1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát hiện người lành mang gen bệnh và chẩn đoán trước làm tổ bệnh hemophilia a bằng kỹ thuật microsatellite DNA

179 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển của kỹ thuật chọc hút phôi và ứng dụng những tiến bộ mới nhất của sinh học phân tử vào chẩn đoán, cho đến nay có rất nhiều bệnh lý di truyền và hầu hết các bất thư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÙI THỊ MINH PHƯỢNG

PHÁT HIỆN NGƯỜI LÀNH MANG GEN BỆNH VÀ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC LÀM TỔ BỆNH HEMOPHILIA A

BẰNG KỸ THUẬT MICROSATELLITE DNA

Chuyên ngành: Hóa sinh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Bùi Thị Minh Phượng, nghiên cứu sinh khóa 34, Trường Đại học

Y Hà Nội, chuyên ngành Hóa sinh, xin cam đoan:

1 Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy GS.TS Tạ Thành Văn và Cô PGS.TS Trần Vân Khánh

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đ được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đ được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

Bùi Thị Minh Phượng

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVSKTE Bảo vệ sức khoẻ trẻ em

FISH Fluorescent In Situ Hybridization

ICSI Intracytoplasmic Sperm Injection

IVF In Vitro Fertilization

MLPA Multiplex Ligation Probe Amplification

PGD Preimplantation Genetic Diagnosis

RT – RCR Reverse Transcription PCR

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG BỆNH HEMOPHILIA A 4

1.1.1 Định nghĩa 4

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu 4

1.1.3 Dịch tễ bệnh học 4

1.1.4 Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán bệnh hemophilia A 5

1.2 ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN VÀ CƠ SỞ PHÂN TỬ HEMOPHILIA A 8

1.2.1 Cơ chế di truyền bệnh hemophilia A 8

1.2.2 Cơ sở phân tử học bệnh hemophilia A 9

1.3 NGƯỜI LÀNH MANG GEN BỆNH HEMOPHILIA A 14

1.3.1 Đặc điểm chung người mang gen bệnh 14

1.3.2 Cơ chế di truyền của người mang gen bệnh hemophilia A 14

1.3.3 Triệu chứng của người mang gen 16

1.3.4 Các phương pháp phát hiện người lành mang gen bệnh 17

1.4 PHƯƠNG PHÁP THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM VÀ QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN TRƯỚC LÀM TỔ 23

1.4.1 Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm 23

1.4.2 Quy trình chẩn đoán gen trước làm tổ 25

1.4.3 Các phương pháp và kỹ thuật sinh học phân tử mới nhất áp dụng trong việc chẩn đoán trước làm tổ 30

1.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI VỀ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC LÀM TỔ 38

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam 38

1.5.2 Tình hình nghiên cứu chẩn đoán trước làm tổ bệnh hemophilia A 42 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 46

2.2 DỤNG CỤ, TRANG THIẾT BỊ VÀ HÓA CHẤT NGHIÊN CỨU 47

Trang 6

2.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị 47

2.2.2 Hoá chất 48

2.2.3 Trình tự mồi cho phản ứng 51

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 52

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 54

2.3.3 Quy trình và các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 54

2.3.4 Quy trình xác định người lành mang gen bệnh hemophilia A bằng kỹ thuật microsatellite DNA 57

2.3.5 Quy trình chẩn đoán trước làm tổ 60

2.4 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU TRONG Y HỌC 63

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64

3.1 KẾT QUẢ PHÁT HIỆN NGƯỜI LÀNH MANG GEN F8 BỊ ĐỘT BIẾN BẰNG KỸ THUẬT MICROSATELLITE DNA 64

3.1.1 Kết quả xác định marker dị hợp tử gen F8 trên bệnh nhân và người lành mang gen bệnh bằng kỹ thuật microsatellite DNA 64

3.1.2 Kết quả phát hiện người lành mang gen bệnh hemophilia A bằng kỹ thuật microsatellite DNA 68

3.2 KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC LÀM TỔ BỆNH HEMOPHILIA BẰNG KỸ THUẬT MICROSATTELITE DNA 90

3.2.1 Kết quả kích thích buồng trứng và thực hiện ICSI 90

3.2.2 Kết quả chẩn đoán tiền làm tổ của các gia đình hemophilia A 92

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 108

KẾT LUẬN 138

KHUYẾN NGHỊ 139 CÁC DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần hóa chất sử dụng cho điện di mao quản 63Bảng 3.1 So sánh kết quả phát hiện người lành mang gen bệnh bằng 2

phương pháp 87Bảng 3.2 Tỷ lệ phát hiện người lành mang gen bệnh bằng kỹ thuật

microsatellite-DNA 88Bảng 3.3 Kết quả đánh giá về tỷ lệ phôi phát triển sau khi thụ tinh 90Bảng 3.4 Kết quả đánh giá sự phát triển của các phôi thu được ngày 3 91Bảng 3.5 Kết quả sinh thiết phôi chẩn đoán gen và đánh giá sự phát triển

phôi sau sinh thiết 3 ngày 92

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Hình ảnh chảy máu khớp gối ở bệnh nhân hemophilia A 5Hình 1.2 Hình ảnh chảy máu trong cơ ở bệnh nhân hemophilia A 6Hình 1.3 Kiểu gen và kiểu hình của bố mẹ và thế hệ sau 8Hình 1.4 Vai trò của yếu tố VIII trong quá trình đông máu huyết tương 10Hình 1.5 Vị trí của gen mã hóa yếu tố VIII trên NST X 10Hình 1.6 Cấu trúc gen và protein FVIII 11Hình 1.7 Protein yếu tố VIII với các vùng chức năng 12Hình 1.8 Sơ đồ di truyền của người mẹ mang gen kết hôn với bố bình thường 15Hình 1.9 Sơ đồ di truyền của người mẹ bình thường kết hôn với bố bị bệnh 15Hình 1.10 Sơ đồ phả hệ của người mẹ mang gen kết hôn với bố bình thường 18Hình 1.11 Sơ đồ di truyền của người mẹ mang gen kết hôn với bố bị bệnh 19Hình 1.12 Quy trình thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm 25Hình 1.13 Sinh thiết phôi bào giai đoạn blastomere cho chẩn đoán PGD 28Hình 1.14 Ứng dụng của kỹ thuật FISH trong chẩn đoán xác định giới tính

và số lượng nhiễm sắc thể 32Hình 1.15 Kết quả multiplex PCR sử dụng cặp mồi amel, SYR, FXS1108, DXS

9798, trên phôi bào sinh thiết chẩn đoán bệnh hemophilia A 37Hình 1.16 Sơ đồ phả hệ của một gia đình mang gen đột biến đảo đoạn

intron 22 gây bệnh hemophilia A 43Hình 1.17 Hình ảnh các marker dị hợp tử xác định đột biến gen F8 gây

bệnh hemophilia A 44Hình 1.18 Kết quả multiplex PCR sử dụng cặp mồi amel, SYR, FXS1108,

DXS 9798, trên phôi bào sinh thiết 45Hình 2.1 Kết quả STR lựa chọn marker dị hợp tử 59Hình 2.2 Kỹ thuật Microsatellite DNA trong chẩn đoán đột biến gen gây

bệnh di truyền lặn liên kết nhiễm sắc thể giới tính X 59Hình 2.3 Kết quả STR xác định giới tính 62

Trang 9

Hình 3.1 Kết quả đồng hợp tử và đồng hợp tử của STR 64

Hình 3.2 Kết quả khuếch đại các marker DXS9901, FXS1108, F8int22 và DXS9897 65

Hình 3.3 Tần suất alen của marker FXS 1108 66

Hình 3.4 Tần suất alen của marker DXS9897 66

Hình 3.5 Tần suất alen của marker F8int22 67

Hình 3.6 Tần suất alen của marker DXS9901 67

Hình 3.7 Sơ đồ phả hệ gia đình HA 61 68

Hình 3.8 Hình ảnh giải trình tự gen của gia đình m số HA61 69

Hình 3.9 Hình ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồiFXS1108, DXS9897 và F8int22 của gia đình HA61 70

Hình 3.10 Sơ đồ phả hệ gia đình HA37 sau khi phân tích bằng hai phương pháp 72

Hình 3.11 Ảnh giải trình tự gen của gia đình m số HA37 73

Hình 3.12 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi DXS9901 và DXS9897 của gia đình m số HA37 74

Hình 3.13 Sơ đồ phả hệ gia đình HA50 sau khi phân tích bằng hai phương pháp 75

Hình 3.14 Hình ảnh giải trình tự gen gia đình HA50 76

Hình 3.15 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi DXS9901, DXS9897 và FXS1108, của gia đình bệnh nhân hemophilia A mã số HA50 77

Hình 3.16 Sơ đồ phả hệ gia đình HA16 79

Hình 3.17 Hình ảnh giải trình tự gen của gia đình m số HA16 80

Hình 3.18 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi DXS9901 và DXS9897 của gia đình HA16 81

Hình 3.19 Sơ đồ phả hệ gia đình HA30 sau khi phân tích 83

Hình 3.20 Hình ảnh giải trình tự gen của gia đình bệnh nhân mã số HA30 84 Hình 3.21 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi DXS9901 và FXS1108, của gia đình bệnh nhân hemophilia A mã số HA30 85

