trang 7- Công tác bảo hộ lao động phụ thuộc rất lớn vào trình độ công nghệ sản xuất của xã hội
- Trình độ công nghệ sản xuất phát triển cùng với nền kinh tế phát triển sẽ ghóp phần tạo ra các điều kiện lao động ngày một tốt hơn
- Thực chất sự tiến bộ của khoa học công nghệ chính là việc sử dụng máy móc để thay thế lao động sống bằng lao động quá khứ Ở trình độ cao của kỹ thuật, công nghệ sản xuất là tự động hóa, tổng hợp các quá trình sản xuất và sử dụng người máy công nghiệp Như vậy qúa trình phát triển kỹ thuật, công nghệ sản xuất chính là diễn
ra quá trình thay đổi về chất lao động của con người Lao động của con người dần được giảm nhẹ, tiến tới loại bỏ điều kiện lao động nguy hiểm và độc hại
c, Bảo hộ lao động mang tính quần chúng
Tính quần chúng của công tác bảo hộ lao động thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Quần chúng lao động là những người trực tiếp thực hiện quy phạm, quy trình và các biện pháp kỹ thuật an toàn, cải thiện điều kiện làm việc, Vì vậy chỉ có quần chúng tự giác thực hiện thì mới ngăn ngừa được tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Hằng ngày, hằng giờ người là động trực tiếp làm việc, tiếp xúc với quá trình sản xuất, máy móc, thiết bị và đối tượng lao động Như vậy, chính họ là người có khả năng phát hiện những yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất Từ đó có thể đề xuất các biện pháp giải quyết hoặc tự mình giải quyết, để phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Từ tính chất này, công tác bảo hộ lao động cho phép ta huy động một cách đồng bộ các biện pháp khoa học kỹ thuật, công nghệ; Vận động, tổ chức quần chúng kết hợp với việc thực hiện các biện pháp về luật pháp, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác bảo hộ lao động, mang lại hiệu quả hoạt động của công tác bảo hộ lao động ngày càng tốt hơn
Công tác bảo hộ lao động sẽ đạt hiệu quả tốt khi mọi cấp quản lý, mọi người sử dụng lao động và người lao động tự giác và tích cực thực hiện
Trang 8Câu 4: những nội dung chủ yếu của công tác bảo hộ lao động ?
Để đạt được mục đích phòng ngừa tác động của các yếu tố nguy hiểm trong sản xuất đối với người lao động, phải quán triệt các biện pháp đó ngay từ khi thiết kế, xây dựng hoặc chế tạo thiết bị máy móc, các quá trình công nghệ Trong quá trình hoạt động sản xuất phải thực hiện đồng bộ các biện pháp về tổ chức, kỹ thuật, sử dụng các thiết bị an toàn và các thao tác làm việc an toàn thích ứng
Tất cả các biện pháp đó được quy định cụ thể tại các quy phạm, tiêu chuẩn các văn bản khác về lĩnh vực kỹ thuật an toàn
Nội dung kỹ thuật an toàn chủ yếu bao gồm những vấn đề sau đây:
- Xác định vùng nguy hiểm
- Xác định biện pháp về quản lý, tổ chức và thao tác làm việc đảm bảo an toàn
- Sử dụng các thiết bị an toàn thích ứng: Thiết bị che chắn, thiết bị phòng ngừa, thiết bị bảo hiểm, báo hiệu, trang bị bảo vệ cá nhân
+ Vệ sinh lao động
Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với người lao động Để ngăn ngừa sự tác động của các yếu tố có hại phải tiến hành một loạt các biện pháp cần thiết Trước hết phải nghiên cứu sự phát sinh và tác động của các yếu tố có hại
Trang 9đối với cơ thể con người, trên cơ sở đó xác định tiêu chuẩn giới hạn cho phép của các yếu
tố đó trong môi trường lao động, xây dựng các biện pháp vệ sinh lao động
Nội dung chủ yếu của vệ sinh lao động bao gồm:
- Xác định khoảng cách an toàn vệ sinh lao động
- Xác định các yếu tố có hại về sức khỏe
- Biện pháp về tổ chức, tuyên truyền, giáo dục ý thức và kiến thức về vệ sinh lao động, theo dõi quản lý sức khỏe, tuyển dụng lao động
- Biện pháp về sịnh học, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường
- Các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh: Kỹ thuật thông gió, điều hòa nhiệt độ, chống bụi, khí độc, kỹ thuật chống tiếng ồn và rung sóc, kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật chống bức xạ, điện từ trường
Các biện pháp kỹ thuật vệ sinh phải được quán triệt ngay từ khâu thiết kế, xây dựng các công trình nhà xưởng, tổ chức nơi sản xuất, thiết kế chế tạo các máy móc, thiết bị quá trình công nghệ
Trong quá trình sản xuất phải thường xuyên theo dõi sự phát sinh các yếu tố có hại, thực hiện các biện pháp bổ sung làm giảm các yếu tố có hại, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
độ về khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động
Trang 10Những nội dung của công tác bảo hộ lao động kể trên là rất lớn Bao gồm nhiều công việc thuộc nhiều lĩnh vực công tác khác nhau Hiểu được nội dung của công tác bảo hộ lao động sẽ giúp cho người quản lý đề cao trách nhiệm và có biện pháp tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động đạt kết quả tốt nhất
CHƯƠNG 2
Câu 5: trình bày nguyên nhân xảy tai nan các khi sử dụng các thiết bị cơ khí ?
Trả lời:
+ Những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động khi sử dụng máy và thiết bị Cơ khí
Tai nạn lao động trong sản xuất ở các nhà máy và phân xưởng cơ khí do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể tập trung chủ yếu do nguyên nhân sau:
1 Nguyên nhân do thiết kế
Máy móc, dụng cụ thiết bị khi không đảm bảo các điều kiện kĩ thuật, thiếu độ bền cơ học cần thiết nên trong quá trình sử dụng phát sinh hư hỏng, điều đó có thể gây ra sự cố mất an toàn Chẳng hạn máy tiện không đảm bảo độ ổn định khi quay với tốc độ cao, gây rung động lớn dẫn đến dao ăn sâu vào vật gia công, có thể làm bung phôi ra khỏi máy, gây nên tai nạn lao động
2 Nguyên nhân do chế tạo
Nếu có một chi tiết hay cụm chi tiết chế tạo sai, không đúng với thiết kế, trong quá trình sử dụng có thể gây ra mất an toàn Chẳng hạn khi chế tạo cơ cấu an toàn trong chuyển động chạy dọc của bàn máy mài, do chi tiết thanh gạt chế tạo sai nên cơ cấu không ngắt chuyển động đúng vị trí, điều đó làm cho đá mài va vào chi tiết mài hay cơ cấu khác của máy, gây vỡ đá mài, xảy ra mất an toàn cho người và máy móc thiết bị
3 Nguyên nhân do bảo quản sử dụng
Trang 11Công tác bảo quản máy không tốt, chất lượng máy xuống cấp nhanh, điều đó cũng có thể gây ra mất an toàn lao động Chẳng hạn nếu máy bảo quản không tốt, chi tiết bị han
gỉ, chức năng làm việc mất đi, điều đó sẽ gây sự cố trong quá trình làm việc
Sử dụng máy không đúng quy định, thao tác vận hành sai là một trong những nguyên nhân chính gây ra tai nạn lao động Mỗi một máy đều có quy trình vận hành và nguyên tắc sử dụng nhất định, chẳng hạn trên máy tiện, không cho phép gá vật có chiều dài nhô
ra phía sau trục chính quá lớn, nếu không tuân thủ nguyên tắc này, khi vật gia công quay với tốc độ cao, lực li tâm lớn làm uốn cong vật, gây va chạm vào người điều khiển máy, xảy
ra việc mất an toàn là hiển nhiên
