1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Khám bệnh và chẩn đoán nội khoa

15 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 24,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khám bệnh là một khâu quan trọng, có lẽ là khâu chủ yếu trong công tác của bác sĩ điều trị vì nó quyết định khá nhiều cho sự thành công hay thất bại của công tác điều trị: công tác khám bệnh có làm được tốt mới phát hiện được đúng và đầy đủ các triệu chứng để có thể làm được một chẩn đoán thật chính xác và đầy đủ, rồi từ đó mới định được tiên lượng, cách điều trị và phòng bệnh cho đúng đắn. Đây là một công tác: Khoa học: Ngoài kiến thức y học mà tất cả các thầy thuốc bắt buộc phải có đầy đủ, còn phải có một quan niêm biện chứng con người là một khối thống nhất trong đó mỗi bộ phận đều có liên quan hữu cơ với nhau, vì thế không chỉ khám đơn độc bộ phận có bệnh mà luôn luôn phải khám toàn bộ cơ thể. Kỹ thuật: Phải theo đúng quy tắc khám và kỹ thuật khám mới phát hiện được đúng triệu chứng (ví dụ: khi nghe các tiếng không bình thường ở tim, ở phổi, khi sờ lá lách hoặc gan mấp mé bờ sườn, hoặc khi gõ phản xạ gân…) Không những thấy, đấy còn là một công tác: Chính trị: Cách khám bệnh kỹ lưỡng tỉ mỉ của thầy thuốc ngoài việc giúp thầy thuốc phát hiện đúng bệnh còn củng cố lòng tin cậy của người bệnh ổn định tư tưởng bi quan lo sợ của họ, giúp họ tin tưởng vào việc điều trị vào sự khỏi bệnh sau này: yếu tố rất cần thiết cho việc điều trị bệnh được tốt. Ngày nay mặc dù sự tiến bộ và phát triển của các phương pháp cận lâm sàng, vai trò của khám bệnh lâm sàng vẫn quan trọng vì nó cho hướng chẩn đoán để từ đó các chỉ định làm các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết, tránh tình trạng làm tràn lan hoặc ngược lại không làm những xét nghiệm cần thiết. Vậy công tác khám bệnh nên tiến hành như thế nào? Cách tiến hành khám bệnh Nơi khám Cần phải: Sạch sẽ, thoáng khí nhưng tránh gió lùa. Ấm áp, nhất là về mùa rét. Có đủ ánh sáng. Kín đáo, nhất là những nơi dùng để khám bệnh phụ nữ. Phương tiện Ngoài các bàn ghế cần thiết cho thầy thuốc và giường thăm bệnh để người bệnh nằm khám, nơi khám cần được trang bị một số phương tiện tối thiểu là: Ống nghe bệnh. Máy đo huyết áp. Dụng cụ đè lưỡi: Để khám họng người bệnh. Búa phản xạ và kim: Để khám về thần kinh. Găng tay hoặc bao ngón tay (doigtier) cao su: Để khám trực tràng hoặc âm đạo khi cần thiết. Nếu có thêm một đèn pin để kiểm tra phản xạ đồng tử khi cần thiết thì càng tốt.

Trang 1

Khám bệnh là một khâu quan trọng, có lẽ là khâu chủ yếu trong công tác của bác sĩ điều trị vì nó quyết định khá nhiều cho sự thành công hay thất bại của công tác điều trị: công tác khám bệnh có làm được tốt mới phát hiện được đúng và đầy đủ các triệu chứng để có thể làm được một chẩn đoán thật chính xác và đầy đủ, rồi từ đó mới định được tiên lượng, cách điều trị và phòng bệnh cho đúng đắn

Đây là một công tác:

Khoa học: Ngoài kiến thức y học mà tất cả các thầy thuốc bắt buộc phải có đầy đủ, còn phải có một

quan niêm biện chứng con người là một khối thống nhất trong đó mỗi bộ phận đều có liên quan hữu

cơ với nhau, vì thế không chỉ khám đơn độc bộ phận có bệnh mà luôn luôn phải khám toàn bộ cơ thể

Kỹ thuật: Phải theo đúng quy tắc khám và kỹ thuật khám mới phát hiện được đúng triệu chứng (ví

dụ: khi nghe các tiếng không bình thường ở tim, ở phổi, khi sờ lá lách hoặc gan mấp mé bờ sườn, hoặc khi gõ phản xạ gân…)

