Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Bởi vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà phải xây dựng, phát triển trên tất cả lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa… Do đó cần phải có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Muốn có nguồn nhân lực đó nhất thiết phải chú trọng phát triển giáo dục đào tạo vì giáo dục đào tạo trực tiếp giúp con người nâng cao trí tuệ, hiểu biết và khả năng vận dụng tri thức khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nên giáo dục đào tạo trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong giai đoạn hiện nay cần phải huy động mọi lực lượng của xã hội tham gia vào công tác đổi mới và phát triển giáo dục, trong đó việc phát huy truyền thống của dân tộc và tiếp thu một cách sáng tạo những kinh nghiệm giáo dục đã được tích lũy trong lịch sử nhân loại là điều cần thiết. Một trong những tư tưởng quí báu trong kho tàng kinh nghiệm giáo dục của nhân loại là tư tưởng giáo dục của Nho giáo.
Trang 1A Phần mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, cùng với việc đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Bởi vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa không
chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà phải xây dựng, phát triển trên tất cả lĩnh vực:kinh tế, chính trị, văn hóa… Do đó cần phải có nguồn nhân lực đủ về số lượng,mạnh về chất lượng Muốn có nguồn nhân lực đó nhất thiết phải chú trọng pháttriển giáo dục - đào tạo vì giáo dục - đào tạo trực tiếp giúp con người nâng cao trítuệ, hiểu biết và khả năng vận dụng tri thức khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nêngiáo dục - đào tạo trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta.Trong giai đoạn hiện nay cần phải huy động mọi lực lượng của xã hội tham giavào công tác đổi mới và phát triển giáo dục, trong đó việc phát huy truyền thốngcủa dân tộc và tiếp thu một cách sáng tạo những kinh nghiệm giáo dục đã được tíchlũy trong lịch sử nhân loại là điều cần thiết Một trong những tư tưởng quí báutrong kho tàng kinh nghiệm giáo dục của nhân loại là tư tưởng giáo dục của Nhogiáo
Có nhiều người nhắc tới các yếu tố và tư tưởng tích cực của Nho học mà ngày
nay cần phải kế thừa, vận dụng Có người cho đó là thái độ dạy và học: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” Có người cho đó là hệ thống rèn luyện đạo đức cá nhân “tu, tề, trị, bình” Có người cho đó là thái độ đối nhân xử thế, là lòng
“nhân”, là tư tưởng “sát thân thành nhân”, là “xả thân thủ nghĩa” Cũng có người cho đó là giá trị của “ ngũ luân” Lại có người cho đó là tính cộng đồng của Nho
giáo… Nhưng bấy nhiêu điều ấy vẫn chưa đủ khái quát lên những giá trị của Nhogiáo
Từ yêu cầu của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như những thay đổi của nềnGiáo dục hiện nay, nhìn về truyền thống Nho giáo thấy ở đó có nhiều điều có thểkhai thác, vận dụng được Đấy là quan niệm về con người, giáo dục con người, nhưrằng con người sống trong xã hội là có quan hệ nghĩa vụ với người khác, với xãhội, cho rằng con người muốn sống tốt phải giữ được sự hài hòa trong bản thân
Trang 2mình, trong quan hệ với xã hội và tự nhiên Đó là yêu cầu phải thường xuyên rènluyện bản thân: sống có lý tưởng, sống để góp phần xây dựng một xã hội thái bìnhthịnh trị…sống phải có nhân cách cao cả của kẻ sĩ, bậc đại trượng phu, người quân
tử Đó là các khái niệm: nhân nghĩa, trung hiếu, trí dũng…Những phương diện trêncủa Nho giáo ngày nay vẫn còn có ý nghĩa tích cực của nó, vẫn có tác dụng tốt vớiviệc rèn luyện con người
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì việc nhìn nhận vai tròcủa Nho giáo trong giáo dục là cần thiết, nhất là trong bối cảnh có nhiều hệ tư
tưởng cùng tồn tại đan xen với nhau Chính vì thế chúng tôi chọn đề tài : “Tư tưởng giáo dục của Nho giáo và ý nghĩa của nó đối với giáo dục Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.