4 Nguyên nhân do thiếu trang thiết bị an toàn cho người và máy
Ở trong mỗi cơ cấu truyền động của máy, đặc biệt là ở các bộ phận như bánh răng, dây đai, hệ thống băng tải… rất dễ gây tai nạn lao động Thông thường, ở những cơ cấu này phải có che chắn, nếu thiếu, khi sơ ý có thể một phần cơ thể người sẽ bị cuốn vào, gây ra tai nạn lao động
Người vận hành sử dụng máy móc thiết bị phải có đầy đủ trang bị bảo hộ lao động để đảm bảo an toàn Chẳng hạn khi sử dụng máy mài phải đeo kính bảo hộ, nếu không, sẽ có thể bị bụi hạt mài bắn vào mắt, hay khi sử dụng máy tiện mà không đi giầy có thể sẽ bị phoi cứa và chân gây chấn thương chảy máu
5 Nguyên nhân do tổ chức lao động và điều kiện làm việc không tốt
Công tác tổ chức lao động và điều kiện làm việc của công nhân có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm, đồng thời nó còn ảnh hưởng đến khả năng xảy ra mất an toàn Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phôi liệu sắp xếp một cách hợp lí, khoảng không gian rộng rãi sẽ hạn chế rất nhiều khả năng mất an toàn Đã có nhiều trường hợp dụng cụ
để không đúng nơi quy định, khi thao tác vướng phải làm rơi chân gây ra chấn thương, hay phôi để bừa bãi, gây trượt ngã vào máy đang chạy
6, Nguyên nhân do ý thức tổ chức, kỉ luật làm việc
Khi đang làm việc đòi hỏi người vận hành sử dụng máy phải tập trung tinh thần cao độ
để xử lí mọi tình huống kịp thời, nếu bỏ máy đi nơi khác hay nói chuyện, đùa nghịch khi
Trang 12đang làm việc có thể sẽ dẫn đến tình trạng gây ra sự cố mất an toàn Đã không ít trường hợp khi sử dụng máy dập, do mải nghĩ việc khác hay nói chuyện với người ngoài mà tay vẫn để ở vùng nguy hiểm (vùng mà chày dập đi dập xuống để cắt kim loại) chân đã điều khỉên cho máy hoạt động gây đứt ngón tay…
Ngoài những nguyên nhân kể trên còn có những nguyên nhân khác như tình trạng sức khỏe của người vận hành điều khiển máy Khi sức khoẻ yếu, mệt mỏi do đói, do làm việc kéo dài hay do làm quá sức, sức khỏe giảm sút, thiếu ngủ, thần kinh không tỉnh táo sẽ làm thao tác mất chuẩn xác, gây ra mất an toàn
Câu 6: trình bày khái niện vùng nguy hiểm và các yếu tố ảnh hưởng tới mối nguy hiểm ?
Trả lời:
+ Khái niệm về vùng nguy hiểm và mối nguy hiểm
Vùng nguy hiểm là khoảng không gian ở đó các nhân tố nguy hiểm đối với sức khỏe hoặc sự sống người lao động trong sản xuất xuất hiện thường xuyên, chu kì hoặc bất ngờ Chẳng hạn như vùng gần đường dây cao thế, vùng cần cẩu hay cần trục đang hoạt động, vùng có hệ thống xích, hay băng tải đang hoạt động…
Yếu tố đặc trưng nhất của vùng nguy hiểm là mối nguy hiểm, mối nguy hiểm trong cơ
khí là nơi và các nguồn phát sinh nguy hiểm do hình dạng, kích thước, chuyển động của các phương tiện làm việc, phương tiện trợ giúp, phương tiện vận chuyển cũng như các chi tiết bị hư hỏng trong quá trình làm việc gây ra sự cố làm tổn thương ở các mức độ khác nhau Trong cơ khí thường có các cơ cấu, các bộ phận máy dễ tạo ra mối nguy hiểm như sau:
- Truyền động xích và bánh xích
- Truyền động bánh răng thanh răng
- Truyền động bánh đai, dây đai
- Truyền động bánh răng bánh răng
Trang 13- Vùng cuối băng tải
- Loại hình và hình dạng bề mặt (ví dụ bánh răng có các răng rất dễ cuốn các vật vào)
- Nguồn năng lượng dự trữ (ví dụ lò xo đang ở trạng thái nén, đá mài đang ở trạng thái quay tốc độ cao…)
Câu 7:trình bày các biện pháp tức thời thuộc các giải pháp kỹ thuật an toàn ?