Trang 10

Hình 3.22 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi, F8in22,

DXS9897 và DXS9901 của gia đình m số HA09 89Hình 3.23 Kết quả khuếch đại các marker FXS1108, F8int22, và DXS9897 94Hình 3.24 Kết quả multiplex PCR khuếch đại 3 marker dị hợp tử FXS1108,

DXS9897 và F8int22 và 2 marker giới tính Amel và SRY trên mẫu bệnh nhân HA61 95Hình 3.25 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi FXS 1108, F8int22,

DXS 9897 xác định phôi nam bình thường của gia đình HA61 96Hình 3.26 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi FXS 1108,

F8int22, DXS 9897 xác định phôi nam bệnh lý gia đình HA61 97Hình 3.27 Sơ đồ phả hệ phôi gia đình HA61 98Hình 3.28 Kết quả khuếch đại các marker FXS1108 và DXS9897 99Hình 3.29 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi FXS1108 và

DXS9897 của người mẹ so sánh với bệnh nhân HA28 100Hình 3.30 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi FXS 1108,

DXS 9897 xác định phôi nam bình thường gia đình HA28 102Hình 3.31 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi FXS 1108,

DXS 9897 xác định phôi nam bệnh lý gia đình HA28 103Hình 3.32 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi FXS 1108,

DXS 9897 xác định phôi nữ mang gen gia đình HA28 104Hình 3.33 Ảnh điện di vùng trình tự lặp lại sử dụng cặp mồi FXS 1108,

DXS 9897 xác định phôi nữ không mang gen gia đình HA28 105Hình 3.34 Sơ đồ phả hệ gia đình HA28 106Hình 3.35 Tỷ lệ phôi bất thường và không bất thường về gen 107

Trang 11

dự trao giải thưởng Nobel về sinh lý và Y khoa cho những cống hiến to lớn và hiệu quả mà phương pháp này mang lại [2] Phương pháp này đ mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho bao cặp vợ chồng khắp nơi trên thế giới, tuy nhiên không phải cặp vợ chồng nào cũng may mắn sinh được những đứa con mong muốn bằng phương pháp này Tỷ lệ thành công của phương pháp này chỉ đạt hơn 35% tùy theo từng quốc gia [3] Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của phương pháp này như: tuổi bố mẹ, tình trạng sức khỏe, tinh thần tâm lý, chất lượng tinh trùng và trứng… và đặc biệt chất lượng phôi sau khi thụ tinh Các phôi có thể bất thường nhiễm sắc thể (NST) thường hay NST giới tính đều làm giảm khả năng mang thai sau khi cấy phôi vào buồng tử cung,

có thể gây sảy thai hoặc sinh ra những đứa con không khỏe mạnh [4], [5], [6],[7] Để làm giảm tỷ lệ sinh ra những đứa con không khỏe mạnh và làm tăng

tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, thời gian gần đây các nhà khoa học đ áp dụng quy trình sàng lọc phôi “Pre-Implantion Genetic Diagnosis, PGD” còn gọi là “chẩn đoán di truyền trước làm tổ” nhằm có được những phôi tốt nhất cho quá trình chuyển phôi [8],[9],[10]

Cùng với sự phát triển của kỹ thuật chọc hút phôi và ứng dụng những tiến bộ mới nhất của sinh học phân tử vào chẩn đoán, cho đến nay có rất nhiều bệnh lý di truyền và hầu hết các bất thường trên NST, cả các đột biến gen quan trọng gây ung thư đều có thể được sàng lọc bằng kỹ thuật PGD [11],

Trang 12

[12],[13],[14-15] Trong số đó, bệnh hemophilia A (bệnh ưa chảy máu) là loại bệnh có tỷ lệ mắc cao, bệnh cảnh lâm sàng nặng nề và thường gây ra những sang chấn lớn về tâm lý cho gia đình và cho người bệnh Vì vậy vấn đề đặt ra

là chúng ta phải làm sao giúp cho các cặp vợ chồng mang gen bệnh

hemophilia A sinh được những đứa con hoàn toàn khỏe mạnh

Hemophilia A là bệnh di truyền do thiếu hụt hoặc bất thường chức năng của các yếu tố đông máu VIII [16],[17] Hemophilia A là bệnh di truyền alen lặn trên NST X không có alen trên NST Y, nên người mẹ mang gen bệnh sẽ di truyền cho con trai và biểu hiện bệnh trên lâm sàng [18] Theo thống kê của tổ chức hemophilia A thế giới, hiện nay có khoảng 250.000 bệnh nhân mắc bệnh hemophilia A và chỉ có khoảng 50.000 được điều trị đặc hiệu [19] Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 6000 người bị bệnh hemophilia A và khoảng 30.000 người mang gen bệnh hemophilia A [20] Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là chảy máu ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể, và chảy máu kéo dài: chảy máu khớp, chảy máu trong cơ, chảy máu não, chảy máu trong cổ và ngực… Mức độ biểu hiện trên lâm sàng liên quan trực tiếp nồng độ yếu tố VIII trong huyết tương

Việc tầm soát trước sinh bệnh hemophilia A là việc làm hết sức quan trọng giúp cho việc sinh ra những đứa trẻ hoàn toàn khỏe mạnh Việc xác định đột biến gen gây bệnh, sàng lọc người lành mang gen bệnh và chẩn đoán trước sinh bệnh hemophilia A đ được nghiên cứu khá nhiều ở Việt Nam.Việc quản lý bệnh nhân và người mang gen của bệnh lý này là tiền đề vững chắc để triển khai thành công quy trình chẩn đoán trước làm tổ trong sàng lọc phôi Phương pháp này sẽ giúp giảm biến chứng và di chứng cho người mẹ khi mang thai bệnh lý, giảm chấm dứt thai kỳ do phát hiện bệnh ở thai nhi khi chẩn đoán tiền sản, mang lại niềm vui hạnh phúc cho các cặp vợ chồng mang gen bệnh, đồng thời giảm tỷ lệ mắc bệnh ở cộng đồng Cùng với sự phát triển của sinh học phân tử phát hiện các đột biến gây bệnh hemophilia A, kỹ thuật

Trang 13

microsatellite DNA là kỹ thuật sử dụng các primer gắn huỳnh quang để khuếch đại vùng trình tự lặp lại ngắn (short tandem repeat-STR) và phân tích kích thước của chúng thông qua điện di mao quản trên máy giải trình tự gen

để xác định các alen đột biến Kỹ thuật này có nhiều ưu điểm là dễ dàng phát hiện alen đột biến mà không cần xác định các đột biến trực tiếp, vì vậy sẽ giảm được chi phí cho gia đình bệnh nhân Hiện nay kỹ thuật này còn khá mới mẻ ở Việt Nam ứng dụng trong chẩn đoán các bệnh lý di truyền Xuất

phát từ thực tế đó đề tài: “Phát hiện người lành mang gen bệnh và chẩn

đoán trước làm tổ bệnh hemophilia A bằng kỹ thuật microsatellite DNA”

được đưa vào nghiên cứu với mục tiêu:

1 Xác định người lành mang gen bệnh hemophilia A bằng kỹ thuật microsatellite DNA

2 Chẩn đoán trước làm tổ cho những người mẹ mang gen bệnh hemophilia A bằng kỹ thuật microsatellite DNA

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG BỆNH HEMOPHILIA A

1.1.1 Định nghĩa

Bệnh hemophilia A là một bệnh di truyền do thiếu hụt hoặc bất thường chức năng của các yếu tố đông máu trong huyết tương - thiếu hụt yếu tố VIII gây bệnh hemophilia A, thiếu hụt yếu tố IX gây bệnh hemophilia B, thiếu hụt yếu tố XI gây bệnh hemophilia C Bệnh hemophilia A là bệnh rối loạn đông máu di truyền hay gặp nhất [21-22]

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu

Sự di truyền của bệnh máu khó đông liên kết với giới tính được phát hiện từ những năm 80 của thế kỷ 19 Vào thời điểm này, các nhà khoa học nhận thấy chỉ có nam giới mắc bệnh và không có khả năng truyền bệnh cho con trai nhưng truyền gen bệnh cho con gái và người con gái này có thể truyền gen bệnh cho con trai mình Bệnh hemophilia A còn được biết đến như căn bệnh của Hoàng Gia vì nữ hoàng Anh Victoria 1838-1901 mang gen bệnh này và truyền nó cho nhiều thế hệ sau

1.1.3 Dịch tễ bệnh học

Theo thống kê của tổ chức hemophilia thế giới (WFH), hiện nay có khoảng 500.000 bệnh nhân mắc bệnh hemophilia và chỉ có khoảng 1/3 được chẩn đoán [23] Tỷ lệ mắc bệnh hemophilia A gần giống nhau ở các vùng địa

lý, các nước, các chủng tộc, tần suất mắc bệnh chung khoảng 30-100/1.000.000 dân.Tần suất mắc bệnh hemophilia A là 1/4000  1/5.000 trẻ trai [24] Tại Việt Nam, theo những thống kê không đầy đủ hiện tại có khoảng 6000 bệnh nhân hemophilia Số liệu điều tra những năm 1994  1996 về tình hình bệnh hemophilia ở miền Bắc Việt Nam cho thấy tỷ lệ bệnh hemophilia là

Trang 15

25  60/1.000.000 dân Tại mít tinh hưởng ứng ngày hemophilia thế giới 4-2016), hội rối loạn đông máu Việt Nam và Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương đ công bố có 6000 người bị bệnh chảy máu di truyền [25]

(17-1.1.4 Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán bệnh hemophilia A