2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Tư tưởng giáo dục của Nho giáo tồn tại song hành với hệ thông giáo dục củanhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Cũng như nhiều học thuyết khác, nho giáo cónhững mặt tích cực và một số điểm tiêu cực
Đề tài nghiên cứu sâu về tư tưởng giáo dục của Nho giáo, tư tưởng giáo dục
ấy vẫn có những ý nghĩa nhất định trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay Đồng thờitìm hiểu về phương pháp giáo dục của Nho giáo và vận dụng vào đổi mới phươngpháp giáo dục ở Việt Nam, chuẩn bị cho việc đổi mới sách giáo khoa vào năm2016
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Lập đề cương các vấn đề cần làm sáng tỏ của đề tài
Thu thập tư liệu, thông tin có liên quan đến các phần trong đề cương đã lậptừ giáo trình, bài giảng, Internet, báo chí, các đề tài có liên quan
Sau đó sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, logic, diễn dịch và lịch
sử gắn với lý luận thực tiễn để thực hiện đề tài đặt ra
Trang 3B Nội dung
Chương 1: TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO
1 Vài nét về tiến trình phát triển của Nho giáo
Hệ tư tưởng của Nho giáo trải qua hơn 2000 năm phát triển và biến đổi Cơ sởcủa Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của ChuCông Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Nho giáođược Khổng Tử, tên thật là Khâu, hay còn gọi là Trọng Ni, người nước Lỗ (551 -
479 trước Công nguyên, thời Xuân Thu - Chiến quốc) phát triển tư tưởng của ChuCông, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà ngườiđời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo Khổng Tử là người mở đường vĩ đạicủa lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại Ông là nhà triết học, nhà chính trị và lànhà giáo dục nổi tiếng ở Trung quốc cổ đại Ông đã hệ thống những tri thức tưtưởng đời trước và quan điểm của ông thành học thuyết đạo đức chính trị riêng, gọi
là Nho giáo Học thuyết của ông được hai nhà tư tưởng là Mạnh Tử và Tuân Tửhoàn thiện và phát triển Mạnh Tử theo hướng duy tâm, Tuân Tử theo hướng duyvật Trong lịch sử sau này dòng Khổng Mạnh có ảnh hưởng lâu dài nhất Từ nhàHán trở đi, Nho giáo được nhiều nhà tư tưởng phát triển và sử dụng theo môitrường xã hội của nó
Từ đời Hán đến đời Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh truyện đểlưu truyền Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳnhà Tống, vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tức chủ trìnghi lễ long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng thiếu đễ, vua còn thân chủ trìkhoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học Đối với Nho học mới bộthưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học Nội dung và kết cấu của Lýhọc hết sức rộng lớn, bắt đầu từ Hàn Dũ đời nhà Đường, trải qua nỗ lực của TônPhục, Thạch Giới, Hồ Viên, Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Thương Tái, Trình Di, TrìnhHạo đời Bắc Tống cho đến Chu Hi đời Nam Tống là người tập đại thành hoànchỉnh hệ thống tư tưởng Lý học Lý học trình Chu nhấn mạnh Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí,Tín như lễ trời (thiên lý) dùng học thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc, hấp thuthêm các học thuyết tư tưởng của Phật giáo, Đại giáo cung cấp s ự nhu yếu cho
Trang 4xã hội quân chủ chuyên chế Chu Hi tập chú giải thích các kinh điển Nho gia nhưLuận ngữ, Mạnh Tử trở thành những sách giáo khoa bắt buộc của sĩ tử trong xã hộiphong kiến và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử của chính phủ
Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái Công học của Trần Lượng, Diệp Thích, phái Tâm học của Vương Dương Minh cũng đều tôn sùng Khổng Tử,hấp thu một phần tư tưởng cơ bản của ông Những học thuyết này đều được lưutruyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc Vì Nhohọc được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đề xướng nênNho học thuận lợi thẩm thấu trong mọi lĩnh vực trong mọi giai tầng xã hội, từ rất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán, trở thành tâm lý của cộng đồng dân tộcTrung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính
Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho đượcngười cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử Để trở thành người quân
tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thân xong,người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí.Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đâybao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là nhữngnguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) vàcần phải tuân theo Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm đượcđạo trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hành trong vũ trụ k hi giáng vào con người sẽđược gọi là Mệnh Nhìn chung hệ tư tưởng Nho giáo khi hình thành và phát triển đã
là hình thái ý thức của giai cấp thống trị trong xã hội phong k iến ở Trung Quốc Đối với nó thì ngũ luân, ngũ thường, hay tam cương ngũ thường là những cáituyệt đối Đối với nó xã hội phong k iến k hông phải chỉ là một giai đoạn trong lịch
sử loài người, luân lý phong kiến không chỉ là một hình thái ý thức của giai đoạn
ấy, như họ nói: “Quân thần chi nghĩa vô sở đào ư thiên địa chi gian” Hay là: “Thiênbất biến, đạo diệc bất biến” (Đổng Trọng Thư) Đạo ở đây tức là tam cương, ngũthường
Trang 52 Tư tưởng giáo dục trong các tác phẩm kinh điển của Nho giáo
Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo nguyênthủy Sách kinh điển gồm 2 bộ : Ngũ Kinh và Tứ Thư Hệ thống kinh điển đó hầuhết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên.Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về đạo đức lànhững tư tưởng cốt lõi của Nho gia
2.1 Tứ Thư
Là bốn quyển sách kinh điển của văn học Trung Hoa được Chu Hy thời nhàTống lựa chọn làm nền tảng cho triết học Trung Hoa và Khổng giáo Chúng baogồm : Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử
Đại học: Sách Đại học dùng để dạy cho học trò từ 15 tuổi trở lên, khi bước
vào bậc đại học, dạy cho biết cách xử sự ở đời để lớn lên ra gánh vác việc nước
Theo các Nho gia, sách Đại Học do Tăng Tử làm ra để diễn giải các lời nóicủa Khổng Tử
Mục đích và tôn chỉ của sách này là nói về đạo quân tử, trước hết phải sửacái đức của mình cho sáng tỏ để mọi người noi theo, làm sao cho đến chổ chí thiện.Muốn được vậy, phải sử dụng Bát điều mục (tám điều) : cánh vật, trí tri, thành ý,chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Cái gốc của đạo quân tử là sự “tuthân” Cho nên trong sách Đại học có câu : “Tự thiên tữ dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thịgiai dĩ tu thân vi bổn” (Nghĩa là : “từ vua cho đến thường dân, ai ai cũng đều lấy sựsửa của mình làm gốc”)
Trung Dung: Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra Tử Tư là học trò của Tăng
Tử, cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử
Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Không Tử nói về đạo
“trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trunghòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí,tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân
Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trongKinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sáchLuận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư
Trang 6Luận Ngữ: là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Không Tử và
những lời nói của người đương thời Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đềulấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên không có liên hệ với nhau Đọc sách này,người ta hiểu được phẩm chất tư cách và tính tình của Khổng Tử, nhất là về giáodục, ông tỏ ra là người thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạythích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người Như có khi cùng mộtcâu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người một cách
Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ củaKhổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo
Mạnh Tử: Sách Mạnh Tử là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của
ông như : Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương… ghi chép lại nhữngđiều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùngvới những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như : học thuyết củaMặc Tử, Dương Chu Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần : Tâm học vàChính trị học
Tâm học: Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho.
Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó
để phát triển thành người lương thiện Tâm là cái thần minh của Trời ban chongười Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể Học là để giữ cáiTâm, nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh Nhân và nghĩa vốn có sẳntrong lương tâm của người Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị
mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng
nó là cái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời
Chính trị học : Mạnh Tử chủ trương : Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo bạotrong thời quân chủ chuyên chếđang thịnh hành Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyềnlấy dân làm của riêng cho mình Phải duy dân và vì dân Muốn vậy, phải có luậtpháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó Ngườitrị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân đượcsung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩalàm cơ bản để thi hành Chủ trương về chính trị của Mạnh Tử vô cùng mới mẽ và
Trang 7táo bạo, nhưng rất hợp lý, làm cho những người chủ trương quân chủ thời đó khôngthể nào bắt bẻ được Có thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độ quânchủ lập hiến sau này.
2.2 Ngũ Kinh
Kinh Thi : sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về
tình yêu nam nữ Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tìnhcảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng Một lần,Khổng Tử hỏi con trai "học Kinh Thi chưa?", người con trả lời "chưa" Khổng Tửnói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao" (sách Luận Ngữ)
Kinh Thư : ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước
Khổng Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minhquân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ
Kinh Lễ : ghi chép các lễ nghi thời trước Khổng Tử hiệu đính lại mong
dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự Khổng Tử nói: "Không họcKinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận Ngữ)
Kinh Dịch : nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa
trên các khái niệm âm dương, bát quái, Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giảithích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩacủa từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch.Khổng Tử giảng giải rộng thêm Hoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoántruyện và Hào truyện
Kinh Xuân Thu : ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử.
Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nênông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dụccác bậc vua chúa Ông nói, "Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạ trách
ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này" Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất (Xuânthu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc xảy ra.)
Kinh Nhạc: do Khổng tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một
ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký Như vậy lục kinh chỉ còn lạingũ kinh
Trang 83 Tư tưởng giáo dục của Nho giáo
3.1 Đối tượng giáo dục
Học thuyết Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội, chỉ tập trung giáo dục conngười về đức nhân, song đối tượng lại rất rộng Đối tượng chung mà Nho giáo đàotạo là: ai muốn học đều được dạy Khổng Tử khẳng định: Hữu giáo vô loại, và ôngcũng là người đầu tiên mở trường tư dạy học cho mọi hạng người để đào tạo nhữngcon người lương thiện, có lễ nghĩa, nhất là đào tạo một hạng sĩ quân tử có nhân,trí, dũng để làm quan giúp nước Ông dạy đủ lục nghệ : lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, sốnhư chương trình các trường công
Chúng ta nên nhớ chữ học của Khổng Tử có nghĩa là học đạo học cách cư xử,cách làm người trước hết, rồi mới tới văn, tới những kiến thức cần thiết:
“ Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc để, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân; hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” nghĩa là “con em trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ,
ra ngoài thì kính nhượng bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà thành thực, yêu khắp mọi người mà gần gũi người nhân đức; làm như vậy rồi mà còn dư sức thì học văn”.
Khổng tử biết là trong xã hội có nhiều người xấu, nhưng cách xử sự của ông vừa
nhân vừa trí Ông bảo : “Không tiên liệu rằng người ta gạt mình, đừng ức đoán rằng người ta không tin mình, nhưng gặp những người như vậy là mình biết được ngay, như vậy là hiền đấy!” Ông ghét một số người như bọn bẻm mép lợi khẩu, bọn gỉa đạo đức tỏ vẻ cao thượng, “ghét người nói điều xấu của kẻ khác, ghét kẻ dưới mà hủy bang người trên, ghét kẻ dũng cảm mà vô lễ, ghét người qủa cảm mà
cố chấp, ghét kẻ bốc lột người khác để làm giàu” Nhưng ông cũng khuyên không
nên ghét bỏ ai thái quá, nhất là kẻ bất nhân, vì không cho họ cơ hội để ăn năn, gạt
bỏ hẳn ra thì họ sẽ nổi lọan.Và ông khuyên người ta phải khoan hồng, nhất lànhững kẻ ở địa vị cao
Trong hơn ba mươi năm ông đã đào tạo một số môn sinh có ít nhiều tài đức, có thể ra làm quan được, và đã có năm sáu ngưòi lãnh chức vụ ở triều đình Ông nhận định khả năng đặc biệt của mỗi người để gặp cơ hội thì dùng
3.2 Mục tiêu giáo dục con người của Nho giáo
Trang 9Mục tiêu đào tạo con người của Nho giáo là xây dựng những mẫu người lý tưởngcủa xã hội Đó là kẻ sĩ, đại trượng phu và người quân tử.