Trả lời:
a) Phương hướng chung
Biện pháp ưu tiên hàng đầu là tìm cách xóa mối nguy hiểm ở nguồn xuất hiện cũng như giảm thiểu nguồn năng lượng của hệ thống có thể tạo ra mối nguy hiểm, phương hướng chung thường thông qua một số biện pháp sau:
- Sử dụng các phương tiện làm việc khác hay phương pháp gia công khác, chẳng hạn thay cho việc di chuyển vật nặng dùng sức người bằng phương tiện vận chuyển…
Trang 14- Sử dụng các phương tiện làm việc có cơ cấu an toàn như hệ thống cữ, hệ thống giới hạn tốc độ của máy…
- Thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp an toàn theo quy định
- Trang thiết bị, dụng cụ kiểm tra và thường xuyên kiểm tra các phương tiện làm việc cũng như ý thức chấp hành của người lao động về công tác an toàn
b) Các biện pháp tức thời
1 Hạn chế mối nguy hiểm thông qua các phương tiện an toàn
Tuỳ thuộc vào điều kiện công nghệ và tổ chức trong quá trình sản xuất mà sử dụng các phương tiện an toàn khác nhau, các phương tiện an toàn này bao gồm các chức năng
có mục tiêu rõ ràng, chẳng hạn như:
- Chức năng ngăn ngừa sự cố vô tình
Ví dụ: bao che, nắp chắn ở những nơi có khả năng mất an toàn như cụm bánh răng
- Chức năng điều khiển bằng tay
Mục đích bắt buộc người thợ khi muốn vận hành máy phải sử dụng cả hai tay mới thực hiện được nhằm ngăn ngừa tình trạng một tay vẫn ở vị trí nguy hiểm mà tay kia đã cho máy hoạt động
- Chức năng ngăn chặn sai sót
Mục đích nhằm hạn chế phát sinh sự cố khi có sai sót trong quá trình vận hành sử dụng máy móc, thiết bị và dụng cụ cơ khí…
Như vậy tất cả các phương tiện an toàn đều có chức năng an toàn, tuy nhiên cũng cần phân biệt rõ chức năng an toàn tác dụng trực tiếp và gián tiếp Chức năng an toàn tác dụng trực tiếp là chức năng của máy mà thiếu sót chức năng của nó trực tiếp làm tăng sự rủi ro gây ra tổn thương Chức năng an toàn tác dụng gián tiếp là Chức năng mà sai sót của nó không trực tiếp gây ra nguy hiểm
2 Trang bị các phương tiện tự hãm
Các phương tiện tự hãm là các phương tiện an toàn dùng ngăn chặn các sự cố xảy ra Trong máy cắt gọt, phương tiện tự hãm chíng làm các hệ thống cữ hành trình, van thuỷ
Trang 15lực, rơ le… Chức năng của hệ thống này là không cho các chuyển động tiếp tục được thực hiện khi người thợ vì lí do nào đó mà chưa xử lí kịp
3 Các biện pháp bảo vệ kĩ thuật
- Trang bị bảo vệ tách biệt
Chính là các bộ phận hay cơ cấu máy được trang bị hệ thống ngăn cách không cho cơ thể tiếp xúc với những chỗ nguy hiểm nhằm loại trừ hay hạn chế mối nguy hiểm Ví dụ bao che, nắp đậy…
- Trang bị bảo vệ không tách biệt
Là những trang bị nhằm loại trừ hay hạn chế mối nguy hiểm Chẳng hạn như rào chắn lối di chuyển của cần trục, biển báo tín hiệu…
Cần lưu ý rằng khi sử dụng các thiết bị an toàn phải biết rõ mục đích của nó, đồng thời khi chọn trang bị an toàn cần quan tâm chung cả hệ thống, tránh tình trạng chỉ chú ý đến một bộ phận vì sự cố gây mất an toàn cso thể xảy ra bất cứ chỗ nào và khi nào
c) Các biện pháp về tổ chức
- Điều chỉnh về tổ chức để xác định, kiểm tra và duy trì định kì kiểm tra thiết bị
- Giảng dạy và hướng dẫn về an toàn lao động cho các đối tượng lao động Mọi đối tượng lao động đều phải được biết, được hiểu về công tác an toàn tránh tình trạng khi chưa đủ kiến thức về công tác an toàn trong lĩnh vực mình sẽ làm việc đã tiến hành công việc
- Trang bị cho an toàn cho cá nhân