Không những thấy, đấy còn là một công tác:

Chính trị: Cách khám bệnh kỹ lưỡng tỉ mỉ của thầy thuốc ngoài việc giúp thầy thuốc phát hiện đúng

bệnh còn củng cố lòng tin cậy của người bệnh ổn định tư tưởng bi quan lo sợ của họ, giúp họ tin tưởng vào việc điều trị vào sự khỏi bệnh sau này: yếu tố rất cần thiết cho việc điều trị bệnh được tốt

Ngày nay mặc dù sự tiến bộ và phát triển của các phương pháp cận lâm sàng, vai trò của khám bệnh lâm sàng vẫn quan trọng vì nó cho hướng chẩn đoán để từ đó các chỉ định làm các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết, tránh tình trạng làm tràn lan hoặc ngược lại không làm những xét nghiệm cần thiết Vậy công tác khám bệnh nên tiến hành như thế nào?

Cách tiến hành khám bệnh

Nơi khám

Cần phải:

Sạch sẽ, thoáng khí nhưng tránh gió lùa

Ấm áp, nhất là về mùa rét

Có đủ ánh sáng

Kín đáo, nhất là những nơi dùng để khám bệnh phụ nữ

Trang 2

Phương tiện

Ngoài các bàn ghế cần thiết cho thầy thuốc và giường thăm bệnh để người bệnh nằm khám, nơi khám cần được trang bị một số phương tiện tối thiểu là:

Ống nghe bệnh

Máy đo huyết áp

Dụng cụ đè lưỡi: Để khám họng người bệnh

Búa phản xạ và kim: Để khám về thần kinh

Găng tay hoặc bao ngón tay (doigtier) cao su: Để khám trực tràng hoặc âm đạo khi cần thiết

Nếu có thêm một đèn pin để kiểm tra phản xạ đồng tử khi cần thiết thì càng tốt

Thầy thuốc phải

Cần lưu ý đến cách ăn mặc: Áo quần bẩn thỉu, cổ áo cáu đen, móng tay dài bẩn, đầu tóc rói bù sẽ làm giảm sự tin tưởng của người bệnh đối với thầy thuốc rất nhiều

Thái độ cần phải thân mật, niềm nở để người bệnh dễ tiếp xúc, dễ thổ lộ những vấn đề kín đáo của mình Cần tránh những thái độ làm người bệnh hiểu lầm là thầy thuốc “ ban ơn” cho họ

Khi hỏi bệnh nhân cần dùng những tiếng dễ hiểu, tránh dùng những danh từ y học mà người bệnh khó biết (hoàng đảm, huyết niệu…) và nhất là cần nhẫn nại khai thác các triệu chứng chủ quan của người bệnh: nếu cần thì không ngần ngại hỏi đi hỏi lại hoặc thay đổi cách hỏi để nắm bắt hết ý của người bệnh

Khi khám bệnh cần phải có tác phong nhẹ nhàng, tỉ mỉ, tránh thô bạo, tránh day trở người bệnh nhiều mà không cần thiết nhất là đối với các người bệnh nặng Người thầy thuốc, nhất là thầy thuốc nam giới, cần chú ý đến bản chất e thẹn của ngừời phụ nữ để tránh những cách hỏi và nhất là cách khám bệnh quá sỗ sàng lộ liễu, làm tổn thương đến sự tự trong của người bệnh phụ nữ, như vậy họ không nói ra những điều cần thiết cho chẩn đoán và điều trị

Khi nhận định các triệu chứng cần khách quan và thận trọng: không nên có thành kiến trước, nhất là đối với người bệnh cũ, thầy thuốc thường dễ có tư tưởng là bệnh cũ tái phát Cần phải đánh giá đúng mức các triệu chứng, nhất là các triệu chứng chủ quan của người bệnh: việc nhận định, phân tích, đánh giá các triệu chứng đó phải dựa trên một cơ sở khoa học

Trang 3

Phải thận trong khi nói với người bệnh về tình trạng bệnh của họ; nói chung, phải suy nghĩ trước khi nói để không nói những vấn đề gì có thể làm cho họ lo sợ, hoang mang hoặc bi quan với bệnh của mình; phải giải thích để nâng đỡ tinh thần, ổn định tư tưởng cho họ yên tâm điều trị tin ở sự khỏi bệnh