3.2.1 Kẻ sĩ
Người đi học nho là kẻ sĩ, con đường vào đời của kẻ sĩ là phải học, học giỏi thì
đi thi, thi đậu thì ra làm quan để giúp nước cứu đời, chứ không phải học chỉ đểbiết
Nho giáo dạy mọi hạng người về sự tu thân, tề gia ; những người nào có tư cách,bất kỳ trong giới quý tộc hay bình dân, ông dạy thêm cho lục nghệ để sau này cóthể lãnh những trách nhiệm lớn nhỏ trong việc trị nước Hạng người đó dù làmquan hay không làm quan cũng gọi là kẻ sĩ; nếu có tài đức cao thì ông gọi là quân
tử Giai cấp sĩ đó chính là do ông tạo nên.Khổng Tử nói : “Người đời xưa học vì mình, người đời nay học vì người”, và “rất ít người học ba năm rồi mà không có ý cầu bổng lộc” Học vì mình nghĩa là học để tu thân, có ích lợi cho mình;học vì
người là học để có danh, nhiều người biết tới mình, chẳng cần mình có thực tài thực
đức Ông khuyên: “đừng lo người không biết mình, chỉ lo mình không biết người”,
“đừng lo không ai biết mình chỉ mong sao mình có tài đức để cho người ta biết đến”, Không nên cầu danh mà cũng không được cầu lợi cầu lộc: “đừng lo không
có chức vị, chỉ lo không đủ tài đức để nhận chức vị”, “ kẻ sĩ nào để chí vào đạo mà còn thẹn vì cái ăn cái mặc thì chưa thể đem đạo ra bàn với được.”
Kẻ sĩ đã ra làm quan, nho giáo phân làm bốn hạng:
- Hạng trên cả : biết hổ thẹn về hành vi xấu của mình;đi sứ bốn phương thì không
làm nhục mệnh của vua
- Hạng thấp hơn: họ hàng khen là người hiếu, hàng xóm khen là người để.
- Hạng thấp hơn nữa: lời nói nhất định phải tín thực, hành vi nhất định phải quả
quyết
- Hạng cuối: khí độ nhỏ nhen.
Nhiều nhà Nho cho rằng đã là kẻ sĩ thì phải luôn trau dồi đức hạnh, phải bỏ lợi
mà làm điều nghĩa, phải không tiếc tính mạng, trọng nghĩa lý, thành kính trongviệc tế lễ; về việc tu thân giữ đức phải kiên cường, dốc lòng tin đạo.Thời phongkiến sĩ được xã hội thời bấy giờ tôn làm giai cấp đứng đầu trong xã hội : Sĩ, công,
nông, thương.Tử Tư nói: “người xưa có nói:nên thờ bậc hiền sĩ như thầy chứ đâu
Trang 10có nói nên làm bạn với kẻ sĩ”, còn Mạnh Tử thì nói: “Thiên hạ đều tôn trọng ba cái này : tước vị, tuổi tác, và đạo đức Tại triều đình tước vị được qúy nhất; ở làng xóm tuổi tác được trọng nhất; còn xét về việc giúp đời, giáo hóa dân thì đạo đức được kính nể hơn cả”.
