Để hiểu rõ về tư tưởng giáo dục của các nhà giáo dục tiêu biểu trên thế giới, họ có quan điểm như thế nào và cách thứ thực hiện ra sao?Bạn hãy đến với bài viết của tôi để có thể hiểu rõ thêm về vấn đề này.Vì sao thời đại của Khổng Tử lại ưa chuộng Nho gia? Chọn cách trị quốc, học tập theo Nho giáo. Chỉ có đàn ông được đi học và phụ nữ thì lại bị hạn chế?Con đường nào dẫn các nhà giáo dục tiêu biểu đến với giáo dục? Xin mời các bạn hãy đón đọc
Trang 1tự Trọng Ni, sinh ra trong một gia đình
võ quan nghèo ở ấp Trâu, thôn XươngBình, nước Lỗ thời Xuân Thu (nay làhuyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông,Trung Hoa) Thời Xuân Thu – thờiTrung Hoa cổ đại phân chia ra nhiềunước chư hầu thường xuyên khuynhloát, thôn tính lẫn nhau
Năm lên ba, Khâu mồ côi cha Lúc đó
mẹ ông mới 20 tuổi, không sợ khókhăn vất vả đưa Khổng Tử đến sống ởKhúc Phụ, thủ phủ nước Lỗ Từ nhỏ Khổng Tử đã nổi tiếng thông minh, hiếu học.Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng,xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác Nhờ vậy ông được thăng chức lên làmquan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình Năm 21 tuổi, Khổng Tửđược cử làm chức Ủy Lại, trông coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự
và bắt đầu dạy học từ đó Năm 51 tuổi ông được làm quan Tu khấu thực hiện phápluật của nước Lỗ Làm việc chính quyền trong một thời kì ngắn ông đã thi hànhluật pháp rất nghiêm minh đem lại đời sống yên lành, thịnh trị cho nhân dân nước
Lỗ Nhưng vì vua nước Lỗ ham mê tửu sắc, không nghe lời can gián của ông nênông đã bỏ đi du thuyết ở nhiều nước như: Vệ, Tần, Tấn, Sái, Trâu, Khổng Tử làngười đầu tiên mở ra phong trào đi du thuyết khắp các nước để tìm ra một minhchủ áp dụng học thuyết của ông đem lại thái bình, thịnh trị cho thiên hạ Nhưngvua chúa các nước chư hầu còn chuyên tâm lo chinh phục lẫn nhau, ý tưởng chínhtrị của ông không được thực hiện
Sau 14 năm chu du khắp thiên hạ, cuối cùng Khổng Tử trở về nước Lỗ mở trườngdạy học Trường tư của Khổng Tử có quy mô khá lớn, có phòng giảng bài gọi làđường (giảng đường), có chỗ ở gọi là nội (nội trú) Học trò chủ yếu là con em giai
Khổng Tử ( 551 – 479 TCN)
Trang 2cấp quý tộc trong nước và một số nước láng giềng, trong có đó cả con em nhànghèo Trong sự nghiệp giáo dục của mình, Khổng Tử đã đào tạo được hơn 3000học trò, trong đó có 72 người uyên thâm, xuất chúng (thất thập nhị hiền) như Tử
Lộ giỏi về chính trị, Tử Hạ giỏi về học thuật, Tử Cống có tài mở mang kinh tế,Nhan Uyên nổi tiếng về đạo đức
Cùng với việc dạy học để truyền đạo Nho, Khổng Tử còn thu thập, biên soạn cáctài liệu cổ tập hợp thành Ngũ Kinh: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, KinhNhạc và Kinh Xuân Thu
+ Kinh Thi (thơ): ca dao, phong dao của nhân dân Trung Hoa cổ đại đượcKhổng Tử lựa chọn, sưu tầm biên soạn
+ Kinh Thư (ghi chép): luật lệ, những điều răn dạy của vua tôi của các triềuđại từ Nghiêu, Thuấn đến Tây Chu (2357 – 771 TCN) do Khổng Tử sưu tập
+ Kinh Dịch (thay đổi): bố sách có ý nghĩa triết học về quy luật dịch chuyển,đổi thay của vạn vật, về tướng số do Khổng Tử giảng dạy, biện luận
+ Kinh Lễ (lễ nghi): bộ sách về lễ nghi, phong tục trong gia đình, làng xã,triều đình do Khổng Tử biên soạn
+ Kinh Xuân Thu: bộ sách sử nước Lỗ và các nước chư hầu từ năm 722 TCN
Trang 3+ Mạnh Tử (372 – 289 TCN), ông rất thông suốt Khổng học, tiếp nối và pháttriển các quan điểm của Khổng Tử trong tác phẩm của mình.
Khổng Tử mất năm 73 tuổi, năm tứ 16 đời Lỗ Ai Công (479 TCN), thi hài ôngđược chôn cất ở phía Bắc kinh thành nucows Lỗ Khi ông mất, có đến hàng trămhọc trò đến làm nahf ở gần mộ ông đến mãn tang, riêng Tử Cống ở đến 6 năm mới
ra đi Hiện nay, mộ của ông ở huyện Khúc Phúc (tỉnh Sơn Đông), quanh nămhương khói, cây cối xanh tươi rậm rạp như rừng, gọi là Khổng Lâm
2 Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử:
Nho học là dòng văn hóa Trung Hoa cổ đại, nó đã góp phần làm nên tính cách conngười, tâm lý dân tộc Trung Hoa và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển văn hóaphương Đông Nho học coi giáo dục loài người là đề cao vai trò của văn hóa giáodục, coi giáo dục học vấn là con đường quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển vàlàm nên bản sắc con người
Trong suốt cuộc đời làm thầy của mình, bên cạnh dạy chữ, bao giờ Khổng Tử cũngchú trọng vào dạy người, ở đây đề cao thuyết đức trị Từ nội dung của học thuyết
mà Khổng Tử đã áp dụng vào giáo dục mang tính nhập thế và tích cực Ông đềxướng “thuyết tôn hiền” Những tư tưởng ấy của ông trong bối cảnh rối ren của xãhội đương thời rất khó thực hiện, song đó là những quan điểm có giá trị được thế
hệ sau kế thừa, phát triển và đến nay vẫn còn đáng trân trọng về nội dung, chủtrương, nội dung và cả phương pháp giáo dục
a Tư tưởng triết học
Về cơ bản là hỗn hợp giữa Chủ nghĩa duy tâm khách quan và Chủ nghĩa duy tâmchủ quan, nhìn nhận sự vật đều triết trung giữa hai mặt cái cũ và cái mới, bỏ những
gì thái quá, thay thế bằng một phương thức ôn hòa, nhằm mục đích điều hòa mâuthuẫn xã hội cuối thời Xuân Thu
Về tổng quan, tư tưởng triết học của Khổng Tử chia làm hai phần:
_ Hình nhi thượng học: Đây là một phần lý luận rất uyên thâm, cao viễn,được trình bày chủ yếu trong Kinh Dịch, là phần căn bản cho Lý học của Nho giáo,
có các nội dung quan niệm nói về trời, đất, con người hợp thành tam tài, thái cực,lưỡng nghi (âm dương) và sự biến hóa của thiên lí, thiên mệnh quỷ thần, sinh tử
Trang 4_ Hình nhi hạ học: Đây là các học thuyết về mối quan hệ nhân sinh, nhậtdụng của người đời như quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè, ; vềnhân, lễ, nghĩa, trí, tín
+ Về trời, mệnh trời
Khổng Tử tin là có trời Trời có sức mạnh siêu nhiên, có thể điều khiển sự biến hóatrong vũ trụ, trong thế gian cho hợp với lẽ điều hòa theo một ý chí nhất định gọi làThiên mệnh, Trời hay Thượng đế là một cái Lý vô hình, vô ảnh rất linh diệu, rấtcường kiện mà khi đã định ra sự biến động thì dẫu có thế nào thì cũng khôngcưỡng lại được Trời hay Thượng đế không phải hữu hình, có dáng, có tình cảm, tưdục như người trần tục Khổng Tử nhấn mạnh: Không biết mệnh trời thì khôngphải là người quân tử (Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử - Luận ngữ)
+ Về quỷ thần
Là lực lượng thứ hai cũng chi phối mạnh mẽ vào đời sống con người, hoạt động xãhội Quỷ thần là khí thiên của sống núi tụ họp thành Tuy mắt ta không thấy, tai takhông nghe nhưng nó có khắp nơi, vây quanh chúng ta Bởi vậy: Tế thần như cóthần ở đó (Tế thần như thần tại – Luận ngữ)
b Tư tưởng chính trị
Tư tưởng về một thế giới đại đồng: Khổng Tử hướng tới một xã hội lý tưởng, coithiên hạ như gia đình, mọi người coi nhau như anh em, cùng hưởng thụ quyền lợi
và trách nhiệm với nhau, hướng tới xã hội công bằng
Tư tưởng về đường lối trị nước: Khổng Tử chủ trương đức trị (trị nước bằng đạođức) Ông chủ trương chấm dứt loạn li, xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị, do
đó cách tốt nhất là phải dựa vào đạo đức để trị dân
+ Theo Khổng Tử, cai trị dân mà dùng mệnh lệnh, đưa dân vào khuôn phép
mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh được tội lỗi nhưng không biết liêm sỉ Caitrị dân mà dùng đạo đức, đưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm
sỉ và thực lòng quy phục
+ Phương châm và biện pháp thi hành đường lối đức trị: Khổng Tử yêu cầungười trị dân “Phải thận trọng trong công việc, phải giữ được chữ tín, tiết kiệmtrong chi dùng, thương người, sử dụng sức dân vào những việc hợp lý” - (Học nhi)
Trang 5+ Trong việc lựa chọn quan lại phải chú trọng người có tài có đức, nếu ngườinào không có tài đức giữ quyền cao chức trọng là ăn cắp địa vị.