1.1.4.1 Đặc điểm chảy máu trong bệnh hemophilia A

Bệnh đặc trưng bởi thời gian đông máu kéo dài và tăng nguy cơ chảy máu Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là xuất huyết Xuất huyết có thể tự nhiên hoặc sau chấn thương nhẹ Đặc điểm xuất huyết là các đám bầm máu dưới da,

tụ máu trong cơ, chảy máu ở các khớp

Chảy máu khớp thường gặp nhất ở bệnh nhân hemophilia A Đây là loại chảy máu nguy hiểm vì khi tái phát nhiều lần gây ra viêm khớp, biến dạng khớp [26] Chảy máu khớp có thể xuất hiện tự nhiên hoặc sau chấn thương Nếu điều trị muộn sau 4 giờ thì cảm giác đau có thể tăng lên, khớp sẽ sưng và việc điều trị

bị kéo dài tới vài ngày Trẻ lớn có thể nhận biết được chảy máu khớp trước khi đau và sưng xảy ra với cảm giác gai châm hoặc kiến bò trong khớp Điều trị sớm

Trang 16

và xuất hiện tự nhiên hoặc sau chấn thương Những cơ hay bị chảy máu là:

cơ cẳng chân, cơ đùi, cơ cánh tay Chảy máu cơ gây ra sưng đau trong vài ngày Một dấu hiệu quan trọng và kín đáo trong chảy máu cơ là cảm giác đau, nóng, ngứa ran hoặc tê bì Nếu không được điều trị sớm cơ sẽ bị phá huỷ và có thể gây liệt [23]

Hình 1.2 Hình ảnh chảy máu trong cơ ở bệnh nhân hemophilia A

(Nguồn: http://hemoviet.org.vn)

Ngoài ra bệnh nhân có thể bị chảy máu não, chảy máu ở các vị trí khác nhưng hiếm gặp xuất huyết dưới da Chảy máu từ vết cắt sâu hoặc xước da có thể kéo dài và hồi phục sau vài ngày mà không cần điều trị Chảy máu miệng, lợi và mũi cũng hay gặp Có thể xuất huyết tiêu hoá và đái máu

1.1.4.2 Các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán bệnh

Những thay đổi về huyết học ở bệnh nhân hemophilia A:

- Thời gian máu chảy kéo dài, thời gian đông máu kéo dài có thể hơn 1

giờ; chất lượng cục máu đông kém; thời gian Howell kéo dài…

+ Hoạt tính yếu tố VIII huyết tương giảm hoặc không có

+ Yếu tố Von - Willebrand trong máu bình thường

+ Số lượng tiểu cầu trong máu bình thường

Trang 17

1.1.4.3 Chẩn đoán bệnh

 Chẩn đoán xác định [21]

- Dựa vào lâm sàng: Có vết bầm tím, tụ máu, chảy máu

- Dựa vào tiền sử gia đình

- Dựa vào xét nghiệm máu:

+ Số lượng tiểu cầu bình thường, PT (Prothrombin Time: thời gian prothrombin) bình thường, fibrinogen bình thường, APTT (Activated Partial Thromboplastin Time: thời gian thromboplastin một phần hoạt hóa) kéo dài

> 1,5 giá trị bình thường

+ Hoạt tính yếu tố VIII huyết tương giảm dưới 40%

+ Yếu tố Von Willebrand bình thường

+ Các xét nghiệm khác: Mixtest xác định kháng thể kháng yếu tố VIII

 Chẩn đoán mức độ bệnh

Mức độ

Nồng độ yếu tố VIII (%) (hoạt tính (UI/ml))

Biểu hiện chảy máu

Nặng

(Chiếm 70%) <1% (<0,01)

Chảy máu tự nhiên không liên quan đến chấn thương, thường chảy máu ở khớp và cơ

Trung bình

Chảy máu tự nhiên hoặc liên quan đến chấn thương nhỏ Chảy máu nặng sau chấn thương, phẫu thuật

Nhẹ

(Chiếm 15%) > 5-40% (0,04-0,4)

Chảy máu sau chấn thương lớn hoặc phẫu thuật

Trang 18

1.2 ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN VÀ CƠ SỞ PHÂN TỬ HEMOPHILIA A 1.2.1 Cơ chế di truyền bệnh hemophilia A

Đây là một bệnh di truyền liên kết với giới tính: Ở nam chỉ có một NST giới tính X nên nếu NST giới tính X mang gen bệnh thì lượng yếu tố VIII tạo

ra không đủ và người đó bị bệnh hemophilia A [27] Đối với nữ giới nhờ có hai NST giới tính X nên nếu một NST giới tính X mang gen bệnh thì gen bình thường trên NST còn lại vẫn tổng hợp yếu tố VIII bình thường Người phụ nữ không bị bệnh nhưng mang một gen bị bệnh sẽ truyền cho con trai và người con trai sẽ bị bệnh, nếu truyền cho con gái thì người con gái sẽ trở thành người mang gen bệnh

Hình 1.3 Kiểu gen và kiểu hình của bố mẹ và thế hệ sau

1/ Bố bị bệnh, mẹ bình thường: 100% con gái là người mang gen bệnh (XHXh) và 100% con trai bình thường (XH

Y)

3/ Bố bị bệnh, mẹ mang gen bệnh: 50% con gái bị bệnh (Xh

Xh) đồng hợp tử, 50% con gái mang gen bệnh (XH

Xh), 50% con trai bị bệnh và 50%

Trang 19

con trai bình thường (XHY) Như vậy nữ mắc bệnh khi mang đồng hợp tử gen bệnh (cả 2 thể nhiễm sắc X bị thương tổn: Xh

Xh), nữ mang gen bệnh khi mang dị hợp tử gen bệnh (một thể nhiễm sắc X bị thương tổn: XH

Xh)

4/ Do đột biến mới phát sinh trong quá trình tạo giao tử từ người bố hoặc

từ người mẹ: thường chiếm khoảng 1/3 các trường hợp hemophilia A Tỉ lệ đột biến gây bệnh hemophilia xẩy ra là 3 x 106 trên gen và trên một giao tử trong một thế hệ [31] Tỷ lệ đột biến mới xảy ra ở tế bào mầm sinh dục của nam cao hơn 5 lần so với ở tế bào mầm sinh dục của nữ Gần đây, người ta đ chứng minh rằng tần suất đột biến theo giới tùy thuộc vào loại đột biến Đột biến đảo đoạn intron 22 ở tế bào mầm sinh dục nam nhiều hơn 15 lần so với ở tế bào mầm sinh dục nữ Hiện tượng này giải thích cho sự vắng mặt nhiễm sắc thể thứ hai tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đảo đoạn trong giai đoạn phân bào giảm nhiễm ở nam

1.2.2 Cơ sở phân tử học bệnh hemophilia A

Từ năm 1984, nghiên cứu của Vehar và cộng sự đ cho thấy những hiểu biết đầy đủ về cấu trúc phân tử gen F8 tổng hợp protein FVIII, mở đường cho các nghiên cứu về cơ chế phân tử bệnh hemophilia A và các dạng đột biến gen F8 gây bệnh

Trong con đường đông máu nội sinh, yếu tố VIII đóng vai trò là đồng yếu tố với yếu tố IX hoạt hóa (IXa) với sự có mặt của Ca2+

và phospholipid tiểu cầu hoạt hóa yếu tố X thành Xa, từ đó tác động nên sự hình thành thrombin từ prothrombin, giúp cho quá trình tạo và cố định fibrin từ fibrinogen, hoàn thiện quá trình tạo cục máu đông cùng với tiểu cầu và yếu tố thành mạch Việc thiếu hụt hoặc bất thường chức năng yếu tố VIII làm ngừng trệ dòng thác đông máu theo con đường nội sinh, dẫn đến tình trạng chảy máu kéo dài, không cầm ở bệnh nhân hemophilia A

Trang 20

Hình 1.4 Vai trò của yếu tố VIII trong quá trình đông máu huyết tương 1.2.2.1 Vị trí và cấu trúc của gen mã hóa yếu tố VIII

Gen quy định tổng hợp yếu tố VIII nằm ở vị trí Xq28 trên NST giới tính

X, là một trong những gen lớn nhất của người, có kích thước 186 Kb gồm 26 exon, trong đó 24 exon có kích thước từ 62bp đến 262bp và 2 exon lớn nhất là exon 14 (3106 bp) và exon 26 (1958 bp), m hóa 9 Kb mRNA Người đột biến gen F8 gây thiếu hoặc không tổng hợp được yếu tố VIII, làm rối loạn quá trình đông máu biểu hiện thành triệu chứng lâm sàng của bệnh hemophilia A [28]

Hình 1.5 Vị trí của gen mã hóa yếu tố VIII trên NST X

(Nguồn: www.hemophilia.com)

Fibrinogen Fibrin ổn đinh fibrin

Nhiễm sắc thể X

Trang 21

Gen m hóa yếu tố VIII có chuỗi nặng với đầu cuối là N, gồm các domain A1-A2-B, chuỗi nhẹ có đầu cuối là C, gồm các domain A3-C1-C2 và vùng B Khi thủy phân hoàn toàn domain B tạo thành asparagin, serin và threonin Vùng B không cần cho chức năng của yếu tố VIII và sau quá trình dịch m , domain B bị cắt khỏi chuỗi nặng của yếu tố VIII

1.2.2.2 Protein yếu tố VIII

Hình 1.6 Cấu trúc gen và protein FVIII [29]