Như vậy thì khắp thế giới, không đâu có bọn áo vải nào được tôn trọng như kẻ sĩ
ở Trung Hoa Đó là một niềm vinh dự cho dân tộc Trung Hoa và công đầu là củaKhổng Tử
3.2.2 Đại trượng phu
Đây là những con người bất khuất, cứng rắn, là một trong những mục tiêu đàotạo con người của Nho giáo để phục vụ cho giai cấp thống trị Khổng Tử nhấnmạnh ý chí bất khuất của người trượng phu trước phong ba bão táp vẫn vữngvàng, không bị nghiêng ngả, và có ý chí kiên định đầu đội trời, chân đạp đất, nóinăng và hành động một là một hai là hai
Còn Mạnh Tử thì cho rằng: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” Có nghĩa là người trượng phu thì giàu sang không bị mua
chuộc, nghèo khó không hề nản lòng và uy lực không bị khuất phục Chỉ có nhưvậy thì mới xứng đáng là đại trượng phu
3.2.3 Người quân tử
Quân tử của Nho giáo thuần chỉ tư cách, không có ý nghĩa về địa vị: “Người
quân tử mưu cầu đạt đạo, chứ không mưu cầu chuyện ăn.người quân tử lo không đạt đạo chứ không lo nghèo” “Người quân tử khi khốn cùng thì cố giữ tư cách của mình; kẻ tiểu nhân khốn cùng thì phóng túng làm càn”.
Tư cách và thái độ người quân tử đó là chỉ cầu ở mình không cầu ở người; Giữvững chính nghĩa, không cố chấp điều tín nhỏ nhặt; Giữ vững tư cách khi gặp họannạn; Lo không đạt được đạo chớ không lo nghèo.ăn gạo xấu, uống nước lã mà thấyvui;chứ không chịu làm điều bất nghĩa để được giàu sang; Thư thái mà không kiêucăng; Không lo không sợ, vì tự xét mình không có điều gì đáng xấu hổ, nghĩ vậy
mà lúc nào cũng thản nhiên vui vẻ; Nếu có hận thì chỉ hận điều này; chết mà khônglàm điều gì để người khác biết tới mình, khen mình; Thân với mọi người mà khôngkết đảng, hòa hợp với mọi người mà không a dua; Nghiêm trang giữ lập trường màkhông tranh với ai; Có lỗi thì không ngại sửa
Trang 11Đức của người quân tử là Có đức nhân, giúp người làm việc thiện Cứ hợp
nghĩa thì làm Lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thànhtín mà nên việc; Sửa mình thành người kính cẩn; Chất phác mà văn nhã, hai phầnđều nhau, nếu chất phác thì quê mùa, văn nhã quá thì không thành thực, trọng hìnhthức quá; Hướng lên cao mà mong đạt tới; Tài năng và kiến thức của người quântử; Hiểu rộng, biết nhiều, làm được nhiều việc, chứ không phải như một đồ vật chỉdung được vào một việc; Có thể không biết những việc nhỏ nhặt, nhưng có thểđương được việc lớn; Tài trí đủ để trị dân, biết dùng đức để giữ dân, biết trangnghiêm đối đãi với dân, biết dùng lễ cổ vũ dân
Hành vi ngôn ngữ của người quân tử là thận trọng về lời nói, mau mắn về việc
làm; Làm trước điều mình muốn nói rồi hãy nói sau; Thẹn rằng nói nhiều mà làmít; Sai khiến người thì không trách bị cầu tòan; Xét người thì không vì lời nói củamột người mà để cử người đó (vì còn xét đức hạnh ra sao nữa), không vì phẩmhạnh xấu của người mà không nghe lời nói phải của người ta; Khi trông thì để ý đểthấy cho minh bạch; khi nghe thì lắng tai nghe cho rõ; sắc mặt thì giữ cho ôn hòa;diện mạo thì giữ cho đoan trang; nói thì giữ cho trung thực;làm thì giữ cho kínhcẩn;có điều nghi hoặc thì hỏi han; khi giận thì nghĩ đến hậu qủa tai hại sẽ xảyra;thấy mối lợi thì nhớ đến điều nghĩa
Khổng tử nói : “Người quân tử có điều gì không biết thì không nói bậy Nếu danh không chính thì lời nói không thuận lý, lời nói không thuận lý thì sự việc không thành; sự việc không thành thì lễ nhạc, chế độ không kiến lập được; lễ nhạc, chế độ không kiến lập được thì hình phạt không trúng; hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu ( không biết làm thế nào cho phải ) Cho nên người quân tử đã cùng cái danh thì tất phải nói ra được (tất phải thuận lý); đã nói điều gì tất phải làm được Đối với lời nói người quân tử không thể ẩu tả được”.