Khổng Tử là người đầu tiên đề xuất tư tưởng quản lý, cai trị đất nước bằng conđường Đức trị, Lễ trị Ông đề cao phẩm chất và nhân cách của chủ thể người quản
lý cai trị theo một logic phát triển từ thấp đến cao, từ vi mô đến vĩ mô: “Chính tâm,
tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Người tham gia vào hoạt động quản lýtrước hết phải bồi dưỡng, rèn luyện các phẩm chất lấy dức nhân và đức tín làm gốctrong năm đức lớn (ngũ thường): Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín bởi nếu quản lý đượcgia đình tề chính, nền nếp thì tạo nên nền tảng uy tín thực hiện tốt trách nhiệmquản lý quốc gia, thiên hạ
+ Nội dung đức trị theo Khổng Tử là phải thực hiện ba điều: Thứ (làm chodân cư đông đúc), Phú (làm cho kinh tế phát triển), Giáo (dân được học hành)
c Mục tiêu giáo dục của Khổng Tử:
Là đào tạo, bồi dưỡng người “nhân”, “quân tử” để làm quan, điều hòa mâu thuẫngiai cấp, khôi phục lễ nghĩa trong xã hội đầy rối ren Xét về mặt chính trị cơ bản làbảo thủ, ít tiến bộ, nhưng về giáo dục thì mang tính tiến bộ và vượt thời gian TheoKhổng Tử học để làm người quân tử với chí khí của bậc đại trượng phu – hình mẫucủa con người trong xã hội phong kiến Người quân tử trước hết phải tu dưỡng đạođức thì mới có thể làm việc lớn: Tề gia – trị quốc – bình thiên hạ
Khổng Tử không chỉ quan tâm đến việc nuôi dân, dưỡng dân mà còn quan tâm đếnviệc giáo hóa dân Nuôi dân, dưỡng dân là chăm lo về đời sống vật chất, giáo dân
là lo cho dân về đời sống tinh thần Với quan điểm này, giáo dục góp phần làm nênbản chất xã hội của con người Với mục đích giáo dục này, Khổng Tử đã thể hiện
tư tưởng vượt thời đại, một xã hội muốn phát triển vững mạnh phải có con người
đủ đức, đủ tài Tuy nhiên, mục đích giáo dục của Khổng Tử là nhằm thực hiện mụcđích chính trị Nho giáo, thể hiện tư tưởng thân dân của nhà cầm quyền Bởi vìngười làm quan có giáo dục sẽ hiểu được chức phận của mình không làm điều hạidân, người dân có giáo dục sẽ hiểu được nghĩa vụ và quyền lợi của mình để thựchiện
d Chủ trương giáo dục của Khổng Tử
Là giáo dục bình dân, đó là một chủ trương tiến bộ trong bối cảnh lịch sử lúc bấygiờ
Trang 6Trong Luận ngữ, Khổng Tử chủ trương “Hữu giáo vô loại” nghĩa là mọi ngườitrong xã hội đều có quyền được học, được giáo dục, không phân biệt giai cấp, quýtiện, sang hèn Tư tưởng này được học trò ông là Mạnh Tử kế thừa và phát huyđường lối bình dân giáo dục trên phạm vị quảng đại, với các hình thức đa dạng.Khác với Khổng Tử, Mạnh Tử chủ trương hình thành một mạng lưới trường công
từ làng đến kinh đô, từ trường hương học đến trường quốc học, đó là trường, tự,học, hiệu để giáo hóa dân chúng Hệ thống trường học mở rộng theo quan niệm củaMạnh Tử là điều kiện, là biện pháp thiết thực để bình dân giáo dục
e Quan điểm giáo dục của Khổng Tử
• Vai trò của giáo dục:
Giáo dục có ý nghĩa phổ biến, giáo dục làm cho con người mở mang tri thức, hìnhthành nhân cách đầy đủ ba mặt: nhân, trí, dũng Ông đánh giá cao vai trò của giáodục Giáo dục là con đường duy nhất, cần thiết đối với mọi người, giúp họ hiểuđược đạo lý sống trong trời đất – tức là cách cưu xử với tự nhiên, xã hội và conngười Ông cho rằng con người là bẩm thụ thiêng liêng của trời đất nhưng khôngđược học tập thì không biết đạo lý làm người, cũng như viên ngọc vốn là sản phẩmquý hiếm nhưng không được mài dũa thì không thể trở thành đồ dùng có giá trị
“Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý – Lễ ký”
Theo Khổng Tử, việc giáo dục còn là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của quốcgia, góp phần văn minh, cường thịnh của dân tộc, những người nắm quyền chínhtrị, quản lý phải quan tâm
• Đối tượng và mục đích giáo dục:
+ Đối tượng: Giáo dục cần cho mọi người (Hữu giáo vô loại – Luận ngữ).+ Mục đích:
Giáo dục có nhiệm vụ đào tạo nên con người, đó là những người nhânnghĩa, trung chính, hiểu được cái đạo của người quân tử Ông cho rằng mục đíchgiáo dục là trở thành người quân tử
Theo ông, người quân tử là người cao thượng nhất
Trang 7Người quân tử là phải tuân theo mệnh trời, phải nói theo sách thánhhiền, phải noi gương những bậc đại nhân trong xã hội – nghĩa là người quân tửphải nói, làm và hành động theo lễ giáo của đạo Nho.
Đó là mục đích giáo dục mà nhà trường và xã hội phong kiến TrungHoa phải tạo nên Người quân tử phải là mẫu người vươn tới để bảo vệ trật tự xãhội yên ổn, không rối ren, để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
• Nội dung giáo dục:
Người quân tử được giáo dục theo đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín nhưng chủ yếu tậptrung vào đức nhân và lễ của đạo Nho Đây chính là thế giới quan của Khổng Tử
• Phương pháp giáo dục:
Khổng Tử là người đầu tiên mở ra trường tư sớm nhất trong lịch sử phát triển giáodục Trung Hoa Các phương pháp giáo dục của Khổng Tử có thể đúc kết là:
+ Phương pháp thân giáo:
+ Phương pháp giáo dục phù hợp với đối tượng+ Phương pháp giáo dục coi trọng thực hành, vận dụng+ Phương pháp luyện tập, ôn tập
+ Phương pháp phát huy tích cực, chủ động trong học tập+ Sự thống nhất giữa học và suy nghĩ
Nhận xét về tư tưởng giáo dục của Khổng Tử:
Khổng Tử là một học giả lớn, một nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn của Trung Quốc.Học thuyết của ông đã có ảnh hưởng không chỉ trong suốt chiều dài lịch sử TrungQuốc mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều quốc gia phương Đông khác như HànQuốc, Nhật Bản, Việt Nam Vì vậy, ngay từ thời Tây Hán, nhà sử học Tư Mã Thiên
đã đánh giá: “Trong thiên hạ, các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều nhưng lúcchết là hết Khổng Tử là một ngừi áo vải thế mà các học giả đều tôn làm thầy, từthiên tử tới vương hầu ở Trung Quốc hễ nói tới lục nghệ đều lấy Khổng Tử làmtiêu chuẩn Có thể nói là bậc chí thánh vậy.” (Sử ký Khổng gia thế gia)
Trang 8Xét về phương diện lịch sử giáo dục, Khổng Tử căn bản là một nhà đại giáo dục,suốt đời học tập, ôn cũ biết mới, suốt đời dạy người không biết mệt mỏi.
Tuy vậy, quan điểm giáo dục của Khổng Tử vẫn còn những hạn chế do lập trườnggiai cấp và thời đại quy định Đó là, ông coi giáo dục chỉ dành cho người quân tử,phụ nữ và tiểu nhân bị loại ra khỏi giáo dục Ông cũng coi khinh giáo dục chân tay,loại người lao động sản xuất ra khỏi giáo dục Mục đích giáo dục chỉ nhằm phục
vụ cho lợi ích của tầng lớp trên của xã hội phong kiến
Tóm lại, Khổng Tử là một nhà địa giáo dục đã để lại trong kho tàng văn hóa nhânloại nói chúng, lý luận giáo dục nói riêng nhiều kiến giải tích cực Học thuyết củaông đã, đang được các học giả phương Đông và phương Tây quan tâm nghiên cứu.Song do hạn chế của điều kiện lịch sử nên một số kiến giải còn hạn chế, đó là kẽ
hở cho nhiều nhà Nho đời sau thêm bớt, khai thác mặt tiêu cực phục vụ quyền lợicủa giai cấp thống trị trong các xã hội có giai cấp đối kháng
Trang 92 Sôcrat
1 Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục
Sôcrat sinh năm 469 và mất năm 399 TCN và là một triết gia Hy Lạp cổ đại, ngườiđược mệnh danh là bậc thầy về truy vấn Ông sinh ra tại thành phố Athena, thuộc
Hy Lạp và đã sống vào một giai đoạn thường được gọi là hoàng kim của thành phốnày Thời trẻ, ông nghiên cứu các loại triết học thịnh hành lúc bấy giờ của các “triếthọc gia trước Sôcrat”, đó là nền triết học nỗ lực tìm hiểu vũ trụ thiên nhiên chúngquanh chúng ta
Sôcrat là nhà triết học duy tâm, quan điểm triết học của ông rất nổi tiếng ở thời cổđại Ông không lưu lại một tác phẩm nào nhưng ngày nay người ta biết được quanđiểm triết học của ông là nhờ vào những ghi chép của học trò ông như Platôn,Xênêphon và Arixtôphan
Sôcrat rất quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức và lý luận nhận thức Theo ông,mục đích của triết học là giảng về đạo đức, thông qua các tri thức triết học mà conngười nhận thức chân lý và hành động đúng Con người có thể nhận thức đượcchính mình Câu châm ngôn nổi tiếng mà ông để lại cho người đời sau là “Hãy tựbiết mình; Tôi biết là tôi không biết gì hết” Không biết gì của Sôcrat chính lànguồn gốc của cái biết, khi cái dốt, cái thiếu, cái chưa hoàn thiện của bản thanđược con người nhận thức sẽ kích thích ta phải vươn lên tìm tòi, học hỏi, tìm raphương cách để làm giàu hơn tri thức của bản thân, để lấp đi cái khoảng trống của
sự thiếu hiểu biết và sự kém cỏi, để trau dồi và hoàn thiện mình
Sôcrat (469 – 399 TCN)
Trang 10Từ quan điểm trên, ông đề xướng một phương pháp dạy học mới được gọi làphương pháp đỡ đẻ, hay phép đỡ đẻ.