Bản chất yếu tố VIII là polypeptid có cấu trúc A1-A2-B-A3-Cl-C2, gồm hai chuỗi: chuỗi nặng là đoạn A1-A2-B có kích thước 200 kD, chuỗi nhẹ

là đoạn A3-C1-C2 có kích thước 80 kD Cấu trúc của phức hợp này được giữ

ổn định nhờ sự tương tác giữa các liên kết ưa nước và kỵ nước với yếu tố von Willebrand (vWF - là một kháng nguyên liên quan đến yếu tố VIII) và Ca2+ Chuỗi nặng có đầu cuối là N, gồm các vùng A1-A2-B, chuỗi nhẹ có đầu cuối

Trang 22

là C, gồm các vùng A3-C1-C2 Vùng B được mã hóa bởi một exon lớn và không có sự tương đồng với bất kỳ gen nào đ biết Khi thủy phân hoàn toàn domain B tạo thành asparagin, serin và threonin Vùng B không cần cho chức năng của yếu tố VIII và sau quá trình dịch mã, domain B bị cắt khỏi chuỗi nặng của yếu tố VIII

Hình 1.7 Protein yếu tố VIII với các vùng chức năng

(Nguồn w.w.w nature.com/revieus/genetics)

ng ( 1 2 3) l n i bám c a các ion Ca 2+

, Cu 2+ v các yếu t I trong quá tr nh đ ng máu ng C (C1 C2) l vị tr bám cho yếu t v

v c a các ph n t phospholipid một hi III đư c ho t h a ng chứa

vị tr c t c a thrombin đ đư c lo i b trong ph n t III trong quá tr nh

ho t h a FVIII

1.2.2.3 Các dạng đột biến gen F8 gây bệnh hemophilia A

Có nhiều dạng đột biến gen F8 gây bệnh hemophilia A Nghiên cứu của Oldenburg và cộng sự đ chỉ ra rằng các dạng đột biến điểm (thay thế nucleotid gây đột biến sai nghĩa hoặc vô nghĩa) chiếm tỷ lệ cao nhất (47,5%) tiếp đến là dạng đột biến đảo đoạn gồm đảo đoạn intron 1 và intron 22 (36,7%), còn lại là đột biến xóa đoạn gen chiếm khoảng 10 – 15% Tùy thuộc vào kiểu và vị trí đột biến trên gen F8 mà gây ra các thể bệnh nặng nhẹ khác nhau nhau [16]

ị tr bám cho yếu t vWF, X

Trang 23

Đột biến điểm

Đột biến điểm gen F8 khi có sự thay đổi nucleotid trên gen Nghiên cứu của Shima và cộng sự chỉ ra rằng đột biến thay thế Arginin thành Histidin tại vị trí 372 gây biến đổi vị trí cắt của thrombin và làm quá trình hoạt hóa yếu tố VIII bị rối loạn, hoạt tính yếu tố VIII giảm mạnh còn 3  5% [30] Năm 2000, Jacquemin và cộng sự đ chứng minh đột biến thay thế Serin thành Tyrosin tại vị trí 2119 (vùng C2) làm giảm đột ngột khả năng tương tác giữa yếu tố VIII và yếu tố vWF, dạng đột biến này thường gặp ở thể nhẹ và trung bình [31]

Theo thống kê, khoảng gần 60% các đột biến điểm ảnh hưởng tới acid amin arginin, phần lớn các bệnh nhân mang đột biến này đều ở thể nặng [16-19]

Đột biến đảo đoạn

Mặc dù không có vai trò trong việc mã hóa hay tham gia vào quá trình hoạt hóa yếu tố VIII nhưng các vùng intron của gen F8 lại là tác nhân chính gây

ra các dạng đột biến đảo đoạn ở bệnh nhân hemophilia A thể nặng [32]

Dạng đột biến đảo đoạn phổ biến nhất là đảo đoạn intron 22, chiếm hơn 50% các thể bệnh nặng Cách gen F8 một đoạn 500kb về phía đầu mút telomere, nhiễm sắc thể X tồn tại hai vùng int22h2 và int22h3 có trình tự tương đồng đến 99,9% với một đoạn thuộc intron 22 gen F8 (vùng int22h1) Quá trình tái tổ hợp tương đồng giữa vùng int22h1 và một trong hai vùng int22h2 và int22h3 chia cắt gen F8 thành 2 đoạn (exon 1-22 và exon 23-26) cách nhau 400kb gây bất hoạt hoàn toàn gen mã hóa yếu tố VIII [32]

Đột biến mất đoạn và thêm đoạn của gen yếu tố VIII

Đột biến mất đoạn lớn chiếm 2-5% bệnh nhân hemophilia A thể nặng

Có thể mất 1 exon hoặc mất toàn bộ gen Cơ chế phân tử của dạng đột biến này đ được kết luận là do quá trình tái tổ hợp dẫn đến hiện tượng lặp lại Alu [17] Đột biến chèn đoạn lớn và hiện tượng Alu làm đứt g y gen F8 và gây

Trang 24

bệnh hemophilia A thể nặng Xóa đoạn và thêm đoạn nhỏ cũng thường thấy trong hemophilia A thể nặng, trong đó thay đổi 1-55 nucleotid Phổ biến nhất

là xóa hoặc thêm nucleotid Adenin vào exon 14, thường xảy ra trong vùng từ c.3637 đến c.4379 [33]

1.3 NGƯỜI LÀNH MANG GEN BỆNH HEMOPHILIA A

Hemophilia A là bệnh rối loạn di truyền do gen lặn nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X, gây nên do đột biến yếu tố VIII Việc chẩn đoán người lành mang gen bệnh là rất quan trọng để ngằn ngừa sự ra đời của những đứa trẻ bị bệnh hemophilia A [34]

1.3.1 Đặc điểm chung người mang gen bệnh

Người lành mang gen bệnh là người mang một nhiễm sắc thể X có đột biến gen F8 và một nhiễm sắc thể X bình thường Biểu hiện lâm sàng có thể nặng hoặc nhẹ

Người lành mang gen bệnh có triệu chứng như một người bị hemophilia

A thể nhẹ Những người mang gen bệnh hemophilia A có hoạt tính yếu tố VIII huyết tương thấp hơn bình thường, tuy nhiên cũng có những người mang gen bệnh có hoạt tính yếu tố VIII rất thấp dưới 4% gây chảy máu như thể nặng Khoảng 20% người lành mang gen bệnh biểu hiện triệu chứng chảy máu với các mức độ khác nhau, bao gồm cả những người có hoạt tính yếu tố VIII huyết tương trong giới hạn bình thường (40 đến 60%) [35]

1.3.2 Cơ chế di truyền của người mang gen bệnh hemophilia A

Nếu người mẹ mang gen bệnh kết hôn với một người bố bình thường thì xác suất mỗi lần sinh con của họ là: 25% con trai bình thường, 25% con trai bị bệnh, 25% con gái bình thường, 25% con gái mang gen bệnh

Trang 25

Hình 1.8 Sơ đồ di truyền của người mẹ mang gen kết hôn với bố bình thường

Nếu một người bố bị bệnh hemophilia A kết hôn với người mẹ bình thường thì có khả năng sinh 100% con gái mang gen bệnh hemophilia A, 100% con trai bình thường

Hình 1.9 Sơ đồ di truyền của người mẹ bình thường kết hôn với bố bị bệnh

Tất cả những người phụ nữ mang gen và những người có khả năng mang gen bệnh đều cần làm xét nghiệm tình trạng mang gen

Mẹ mang

thường

Con gái bình thường Con gái manggen

Con trai bị bệnh

Con trai bình thường

Mẹ bình

Con gái mang gen Con trai bình thường

Trang 26

1.3.3 Triệu chứng của người mang gen

- Chảy máu sản, phụ khoa:

+ Kinh nguyệt kéo dài (hơn bảy ngày), rong kinh là một trong những triệu chứng phụ khoa phổ biến nhất Có thể nặng nề với số lượng máu mất trong khoảng thời gian dài Theo thống kê, có đến 1/3 số phụ nữ bỏ lỡ đáng

kể thời gian học hoặc làm việc do rong kinh Đó cũng có thể là nguyên nhân của tình trạng thiếu sắt, thiếu máu và làm giảm chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mang gen bệnh Chảy máu nặng trong kỳ kinh nguyệt đầu tiên của một người lành mang gen bệnh có thể dẫn đến phải nhập viện [35]

+ Chảy máu bất thường âm đạo (băng huyết)

Băng huyết liên quan đến chảy máu bất thường xảy ra ngoài chu kỳ kinh nguyệt bình thường Chảy máu bất thường xảy ra đôi khi trong khoảng thời gian giữa phần cuối của một chu kỳ kinh nguyệt với kỳ kinh bắt đầu tiếp theo Nếu chảy máu nặng nề cần nghỉ ngơi tại chỗ hoặc nhập viện để theo dõi

Trang 27

+ Chảy máu ổ bụng (hemoperitoneum)

Máu có thể chảy vào các mô xương chậu và dây chằng, đôi khi vào ổ bụng và vùng chậu, gọi là chảy máu ổ bụng, là một cấp cứu ngoại khoa có thể

đe dọa đến tính mạng

+ Chảy máu sau khi sinh:

Người mang gen bệnh hemophilia A có nguy cơ bị xuất huyết trong thai kỳ Tuy nhiên, trong thực tế, do ảnh hưởng của hormon làm tăng hoạt tính yếu tố VIII trong huyết tương nên nguy cơ này giảm xuống