Đối với gia đình người bệnh, chúng ta có thể nói thật trong một phạm vi nhất định, nghĩa là tuỳ theo vấn đề, tuỳ theo quan hệ của người đó đối với người bệnh

Người bệnh phải

Cần được khám ở một tư thế thoải mái Nếu tình trạng sức khoẻ cho phép, nên khám người bệnh

cả cách đi

Phải bộc lộ các vùng cần phải khám Tốt hơn hết, người bệnh nam giới chỉ mặc một quần lót khi khám bệnh nếu nơi khám bệnh đảm bảo được ấm áp đầy đủ Người bệnh phụ nữ nên bộc lộ từng phần: ngực, bụng, rồi các chi… Về mùa rét, cần chú ý nhắc người bệnh tháo bỏ khăn quàng cổ vì khăn có thể che giấu một số vấn đề rất quan trọng ở cổ: bướu giáp, các tĩnh mạch cổ nổi, các sẹo hạch cổ…

Nội dung khám

Sau khi hỏi kỹ phần bệnh sử (xem bài trên), việc khám bệnh thường tiến hành làm ba phần:

Khám toàn thân

Khám từng bộ phận

Kiểm tra chất thải tiết

Khám toàn thân

Cần nhận xét:

Dáng đi, cách nằm của người bệnh:

Ngay phút đầu tiên tiếp xúc với người bệnh, chúng ta có thể chú ý ngay đến một và vài cách nằm, cách đi, cách đứng của người bệnh gợi ý ngay cho chúng ta một hướng bệnh hoặc hội chứng nào đó:

Cách nằm “ cò súng”, quay mặt vào phía tối ở những người bệnh có bệnh màng não

Cách nằm cao đầu hoặc nửa nằm nửa ngồi (tư thế Fowler) của những người bệnh khó thở

Trang 4

Cách đi cứng đờ, toàn thân như một khúc gỗ của người bệnh Parkison.

Cách di “ phát cỏ” một tay co quắp lên ngực của người bệnh liệt nửa thân, thể co cứng

Cách vừa đi vừa ôm hạ sườn phải của những người bệnh áp xe gan

Tình trạng tinh thần của người bệnh:

Cần chú ý xem người bệnh ở trong tình trạng:

Tỉnh táo: Người bệnh có thể tự khai được bệnh, nhận định và trả lời được rõ ràng các câu hỏi của thầy thuốc

Mê sảng: Người bệnh nhân không nhận định được và không trả lời được đúng đắn các câu hỏi, không những thế người bệnh còn ở trong tình trạng hốt hoảng, nói lảm nhảm, thậm chí có khi chạy hoặc đập phá lung tung Đó là tình trạng tâm thần của các người bệnh:

Sắp bước vào hôn mê gan

Sốt nặng bất cứ về nguyên do gì, nhưng thông thường nhất ở nước ta là sốt rét cơn ác liệt

Bệnh tâm thần

Hôn mê: Người bệnh cũng không nhận định được và cũng không trả lời được câu hỏi của ta Nhưng

ở đây người bệnh không hốt hoảng, không nói lảm nhảm nhưng trái lại mất liên hệ nhiều hay ít với ngoại cảnh, thậm chí trong trường hợp hôn mê sâu:

Người bệnh không biết đau khi cấu véo

Không nuốt được khi ta đổ nước vào mồm

Mất phản xạ giác mạc

Hôn mê là một biến cố rất nặng, hậu quả của nhiều bệnh nhiễm khuẩn nhiễm độc và của rất nhiều

bộ phận, cần khám và hỏi kỹ mới phát hiện nguyên do

Hình dáng nói chung:

Cần nhận định người bệnh:

Gầy hay béo, gầy nghĩa là:

Mặt hốc hác, má hóp lại, xương mặt lồi, nhất là xương gò má

Trang 5

Xương sườn, xương bả vai nổi rõ.