Trong dạy học hoặc khi thuyết giảng các vấn đề triết học, ông luôn đặt ra nhữngcâu hỏi có tính gợi mở, dẫn dắt, hướng dẫn người học tranh luận và tự mình tìm rakết luận và câu trả lời đúng, tìm ra chân lý Phương pháp đỡ đẻ của Sôcrat đối lậphẳn với phương pháp dạy học thụ động, dạy học theo kiểu ăn sẵn, nhồi nhét trithức kiểu như rót nước vào bình mà hiện nay chúng ta đang hết sức phê phán Bởivậy, phương pháp đỡ đẻ của Sôcrat là một phương pháp dạy học tích cực vẫn cònnguyên giá trị cho đến hiện nay
2 Tư tưởng giáo dục của Sôcrat
a
Biện chứng pháp hay nghệ thuật tranh luận Socrat.
Để thực hiện lời nguyền với thần linh là tìm ra một người khôn ngoan hơn mình,Socrat thực hiện cuộc hành trình gặp gỡ đủ mọi loại người để chất vấn Việc chấtvấn đối với ông không nhằm mục đích giáo huấn, khoe khoang tri thức mà chủ yếu
là để khơi dậy nơi họ những tri thức tiềm ẩn Do vậy, ông xây dựng một phươngpháp đối thoại tích cực, hay phương pháp truy vấn, vặn hỏi, qua đó giúp mọi ngườitránh sự ngộ nhận (cho mình là người khôn ngoan nhất), vượt qua mọi sai lầm,định kiến cá nhân để xác định đúng bản chất của sự vật, rồi sau đó đi đến nhữngviệc làm đúng đắn hay điều thiện - một phương pháp đối thoại như vậy người đờisau gọi là biện chứng pháp Socrat, phương pháp đó được tiến hành bằng một thứvăn phong hài hước thông qua bốn bước cơ bản:
Bước thứ nhất mang tính “mỉa mai” (Ironie), trào lộng hay phản chứng Theo
Socrat, trong đối thoại (dialogues), trước hết, người đối thoại phải biết haycần phải tạo nên “tình huống có vấn đề”, tức là cần đặt lại đối với những vấn
đề tưởng chừng như đã rõ ràng từ trước.Tiếp đến là cần lập luận để dồn đốiphương vào thế tự mâu thuẫn với chính mình, từ đó bản thân người bị chấtvấn tự nhận ra sai lầm của mình và công nhận ý kiến của người chất vấn làđúng
Bước thứ hai cần thực hiện là chủ thể đối thoại phải biết “đỡ đẻ” cho đối
phương, nghĩa là giúp họ “đẻ” ra chân lý Thuật ngữ “đỡ đẻ” (majeutique) lấynguyên nghĩa đen của ngành y, tức hành động giúp cho người phụ nữ thainghén sinh nở được dễ dàng Socrat dùng thuật ngữ này với nghĩa bóng, theo
Trang 11đó trách nhiệm của người chất vấn là giúp người bị chất vấn tìm ra lối thoát
để đưa họ đến chân lý hay “đẻ” ra suy tư mà họ đã thai nghén trong lòngnhằm tạo lập tri thức mới
Bước thứ ba có tính “quy nạp” (induction), tức chủ thể đối thoại cần phải đi từ
việc phân tích các sự vật, hiện tượng đơn lẻ đến việc khái quát thành tri thức
chung và nắm bắt bản chất vấn đề tranh luận Tìm kiếm ý niệm công
bằng qua các hành vi gọi là công bằng, ý niệm đẹp qua các sự vật được gọi
là đẹp, ý niệm thiện qua những việc làm mà con người cho là tốt lành Theo Socrates, những cái riêng như bông hoa có thể héo tàn, nhưng cái đẹp mà
những bông hoa đó đại diện thì còn mãi với thời gian trong tâm thức loàingười
Bước thứ tư, khi đã có tri thức chung, chủ thể cần đi đến sự “định nghĩa”
(definition), tức kết luận vấn đề một cách xác thực, nắm bắt bản chất các sựvật như chúng vốn có trong thực tế, xác định đúng bản chất của đối tượngnghiên cứu, đến đây vấn đề có thể kết luận, cuộc tranh luận kết thúc Qua khảnăng định nghĩa, Socrates cho thấy, tri thức đích thực không phải là sự tra xétcác sự vật, hiện tượng đơn lẻ mà là sự khám phá cái chung ẩn dấu trongchúng, cái chung đó mang tính vĩnh hằng, nó vẫn tồn tại mặc dầu các sự vậthiện tượng đơn lẻ có thể mất đi, ví như cái đẹp vẫn còn sau khi bông hoa héo
Biện chứng pháp hay phương pháp truy vấn Socrat đúng như lời nhận định củaBryan Magee “đã làm cho ông trong chứng mực nào đó, trở thành người nổi tiếngnhất trong tất cả các triết gia, ông đã tiến hành truy hỏi không ngừng về những kháiniệm nền tảng của chúng ta” (7, tr.26) Biện chứng pháp đó đòi hỏi chúng ta muốnhành động đúng trước hết phải nhận thức đúng Mà muốn nhận thức đúng phải biếtthiết định nội hàm hay định nghĩa khái niệm Muốn có một định nghĩa khái niệmđúng thì không còn cách nào ngoài sự tranh luận.Và khi con người đã được trang
bị một hệ thống các khái niệm chuẩn xác, tức tri thức đúng về đối tượng thì chắcchắn nó sẽ có những việc làm thiện - đó là cơ sở để thiết lập một khoa học về hành
vi con người - Đạo đức học (Ethics)
b.
Nhân học hay triết lý về con người của Socrat.
Trang 12Trước Socrat, các triết gia Hy Lạp cổ đại chủ yếu quan tâm đến những vấn đề về
vũ trụ luận, giải thích sự hình thành và phát triển của thế giới dựa trên những kiếnthức khoa học tự nhiên như vật lý, toán học, sinh học, v.v Không đi theo lối mònbản thể luận triết học của các bậc tiền bối Với luận đề nổi tiếng: “Con người, hãy
tự nhận thức chính mình”
“Hãy tự biết mình, Tôi biết là tôi không biết gì hết”.
Socrat quyết định lựa chọn một con đường riêng, ông chú ý tới vấn đề con người,
mà trọng tâm trong bản tính con người là đạo đức Theo Socrat, triết học khôngphải là hiện tượng tư biện, chỉ luận bàn những vấn đề chung không liên quan gìđến cuộc sống thường nhật, trái lại, nó là phương tiện dạy con người cách sống haycần phải sống như thế nào Theo nghĩa đó, triết học trước hết phải là tri thức hay sựhiểu biết của con người về con người, tri thức ấy nhất thiết phải là tri thức về cáithiện Nếu đạo đức là hành vi đối nhân xử thế đẹp thì đạo đức đó không là gì khácngoài tri thức, do vậy, “tri thức là đức hạnh”
Các tư tưởng của ông:
- Hãy tự biết lấy chính mình (Connais-toi toi-même)
Theo ông, sự tự hiểu biết sẽ làm cho con người sống theo lẽ phải tức là sống đạo đức
- Con người không hề muốn hung ác tàn bạo
- Việc gọi là tốt khi nó nó ích (le bien réduit à l'utile)
- Ðạo đức là khoa học là lối sống (La vertu réduit çà la science)
- Hạnh phúc có được khi nó dung hòa với đạo đức
- Ðiều bị bắt buộc phải làm cũng là điều hữu ích.
Theo Socrat, tri thức và đức hạnh là những điều cần thiết cho những kẻ làm chínhtrị Người làm chính trị phải đặt trách nhiệm xã hội lên lên vị trí hàng đầu chứkhông trông cậy vào ô dù, nương nhờ quyền lực và thời vận “Nghĩ rằng, mình quá
Trang 13thật thà không thể làm nhà chính trị đầy nguy hiểm”, do vậy ông lựa chọn conđường thuyết pháp giống như Đức Phật Thích Ca và Đức Khổng tử ở phươngĐông, mong mỏi phần nào giáo hóa thiên hạ, giúp họ thoát khỏi bể khổ trầm luâncủa thế giới vật dục Theo Socrat, để có tri thức, con người cần phải có học, học ởtrường và học ngoài đời Hãy bắt đầu từ không biết, trải qua nhiều bước, tiến tới trithức và cái thiện phổ quát Mệnh đề: “Tôi biết rằng, tôi không biết gì cả” của ôngkhông phải là một mệnh đề mang tính tương đối hay hư vô chủ nghĩa mà nhằm chỉ
ra sự khởi đầu của một phương pháp tiếp cận chân lý Bởi vì, theo lẽ thường tình,mọi sự hiểu biết đều khởi đầu từ không biết, nhận thức là quá trình tiếp cận chân lýgiống như đường thẳng (thực tại khách quan) và đường tiệm cận (nhận thức)
Lối sống giản dị, khiêm tốn và cách đối nhân xử thế hợp tình hợp lý của Socrat làmột tấm gương lớn về đạo đức Suốt đời ông không lo việc kiếm tiền, mua sắm củacải, mà chỉ đi thuyết pháp về điều thiện, mong ước cảm hóa được mọi người, giúp
họ có một cuộc sống nhẹ nhàng thanh thản, không mưu toan, tính toán thiệt hơn điều này chúng ta có thể cảm nhận trong lời ông tự bạch: “Hỡi loài người, kẻ khônngoan nhất là kẻ, giống như Socrat, biết rằng sự khôn ngoan của mình thực sựchẳng có giá trị gì Và vì thế tôi đi khắp thế giới, vâng lời thần, và tìm kiếm và truytìm sự khôn ngoan của bất cứ ai, dù là đồng bào hay người nước ngoài, mà có vẻkhôn ngoan, và nếu người ấy không khôn ngoan, thì tôi dùng lời sấm để nói rằngngười ấy không khôn ngoan; và tôi lại thu hút vào công việc của mình, nên không
-có thời giờ quan tâm đến các vấn đề công cộng hay vấn đề riêng tư của mình, tôihoàn toàn nghèo khó vì phụng sự thượng đế”
Thước đo của đạo đức là thước đo hành vi giao tiếp giữa con người với sự thôngthái của thần linh Sự thông thái chính là sự hiểu biết, là tri thức Tri thức có tínhchất thần linh và chỉ có tri thức mới có khả năng nâng con người ngang tầm thầnthánh Đạo đức với những biểu hiện của nó như lương tri, lòng dũng cảm, sự ngoanđạo, công bằng đều là những sự biểu hiện khác nhau của tri thức, giúp con người lựa chọn điều lành, tránh điều dữ Cái ác phản ánh sự thiếu vắng tri thức, nó nảysinh là do sự dốt nát, thiếu hiểu biết, vì không một ai khi biết thế nào là tốt mà lại
cố tình làm điều xấu Do vậy, làm điều xấu là một hành vi vô tình chứ không phải
cố ý Tuy nhiên, trong thực tế, nhận thức thông thường mách bảo rằng, chúng tathường chiều theo những hành vi biết là sai, do vậy làm sai lại là một hành vidường như có vẻ cố tình
Cách giảng dạy:
Ông không có trường lớp Trường của ông là agora, nơi công cộng tại các chợngày xưa Ông nói chuyện với mọi người, bàn về những việc hàng ngày Ông nói
Trang 14là ông có sứ mệnh của thần linh là dạy dỗ người cùng thời và không được làmnghề gì khác (Platon) nên ông chấp nhận sống nghèo, giảng dạy không công cho mọi người.
Phương pháp dạy của ông là đàm thoại, gồm hai phần:
Phần hỏi và trả lời cho đến khi người đối thoại nhận thức là mình sai
Phần biện pháp: Ông giúp cho người đối thoại hiểu và tự tìm lấy câu trả lời.Ông nói: "Mẹ tôi đỡ đẻ cho sản phụ, còn tôi đỡ đẻ cho những bộ óc"
Phương pháp đỡ đẻ của Socrates đối lập hẳn với phương pháp dạy thụ động,dạy học theo kiểu ăn sẳn, nhồi nhét tri thức như rót nước vào bình mà hiện naychúng ta đang hết sức phê phán Đây là một phương pháp dạy học tích cực vẫncòn nguyên giá trị cho đến hiện nay
Kết luận.
Triết học Socrat không có một mục đích nào khác ngoài việc hướng tới con ngườivới những suy tư, trăn trở đời thường của nó Ông thực sự “là một trong số nhữngkhuôn mặt nổi bật nhất nhưng cũng bí ẩn nhất trong lịch sử triết học” vì“đã vạch
ra hướng đi cho triết học đạo đức trong lịch sử văn minh phương tây Tư tưởng củaông đã được Platon, Aristot và các nhà thần học Kitô giáo sửa đổi, nhưng nó luôn
là truyền thống trí tuệ và đạo đức trội vượt mà các biến thể khác được khai triểnxoay quanh”
Lịch sử Hy Lạp đã trải qua gần ba thiên niên kỷ kể từ ngày Socrat tạ thế, người HyLạp chứng kiến những bước thăng trầm, nhiều triết gia xuất hiện sau Socrat, họ đãđạt được những thành tựu thật to lớn Nhưng xét về phương diện vai trò lịch sử,không một ai trong số họ có thể ngang tầm Socrat Điều này không phải ngẫunhiên mà hợp với lời nguyền Socrat khi ông tự biện trước tòa: “Nếu quý vị giết tôi,quý vị sẽ không dễ dàng tìm được một người thay thế tôi, một con người đượcthượng đế ban cho đất nước” Là món quà thượng đế ban tặng cho đất nước HyLạp, Socrat xứng đáng là bà đỡ cho sự ra đời của các triết gia hậu thế, ông “đã tạo
ra một truyền thống đạo dức và trí tuệ nuôi dưỡng châu Âu cho đến tận ngày nay”.Không hẹn mà gặp, luận đề: “Con người hãy tự nhận thức chính mình” của ông cónghĩa gần với luận đề: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” trong triết lý phươngĐông.Triết lý Socrat không mang tính hàn lâm, tư biện mà thật gần gũi với cuộcsống đời thường Phương pháp Socrat không mang tính cao siêu, học thuật mà hiệndiện trong các cuộc tranh luận trên đường phố, trong nghị trường và giảng đường
Trang 15đại học Theo một nghĩa nào đó có thể nói sự xuất hiện của ông như sự hóa thânhay đầu thai trở lại của Đức Phật Thích Ca và Đức Khổng tử, làm cho hai nền vănhóa Đông - Tây giao thoa, hội tụ trong những nét tương đồng.
3 Platon
1 Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục
Platon sinh ra và lớn lên ở Hy Lạp cổ đại, là cái nôi của nền triết học phương Tây.Platon xuất thân từ một gia đình quý tộc ở Aten, là học trò của Sôcrat, là người đãphát triển triết học duy tâm ở Hy Lạp lên trình độ cao nhất Platon là đại biểu xuấtsắc của chủ nghã duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại, đối thủ tư tưởng chủ yếucủa Đêmôcrít
Platon (427 – 347 TCN)
Trang 16Vào khoảng năm 387 TCN, Platon đã sáng lập ra một trường phái triết học riêng ởAten gọi là Academy (khoa học, học thuật) Những thành viên của trường phái nàychủ yếu nghiên cứu toán học và đã xây dựng phép biện chứng độc đáo trên cơ sởtoán học Thuyết ý niệm, học thuyết về nhà nước, đạo đức học và nhận thức luận lànhững nội dung chủ yếu cấu thành triết học Platon.
Thuyết ý niệm: xuất phát từ chỗ ước đoán chủ quan, ông cho rằng thế giới là một ýniệm vĩnh viễn, bất biến, còn tất cả những sự vật, hiện tượng cụ thể là có thể tiếpxúc được chỉ là ảo ảnh, là sự phản ánh của ý niệm mà thôi Nói cách khác, thếgioiws ý niệm có trước, còn thế giới của những sự vạt hiện tượng thật mà conngười có thể nhận biết được thông qua các giác quan là cái có sau và chỉ là sự phảnánh của thế giới ý niệm đó
Về quan điểm chính trị - xã hội: là đại biểu của tầng lớp quý tộc cũ, Platon ủng hộchế độ chủ nô, phản đối nền dân chủ, ông đưa ra một mô hình nhà nucows thànhbang lí tưởng dựa theo mẫu của nhà nước Xpactơ gọi là nước cộng hòa, bao gồm 3tầng lớp hợp thành:
+ Tầng lớp vương công quý tộc và những nhà hiền triết, đây là tầng lớp lãnhđạo cao cấp có học vấn, có đạo đức cao thượng nắm quyền điều hành nhà nước vànghiên cứu khoa học, nghệ thuật
+ Tầng lớp võ sĩ có nhiệm vụ bảo vệ quốc gia và trấn áp những cuộc nổi dậycủa nô lệ
+ Tầng lớp bình dân gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân, có nhiệm vụlao động sản xuất ra của cải vật chất, nuôi sống xã hội và do đó không tham giaquản lý nhà nước
2 Tư tưởng giáo dục của Platon
Cả 3 tầng lớp trên thuộc về những người dân tự do Những người nô lệ không đượccoi là công dân và không có quyền lơi địa vị xã hội nào cả, họ phải làm nhữngcông việc nặng nhọc nhất Platon cũng cho rằng phụ nữ có trí tuệ ngang với namgiới vì vậy họ hoàn toàn bình đẳng với nam giới về quyền lợi và nghĩa vụ
Từ quan điểm đó ông cho rằng trong một xã hội như vậy giai cấp thống trị phảithông minh chính trực, giai cấp võ sĩ phải chiến đấy dũng cảm, bình dân phải cần
cù lao động Chỉ có con em những nhà triết học, vương công quý tộc và quân nhânmới được hưởng quyền giáo dục để trở thành những người có kiến thức triết học để
Trang 17quản lý và lãnh đạo xã hội Trên quan điểm đó ông đã đưa ra một hệ thống giáodục dành cho dân tự do như sau:
- Trước 7 tuổi trẻ sống trong gia đình
- Từ 7 – 17 tuổi trẻ học đọc, học viết, học làm tính, thể dục, âm nhạc Đứatrẻ nào đần độn thì bị loại xuống hàng công thương
- Từ 17 – 20 tuổi, trẻ tiếp tục học văn hóa, thể dục, quân sự, triết học Nhữnghọc sinh không đủ khả năng thì tiếp tục bị loại xuống hàng công thương Nhữnghọc sinh có khả năng thì tiếp tục học lên trường quân sự và thể thao, được học vềtriết học, pháp luật, khoa học quân sự, quản lý nhà nước để trở thành những ngườilãnh đọ xã hội
Những quan điểm triết học của Platon sau này được phát triển lên thành chủ nghĩaPlaton mới ở thời kỳ suy vong của đế quốc Roma và có ảnh hưởng rất lớn đến toàn
bộ hệ tư tưởng của đế chế phong kiến châu Âu
a
Đối tượng giáo dục
Khi xậy dựng nhà nước trong giả tưởng Platon đã chỉ rõ trong nhà nước gồm có 3tầng lớp đó là nhà cai trị, những người lính và những người nông dân, thợ thủcông Trong những tầng lớp đó Platon chỉ tập trung giáo dục hai đối tượng đó lànhững người lính và nhà cai trị
Những người lính là những người làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước đảm nhiệm côngviệc giao chiến chống ngoại xâm để bảo vệ tài sản và công dân của nhà nước
Nhà cai trị được tuyển chọn từ những người lính thong qua quá trình kiểm tra hếtsức nghiêm ngặt
Platon không chỉ dừng lại ở việc xác định đối tượng giáo dục mà ông còn bàn vềgiới tính của hai đối tượng kể trên Ông cho rằng những người lính hay nhà cai trịthì không hẳn phải là nam giới vì vậy nữ giới cũng được tham gia vào công việcnhà nước cho nên cũng được hưởng nền giáo dục như nam giới
b
Nội dung giáo dục
• Đối với những người lính nội dung giáo dục gồm hai phần đó là âm nhạc và thểdục trong nội dung giáo dục về âm nhạc, Platon chú trọng lần lượt về văn học, văn
Trang 18phong, âm điệu và tiết tấu trong đó ông chú trọng bàn về văn học bàng việc phêphán nhưng câu chuyện truyên thống đã có nội dung xấu thay vào đó là xây dựngnhững câu chuyện tốt để xây dựng bản tính con người.
Nội dung giáo dục thể dục: Platon chủ yếu bàn về ché độ ăn để duy trì sức khỏecủa những người lính như là kiêng uống rượu không ăn thịt luộc mà ăn thịtnướng…
• Đối với người cai trị: là nhwunxg người nắm quyền điều hành đất nước họ sẽ họccác môn học để lôi kéo linh hồn từ chỗ thường xuyên biến đổi sang chỗ hiện hữu:
Môn thứ nhất là số học đây là môn có hai công dụng vừa quân sự vừa triết học vìngười cầm quân phải biết số học để bày binh bố trận
- Môn thứ hai là hình học
- Môn thứ ba là thiên văn học
- Đặc biệt là môn biện chứng pháp, đây là môn học tột đỉnh giúp cho nhà cai trị đạttới khái niệm bản chất của sự vật không có môn khoa học nào đặt cao hơn nó Bảnchất của trí thức không được vượt xa hơn nó
c
Phương pháp giáo dục
Theo Platon thì mỗi người sinh ra đã có tài năng bẩm sinh phù hợp với một nghềnhất định cho nên con người chỉ nên làm đúng với nghề đó mà thôi Tuy nhiên đểlàm tốt được nó thì không chỉ dựa vào tài năng bẩm sinh mà còn thong qua quátrình giáo dục chính vì vậy mục đích xuyên suốt của quá trình giáo dục là khơidậy, phát huy phát triển những tài năng bẩm sinh của mỗi người để họ phát triênnhững đức tính bẩm sinh của họ để cống hiến hết mình cho công việc của họ
Mục đích giáo dục của ngườ lính là phải làm cho họ thành những người lính thựcthụ, có lòng dũng cảm điều độ có sức mạnh chiến đấu và đặc biệt có tinh thần triếthọc
Đối với nhà cai trị mục đích giáo dục là phải cho họ nắm được sự thiện đây là đốitượng cao nhất của tri thức, khi đó họ sẽ nhìn thấy sự thật một cách sáng tỏ nhất và
họ là nhà biện chứng thông thạo lý luận chứ không phải là một cây cột vô tri vôgiác
NHẬN XÉT
Trang 19Các giá trị
Chủ trương xây dựng một hệ thống giáo dục chặt chẽ từ việc lựa chọn đối tượng,xây dựng nội dung giáo dục phương pháp giáo dục cho đến mục đích giáo dục.Ông đã đề cao vấn đề giáo dục và tự giáo dục trong xây dựng nhà nước
Platon đã thể hiện quan niệm bình đẳng giới rõ ràng trong quá vtrinhf giáo dục
Phải thiết lập một bộ phận kiểm duyệt các nộ dung trước khi đưa vào giáo dục
Các hạn chế trong tư tưởng giáo dục.
Platon đã tuyệt đối hóa yếu tố bẩm sinh khi khi lựa chọn đối tượng giáo dục
Ông đã bỏ qua môi trường giáo dục gia đình, trogn khi gia đình là gốc rễ nuôidưỡng tâm hồn mỗi người
Ông chỉ chủ trương giáo dục cho các tầng lớp giáo dục tự do còn nô lệ thì không
Ông sai lầm khi cho rằng phương pháp giáo dục để con người nắm được chân lý làlàm cho linh hồn con người hồi tưởng những gì đã quên lãng
Nhận xét
Platon là nhà đại hiền triết của nhân loại ông đã để lại một di sản vô cùng đồ sộ đặtnền móng cho hàng loạt những môn khoa học sau này Trong đó có tư tưởng vềgiáo dục của ông Tư tưởng của ông cũng có những mặt hạn chế nhất định tuynhiên nó còn chứa đựng nhiều tư tưởng có giá trị mà chúng ta cần phải tiếp thu vàvận dụng trong việc chấn hưng nền giáo dục của Việt Nam hiện nay
4 Arixtôt
Trang 201 Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục
Arixtốt là nhà triết học, nhà khoa học vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ đại Ông là conmột ngự y trong triều đình của vua Philip II xứ Makêđônia Ông đã tham gia vàotrường phái Academy của Platon ngay từ khi còn trẻ tuổi Arixtốt nổi tiếng là ngườitài cao học rộng, ông đã được vua xứ Makêđônia mời vào triều dạy cho hoàng tử(sau này là Alêchxăng đại đế)
Arixtốt nghiên cứu hầu như tất cả các vấn đề của tự nhiên và xã hội Ngày nayngười ta còn lưu giữ được một số bài giảng và nhiều công trình nghiên cứu của ôngthuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: vật lý học, thiên văn học, logic học, sử học Ôngcòn đặt cơ sở cho ngành xã hội học, lý luận văn học và nhiều ngành khoa học khác.Những tác phẩm nổi tiếng của ông là “Những phạm trù; phân tích; siêu hình học;nền chính trị Aten”
Arixtốt dung hợp trong triết học của mình cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm Ông phê phán thuyết ý niệm của Platon, cho rằng với thuyết ý niệm Platon đãtách rời bản chất khỏi sự vật Ông khẳng đình bản chất chứa đựng ngay trong bảnchất sự vật, cái chung tồn tại không tách rời khỏi cái riêng Ông thừa nhận sự tồntại của thế giới hiện thực và sử dụng những phương pháp duy vật để nghiên cứunhững đối tượng khác nhau, nhưng toàn bộ sự phát triển của thế giới tự nhiên lạiđược ogno giải thíc một cách duy tâm Ông cho rằng giới tự nhiên phát triển đượcnhờ vào sự kích thích đầu tiên của cái được gọi là lý trí thế giới
Arixtôt (384 – 322 TCN)
Trang 212 Tư tưởng giáo dục
Arixtốt để lại cho người đời sau nhiều quan điểm tiến bộ và khoa học Ông chorằng con người được cấu thành bởi 3 thành tố: xương thịt, ý chí và lý trí Do đó,nội dung giáo dục bao gồm 3 mặt tương ứng: thể dục, đức dục, trí dục
Arixtốt là người đầu tiên chia học sinh làm 3 thời kỳ lứa tuổi:
Theo Arixtốt, việc giáo dục học sinh phải xuất phát từ đặc điểm tự nhiên và nhucầu phát triển tự nhiên của trẻ, tránh sự áp đặt, khiên cưỡng trong giáo dục
Arixtốt đánh giá cao vai trò của giáo dục gia đình Ông cho rằng gia đình là môitrường giáo dục đầu tiên và người mẹ là nhà giáo dục đầu tiên của đứa trẻ
5 Đêmôcrit
Trang 221 Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục
Đêmôcrít là nhà triết học duy vật kiệt xuất nhất của Hy Lạp thời cổ, là người sánglập ra thuyết nguyên tử cổ đại Ông sinh ra ở Ardera, một thành phố thương mạigiàu có nằm ở ven bờ phía bắc biển Êgiê
Đêmôcrít (460-370 tr.CN) sinh trưởng trong một gia đình chủ nô dân chủ ở Ápđerơ(Hy Lạp) Ông đã đến Ai Cập, Ba Tư, Ấn Độ, nên đã có dịp tiếp xúc với nền vănhoá phương Đông cổ đại
Ông am hiểu toán học, vật lý học, sinh vật học cũng như mỹ học, ngôn ngữ học và
âm nhạc Ông có đến 70 tác phẩm nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học nói trên.Ông được Mác và Ăngghen coi là bộ óc bách khoa đầu tiên của người Hy Lạp.Đêmôcrít là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật cổ đại Hy Lạp Ông không tin
có thần thánh Ông bác bỏ nguồn gốc thần thánh của vũ trụ Thuyết nguyên tử làcống hiến nổi bật của ông đối với chủ nghĩa duy vật Ngoài ra, ông còn có nhiềuđóng góp quý giá về lý luận nhận thức
2 Tư tưởng giáo dục
Đêmôcrít cho rằng toàn bộ vũ trụ, trong đó có Trái Đất và tất cả mọi sinh vật, kể cảcon người đều được tạo thành từ những hạt nhỏ nhất - các nguyên tử Các nguyên
tử này giống nhau về chất nhưng khác nhau về hình thức và khối lượng Theo ông,nguyên tử là phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia được của vật chất, trong vũ trụchỉ có các nguyên tử đang chuyển động và khoảng chân không Các nguyên tử nàychuyển động, liên kết lại với nhau rồi lại phân tách ra Trong quá trình chuyểnđộng các nguyên tử đã kết hợp lại với nhau tạo ra những sự vật khác nhau trong vũtrụ Những sự vật này tồn tại cho đến khi sự kết hợp giữa các nguyên tử bị phângiải
Đêmôcrít cũng cho rằng các hiện tượng sinh lý, kể cả tư duy cũng chỉ có thể giảithích bằng sự vận động và liên kết của các nguyên tử Vì nguyên tử chuyển độngnên nó có thể thâm nhập vào tất cả các bộ phận của cơ thể con người và tác động
đến mọi quá trình của sự sống Ông là người đầu tiên trong lịch sử nêu lên quan
điểm vận động là thuộc tính nguyên thủy của vật chất Ông phản đối tôn giáo và
cho rằng thần linh chỉ là hiện thân của các hiện tượng tự nhiên và bản tính của conĐêmôcrit (460 – 370 TCN)
Trang 23người Chẳng hạn thần Dớt là hiện thân cả mặt trời, còn Atêna là hiện thân của trítuệ.