Ở mỗi công việc đều có ảnh hưởng đến sức khoẻ, an toàn cho người lao động Trang
bị an toàn cá nhân phù hợp với tính chất công việc là cần thiết Chẳng hạn, thợ vận hành
sử dụng máy móc cơ khí phải có quần áo bảo hộ gọn gàng, tránh ăn mặc lôi thôi dễ bị cuốn vào các bộ phận chuyển động trong máy, hay mang kính bảo hộ đề phòng phoi bắn vào mắt…
- Sử dụng hệ thống biển báo
Trang 16Hệ thống biển báo nhằm mục đích thông báo, nhắc nhở ý thức thực hiện công tác an toàn, chỉ ra các vùng và khả năng nguy hiểm để mọi người biết mà tránh xa Chẳng hạn như biển báo nguy hiểm nơi sự cố mất an toàn có khả năng xảy ra, biển báo không lại gần khu vực cẩu hay cần trục đang hoạt động Khi sử dụng hệ thống biển báo cần thực hiện những yêu cầu sau:
Màu sắc, hình ảnh, kí hiệu phải theo quy định chung và dễ nhận biết từ xa
Để nơi dễ nhìn thấy, ngay trước vùng nguy hiểm
Ngoài ra, để tăng cường khả năng nhận biết của mọi người (nhất là với người bị khiếm thị) cần sử dụng cả hệ thống biển báo âm thanh như nhạc, còi, chuông… Với loại tín hiệu này phải đảm bảo âm lượng đủ ( cường độ khoảng 15 dB), tín hiệu rõ ràng, không nhầm lẫn và không gây ảnh hưởng đến những nơi không cần thiết
- Tăng cường công tác kiểm tra
Công tác kiểm tra bao gồm: kiểm tra các thiết bị, phương tiện, cơ cấu an toàn kiểm tra việc thực hiện các quy định về an toàn Thông qua việc kiểm tra nhằm mục đích tăng cường ý thức chấp hành kỉ luật về an toàn, thay thế sửa chữa các phương tiện, thiết bị, cơ cấu bị hỏng Trong phần lớn các vụ xảy ra tai nạn lao động là do ý thức chấp hành kỉ luật
an toàn của người lao động không tốt và do cơ cấu hay thiết bị an toàn mất tác dụng
Câu 8: trình bày các tai nạn thường xuyên xảy ra khi sử dụng máy tiện , máy phay, máy mài, máy dập cán ?
Trả lời:
Trong các nhà máy cơ khí, máy tiện thường chiếm một tỷ lệ lớn Trên máy tiện có rất nhiều bộ phận chuyển động như vít me, trục trơn, mâm cặp, vật gia công… Những bộ phận này có thể gây ra tai nạn lao động
* Các tai nạn lao động thường xuyên xảy ra và nguyên nhân
- Phoi tiện bắn vào người đặc biệt là vào mắt gây tổn thương Phoi tiện có nhiều loại như phoi vụn, phoi xếp, phoi dây…, có loại rất sắc nên có thể cứa vào chân, tay gây chấn thương chảy máu đứt gân…
Trang 17- Tóc, khăn quàng cổ bị quấn vào vật gia công hay mâm cặp
Nguyên nhân do tóc không gọn gàng, không mang mũ bảo hộ, khăn quàng không gọn, khi đứng thao tác dễ bị cuốn vào các cơ cấu quay
- Vạt áo hoặc tay bị quấn vào vật gia công hay trục vít m
Nguyên nhân do áo không gọn gàng, tay áo không khuy…
- Vật gia công văng vào người
Nguyên nhân do gá không chắc chắn, tốc độ cắt quá cao gây rung động, làm cho phôi rời khỏi vị trí đã được định vị kẹp chặt
- Vật gia công uốn cong quật vào người
Nguyên nhân do chiều dài vật gia công nhô ra ( dạng công xô) khỏi vấu cặp hay trục chính quá dài, khi vật quay bị cuốn cong đập vào người Thông thường chiều dài nhô ra phía sau trục chính ≤ 0,5 m
* Nguyên tắc an toàn khi sử dụng máy tiện
Để đảm bảo an toàn khi sử dụng máy tiện cần thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc sau:
Trước khi sử dụng máy
- Trang bị đầy đủ bảo hộ lao động ( quần, áo bảo hộ, giày hoặc dép có quai hậu, kính bảo hộ) không sử dụng gang tay
- Kiểm tra máy: bao gồm các công việc:
Kiểm tra phần điện xem có ổn định không? Có bị rò điện ra máy không ?