Bụng lép, da bụng răn reo

Số cân nặng dưới số cân trung bình 20% ( số cân trung bình bằng số phân mét của bề cao trừ 100;

ví dụ: một người cao 1m62 thì số cân trung bình là 62 kg)

Gầy thường gặp trong các trường hợp:

Thiếu dinh dưỡng do:

Ăn uống thiếu về chất hoặc về lượng

Ăn uống đủ nhưng bộ phận tiêu hoá không sử dụng và hấp thụ được, hẹp thực quản, hẹp môn vị, bệnh ruột mạn tính, viêm tuỵ mãn tính…)

Ăn uống đủ tương đối nhưng không đáp ứng được nhu cầu của cơ thể tăng lên do lao động quá sức hoặc do bệnh tật

Bệnh mạn tính: lao, xơ gan, ung thư…

Một số bệnh nội tiết: đái tháo đường, Basedow

Béo phì nghĩa là:

Mặt phình, má phính, cằm xệ

Cổ thường bị rụt không nhìn thấy

Chân tay to tròn và có ngấn

Da bụng có những lớp mỡ dày làm bụng to và xệ xuống

Số cân cao hơn số cân trung bình trên 15%

Béo bình thường là do:

Nguyên nhân dinh dưỡng: thông thường nhất, nhất là khi ăn nhiều và hoạt động ít

Nguyên nhân nội tiết:

Phụ nữ đến tuổi hết kinh

Trang 6

Nam giới sau khi bị mất tinh hoàn.

Bệnh Cushing do tuyến yên hay do cường tuyến thượng thận

Nguyên nhân tâm thần: một đôi khi xảy ra do chấn thương mạnh về tâm thần

Cao hay thấp Cần chú ý đến hai trường hợp bệnh lý:

Người vừa cao quá khổ vừa to đơn thuần hoặc kết hợp thêm với hiện tượng to đầu và chi: đây là bệnh khổng lồ (gigantisme), một bệnh của tuyến yên

Người vừa thấp vừa quá nhỏ:cũng là một trường hợp bệnh lý tuyến yên, bệnh nhi tính (infantilisme)

Sự cân đối giữa các bộ phận: Thường có một sự cân đối nhất định giữa các bộ phận của thân, đầu

và chi Trong một số trường hợp bệnh lý, ta thấy mât sự cân đối đó:

Bệnh to đầu (hydrocéphalie): Đầu rất to không tương xứng với toàn bộ cơ thể

Bệnh to cực (acromégalie): Đầu và nhất là hai bàn tay và hai bàn chân đều to quá khổ, không tương xứng với phần chi và cơ thể còn lại

Teo một đoạn chi, cả một chi hay cả hai chi đối xứng: thường gặp trong các bệnh thần kinh như xơ cột bên teo cơ (sclérose latérale) Bệnh ống sáo tuỷ (syringommylélie) và thông thường nhất là di chứng của bệnh bại liệt trẻ em (P.A.A) Nhưng có khi là bệnh của cơ:

Hai bên lồng ngực không cân đối do một bên bị tràn dịch hay tràn khí màng phổi làm căng ra hoặc ngược lại do viêm màng phổi dày và dính co kéo làm xẹp xuống

Màu sắc da và niêm mạc:

Một số tình trạng bệnh lý thể hiện trên màu sắc của da và niêm mạc như:

Da và niêm mạc xanh tím: thể hiện tính trạng thiếu oxy thường thấy trong:

Một số bệnh tim bẩm sinh, bệnh tim phổi mạn tính và các trường hợp suy tim nặng

Các bệnh phổi gây khó thở cấp: viêm phế quản phổi ở trẻ em, tràn khí màng phổi nặng, cơn hen Các bệnh thanh khí quản gây ngạt thở: liệt thanh hầu do bạch hầu

Trong các bệnh trên, trường hợp xanh tím chỉ xuất hiện ở môi, ở mặt ngừời bệnh, nặng lắm mới xanh tím đến các nơi khác, thậm chí có khi toàn thân

Trang 7

Trái lại trong một số bệnh khác, xanh tím chỉ khu trú ở một vùng, ví dụ trong:

Viêm tắc động mạch: xanh tím ở các ngón chân, ngón tay, có khi cả bàn chân, bàn tay hoặc cả một đoạn chi do động mạch đó chi phối

Rối loạn vận mạch mao quản: xanh tím tất cả các đầu chi nhất là các đầu ngón tay

Da và niêm mạc xanh xao nhợt nhạt Tình trạng xanh xao có khi thể hiện rõ rệt trên sắc mặt của người bệnh, nhưng có khi kín đáo phải tìm ở niêm mạc mắt, niêm mạc mồm, lưỡi hoặc lòng bàn tay bàn chân Đó là thể hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu cấp hoặc mạn tính do rất nhiều nguyên nhân

Da và niêm mạc vàng: da của người bệnh có nhiều hình thức vàng:

Vàng rơm: trong các bệnh ung thư

Vàng bủng: trong các bệnh thiếu máu nặng

Vàng tươi nhiều hay ít: do uống nhiều quinacrin hoặc santonon Cũng có khi có những sắc tố vàng

ở lòng bàn tay và bàn chân

Trong các tình trạng trên, tình trạng vàng chỉ thể hiện ở da hoặc lòng bàn tay, gan bàn chân Trái lại trong bệnh vàng da Tình trạng vàng có thể hiện cả trong niêm mạc mắt, mồm, lưỡi: đây là những triệu chứng rất có giá trị gợi ý chẩn đoán, vì vàng da là một triệu chứng gần như đặc hiệu của hệ thống gan mật

Da và niêm mạc xạm đen (mélanodermie): đây không phải là trường hợp sạm nắng bình thường của người lao động ngoài trời mà còn là một trường hợp bệnh lý gặp trong bệnh:

Suy tuyến thượng thận (bệnh Addison)

Ứ đọng hắc tố (Mélannose de Richl)

Một vùng da nhạt màu: nếu vùng đó lại có thêm mát cảm giác đau khi ta châm chích thì phải nghĩ đến và tìm kỹ nguyên nhân phong

Tình trạng da và các tổ chức dưới da:

Cần phát hiện:

Trang 8

Các bệnh tích ngoài da: ngoài mục đích phát hiện các bệnh ngoài da việc nhận định này cần chú ý đến các sẹo di chứng của bệnh nào đó trong tiền sử và các bệnh phẫu thuật, vì các bệnh tích này

có khi giải quyết được cho ta nguyên do của các rối loạn hiện tại như:

Sẹo tràng nhạc làm nghĩ tới cơ địa lao

Sẹo “dời leo” (zona) ở ngực, có thể là nguyên nhân của chứng đau dây thần kinh gian sườn hiện tại Vết sẹo do đạn ở ngực hướng cho ta nghĩ đến nguyên nhân của chứng ho ra máu hiện nay

Các nốt chảy máu: Thường là biểu hiện của các bệnh về máu và biểu hiện dưới nhiều hình thái: Mảng bầm máu (ecchymose)

Ban chảy máu (purpura)

Chấm chảy máu (pétéchre)

Tình trạng kiệt nước Biểu hiện bằng:

Da khô, răn reo thậm chí có cả những mảng vẩy

Sự tồn tại của các nếp nhăn ssau khi beo da

Thường thấy trong các trường hợp:

Ỉa chảy cấp diễn nặng hoặc ỉa chảy kéo dài

Nôn nhiều

Sốt, nhiễm khuẩn kéo dài

Tình trạng ứ nước: Biểu hiện bằng: phù có ấn lõm (phù mềm) hoặc không có ấn lõm (phù cứng), cần phát hiện ở mặt (nhất là mi mắt), ở cẳng chân cổ chân (tìm dấu hiệu ấn lõm ở mặt trong xương chầy và ở mắt cá)

Thường thấy trong các trường hợp:

Viêm cầu thận cấp hoặc mạn, bệnh hư thận mỡ

Suy tim

Xơ gan

Trang 9

Thiếu dinh dưỡng.

Tê phù thể ướt

Viêm hạch mạch hoặc tĩnh mạch

Tình trạng hệ thống lông và tóc:

Có thể có những hiện tượng bệnh lý như sau:

Qúa nhiều lông ở nam giới hoặc mọc lông ở những nơi phụ nữ bình thường không có (râu): một trong những trường hợp của bệnh cường tuyến thượng thận (Cushing)

Không mọc lông hoặc rụng lông, rụng tóc Biểu hiện của:

Một tình trạng cơ thể suy nhược do một bệnh nhiễm khuẩn hay nhiễm độc

Một bệnh tại chỗ của da và da đầu

Một rối loạn nội tiết: rối loạn buồng trứng, suy tuyến giáp trạng

Khám bộ phận

Thường nên khám ngay bộ phận nghi có bệnh, sự hỏi bện chu đáo lúc đầu kết hợp với sự nhận xét toàn thân sẽ giúp cho ta nghĩ đến bộ phận nào có bệnh