- Các chảy máu khác:

 Dễ bầm tím

 Chảy máu kéo dài từ vết thương nhỏ

 Chảy máu cam

 Chảy máu kéo dài sau khi nhổ răng

 Chảy máu nặng sau khi chấn thương hoặc phẫu thuật

Chảy máu khớp và cơ bắp không phải là triệu chứng hay gặp ở những người mang bệnh hemophilia A trừ trường hợp hoạt tính yếu tố VIII huyết tương rất thấp (dưới 4%) Nghiên cứu gần đây đ chỉ ra rằng nguy cơ chảy máu kéo dài (nhiều hơn năm phút) từ vết thương nhỏ hoặc sau khi phẫu thuật ở người mang gen bệnh hemophilia A có triệu chứng có thể cao gấp đôi so với những người mang gen bệnh không biểu hiện triệu chứng trong cùng một gia đình

1.3.4 Các phương pháp phát hiện người lành mang gen bệnh

Người phụ nữ mang gen bệnh ngoài việc sinh ra những đứa trẻ bị bệnh

và những đứa con mang gen bệnh, những đứa con mang gen bệnh này lại có khả năng sinh ra những đứa con bị bệnh Vì vậy, nếu không quản lý hay phát hiện được những người phụ nữ mang gen bệnh thì thế hệ tiếp theo sẽ gia tăng

tỷ lệ những đứa con mang bệnh và mang gen bệnh Vì vậy, việc xác định sớm những người phụ nữ mang gen bệnh sẽ giúp cho họ có định hướng, chủ động trong việc kết hôn và sinh ra những đứa con khỏe mạnh

Trang 28

1.3.4.1 Định lượng các yếu tố đông máu

Người phụ nữ mang gen thường có yếu tố VIII thấp hơn người phụ nữ bình thường, một số người cũng có biểu hiện chảy máu lâu cầm như người bệnh hemophilla A thể nhẹ Sử dụng nồng độ yếu tố VIII phát hiện người lành mang gen đúng được 70-90% theo Nguyễn Anh Trí viện huyết học truyền máu Trung ương [36]

1.3.4.2 Phát hiện người lành mang gen bệnh dựa vào phân tích phả hệ

Phả hệ là sơ đồ di truyền của một gia đình Để xây dựng phả hệ cần phải

có tối thiểu 3 thế hệ gần nhất cần phải khai thác kỹ tiền sử bản thân bệnh nhân và các thành viên của gia đình bệnh nhân

Phân tích phả hệ sẽ phát hiện được quy luật di truyền của bệnh Hemophilia A Trong bệnh lý hemophilia A, gen đột biến gây bệnh nằm trên nhiễm sắc thể X, không alen có trên nhiễm sắc thể Y, nên theo quy luật di truyền menden, sơ đồ phả hệ có thể phát hiện nam giới bị bệnh, nam giới bình thường, nữ giới mang gen và nữ giới bình thường

Nếu một người mẹ mang gen bệnh lấy một người bố bình thường thì xác suất sinh con của họ là: 25% con gái mang gen bệnh, 25% con gái bình thường, 25% con trai bị bệnh, 25% con trai bình thường

Hình 1.10 Sơ đồ phả hệ của người mẹ mang gen kết hôn với bố bình thường

Trang 29

Nếu một người mẹ mang gen bệnh kết hôn với người bố bị bệnh thì xác suất sinh con của họ: 25% con gái bị bệnh, 25% con gái mang gen bệnh, 25% con trai bị bệnh, 25% con trai bình thường

Hình 1.11 Sơ đồ di truyền của người mẹ mang gen kết hôn với bố bị bệnh [23]

Theo những phân tích di truyền phả hệ thì:

Một người phụ nữ mang gen khi chắc chắn thỏa m n một trong bốn điều kiện sau:

Có ít nhất hai con trai bị bệnh, là con của bệnh nhân hemophilia A; Có một con trai bị bệnh có ít nhất một người đàn ông trong họ mẹ bị bệnh; Có một con trai bị bệnh và trong gia đình họ mẹ có ít nhất một người được chẩn đoán là mang gen bệnh

Một người có khả năng mang gen bệnh khi thỏa m n một trong ba điều kiện sau: Có một con trai bị bệnh và trong gia đình không có ai bị bệnh cũng như mang gen bệnh; có ít nhất một người đàn ông trong họ mẹ bị bệnh và không có con trai bị bệnh, là con của một người mang gen bệnh [37]

Trong những gia đình có người con trai mắc bệnh hemophilia A, người

ta thường lập phả hệ để xác định tình trang mang gen của người mẹ Tuy nhiên, phương pháp này cung cấp rất ít thông tin về tình trạng mang gen của người phụ nữ nên cần phải có số lượng gia đình lớn để có thể tính toán [38]

Trang 30

1.3.4.3 Phát hiện người lành mang gen bệnh dựa vào phân tích gen

 Phân tích trực tiếp

Việc phân tích gen của bệnh nhân hemophilia A có thể phát hiện được đột biến trên gen F8 Để chẩn đoán một người phụ nữ mang gen bệnh hay không người ta thường dựa vào việc phân tích đột biến trên của người phụ nữ

ấy có cùng kiểu đột biến với bệnh nhân hemophilia A hay không? Quy trình chung cho các kỹ thuật phân tích đột biến trực tiếp bắt đầu từ việc lấy máu tĩnh mạch của bệnh nhân, tách chiết DNA và thực hiện các kỹ thuật sinh học phân tử để xác định loại đột biến: đột biến điểm, đảo đoạn, mất đoạn… Sau

đó sẽ dựa vào đột biến đó xác định được đột biến trên người mang gen

Việc phát hiện đột biến trực tiếp chủ yếu dựa vào kỹ thuật PCR và giải trình tự gen Với những kỹ thuật này có thể phát hiện 89,3% đột biến và vẫn

bỏ xót những đột biến chưa phát hiện được [39] Tuy nhiên, do gen F8 có kích thước và trọng lượng phân tử lớn và sự đa dạng về kiểu đột biến nên phương pháp phân tích trực tiếp đòi hỏi phải có kỹ thuật cao có độ chính xác cao, và chi phí đắt

* Phát hiện đột biến điểm bằng ỹ thuật giải tr nh tự gen

Máy giải trình tự gen tự động được thiết kế trên nguyên tắc sử dụng dideoxynucleotid (ddNTP) do Sanger và CS phát minh Với các máy thế hệ sau này, người ta dùng 4 màu huỳnh quang khác nhau để đánh dấu 4 loại ddNTP Nhờ vậy phản ứng giải trình tự có thể thực hiện trong một ống nghiệm và chỉ cần điện di trên một hàng, không phải trên 4 hàng khác nhau như trước đây Đối với phương pháp giải trình tự tự động, hệ thống điện di thường sử dụng là điện di mao quản Mỗi khi có một vạch điện di đi qua, phân tử ddNTP cuối cùng ở đầu 3‟ của đoạn DNA sẽ phát ra một màu huỳnh quang tương ứng, máy sẽ ghi nhận màu sắc này và chuyển về máy tính phân tích Dựa vào màu huỳnh quang, máy sẽ nhận diện được các nucleotid, từ đó

Trang 31

biết được trình tự của DNA đích Phương pháp này giúp xác định các đột biến điểm của gen dystrophin như đột biến điểm, đột biến xoá đoạn….và là một tiêu chuẩn vàng trong việc phát hiện các đột biến gen F8

*Phát hiện đột biến đảo đo n gen 8

a/ Phương pháp phát hiện đột biến đảo đoạn intron 22

Dạng đột biến đảo đoạn phổ biến nhất là đảo đoạn intron 22, chiếm hơn 45% các thể bệnh nặng [17] Inversion- PCR (I-PCR) là kỹ thuật chính được

sử dụng để phát hiện đột biến đảo đoạn này Phương pháp được miêu tả bởi Rosetti và cộng sự năm 2005 [40] Quy trình gồm 3 bước: (1) Cắt bằng enzym BclI,(2) Nối bằng T4 ligate, (3) Khuếch đại bằng phản ứng Multiplex PCR Phương pháp I-PCR có ưu điểm là dễ tiến hành Enzym BclI tác dụng rất đặc hiệu nên sản phẩm cắt enzym có tính đặc hiệu cao Sản phẩm PCR được khuếch đại dễ dàng trong thời gian khoảng 30 phút do các đoạn DNA có kích thước ngắn (487 và 559 bp) Như vậy xét nghiệm phân tích gen được tiến hành nhanh chóng, kết quả thu được có độ tin cậy cao, dễ thực hiện

b Phương pháp phát hiện đột biến đảo đoạn intron 1

Hiện tượng tái tổ hợp cũng diễn ra tương tự giữa int1h1 (nằm trong intron 1) có kích thước 900 bp và vùng trình tự tương đồng int1h2 cách gen

F8 một đoạn 140 kb về phía đầu mút telomere gây nên dạng đột biến đảo đoạn intron 1 xuất hiện ở 5% các thể bệnh nặng [21]

Phương pháp xác định đảo đoạn intron 1 được mô tả bởi Bagnal và cộng

sự năm 2002 [41]:

+ Thiết kế hai phản ứng Multiplex PCR có thể phát hiện được các bệnh nhân bị đột biến Phản ứng 1 có chứa các cặp mồi đặc hiệu cho int1h1 cộng với một mồi đặc hiệu cho chuỗi int1h2; phản ứng 2 chứa cặp mồi đặc hiệu cho int1h2 cộng với một mồi đặc hiệu cho int1h1 Dựa vào kích thước khác nhau của các đoạn DNA sau khi điện di để phát hiện đột biến Trường hợp không có đột

Trang 32

biến đảo đoạn intron 1, phản ứng 1 chỉ có mồi int1h1 bắt cặp cho kích thước

1908 bp Ở phản ứng 2 chỉ có mồi đặc hiệu cho int1h2 bắt cặp cho kích thước

1191 bp Nếu đột biến xảy ra, mồi int1h1 bắt cặp với int1h2 ở cả hai phản ứng sẽ cho các kích thước 1323 bp và 1776 pb tương ứng ở phản ứng 1 và phản ứng 2

*Phát hiện đột biến mất đo n lặp đo n gen 8

Trong những năm gần đây, MLPA (Multiplex Ligation-dependent Probe Amplification) là phương pháp được ưu tiên chọn lựa trong chẩn đoán đột biến mất đoạn, lặp đoạn gen F8 Kỹ thuật MLPA (khuếch đại đa đoạn dò) được mô tả lần đầu vào năm 2002 bởi Schouten J.P và CS, đây là phiên bản mới của phản ứng PCR, trong đó nhiều đoạn DNA đích được khuếch đại chỉ bằng 1 cặp mồi [42]

- Kỹ thuật MLPA sử dụng các đoạn dò (probe) có khả năng lai hóa với phân tử DNA đích đặc hiệu và vấn đề thiết kế các probe rất quan trọng

Mỗi đoạn dò gồm 2 chuỗi oligonucleotide có kích thước khác nhau (gọi

là đoạn dò xuôi và đoạn dò ngược)

+ Đoạn dò xuôi: gồm Đầu 5‟và đầu 3‟, đoạn ngược gồm: Đầu 3‟, đầu 5‟và phần nối giữa đầu 5‟ với đầu 3‟ Các đoạn probe sẽ gắn đặc hiệu vào các exon của phân tử DNA đích, sau đó enzym ligase được thêm vào để nối hai đoạn probe này lại với nhau tạo thành đoạn probe hoàn chỉnh và được khuếch đại bằng phản ứng PCR với cặp mồi đặc hiệu Phân tích kết quả MLPA là bước quan trong trong kỹ thuật Phân tích được tiến hành dựa trên hành ảnh,

dữ liệu thô tương ứng với từng probe

 Phân tích gián tiếp

Phân tích gián tiếp dựa trên việc phân tích di truyền sự đột biến dựa vào sự

đa hình thái của các alen Đa hình là những thay đổi dựa trên trình tự nucleotid của gen dẫn đến tính đa dạng tạo ra sự khác biệt giữa người này và người khác nhưng không ảnh hưởng tới chức năng của gen đó, đa hình phải nằm trên nhiễm

Trang 33

sắc thể X, di truyền cùng gen yếu tố VIII và mang thông tin Giá trị thông tin đa hình là tần suất xuất hiện, tỷ lệ dị hợp tử và tương tác liên kết với đa hình khác Giá trị này khác nhau giữa các chủng tộc người Người dị hợp tử về đa hình nào

là người có hai alen khác nhau về đa hình đó trên hai nhiễm sắc thể X của mình

và được gọi là có thông tin Tỷ lệ dị hợp tử đa hình càng cao thì khả năng chẩn đoán càng tốt Tỉ lệ dị hợp tử của các marker đa hình này rất thay đổi ở các tộc người khác nhau Bên cạnh đó, có một số đa hình liên kết tương quan với nhau Nói cách khác là có một alen của đa hình này liên kết với một alen của đa hình khác vì vậy khi phối hợp 2 đa hình này với nhau sẽ ít làm tăng tỉ lệ có thông tin Chính vì vậy, để đảm bảo hiệu quả cho việc chẩn đoán, việc chọn lựa sử dụng

đa hình nào cần căn cứ vào tỉ lệ dị hợp tử cũng như sự liên kết tương quan giữa các đa hình của quần thể người đó

1.4 PHƯƠNG PHÁP THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM (IVF) VÀ QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN TRƯỚC LÀM TỔ (PGD)

1.4.1 Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)

Sự thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm được đánh dấu bằng sự ra đời của đứa trẻ đầu tiên theo phương pháp này vào năm 1978 [43] Tính trung bình ở các nước như Thụy Điển, Úc và Hoa Kỳ thì cứ khoảng 50-80 trẻ thì có một trẻ được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm Hàng năm có khoảng hơn 120 nghìn cặp vợ chồng ở Hoa Kỳ thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm [44] Trong tương lai, số trẻ ra đời bằng phương pháp này sẽ còn tăng cao bởi sự gia tăng độ tuổi trung bình khi kết hôn, độ tuổi trung bình khi mang thai lần đầu và sự gia tăng về tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trên thế giới [45]

Quy trình thường quy của IVF được thực hiện theo trình tự bắt đầu từ

việc kích thích các nang noãn bằng FSH (Hình 1.13) Các bệnh nhân được

chọc hút trứng sau khi tiêm HCG từ 34-36 giờ [46] Tinh trùng của bệnh nhân

Trang 34

được lấy vào lọ vô trùng, không độc trong ngày chọc hút trứng Mẫu tinh trùng được ly giải và xử lý theo quy trình chuẩn rồi đánh giá mật độ tinh trùng

và độ di động theo tiêu chuẩn của WHO-2010 Trứng được thụ tinh in vitro

bằng cách nuôi cấy với tinh trùng hoặc tiêm trực tiếp tinh trùng vào bào tương của trứng (Intracytoplasmic sperm injection, ICSI) và nuôi cấy trong vòng 2-5 ngày [47] Đánh giá chất lượng phôi vào ngày thứ 2, thứ 3 và thứ 5 dựa vào

số lượng, độ đồng đều của phôi bào, độ chiết quang, độ liên kết phôi bào, phần trăm mảnh vỡ và tốc độ phân chia của phôi bào Các phôi làm PGD còn được đánh giá thêm số phôi bào thoái hóa và số phôi phân chia tiếp sau PGD [48] Phôi được chuyển vào tử cung bằng catheter chuyển phôi dưới siêu âm đường bụng, kỹ thuật chuyển phôi đạt tiêu chuẩn khi chuyển phôi dễ, catheter sau chuyển phôi sạch, không nhầy máu, không sót phôi, không kẹp cổ tử cung

và không nong cổ tử cung

Tỷ lệ trẻ sinh sống sau khi chuyển phôi ở các bà mẹ có độ tuổi 34 hoặc trẻ hơn dao động trong khoảng 30-49% Sau đó, khi độ tuổi của các bà mẹ tăng thêm một tuổi thì tỷ lệ này giảm đi tương ứng từ 2-6% và đối với phụ nữ

có độ tuổi 43 trở lên thì tỷ lệ trẻ sinh sống sau chuyển phôi chỉ còn khoảng 5% Như vậy, tỷ lệ thành công của phương pháp IVF liên quan chặt chẽ đến

độ tuổi của người mẹ, đến chất lượng trứng và nguyên nhân có thể do các bất thường nhiễm sắc thể gia tăng đối với các bà mẹ lớn tuổi

Khi thực hiện IVF, thông thường các bác sỹ cùng lúc cấy chuyển nhiều phôi vào tử cung để gia tăng tỷ lệ mang thai Điều này làm tăng tỷ lệ mang thai đôi và thai ba Bên cạnh đó việc mang thai đôi, thai ba cũng làm gia tăng

tỷ lệ sinh non và trẻ sinh ra bị thiếu cân [49-50] Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm đ mang lại hạnh phúc khi được làm cha mẹ cho rất nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn Đây thực sự là những thành tựu y học mà các bác sỹ và nhân viên y tế đ mang đến cho nhiều gia đình và cho xã hội

Trang 35

Hình 1.12 Quy trình thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

A, B: Kích thích nang noãn chín và theo dõi bằng siêu âm C: Chọc hút trứng dưới sự hướng dẫn c a siêu âm D-F: Thụ tinh in vitro bằng cách tiêm trực tiếp tinh

tr ng v o b o tư ng c a trứng G-I: Phôi tiếp tục đư c nuôi cấy v đánh giá chất

lư ng c a phôi và chuyển vào t cung (I)

1.4.2 Quy trình chẩn đoán gen trước làm tổ (PGD)

Kỹ thuật PGD (Preimplantation genetic Diagnosis) hay PGT (Preimplantation genetic testing) hiện nay là một kỹ thuật hoàn chỉnh, cho phép các cặp vợ chồng có nguy cơ truyền các bệnh lý di truyền cho con có thể có cơ hội sinh con không mắc bệnh mà không phải chẩn đoán tiền sản sau khi mang thai và

bỏ thai khi phát hiện bệnh lý ở thai [51] Kỹ thuật PGT-M: chẩn đoán các bệnh đơn gen, giúp các cặp vợ chồng xác định thai không bị bệnh về gen do

di truyền từ cha mẹ mang gen đột biến (bệnh thiếu máu tán huyết Thalassemia, bệnh máu khó đông Hemophilia ) Kỹ thuật này dựa trên việc

phát hiện các bất thường di truyền ở phôi (in-vitro) và chỉ cấy trở lại vào lòng

tử cung các phôi không có các bất thường về di truyền [52-54]

1.4.2.1 Lịch sử phát triển của kỹ thuật chẩn đoán trước làm tổ

PGD được báo cáo lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1990 [3],[55] Chỉ định chẩn đoán PGD áp dụng cho các trường hợp bệnh lý vùng Địa trung hải như Cystic Fibrosis (CF) và các bệnh lý di truyền liên kết với nhiễm sắc thể X

Trang 36

(X-linked disorders) [3] Trong báo cáo đăng trên tạp chí Nature, Handyside và cộng sự đ báo cáo trường hợp có thai từ các phôi đ được sinh thiết và chẩn đoán di truyền bằng cách khuếch đại các đoạn DNA đặc trưng trên nhiễm sắc thể Y thông qua kỹ thuật PCR Handyside và Cs đ thực hiện cho 5 cặp vợ chồng có bệnh lý liên quan đến nhiễm sắc thể X, phôi gái được chọn và cấy vào tử cung, kết quả là có 2 trường hợp thai đôi và 1 thai đơn khỏe mạnh Tuy nhiên, trong 3 năm đầu phát triển, chỉ có 1 số trường hợp sinh sống từ phôi PGD được báo cáo [55-56] Vào năm 1993-1994, kỹ thuật FISH (Fluorescent

in situ hybridization) bắt đầu được áp dụng trong PGD để chẩn đoán các bất

thường nhiễm sắc thể FISH được sử dụng để phân tích các rối loạn nhiễm sắc

thể, chủ yếu các lệch bội thể (aneuploids) và cho phép chẩn đoán chính xác hơn

và giảm tỷ lệ sai sót so với phương pháp PCR [57] PGD đ phát triển nhanh chóng và số trường hợp sinh sống từ phôi PGD trên thế giới bắt đầu tăng mạnh Chỉ trong vòng 2 năm sau đó, hơn 100 trường hợp sinh sống từ phôi PGD đ được báo cáo trên thế giới Vào năm 1996, PGD tiếp tục một bước phát triển mới khi người ta bắt đầu xác định được chuyển đoạn nhiễm sắc thể và ứng dụng vào PGD Kỹ thuật chẩn đoán di truyền này giúp xác định các phôi không

có bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể trước khi cấy vào tử cung [58] Từ năm

1999, PGD lại được mở rộng chỉ định để chẩn đoán phôi có mang các gen liên quan đến các bệnh lý sau này ở đứa trẻ Đây là một chỉ định mới so với các chỉ định trước đây của chẩn đoán tiền sản Chỉ định này cho phép bố mẹ có mang gen tiềm ẩn một bệnh lý được dự báo trước có thể sinh ra một trẻ hoàn toàn không mang gen bệnh Điều này mang đến khả năng ứng dụng rất lớn của PGD khi các nhà khoa học ngày càng phát hiện nhiều bệnh lý ở người có liên quan đến di truyền [59] Cho đến nay PGD được sử dụng như một phương tiện chẩn đoán lâm sàng trong điều trị và áp dụng một cách rộng r i hơn Hàng năm số trường hợp PGD tăng gần gấp đôi, hàng chục ngàn trẻ ra đời từ các trung tâm IVF trên thế giới sau chẩn đoán PGD và không có ảnh hường xấu nào

Trang 37

1.4.2.2 Quy trình kỹ thuật chẩn đoán trước làm tổ

Quy trình PGD được thực hiện bằng cách lấy tế bào từ mỗi phôi trong IVF để phân tích [60] Tế bào được lấy ngày thứ 3, ngày thứ 5 sau thụ tinh trong giai đoạn phát triển phôi [61],[62] Phôi ngày thứ 3 có hiện tượng lệch bội nhiễm sắc thể và tỷ lệ thể khảm khá cao [63], đến giai đoạn phôi nang thì tỷ

lệ này giảm và phôi ngày thứ 3 có khả năng tự sửa chữa được [64] Hiện tượng này là do ngày thứ 3 hệ thống gen của phôi chưa hoàn toàn biệt hóa [65] Mặt khác ở những phôi có khả năng tự sửa chữa này thì các phôi bào có số lượng NST bình thường có khả năng phân chia tốt hơn có xu hướng di chuyển biệt hóa thành mầm phôi, các phôi bào bất thường sẽ ngừng phát triển [66] Mặc dù các nghiên cứu cho thấy sinh thiết phôi nang chẩn đoán chính xác cao hơn, vì sinh thiết được nhiều phôi bào hơn, thể khảm ít hơn, nhưng sinh thiết phôi ngày

3 vẫn được áp dụng ở nhiều trung tâm trên thế giới Bên cạnh đó, sinh thiết phôi nang cũng gặp khó khăn như nguy cơ phôi thoái hóa sau sinh thiết cao hơn, phôi nang không còn tính phát triển toàn năng như phôi ngày 3 Hơn nữa, phôi nang sau sinh thiết xong thường phải đem đông lạnh chờ đến chu kỳ sau mới tiến hành chuyển phôi, như vậy nguy cơ thoái hóa phôi sau đông phôi sẽ tăng lên Trong khi đó, sinh thiết phôi ngày 3 khả năng sống sót cao hơn, cải thiện khả năng làm tổ cũng như tỷ lệ có thai Hạn chế chính của sinh thiết phôi ngày 3 là tỷ lệ khảm của phôi cao dẫn đến bỏ sót chẩn đoán Việc sử dụng hai phôi bào cho sàng lọc, chẩn đoán sẽ cho kết quả chính xác hơn Số liệu cho thấy tỷ lệ phôi phát triển đến giai đoạn phôi nang tương đương giữa 2 nhóm phôi sinh thiết một phôi bào hay sinh thiết hai phôi bào

Dùng kim sinh thiết lấy phôi bào nguyên vẹn và bảo quản trong điều kiện thích hợp để thực hiện các bước tiếp theo của chẩn đoán trước làm tổ

[67] Dựa vào kết quả chẩn đoán trước làm tổ và khả năng phân chia tiếp của

phôi để chọn các phôi có nhiễm sắc thể bình thường, không mang bệnh lý di

Trang 38

truyền cho việc chuyển phôi Việc chuyển phôi vào buồng tử cung được tiến hành vào ngày thứ 5 ở giai đoạn phôi nang Sau đó bệnh nhân được thực hiện các test để đánh giá khả năng mang thai và các xét nghiệm chuẩn đoán theo dõi sự hình thành và phát triển của thai nhi trong buồng tử cung [68]

Hình 1.13 Sinh thiết phôi bào giai đoạn blastomere cho chẩn đoán PGD [69]

PGD có nhiều ưu điểm so với chẩn đoán tiền sản thông thường Thứ nhất, có thể tránh được việc phải chấm dứt thai kỳ, bỏ thai Thứ hai, đây là một kỹ thuật thích hợp với các cặp vợ chồng bị chuyển đoạn nhiễm sắc thể, giúp loại trừ các khả năng chuyển đoạn không cân xứng (unbalanced translocations) xuất hiện ở thai nhi, thường dẫn đến sảy thai liên tiếp Thứ ba, thích hợp cho các cặp vợ chồng có nguy cơ sinh ra trẻ bị các bệnh lý thường gặp có nguyên nhân di truyền gen lặn hay trội, đặc biệt là các bệnh di truyền liên kết với NST giới tính Thứ 4, các cặp vợ chồng không chỉ có nhu cầu sinh con không bị bệnh mà còn có thể lựa chọn hệ HLA phù hợp để sử dụng máu cuống rốn để điều trị cho anh hoặc chị lớn đ có bệnh lý di truyền

1.4.2.3 Chỉ định của chẩn đoán trước làm tổ

Ngày nay PGD được áp dụng để chẩn đoán cho khoảng 170 bệnh lý khác nhau Càng ngày các nhà khoa học càng xác định được nhiều gen liên quan đến các bệnh lý và xác định các dạng đột biến gây bệnh của các gen này Điều này cho phép PGD chẩn đoán xác định các phôi không có các gen bệnh để chọn lọc

và cấy các phôi này vào tử cung [70] Các đối tượng khi thực hiện thụ tinh

Trang 39

trong ống nghiệm được khuyến khích sử dụng quy trình này bao gồm: i) Các

cặp v chồng mang gen gây bệnh di truyền trên nhiễm s c thể thường hoặc liên kết với nhiễm s c thể giới tính ii) Những người có sự bất thường về cấu trúc nhiễm s c thể như mất đo n đảo đo n, lặp đo n và chuyển đo n iii) Phụ nữ lớn tuổi, phụ nữ tiếp xúc với hóa chất, phóng x … để tránh những bất thường

về nhiễm s c thể có thể xảy ra và di truyền cho con c a họ iv) Phụ nữ có tiền

s xảy thai thai lưu nhiều lần v) Các cặp v chồng đ đư c thực hiện phư ng pháp I trước đ nhưng h ng th nh c ng m h ng rõ nguyên nh n Ngoài

ra, PGD hiện nay không chỉ giới hạn ở việc loại trừ các bệnh lý di truyền thể hiện ngay lúc sinh mà còn được mở rộng để loại trừ các bệnh lý di truyền khởi phát muộn do các yếu tố di truyền tiềm ẩn Những gen này tuy không chắc chắn gây bệnh nhưng người có gen này có thể có nguy cơ cao bị một số bệnh lý nhất định, ví dụ như tầm soát gen gây ung thư vú BRCA1 [71] Gần đây PGD còn được áp dụng trong các chỉ định không liên quan đến bệnh, như chọn lọc các phôi có hệ HLA phù hợp với trẻ bị bệnh đ sinh trước đó Kỹ thuật này được áp dụng để tìm phôi khỏe mạnh, đồng thời có HLA tương thích với trẻ bị bệnh cùng bố mẹ Điều này cho phép sử dụng liệu pháp tế bào gốc để điều trị bệnh cho các trẻ bệnh với nguồn tế bào gốc có hệ HLA tương thích

Có thể thấy rằng, phương pháp chẩn đoán trước làm tổ giúp cho các cặp vợ chồng mang bệnh lý di truyền có khả năng sinh ra được những đứa con hoàn toàn khỏe mạnh, tuy nhiên đây là một kỹ thuật tốn kém và không thể sàng lọc hoàn toàn các đột biến gen và bất thường NST ở phôi Để chẩn đoán, bệnh nhân phải thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) để có phôi bào cung cấp cho chẩn đoán mặc dù họ không phải là bệnh nhân vô sinh Hơn nữa tỷ lệ có thai lâm sàng sau IVF ở Việt Nam chỉ khoảng 30% Việc chẩn đoán xác định đột biến gen và các bất thường NST chỉ từ một tế bào được sinh thiết rõ ràng sẽ có những hạn chế nhất định, thể hiện bởi tỷ lệ thành công,

Trang 40

mức độ rõ ràng và chính xác của kết quả chẩn đoán Chính vì vậy trong những năm gần đây, nhiều kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại như FISH, microsatellite DNA, microarray… đ được ứng dụng vào quy trình chẩn đoán trước làm tổ để nâng cao tính chính xác và hiệu quả của chẩn đoán Cần phải nhấn mạnh rằng, việc xác định chính xác đột biến trên bệnh nhân và người mang gen bằng các kỹ thuật sinh học phân tử là rất cần thiết để định hướng và khu trú các tổn thương trước khi thực hiện chẩn đoán trước làm tổ Do vậy phương pháp này chỉ định chẩn đoán có chọn lọc cho nhóm nguy cơ cao như

đ trình bày ở trên

1.4.3 Các phương pháp và kỹ thuật sinh học phân tử mới nhất áp dụng trong việc chẩn đoán trước làm tổ

Với sự phát triển nhanh chóng của các kỹ thuật phân tích, chẩn đoán

gen như: PCR, Multiplex-PCR, Fluorescent in-situ Hybridization (FISH),

Microsatellite DNA … và ứng dụng vào quy trình PGD đ giúp cho việc chẩn đoán và sàng lọc được thực hiện nhanh hơn và cho kết quả chính xác hơn

1.4.3.1 PCR và Multiplex-PCR

PCR và Multiplex-PCR là kỹ thuật nhân đoạn DNA thực nghiệm sử dụng một cặp mồi hay cùng lúc nhiều cặp mồi khác nhau Sản phẩm của phản ứng khuếch đại sau đó được kiểm tra bằng cách điện di trên agarose gel để xác định sự có mặt hay vắng mặt của đoạn DNA cần phân tích [72] PCR là kỹ thuật đầu tiên được áp dụng vào PGD bởi Handyside và cộng sự vào năm 1990 khi xác định các đoạn trình tự lặp lại trên nhiễm sắc thể Y để xác định giới tính của phôi trong chẩn đoán các bệnh di truyền liên kết với NST giới tính và chuyển các phôi không mắc bệnh vào tử cung Cho đến nay, kỹ thuật PCR đ được áp dụng rộng rãi trong PGD với độ chính xác ngày càng cao để xác định nhiều bệnh di truyền khác nhau [69] Hơn nữa, với việc phát triển kỹ thuật multiplex-PCR trong PGD các nhà di truyền học có thể xác định cùng lúc

Ngày đăng: 20/09/2019, 07:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Kamini Rao (2010). Nobel Prize for scientist Professor Robert G Edwards. J Hum Reprod Sci, 3 (3), 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Hum Reprod Sci
Tác giả: Kamini Rao
Năm: 2010
3. Wang J, Sauer MV (2006). In vitro fertilization (IVF): a review of 3 decades of clinical innovation and technological advancement.Therapeutics and Clinical Risk Management, 2 (4), 355-364 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Therapeutics and Clinical Risk Management
Tác giả: Wang J, Sauer MV
Năm: 2006
4. Munne.S (2006). Chromosome abnormalities and their relationship to morphology and development of human embryos. Reproductive BioMedicine Online, 12. (2), 234-253 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive BioMedicine Online
Tác giả: Munne.S
Năm: 2006
5. Munne.S. &amp; Cohen, J (1998). Chromosome abnormalities in human embryos. Hum. Reprod, 4, 842-855 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hum. Reprod
Tác giả: Munne.S. &amp; Cohen, J
Năm: 1998
6. C Rubio, C Simon, F Vidal et al (2003). Chromosomal abnormalities and embryo development in recurrent miscarriage couples. Hum Reprod, 18, 182–188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hum Reprod
Tác giả: C Rubio, C Simon, F Vidal et al
Năm: 2003
7. Munne S (2006). Chromosome abnormalities and their relationship to morphology and development of human embryos. Reprod Biomed Online, 12, 234–253 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reprod Biomed Online
Tác giả: Munne S
Năm: 2006
8. Mersereau JE, Pergament E, Zhang X, Milad MP (2008). Preimplantation genetic screening to improve in vitro fertilization pregnancy rates: a prospective randomized controlled trial. Fertil Steril, 90, 1287–1288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fertil Steril
Tác giả: Mersereau JE, Pergament E, Zhang X, Milad MP
Năm: 2008
9. Munne S, Fischer J, Warner A, et al. (2006). Preimplantation genetic diagnosis significantly reduces pregnancy loss in infertile couples: a multicenter study. Fertil Steril, 85, 326–332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fertil Steril
Tác giả: Munne S, Fischer J, Warner A, et al
Năm: 2006
10. Lau E.C, Janson M.M, Ball C.B et al (2012). Preimplantation Genetic Testing: Current Status and Future Prospects. In Vitro Fertilization, 137-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In Vitro Fertilization
Tác giả: Lau E.C, Janson M.M, Ball C.B et al
Năm: 2012
11. Moutou C, Gardes N, Viville S (2003). Duplex PCR for preimplantation genetic diagnosis (PGD) of spinal muscular atrophy.Prenat Diagn, 23, 685–689 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prenat Diagn
Tác giả: Moutou C, Gardes N, Viville S
Năm: 2003
14. Laurie AD, Hill AM, Harraway, et al (2010). Preimplantation genetic diagnosis for hemophilia A using indirect linkage analysis and direct genotyping approaches. Journal of Thrombosis and Haemostasis, 8 , 783–789 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Thrombosis and Haemostasis
Tác giả: Laurie AD, Hill AM, Harraway, et al
Năm: 2010
15. Harton G, Tsipouras P, Sisson M, et al (1996). Preimplantation genetic testing for Marfan syndrome. Mol Hum Reprod, 2, 713–715 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mol Hum Reprod
Tác giả: Harton G, Tsipouras P, Sisson M, et al
Năm: 1996
16. Oldenburg, J., Ananyeva, N. M. &amp; Saenko, E. L (2004). “Molecular basis of haemophilia A”. Haemophilia, 10, 133–139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molecular basis of haemophilia A”. "Haemophilia
Tác giả: Oldenburg, J., Ananyeva, N. M. &amp; Saenko, E. L
Năm: 2004
17. Graw J, Brackmann H H, Oldenburg J, et al (2005). Haemophillia A: from mutation anylisis to new therapies. nature, 6, 488 -501 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nature
Tác giả: Graw J, Brackmann H H, Oldenburg J, et al
Năm: 2005
18. Peake I.R, Lillicrap D.P, Boulyjenkov V,et al (1993). Hemophilia: strategies for carrier detection and prenatal diagnosis. Bulletin of the World Health Organization, 71, 429-458 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bulletin of the World Health Organization
Tác giả: Peake I.R, Lillicrap D.P, Boulyjenkov V,et al
Năm: 1993
19. Goodeve AC, Peake I (2003). “The molecular basis of hemophilia A: genotype-phenotype relationships and inhibitor development. Semin Thromb Hemost, 29 (1), 23-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The molecular basis of hemophilia A: genotype-phenotype relationships and inhibitor development. "Semin Thromb Hemost
Tác giả: Goodeve AC, Peake I
Năm: 2003
20. Dương Hải. (2014). 6.000 người Việt mắc bệnh “hoàng gia”. http://suckhoedoisong.vn&gt;, xem 15/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hoàng gia”
Tác giả: Dương Hải
Năm: 2014
21. Phạm Quang Vinh .(2006). Bệnh học Hemophilia A, Bài giảng huyết học-truyền máu, Bài giảng Huyết học- truyền máu (Sau đ i học), NXB Y học, 270-279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Huyết học- truyền máu (Sau đ i học)
Tác giả: Phạm Quang Vinh
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2006
22. Salviato R, Belvini D, Radossi P, et al (2007). F8 gene mutation profile and ITT response in a cohort of Italian haemophilia A patients with inhibitors. Haemophilia, 13, 361 -372 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Haemophilia
Tác giả: Salviato R, Belvini D, Radossi P, et al
Năm: 2007
25. Nguồn https://lilyapp.me/health/article. 60-benh-nhan-mau-kho-dong- chua-duoc-dieu-trị Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w