Đêmôcrít coi trọng giáo dục lao động và là người đầu tiên đưa ra nguyên tắc kếthợp giáo dục với lao động và cuộc sống sinh hoạt của trẻ em Ông muốn loại trừtôn giáo ra khỏi nhà trường và giáo dục, tư tưởng duy vật vô thần đã thể hiện rất rõtrong quan điểm về giáo dục con người của ông
Những quan điểm triết học của Đêmôcrít là một bước ngoặc trong lịch sử chủnghĩa vô thần Thuyết nguyên tử của ông có ảnh hưởng cực kỳ to lớn đối với toàn
bộ sự phát triển của khao học và triết học châu Âu sau này
6 John Locked
1 Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục
John Locked (1632 – 1704) được sinh ra trong một gia đình thương gia vùng gầnBristol (Anh) Lúc ông được 16 tuổi, cách mạng tư sản Anh bùng nổ Bố ông phục
vụ trong hàng ngũ quân đội của Quốc hội
John Locked (1632 – 1704)
Trang 24Từ năm 1652 – 1658, ông là sinh viên tại trường Đại học Tổng hợp Oxford Ônghọc để trở thành tăng lữ, nhưng vào năm 1658, chán cảnh học theo chương trìnhcủa phái kinh viện, ông bỏ học, say mê nghiên cứu khoa học tự nhiên, đi sâunghiên cứu những vấn đề y học và triết học của Đêcactơ, Bêcon, Niutơn Học xongđại học ông ở lại trường dạy môn Văn học và tiếng Hy Lạp
Năm 1666, ông được một bá tước có danh vọng tên là Lord Ashley mời về làmlương y và gia sư (vừa chữa bệnh vừa dạy học) cho con mình Ông được bá tướchết sức quý trọng Sau này do Lord Ashley trở thành đại biểu của giai cấp tư sảnmới, có một đời chính trị khá sôi nổi mà Locked phải chịu những hậu quả lây Vị
bá tước này đã thất bại trong mưu toan kích động một cuộc cách mạng, bị giai cấpquý tộc bảo thủ theo dõi trả thù nên cả gia đình phải lưu vong sang Hà Lan và chếttại đây Locked vì bị chính quyền nghi kị nên cũng phải lưu vong sang Hà Lan.Ông phải ở lại đây cho tới cuộc cách mạng năm 1688 (giai cấp tư sản và quý tộcAnh thỏa hiệp với nhau để nắm chính quyền, xây dựng nhà nước quân chủ lậphiến)
Trở về Anh năm 1689, John Locked được giai cấp tư sản Anh hết sức trọng vọng,
ông luôn trung thành với nhà nước tư sản Ăngghen nói: “Locked là con đẻ của
cuộc thỏa thiệp giai cấp vào năm 1688” Sau đó, vì lý do sức khỏe kém, nên ông
từ chối chức vụ đại sứ bên cạnh vương hầu Brandebourg Ông sống tại Anh chođến khi mất vào năm 1704
Locked là nhà giáo dục, học giả nổi tiếng Ở mỗi giai đoạn trong cuộc đời hoạtđộng phong phú của ông, người ta vẫn thấy ông ít có những thay đổi về quan điểm
tư tưởng, nghĩa là vẫn thù ghét chủ nghĩa độc tài dưới mọi lĩnh vực: triết học, chínhtrị, tôn giáo, gia đình, giáo dục, Vào năm 1670, nhân một cuộc nói chuyện vớibạn bè, ông quyết định tìm kiếm nguồn gốc và giá trị của tri thức, suy nghĩ về vấn
đề này trong suốt 20 năm trời, kết thúc vào năm 1678, ông xuất bản quyển Luận về
tinh thần con người (ấn hành vào năm 1690) nhằm chống lại sự độc tài của
Đêcactơ về “những ý tưởng bẩm sinh” lúc bấy giờ Locked cũng xuất bản nhiều ấn
phẩm khác: quyển Những bức thư về vấn đề khoan dung với nội dung chống lại sự quá khích và chuyên đoán tôn giáo của thời đó; quyển Khái luận về chính phủ dân
sự chống lại sự độc tài chính trị.
Trong lĩnh vực giáo dục, quyển Một vài tư tưởng về giáo dục xuất bản vào những
năm cuối đời của ông, có giá trị rất lớn về lý luận giáo dục nhằm chống lại đườnglối giáo dục cũ đang thịnh hành thời đó
Trang 252 Tư tưởng giáo dục của John Locked
a Quan điểm triết học của John Locked
John Locked phê phán học thuyết thừa nhận tồn tại các tư tưởng bẩm sinh củaĐêcactơ và môn phái theo học thuyết trên Theo Đêcactơ, trong con người có các
tư tưởng bẩm sinh mà chân lý của chúng rất xác thực, và do vậy, dễ dàng được mọingười thừa nhận Đó là các tư tưởng, chẳng hạn như các tiên đề toán học, những trithức sơ đẳng, các quy luật logic Sau đó Lépnít phát triển quan niệm trên, sửa đổilại rằng trong con người tồn tại khả năng bẩm sinh
Phê phán học thuyết trên, John Locked tìm cách luận chứng sự vô lý của nó Theoông, thừa nhận tư tưởng bẩm sinh tức là thừa nhận con người ngay khi sinh ra đã
có chúng rồi Nhưng có nhiều trẻ em, thậm chí nhiều người lớn tuổi nhưng vô học,đều không biết cả những điều sơ đẳng Hơn nữa, nếu khẳng định trong chúng ta có
tư tưởng bẩm sinh (tức là các chân lý hiển nhiên) thì như vậy toàn bộ quá trìnhnhận thức trở nên thừa, bởi vì điều đó “chẳng khác gì khẳng định rằng suy lý đãkhám phá cho con người những điều mà anh ta đã biết từ trước rồi”
John Locked cho rằng: toàn bộ các tri thức, chân lý đều là kết quả nhận thức của
con người chứ không phải là bẩm sinh.
Từ việc phê phán trên John Locked đi đến kết luận: “Nếu như chúng ta đế ý đếnnhững đứa trẻ mới sinh, thì chúng ta ít có cơ sở để nghĩa rằng chúng mang đến chothế gian nhiều tư tưởng Bởi vì loại trừ có thể có những ý niệm mơ hồ về cái đói,khát, đau đớn mà chúng có được từ trong bụng mẹ, thì trong chúng không có biểuhiện tí nào của các ý niệm nhất định, nhất là các ý niệm tương ứng với tư ngữ tạonên các mệnh đề mà người ta coi là những nguyên lý bẩm sinh Chúng dần dần cóđược trong linh hồn của con người nhờ kinh nghiệm, cũng như sự quan sát của conngười đối với sự vật xung quanh”
Đối lập với học thuyết duy tâm trên, John Locked đưa ra nguyên lý “tấm bảngsạch” (tabula rasa) Nguyên lý này lần đầu tiên được Aristote nêu ra, sau đó John
Locked phát triển: “Linh hồn chúng ta khi mới sinh ra, có thể nói như một tờ giấy
trắng, không có một ký hiệu hay một ý niệm nào cả” Ông phân tích:
- Thứ nhất, mọi tri thức của con người không phải là bẩm sinh, mà kết quảcủa nhận thức con người;
Trang 26- Thứ hai, mọi quá trình nhận thức đều phải xuất phát từ các cơ quan cảmtính;
- Thứ ba, linh hồn con người không phải đơn thuần là “tấm bảng sạch” hoàntoàn thụ động đối với mọi hoàn cảnh xung quanh, mà có vai trò tích cực nhất định.Hạn chế của ông là chưa nhận thấy một cách đầy đủ những cơ sở kinh tế - xã hộicủa học thuyết thừa nhận các tư tưởng bẩm sinh Nguyên nhân của những hạn chếnày là: Về mặt nhận thức, trên thực tế, học thuyết duy tâm trên là kết quả của việcsùng bái, đề cao một cách phiến diện vai trò của lý tính, trí tuệ con người đến mứccực đoan, phủ nhận vai trò của khả năng cảm tính trong quá trình nhận thức
b Quan điểm giáo dục của John Locked
Locked đã xây dựng lý luận về hệ thống giáo dục điển hình của giai cấp tư sản.Ông chia giáo dục thành hai hệ thống riêng biệt:
- Hệ thống giáo dục cho con em quý tộc
- Hệ thống giáo dục cho con em nhà thường dân
Về hệ thống giáo dục cho con em quý tộc
+ Mục đích giáo dục:
Locked tuyên bố rõ ràng về đối tượng giáo dục cảu mình là nhằm vào hạng người
phong nhã (gentlement), đó là quý tộc và tư sản tầng lớp cao, đặc biệt là người
hoạt động kinh tế, kinh doanh tư bản chủ nghĩa Do đó, giáo dục phải thiết thực,nhằm vào đối tượng cụ thể Trường học là nơi chuẩn bị bước vào cuộc đời, chuẩn
bị cho con người mọi điều kiện để phát huy khả năng, thu được thắng lợi khi bướcvào đời, nghĩa là hoạt động trong một hoàn cảnh xã hội tiền tư bản chủ nghĩa.Tuy mục tiêu vẫn là chuẩn bị cho con người để vào đời, nhưng cuộc đời này khôngphải là dành riêng cho một số rất ít người, trái lại, đây là cuộc đời của một giai cấpđang lên, tranh đấu quyết liệt giành quyền sống cho mình, tìm cách thu vào taymình quyền lãnh đạo kinh tế và chính trị
Locked cho rằng: “Một nhà quý tộc hằng lo âu đến việc giáo dục con trai của mìnhphải mong muốn có 4 điều: đức hạnh, thận trọng, lịch duyệt, học vấn.”
Trang 27- Đức hạnh: là tính tốt đầu tiên mà một người, nhất là một nhà quý tộc cầnphải có: nó gồm sự thù ghét nói láo, yêu thương đồng loại.
- Sự thận trọng hay là sự khôn ngoan: là đức tính của một người biết điềukhiển công việc của mình một cách khéo léo và sáng suốt, nó dựa vào sự thành thật
và sự biết suy nghĩ
- Sự lịch duyệt (phong nhã): là mối bận tâm lớn của Locked Sự phong nhãkhác với sự nhút nhát Người nhút nhát có quan niệm xấu về chính mình Nó cũngkhác với thái độ xem thường, có quan niệm xấu về người khác Muốn phong nhãngười ta phải cố tránh một số tật xấu: thô kệch, khinh khỉnh, gây gổ, độc tài,
- Học vấn: là một phần của giáo dục, “như là một phương tiện để hình thànhnhững đức tính lớn khác” Nội dung học vấn phải mang tính bách khoa bao gồmnhững môn học hữu ích và có lợi nhất
+ Nội dung giáo dục:
Locked quan niệm nội dung giáo dục bao gồm những môn học hữu ích nhất, phục
vụ trực tiếp và tích cực các yêu cầu của thời đại, của giai cấp tiến bộ nhất và củabản thân mỗi cá nhân trong xã hội Nói cách khác tiêu chuẩn để lựa chọn các mônhọc là: Có lơi không? Từ đó ông xây dựng chương trình học mang tính bách khoa:
- Môn Quốc văn, quốc ngữ gắn liền với thực tế của đất nước, của dân tộc
- Môn Tập đọc học tiếng mẹ đẻ chứ không phải tiếng Latinh, tập đọc bằngtrò chơi và theo phương pháp tổng hợp (chữ, vần), sau đó luyện tập với nhữngtruyện ngụ ngôn và những đoạn dễ trong kinh Thanh; luyện văn bằng cách tập kểchuyện miệng hay viết, đọc sách và đàm thoại, không cần học thuộc lòng, làm luậnhay làm thơ Ông cho rằng không cần chú trọng học tiếp Hy Lạp vì đây là việc họccủa những nhà chuyên môn
- Môn Tập vẽ nhưng chỉ vẽ phác họa để ghi lại những kỉ niệm du lịch màthôi
Trang 28- Môn Sinh ngữ cho phép giao dịch với mậu dịch các nước khác.
- Môn Lịch sử, chú trọng lịch sử La Mã, góp phần xây dựng cho con ngườiquan điểm thời gian, cho phép phân biệt giữa cổ và kim, theo dõi sự tiến triển của
xã hội, sự hình thành của các giai cấp và cuộc đấu tranh giữa các giai cấp ấy, tạocho con người khái niệm “tiến bộ”, và đặt quan hệ giữa nước này với nước nọtrong thời gian và không gian
Các môn khoa học tự nhiên cho phép con người tìm hiểu thiên nhiên, đấu tranh vớithiên nhiên để phục vụ cho sản xuất, cho con người: số học (biết đếm mà thôi);thiên văn học (nói sơ qua về hệ thống Côpécnic); hình học,
- Học địa lý nhưng chỉ giới hạn trong một sô nước và một số thành phố
- Môn kinh tế cho phép hiểu biết các vấn đề liên quan đến sản xuất, vậnchuyển và tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa
- Nghiên cứu luật pháp góp phần quản lý tài sản được chu đáo
Ngoài ra, người học cần học khiêu vũ, bơi lội và đánh kiếm; không cần học âmnhạc và vẽ; học nghề tay chân để giải trí sau những giờ làm việc trí óc; học giữ gìnsách vở; du lịch ngoại quốc, những chuyến du lịch này cần được thực hiện trước 15– 16 tuổi
Lockeed nhấn mạnh: chương trình học rộng rãi không có nghĩa là đứa trẻ chỉ cầnbiết qua loa về tất cả, điều quan trọng là đứa trẻ sẽ chỉ chú ý “tới những gì ích lợinhất cho nó ngoài đời” mà thôi
+ Phương pháp giáo dục
Trước hết phải giúp đứa trẻ biết chịu đựng để thích nghi
- Không quá nuông chiều con hay cưng con quá độ;
- Tập cho con cái quen với khí hậu nóng hay lạnh, không úm con với quần
áo quá nặng nề và chật hẹp;
- Tập cho chúng chịu đựng tắm nước lạnh, quen sống ngoài trời, quen ănuống bất cứ lúc nào trong ngày một cách thanh đạm, thức sớm, chống lại bệnh táobón và lẩn tránh bác sĩ
Giáo dục phải dân chủ, cởi mở và phóng khoáng
Trang 29- Trừng phạt phải đúng mức và nhà giáo hạn chế sử dụng trùng phạt trẻ Nếutrừng phạt không đúng mức sẽ làm cho đứa trẻ nhờn đi;
- Người lớn cần để cho trẻ vui chơi Cái mà người ta mạnh dạn trừ khử, vànếu cần sử dụng roi mây đó là tính cứng đầu của trẻ;
- Phải giúp trẻ biết được “danh dự và nhục nhã”, làm cho chúng xấu hổ hơn
là đánh chúng quá đau bằng roi vọt;
- Nếu cần sử dụng roi vọt thì nên vừa đánh vừa giải thích thỏa đáng để xâydựng;
- Khi khen thưởng nên hạn chế phần thưởng cho trẻ vì tránh cho trẻ tínhthích hưởng thụ;
- Sự ca ngợi phải có tính cách công cộng, nhưng sự trách phạt cần kín đáo vì
sẽ chạm tự ái của trẻ
Tin tưởng nơi trẻ, giúp đỡ trẻ tự tin bước vào cuộc sống xã hội
Với giáo dục trẻ, Locked luôn dịu dàng và ôn hòa Ông có cảm tình với trẻ con vàtin tưởng nơi chúng: “Cần phải giúp chúng, giơ tay cho chúng năm để dẫn chúng đimột cách nhje nhàng”, trong khi chờ đợi chúng đủ sức để đi một mình Đứa trẻphải học sống trong xã hội; như vậy nó phải tập những thói quen tốt và phải lặp đilặp lại để rèn luyện
Về hệ thống giáo dục cho con em nhà thường dân
Locked đưa ra một dự án phản dân chủ về nhà lao động, trường lao động dành chocon em nhà nghèo (working house)
Trang 30Ông coi khinh con em những người lao động nghèo khổ, cho rằng chúng là gánhnặng của xã hội Do đó phải tập trung trẻ em nghèo vào nhà lao động ngay từ nhỏ
và tiến hành một chế độ giáo dục rất nghiêm ngặt: ăn uống kham khổ (ăn bánh mì
và muối trắng), mặc áo mỏng, đi chân đất, nằm giường không đệm, phải học lấymột nghề thủ công (kéo sợi, đan lát) để có thể suốt đời làm một nghề thủ công làmthuê cho các chủ xưởng
Nhận xét
Locked là đại diện của giai cấp tư sản và quý tộc đang lên ở nước Anh sau cáchmạng 1648 Những quan điểm chính trị, xã hội và giáo dục của ông có nhiều kiếngiải tiến bộ và khoa học nhằm bảo vệ cho trật tự mới của xã hội tư sản Giáo dụctheo quan niệm của ông nhằm mục đích đào tạo những con người phục vụ cho nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa Những quan niệm sư phạm của ông mang lại tính thựcdụng Điều mà Locked mong muốn trong tư tưởng giáo dục của ông là đem tới chođồng bào nhưng lời khuyên hữu ích và hiệu quả, để giúp họ dạy dỗ con cái vàchuẩn bị cho chúng “thành nhân”
Tuy nhiên, do hạn chế về quan điểm giai cấp nên cách nhìn của John Locked đốivới việc giáo dục con em những người lao động nghèo khổ còn nhiều điểm hạnchế, cực đoan, phản dân chủ Điều này lý giải tại sao Locked là con đẻ của cuộcthỏa hiệp giai cấp ở Anh năm 1688 (giữa giai cấp quý tộc mới và tư sản(Ăngghen))
Trang 317 Jan Amôt Cômenxki
1 Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục
Ông sinh ngày 28/3/1952 tại làng Nievni thuộc sứ Môravơ của cộng hoà Slôvakia
J.A Cômenxki là một nhà giáo dục vĩ đại người Séc (Tiệp Khắc), là đại biểu xuấtsắc của chủ nghĩa nhân văn, là nhà hoạt động xã hội lớn cảu Tiệp trong những nămgiữa thế kỳ XVII
Ông sinh ra trong một gia đình thợ xay bột, theo đạo Tin lành Do mồ côi cả chalẫn mẹ nên được Hội anh em những người Tiệp Khắc – một tổ chức bao gồmnhững người có tư tưởng yêu nước, tiến bộ, muốn tiến hành cuộc cách mạng xa hộixóa bỏ chế độ bất công, đen tối, đầy tội ác ở Tiệp Khắc lúc đó – nuôi dưỡng, bảotrợ và gửi ra nước ngoài học tập Ông đã theo học các trường đại học Hecboor vàHeiderbord ở Đức
Năm 1614, ông trở về Tiệp Khắc nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệpgiáo dục của nhân dân Tiệp Khắc Nhưng đến năm 1618, một cuộc khởi nghĩa củanhân dân Tiệp Khắc chống lại chính quyền của Hoàng đê Đức (nước Tiệp lúc đó bịnhập vào lãnh địa của Hoàng đế Đức) bùng nổ và tiếp sau đó là cuộc chiến tranh
30 năm (1618 – 1648), nước Tiệp bước vào thời kỳ bị tàn phá nặng nề Rất nhiềungười yêu nước tham gia cuộc khởi nghĩa bị kết án tử hình, hàng ngàn gia đình quýtộc thị dân bị kết án và trục xuất khỏi Tiệp, trong số đó có nhiều đại biểu ưu tú củanền văn hóa Tiệp: những nhà bác học, nhà văn, giáo sư, thầy thuốc giỏi, những
Trang 32người thợ thủ công có trình độ chuyên môn cao Hội anh em những người TiệpKhắc cũng bị đàn áp và trục xuất ra nước ngoài Cômenxki cũng nằm trong sốnhững người bị trục xuất đó Ông lánh nạn và trú ngụ tại thành phố Letnô (BaLan).