Sau đó mới khám đến các bộ phận khác, đầu tiên là các bộ phận có liên quan đến sinh lý hoặc giải phẫu với bộ phận ốm, rồi mới khám đến các bộ phận còn lại và nên đi tuần tự từ trên xuống dưới (đầu, cổ, ngực, bụng, các chi…) để khỏi bò sót

Về nội dung khám từng bộ phận, chúng tôi không nói kỹ ở đây, vì đã có những bài riêng trong các trường hợp sau này, chúng tôi chỉ nhấn mạnh đến những vấn đề cần chú ý ở mỗi bộ phận đó:

Ở đầu:

Ngoài việc nhận xét da, niêm mạc và hộp sọ, tóc đã nói ở trên, cần kiểm tra:

12 dây thần kinh sọ não (sẽ nói trong chương trình thần kinh) nhất là khi người bệnh lại có một bệnh

về tinh thần kinh

Răng, lưỡi, họng: sẽ nói trong chương trình tiêu hoá

Ở cổ:

Trang 10

Cần chú ý đến:

Tuyến giáp trạng

Các sẹo ở cổ hoặc các sẹo tràng nhạc cổ

Tĩnh mạch cổ: tĩnh mạch ổc nổi to là một biểu hiện của suy tim phải

Ở ngực:

Cần nhận xét:

Hình thái và sự hoạt động của lồng ngực theo nhịp thở

Các xương sườn và các khoảng liên sườn

Khám tim và phổi

Không nên quên hai vú và các hạch ở nách

Ở bụng:

Hình thái và sự hoạt động của các thành bụng theo nhịp thở

Kiểm tra bụng nói chung (sẽ nói trong chương tiên hoá) rồi các phủ tạng ổ bụng

Cần chú ý đến việc thăm trực tràng và âm đạo làmột động tác bắt buộc làm cho tất cả các người bệnh có biểu hiện bệnh lý ở bụng, nhất là ở bụng dưới

Ở nam giới, không nên quên khám dương vật, bìu sinh dục, thừng tinh, và các lỗ thoát vị

Ở các chi và cột sống:

Cần chú ý đến:

Dị dạng hoặc biến dạng của các chi và cột sống do:

Cột sống bị cong, gù hoặc veo: một điểm đau chói ở bên cột sống, nhất là ở đáy cột sống lại gồ lên, phải làm cho ta nghĩ đến một lao đốt sống

Di chứng của gãy xương và một bệnh cũ về xương

Các khớp: một hoặc nhiều khớp bị sưng to, phải làm cho ta nghĩ đến một bệnh về khớp như:

Trang 11

Thấp khớp cấp.

Viêm khớp mạn tính

Lao khớp

Viêm mủ khớp

Các đầu ngón tay và móng tay: móng tay “ mặt kính đồng hồ” nghĩa là móng tay khum tròn như mặt kính đồng hồ, là một biểu hiện cần chú ý Hiện tượng đó lúc đầu chỉ đơn độc, về sau kết hợp thêm với đầu ngón tay to bè ra như dùi trống để thành một triệu chứng gọi là ngón tay Hippocrate thể hiện của:

Một số bệnh tim bẩm sinh (bệnh Fallot)

Bệnh tim - phổi mạn tính

Bệnh nhiễm khuẩn mạn tính ở nội tạng, thường gặp trong viêm màng tim bán cấp Ôxle và áp xe phổi mạn tính hoặc giãn phế quản, nhiễm khuẩn mạn tính

Một số trường hợp u phổi: hội chứng Pierre Marie

Bệnh xơ gan ứ mật tiên phát: bệnh Hannot

Sau khi khám kỹ toàn thân và từng bộ phận kết hợp với sự hỏi bệnh chu đáo, bao giờ chúng ta cũng phải kết thúc việc khám lâm sàng bằng kiểm tra các chất thải tiết và một số thể dịch

Kiểm tra chất thải và dịch

Đây chỉ là nhận xét sơ bộ trên lâm sàng, cần được bổ sung thêm bởi các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng các chất đó Tuy vậy, sự nhận xét sơ bộ này rất có ích vì nó cung cấp cho chúng ta ngay ở giường bệnh những yếu tố cần thiết cho chẩn đoán

Nước tiểu:

Màu vàng khè: Xác định cho chúng ta một hoàng đản

Màu đỏ: Xác định cho chúng ta người bệnh đái ra máu

Đục: Có thể là một nhiễm khuẩn đường tiết niệu

Phân:

Ngày đăng: 10/11/2017, 21:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w