Kiểm tra hệ thống dầu và bơm dầu bôi trơn xem dầu có đủ không? Bơm có hoạt động tốt không ?
Kiểm tra các tay gạt, núm điều khiển đã về vị trí an toàn hay chưa?
Trong khi sử dụng
- Không thay đổi tốc độ trục chính hay bước tiến sao khi trục chính còn quay Muốn thay đổi phải tắt máy và chờ cho trục chính dừng hẳn mới đựơc thay đổi Nghiêm cấm việc dùng tay miết vào mâm cặp làm phanh hãm tốc độ trục chính vì dễ gây đứt tay
Trang 18- Vật gia công phải gá đúng quy định và chắc chắn Không dùng ống nối để kéo dài tay quay của chìa vặn mâm cặp làm phanh hãm tốc độ trục chính vì dễ gây đứt tay
- Vật gia công phải đúng quy định và chắc chắn Không dùng ống nối để kéo dài tay quay của chìa vặn mâm cặp, không gá vật có chiều dài nhô ra lớn quá quy định, đặc biệt cần chú ý khi gá hay tháo phôi phải đưa tay gạt tốc độ về vị trí an toàn (đối với các máy khởi động bằng cần gạt dễ bị rơi làm máy chạy bất ngờ gây tai nạn)
- Không để vật liệu phôi, dụng cụ bừa bãi
- Không dùng tay gỡ phoi Khi có phoi quấn vào phôi phải tắt máy và dùng móc móc phoi Cố gắng chọn tốc độ cắt và dao có góc bẻ phoi để hạn chế sự xuất hiện của phoi dây
- Khi máy đang chạy không bỏ đi nơi khác vì nếu xảy ra sự cố không xử lí kịp thời được
Ngoài ra, trong từng trường hợp gia công cụ thể sẽ có quy định riêng, ví dụ khi cắt ren, tốc độ trục chính nhỏ để đề phòng bàn dao xô vào mâm cặp…
Sau khi sử dụng
Sau khi thôi làm việc phải vệ sinh lau máy, trước khi lau máy cần phải tắt điện vào máy, đưa tay gạt về vị trí an toàn
b) An toàn trên may phay
* Các tai nạn lao động thường xuyên xảy ra và nguyên nhân
Tai nan lao động xảy ra trên máy phay cũng giống như trên máy tiện Tuy nhiên, do đặc điểm của máy phay là vật gia công chuyển động thẳng , dao cắt chuyển động quay nên có thể gây ra một số tai nạn như sau:
- Kẹt tay vào bánh răng Nguyên nhân khi tháo, lắp bánh răng thay thế không tắt máy, hay vị trí tay giữa bánh răng khi xiết chặt không đúng
- Tay quấn vào dao
Trang 19Nguyên nhân do sử dụng găng tay cầm vào dao mà vô tình mở máy làm dao quay, hay khi máy đang chạy mà dùng tay gạt phoi ở gần vị trí dao đang cắt gọt
- Phoi bắn vào mắt ngừơi Nguyên nhân do vật gia công ở ngang tầm mặt, dao phay cắt gián đọan và phôi nên phoi ngắn, lực văng làm phoi bắn ra với tốc độ cao
- Mảnh dao bắn vào người Nguyên nhân do mũi dao thường làm bằng vật liệu cứng giòn, dễ vỡ, khi tác để dao va đập mạnh vào phôi hay bàn máy làm mảnh mũi dao vỡ ra văng vào người
* Nguyên tắc an toàn khi sử dụng máy phay
Nhìn chung khi sử dụng máy phay cũng như sử dụng máy tiện, tuy nhiên do kết cấu và nguyên lí hoạt động của máy phay khác với máy tiện, nên để đảm bảo an toàn cần chú ý thêm một số vấn đề sau:
- Trang bị bảo hộ lao động đầy đủ và không được sử dụng găng tay
- Khi sử dụng cơ cấu chạy nhanh bàn máy phải chú ý không cho chạy hết chiều dài hành trình để đề phòng vượt quá giới hạn gây gâỹ bánh răng hay hỏng cơ cấu truyền động
- Khi tháo dao phải có tấm gỗ kê lên bàn máy, tránh tình trạng cụm gá dao và dao rơi trực tiếp lên bàn máy
- Vị trí đứng thao tác sao cho phoi không bắn vào người gây tai nạn
- Khi bánh răng thay thế phải tắt điện vào máy để đề phòng kẹt tay vào bánh răng
- Không lấy tay trực tiếp gạt phoi trên máy đặc biệt khi máy đang quay vì như vậy dễ
bị cuốn tay vào dao
c) An toàn trên máy mài hai đá
* Các tai nạn lao động thường xuyên xảy ra và nguyên nhân
Đá mài là dụng cụ cắt với tốc độ cao (V = 30 – 300m/ giây) Vật liệu chế tạo là những hạt mài ( như cát silic, gốm, bakêlit) được dính kết lại với nhau bằng chất kết dính Đặc
Trang 20đỉêm của đá mài là hạt mài luôn bắn ra trong quá trình mài, dễ vỡ… nên khi sử dụng máy mài hai đá để mài dụng cụ cắt thường xuyên xảy ra một số tai nạn như sau:
- Phoi bắn vào mắt
Bụi hạt mài chứa hóa chất gây độc cho mắt, hơn nữa hạt mài thường rất nhỏ, khó tìm thấy và đôi khi không gây cảm giác khó chịu ngay nên dễ chủ quan nhưng hậu quả lại rất lớn Nhiều trường hợp để lâu gây hỏng mắt
- Vỡ đá văng vào người
Nguyên nhân do đá có rạn nứt từ trước hay do mài vật mỏng gây kẹt vào khe hở giữa
đá và bệ tỳ làm vỡ đá Vì đá chuyển động với vận tốc rất cao nên khi bắn vào người gây chấn thương nguy hiểm Đã có nhiều trường hợp đá vỡ gây chết người
- Quệt ngón đá vào tay
Khi mài vị trí tay cầm vật mài gần điểm mài, khi mài sơ ý để ngón tay chạm vào đá gây mòn vẹt ngón tay chảy máu
* Nguyên tắc an toàn khi sử dụng máy mài
Khi lắp đá mài
Đá mài trước khi lắp phải được đảm bảo nghiêm ngặt về vận chuyển và bảo quản, không được để đá chồng lên nhau hay để nghiêng đá để tránh vỡ đá hay rạn nứt đá Khi mang ra lắp phải kiểm tra xem đá có bị rạn nứt không ? Việc kiểm tra được thực hiện bằng mắt hoặc dụng cụ chuyên dùng Một cách kiểm tra đơn giản là cầm đá ở dạng treo lên sau đó dùng búa gõ nhẹ vào đá, nghe tiếng kêu để phán đoán xem đá có bị rạn nứt không , nếu tiếng kêu như kim loại là được Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra này độ chính xác không cao và phụ thuộc và kinh nghiệm rất nhiều
Khi lắp đá cần đảm bảo chắc chắn, độ đồng tâm với trục máy cao, không gây cho
đá bị rạn nứt Sau khi lắp cần kiểm tra và điều chỉnh độ cân bằng của đá
Sau khi lắp xong đá cần cho đá quay với vận tốc cao trong thời gian từ 3 đến 5 phút
để xem có hiện tượng khác thường không? Nếu không có coi như đảm bảo yêu cầu, nếu
có phải xem xét lại, tìm ra nguyên nhân để chỉnh lại cho đúng