Cả cuộc đời ông dâng hiến cho sự nghiệp giáo dục (dạy học, viết sách giáo khoa,nghiên cứu lý luận đạy học và giáo dục) Ông đã để lại cho nhân loại hơn 100 tácphẩm giáo dục, trong đó có những tác phẩm kiệt xuất đóng góp vào kho tàng giáodục những kinh nghiệm quý báu Những tác phẩm lớn nhất là:
- Ngôn ngữ nhập môn (1631) Tác phẩm được coi là cuốn sách giáo khoađầu tiên nói về việc kết hợp dạy học tiếng La tinh với việc tìm hiểu thế giới xungquanh
- Phép giáo huấn vĩ đại (1632): đây là một tác phẩm kiệt xuất, mang những
tư tưởng giáo dục vượt thời đại về lý luận dạy học và giáo dục; là một tác phẩm cótính chất kinh điển đầu tiên ở châu Âu về hệ thống tri thức khoa học giáo dục, đánhdấu giáo dục học tách ra khỏi triết học và trở thành một khoa học độc lập
- Trường học lòng mẹ (1633): tác phẩm chuyên nghiên cứu về giáo dục trẻmẫu giáo
- Thế giới tranh ảnh (1658) và hàng loạt các tác phẩm về giáo dục khác như:Bước vào ngưỡng cửa của ngôn ngữ, Khai trừ sự lười biếng ra khỏi nhà trường
2 Tư tưởng giáo dục của Cômenxki
a Quan điểm triết học
Cômenxki chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ quan điểm triết học duy vật củaBêcơn Phơranxi (1561 – 1626) người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật Anh và khoahọc thực nghiệm thời cận đại Tư tưởng triết học chủ đạo nhất mà Cômenxki tiếpthu được đó là thuyết duy cảm và phép quy nạp
Từ thuyết duy cảm ông khẳng định: con người có thể nhận thức được thế giới và sựnhận thức thế giới cuẩ con người bao giờ cũng bắt đầu từ cảm giác – nhận thứcthông qua các giác quan (mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, tay sờ nắm ) Ông viết:
“Bước đầu của nhận thức, không còn nghi ngờ gì nữa, bao giờ cũng bắt nguồn từcảm giác (vì không có cái gì tồn tại trong nhận thức mà lại chưa tồn tại trong cảmgiác)”
Trang 33Chính đề cao vai trò của cảm giác đối với nhận thức mà Cômenxki cũng đặc biệtcoi trọng phép quy nạp của Bêcơn Ông khẳng định phép quy nạp đó là con đườngkhám phá ra mọi bí mật của tự nhiên.
b Quan điểm giáo dục
Đề cao vai trò và tác dụng của giáo dục
- Đối với sự phát triển của xã hội: ông phê phán những tệ nạn xấu xa, như: sự ápbức, bất công, cường quyền, bạo lực đầy rẫy trong xã hội; sự phân chia độc quyền
trong giáo dục Từ đó, ông kêu gọi cải tạo xã hội, xóa bỏ sự bất công bằng con
đường giáo dục Có thể phát triển xa hội thông qua xây dựng, mở mang trường
học, mang lại học vấn, tri thức cho mọi người
- Đối với sự phát triển cá nhân: J.A Cômenxki đánh giá rất cao vai trò của giáodục, của tri thức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Nguyên tắc giáo dục phải phù hợp với tự nhiên
Đây là luận điểm giáo dục khởi đầu, có ảnh hưởng chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ
hệ thống quan điểm giáo dục của J.A Cômenxki
Xuất phát từ quan điểm duy vật cho con người là một bộ phận của tự nhiên, tựnhiên phát triển có quy luật, do đó con người và sự phát triển của con người càngphải phục tùng những quy luật phổ biến cảu tự nhiên Và có thể coi giáo dục như làmột bộ phận của tự nhiên, giáo dục cũng phải diễn ra theo những quy luật nhấtđịnh, dựa trên quy luật phát triển của tự nhiên
Ông nói: “Trật tự đúng đắn của nhà trường là phải tuân theo trật tự của tự nhiên.Toàn bộ sức mạnh cảu nahf trường là chỗ bắt chước tự nhiên Việc xây dựng lýluận và thực tiễn giáo dục cũng phải xuất phát từ những quy luật của tự nhiên”
Hệ thống lớp bài
Cômenxki là người đầu tiên đặt nền móng cho một nền giáo dục dân chủ mới; làngười đầu tiên đưa ra những ý kiến xây dựng hệ thống lớp bài – đây là một trongnhững cống hiến quan trọng nhất, nhờ những cống hiến đó mà người đời gọi J.A
Cômenxki là Ông tổ nền sư phạm thời cận đại.
Trang 34Hệ thống lớp – bài gọi tắt là hình thức lên lớp là một hình thức tổ chức dạy họcgồm nhiều bài học cụ thể, có những quy định rất chặt chẽ về nội dung, kết quả, thờigian, địa điểm học, thành phần người học (số lượng và chất lượng) cũng như sự tácđộng tương hỗ giữa người dạy với người học và giữa người học với nhau.
Đặc điểm của hệ thống lớp – bài:
+ Hoạt động học tập được tiến hành chung cho cả lớp, gồm số lượng họcsinh cố định phù hợp với khả năng lãnh đạo và điều khiển cảu giáo viên Nhữnghọc sinh này cùng lứa tuổi, có trình độ nhận thức gần như nhau, đảm bảo cho hoạtđộng giảng dạy được tiến hành phù hợp với năng lực học tập chung của cả lớp
+ Hoạt động dạy và học được tiến hành thoe triết học Học sinh nắm tài liệumột cách trực tiếp tại lớp
+ Giáo viên trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức củahọc sinh cả lớp, đồng thời chú ý đến đặc điểm riêng của học sinh
Lý luận dạy học
Ông là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục ọc thế giới đã xây dựng được một hẹthống lý luận dạy học khá hoàn chỉnh, có cở sở khoa học nhất định (dựa trên thuyếtduy cảm của Bêcơn)
Nguyên tắc dạy học:
- Nguyên tắc dạy học phải phù hợp với tự nhiên
- Nguyên tắc trực quan trong dạy học
- Bảo đảm tính hệ thống và liên tục
- Bảo đảm mối tương quan giữa nội dung và hình thức
- Bảo đảm mối liên hệ giữa dạy học và đời sống
- Nguyên tắc vừa sức với học sinh trong dạy học
- Bảo đảm tính bền vững trong quá trình tiếp thu tri thức
- Chú ý phát triển mọi khả năng của học sinh
Những yêu cầu đối với người thầy giáo
Comenski nhận thức trọng trách của người thầy giáo hết sức nặng nề và đầy vinhquang Theo ông “ dưới mặt trời này, không có một chức vụ nào ưu việt hơn!” Ông
ví người thầy giáo như một thợ nặn, nặn những tâm hồn của trẻ”, hoặc như mộtngọn lửa xua đuổi hết những bóng tối trong trí óc Đó là một quan điểm tiến bộ đốivới người thầy giáo, vì trước đó nghề thầy giáo, đặc biệt nghề thầy giáo tiểu họckhông được tôn trọng