Có thể nói đạo của Khổng Tử là đạo của người quân tử Cho nên mục tiêu đàotạo con người của Nho giáo là đào tạo người có đức nhân Theo Nho gia thì ngườiquân tử là mẫu người lý tưởng nhất, cao quý nhất của xã hội phong kiến
Nho giáo cho là đức hạnh của người quân tử như gió: “Đức của người quân tử
như gió, đức của người tiểu nhân như cỏ Gió thổi trên cỏ tất cỏ lướt theo”
3.3.4 “Tu thân” và “Hành đạo”
Trang 123.3.4.1 Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức
để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội Tam Cương vàNgũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạođức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được TamCương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình
Tam Cương: Tam là ba; Cương là giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ:
Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ)
Quân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trungthành một dạ
Phụ tử: Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái hiếu kính vângphục cha và khi cha già thì phải phụng dưỡng
Phu thê: Trong quan hệ chống vợ, chồng yêu thương và công bình với vợ,
vợ vâng phục và chung thủy giữ tiết với chồng
Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải
hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật
Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải
Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người
Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai
Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy
Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải
theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha
Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con"
Tứ Đức: Tứ là bốn; Đức là tính tốt Tứ Đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ
phải có, là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh
Công: khéo léo trong việc làm
Dung: hòa nhã trong sắc diện
Ngôn: mềm mại trong lời nói
Trang 13Hạnh: nhu mì trong tính nết.
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân :
Đạt Đạo: Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà
người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều:đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" (sách TrungDung), tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu" Đóchính là Ngũ thường, hay Ngũ luân Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là "trungdung" Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệquan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng
Đạt Đức: Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng" Khổng Tử nói:
"Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lo buồn,người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi" (sách Luận ngữ) Về sau,Mạnh Tử thay "dũng" bằng "lễ, nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức: "nhân, nghĩa,
lễ, trí" Hán Nho thêm một đức là "tín" nên có tất cả năm đức là: "nhân, nghĩa, lễ,trí, tín" Năm đức này còn gọi là ngũ thường
Biết Thi, Thư, Lễ, Nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức", người
quân tử còn phải biết "Thi, Thư, Lễ, Nhạc" Tức là người quân tử còn phải có mộtvốn văn hóa toàn diện
Điều này có nghĩa là sự tu thân là điều cần thiết và tốt đẹp và sự biểu hiện nhân tính cao nhất trong hình thức thánh nhân có thể đạt đến được Như vậy ngay cả Tuân Tử cũng chia xẻ hoàn toàn niềm tin của Khổng Tử rằng con người có khả năng tự hoàn thiện thông qua nỗ lực cá nhân Nói theo ngôn ngữ thần học, quan điểm của Khổng giáo về việc học để thành người gợi ra một khả năng thật sự cho con người có thể trở thành “thần linh” thông qua sự cố gắng của bản thân
3.3.4.2 Hành đạo
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làmchính trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc,bình thiên hạ" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trịquốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ namcho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm: