Giáo trình Đại cương lịch sử Việt Nam Toàn tập: Phần 1 Nxb. Giáo dụcGiáo trình Đại cương lịch sử Việt Nam Toàn tập: Phần 1 trình bày Lịch sử Việt Nam (từ thời nguyên thủy đến 1858). Đây là thời gian đất nước ta trải qua các giai đoạn phát triền của xã hội nguyên thủy đến ngày hợp nhất cùng nhau dựng nên nước Văn Lang quốc gia đầu tiên của người Việt. Tiếp đó là quá trình xây dựng đất nước về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa của dân tộc Việt Nam trong độc lập lâu dài. Cùng tham khảo nội dung Phần 1 của cuốn sách để hiểu rõ hơn về sử ta.
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỘ GIÁO DỤC VÀ THI CỬ CỦA VIỆT NAM THỜI PHONG
KIẾN 3
I.NHẬN THỨC VỀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC CỦA GIAI CẤP PHONG KIẾN VIỆT NAM: 3
II.TRƯỜNG HỌC : 4
1 Các lớp học thời Bắc thuộc : 4
2 Trường học thời Lý Trần : 6
3 Trường học thời Lê Nguyễn : 7
III.TÌNHHÌNHTHICỬỞVIỆTNAMTHỜIPHONGKIẾN: 13
1 Tình hình thi cử từ năm 1075-1396 13
2 Tình hình thi cử từ năm 1396-1463: 16
3 Chế độ khoa cử từ năm 1466-1919 17
IV.CUỘCVẬNĐỘNGCẢICÁCHGIÁODỤCCỦACÁCSĨPHUYÊUNƯỚC: 26
1 Hoàn cảnh lịch sử : 26
2 Đông Kinh nghĩa thục: 27
CHƯƠNG 2 NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC 30
I.CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA PHÁP ƠÛ VIỆT NAM : 30
II.CHẾ ĐỘ GIÁO DỤC CỦA PHÁP ƠÛ VIỆT NAM TỪ 1861-1945 31
1 Các trường học ở nam Kỳ từ 1861-1886 31
2 Chế Độ Giáo Dục Của Pháp Ơû Việt Nam Từ 1886 - 1917 33
3 Chế Độ Giáo Dục Của Pháp Ơû Việt Nam Từ 1917-1945 36
CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THỜI CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM, TRONG VÙNG PHÁP TẠM CHIẾM VÀ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM 45
I.TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THỜI CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM : 45
II.TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRONG VÙNG PHÁP TẠM CHIẾM TỪ NĂM 1948ĐẾN NĂM 1954: 46
1 Bậc Trung học : 46
2 Bậc Đại học : 47
III.TÌNH HÌNH GIÁO DỤC ỞMIỀN NAM VIỆT NAM TỪ 1954-1975 47
1 Tiểu học và Trung học : 47
2 Đại học và Trung học chuyên nghiệp : 49
CHƯƠNG 4 NỀN GIÁO DỤC CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 55
I.CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ VỀ GIÁO DỤC : 55
1 Xóa nạn mù chữ : 55
2 Đánh giá cao tầm quan trọng của giáo dục : 58
II.SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG : 61
1 Giai đoạn từ năm 1945-1950: 61
2 Giai đoạn từ 1950-1956 62
Trang 33 Giai đoạn từ năm 1956- 1981: 63
4 Giai đoạn từ 1981 đến nay : 63
5 Những thay đổi ở bậc giáo dục phổ thông theo luật giáo dục : 63
III.ĐẠI HỌC VÀ TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP 64
1 Giai đoạn từ 1945 – 1954 64
2 Giai đoạn 1955-1965 65
3 Giai đoạn từ 1965-1975 66
4 Giai đoạn 1975 đến nay : 67
Trang 4Chương 1 CHẾ ĐỘ GIÁO DỤC VÀ THI CỬ CỦA VIỆT NAM
I Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục của giai cấp phong kiến Việt Nam:
Dân tộc Việt nam rất hiếu học và học rất giỏi Nền giáo dục Việt nam có lịch sử từ lâu đời
Nước ta từ thời Văn Lang Âu – Lạc đã có nhà nước, nhưng tình hình giáo dục thời kỳ này như thế nào không thể khảo cứu được Năm 111 TCN, nước ta bị nội thuộc đế quốc Tây Hán Trước đó, năm 136 TCN, vua Tây Hán là Vũ Đế tuyên bố
”bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” Nho gia vốn là trường phái tư tưởng rất coi
trọng việc giáo dục, do đó đến thời kỳ này việc học tập ở Trung quốc càng được đề cao Sau khi thống trị nước ta, quan cai trị của triều Hán đã truyền bá chế độ giáo dục của Trung quốc sang nước ta, chữ Hán trở thành văn tự dùng trong giáo dục, các sách
do các nhà Nho ở Trung quốc soạn thành tài liệu học tập
Sau khi giành được độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam quán triệt tư tưởng Nho giáo, rất coi trọng việc giáo dục, vì họ nhận thức được rằng đó là biện pháp chủ yếu để đào tạo nhân tài cho đất nước
Chính vì thế, từ năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho dựng văn miếu Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc tử giám bên cạnh văn miếu
Đến đời Lê, từ vua đến quan cũng đều cho rằng :” Sự nghiệp trị nước lớn lao
của đế vương không gì cần kíp hơn nhân tài, điển chương chế độ đầy đủ của nhà nước tất phải chờ ở các bậc hậu thánh Là bởi trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc, chế tác mà không dựa vào thánh nhân đời sau thì đều chỉ là cẩu thả tạm bợ mà thôi, sao có thể đạt tới chính trị phong hóa phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ” (1)
(Văn bia do Đỗ Nhuận soạn năm 1484) Nói về sự coi trọng việc giáo dục của triều Lê ngay từ buổi đầu dựng nước, trong Kiến văn tiểu học, Lê Quý Đôn viết :
“Năm Mậu Thân , niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1428), hạ chiếu trong nước dựng nhà học, dạy dỗ nhân tài, trong kinh có Quốc tử giám, bên ngoài có nhà học các phủ Nhà vua thân hành chọn con cháu các quan và thường dân tuấn tú sung bổ vào học các cục chầu cận, chầu ở ngự tiền và sung vào giám sinh Quốc tử giám, lại hạ lệnh cho viên quan chịu trách nhiệm tuyển rộng cả con em nhà lương gia ở dân gian sung vào sinh đồ ớ các phủ để dạy bảo.”
Trên cơ sở khuyến khích việc học tập Nhà Lê còn rất chú ý đến việc thi cử để tuyển chọn nhân tài
Năm 1434, Lê Thái Tông hạ chiếu nói :
(1 ) : Đại Việt sử ký toàn thư Tập II NXB KHXH 1985 Tr 494
Trang 5“Muốn có được nhân tài trước hết phải chọn lựa kẻ sĩ, mà phép chọn lựa kẻ sĩ phải lấy thi cử làm đầu Nhà nước ta từ thửơ xưa loạn lạc, người anh tài như lá mùa thu, bậc tuấn kiệt như sao buổi sớm Thái tổ ta trước, ban đầu dựng nước, mở mang nhà học hiệu, dùng cỗ thái lao đề tế Khổng Tử, rất mực sùng Nho, trọng đạo Nhưng
vì nước mới dựng nên chưa kịp đặt khoa thi Trẫm nối theo chí hướng người xưa, lo được nhân tài để thỏa lòng mong đợi.” (1)
Đến thời Nguyễn, năm 1814, Gia Long cũng nói :
“Học hiệu là nơi chứa nhân tài , phải giáo dục có căn bản thì mới có thể thành tài, trẫm muốn bắt chước người xưa, đặt nhà học để nuôi học trò ngõ hầu văn phong dấy lên, hiền tài đều nổi để cho nhà nước dùng (2)
Năm 1827, Minh Mạng nói với đình thần rằng :
“Trẫm từ khi thân chinh đến nay, chưa từng lúc nào không lấy việc đào tạo nhân tài làm việc ưu tiên… Đế vương ngày xưa dùng người có phải vay mượn nhân tài ở đời khác đâu.”
Do nhận thức như vậy, các triều đại thường thi hành những chính sách khuyến khích việc học tập và đỗ đạt
Năm 1486, nhà Lê quy định những người làm thuê làm mướn có biết chữ và có
Ty Thừa tuyên bản xứ chuẩn cho thì được miễn sung quân
Năm 1488, vua Lê Thánh tông lại hạ chiếu cho “các sĩ nhân đã từng đi học,
biết làm văn, có hạnh kiểm đã thi đỗ và được miễn tuyển thì miễn cho nửa phần thuế và sai dịch.”
Đối với những người đỗ đạt, nhà nước phong kiến có ý thức dùng nhiều biện pháp để làm thêm sự vinh quang của họ như tổ chức lễ vinh quy rất long trọng, dựng bia Tiến sĩ ở văn miếu
Mặc dầu thời phong kiến, do đời sống của đại đa số nông dân rất khổ cực, những người có điều kiện đi học không nhiều, những người có thể đỗ đạt lại càng ít, nhưng so với các nước trên thế giới lúc bấy giờ, nước ta là một trong số rất ít nước có nền giáo dục có quy củ và tương đối phát triển
II Trường học :
1 Các lớp học thời Bắc thuộc :
Những tài liệu lịch sử sớm nhất nói về tình hình giáo dục ở nước ta gắn liền với tên tuổi các Thái thú của Trung quốc như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp
Tích Quang là Thái thú Giao chỉ đầu thời Đông hán “đã lấy lễ nghĩa dạy
dân”
(1) Đại Việt sử ký toàn thư Tập II, NXB KHXH 1985 Trang 320
(2) Đại Nam thực lục chính biên Gia Long năm thứ 13
Trang 6Nhân Diên là Thái thú Cửu Chân “dạy dân khai khẩn ruộng đất “để cày cấy” “dân nghèo không có sính lễ cưới vợ, Diên bảo các Trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc ra để giúp đỡ, cùng một lúc lấy vợ có đến 2.000 người.” (1)
Song song với việc truyền bá lễ nghĩa là việc mở trường học khuyến khích việc học tập.Trong bài sớ của Thái thú Hợp Phố là Tiết Tổng dâng lên vua Ngô là Tôn Quyền năm 231 có nói :
“… Triệu Đà nổi dậy ở Phiên Ngung, vỗ về thần phục được vua Bách Việt, đó là miền đất về phía Nam quận Châu Nhai, Hiếu Vũ (nhà Hán), giết Lữ Gia, mở 9 quận đặt chức Thứ sử ở Giao Chỉ, dời những người phạm tội ở Trung quốc sang ở lẫn vào các nơi ấy, cho học sách ít nhiều, hơi thông hiểu lễ hóa Đến khi Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân, dựng nhà học, dẫn dắt bằng lễ nghĩa Từ đấy trở đi (tức từ thời Triệu Đà về sau), hơn 400 năm, dân tựa hồ đã có quy củ”.(2)
Trong quá trình ấy, tại Luy Lâu, Long Biên đã mở các trường học để đào tạo con em quan lại đô hộ và tầng lớp trên người Việt Kết quả, trong thời kỳ này đã đào tạo được một số người Việt Nam có học vấn để bổ sung vào hàng ngũ quan lại, trong đó tiêu biểu là Trương Trọng, Lý Cầm, Lý Tiến
Đời Hán Minh Đế (58-75), Trương Trọng được cử làm kế lại (kế toán) ở quận Nhật Nam, được thay mặt Thái thú đến kinh đô tâu bày công việc với vua, sau được cử làm Thái thú Kim Thành
Thế kỷ II, Lý Tiến được làm chức Công tào (phụ trách cơ quan thủ công nghiệp) ở quận, sau được thăng làm Thái thú Linh Lăng, đến năm 184 được làm Thứ sử Giao Châu Lý Tiến còn xin cho một số người Việt khác được công nhận là Hiếu liêm Mậu tài và được làm Trưởng lại ở Giao Châu, nhưng không được làm
quan ở Trung Nguyên vì sợ “hay chê bai bắt bẻ triều đình”
Lý cầm thì được làm túc vệ ở kinh thành Lạc Dương, về sau làm đến chức
Tư lệ hiệu úy
Trong số các quan cai trị Hán tộc, Sĩ nhiếp (Thái thú Giao Châu cuối thời Đông Hán đầu thời Tam Quốc) là người có vai trò quan trọng nhất trong việc phát triển giáo dục ở nước ta Vốn là một người độ lượng, trọng kẻ sĩ, nên danh sĩ Hán tránh nạn sang nương tựa có đến hàng trăm người Nhiều người trong số đó như Lưu Hi, Hứa Tĩnh đã mở trường dạy học ở Luy Lâu, Long Biên Vì những hoạt
động ấy, đời sau đã đề cao Sĩ Nhiếp một cách quá đáng, tôn ông làm “Nam giao
học tổ” (ông tổ của việc ở nước Nam) Ngô Sĩ Liên, tác giả Đại Việt sử ký toàn
thư cũng đánh giá rằng :
“Nước ta thông Thi, Thư, học Lễ Nhạc làm một nước văn hiến là bắt đầu từ Sĩ vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đến đời sau, há chẳng lớn sao?
( 1 ) Đại Việt sử ký toàn thư Tập I NXB KHXH 1983 Trang 144
( 2 ) Đại Việt sử ký toàn thư Tập I NXB KHXH 1983 Trang 157
Trang 7Thời Tam quốc (220 –280) và thời Tấn (265 – 420), nhiều người Trung quốc tiếp tục sang ta mở trường học Thời Tôn Quyền (222-252), Ngu Phiên bị đày sang
Giao Châu, “tuy là thân tù tội nhưng giảng học không biết mỏi” Đỗ Tuệ thời Tấn ,
Tống (420-479) cũng chăm mở mang trường học để truyền bá Nho giáo Tình hình đó đến đời Đường lại càng phát triển Ngoài việc học tập ở nước ta, một số người còn được sang học ở Kinh đô Trường An của Nhà Đường
Như vậy, thời Bắc thuộc, việc học ở nước ta đã ngày một phát triển
2 Trường học thời Lý Trần :
Tình hình giáo dục thời Ngô, Đinh, Tiền Lê vì thiếu tư liệu lịch sử nên không biết được rõ ràng Qua một số tài liệu ít ỏi có thể biết rằng lúc bấy giờ các lớp học được mở trong các chùa Ví dụ : Lý Công Uẩn lúc còn nhỏ, theo học ở các chùa Lục Tổ, tức là Chùa Cổ Pháp ở Bắc Ninh Ngoài các lớp học do nhà chùa mở, trong dân gian có mở trường học / hiện nay không thể xác định được Chỉ biết rằng, lúc bấy giờ có một số nhà sư có học vấn cao như Ngô Chân Lưu, Đỗ Thuận, Vạn Hạnh… Do vậy, Ngô Chân Lưu được Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hoàng phong làm tăng thống và được mời tham dự triều chính như một vị cố vấn của vua Sư Đỗ Thuận cũng được Lê Đại Hành sử dụng làm cố vấn và có khi còn được cử ra đón tiếp sứ giả Nhưng ngoài các nhà sư còn có rất nhiều trí thức khác được đảm nhiệm các trọng trách trong triều đình và ở các địa phương Ngay
từ thời Ngô, sau khi lên ngôi, Ngô Quyền đã “đặt trăm quan, chế định triều nghi
thẩm phục” Các triều Ngô Đinh Lê nhiều lần sai sứ giả sang Trung quốc
Như vậy, mặc dầu tình hình giáo dục thời kỳ này như thế nào không biết được cụ thể nhưng kết quả là đã đào tạo được một đội ngũ đủ khả năng cáng đáng các công việc đối nội và đối ngoại của nhà nước
Từ thời Lý về sau, cùng với sự phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, chế độ giáo dục cũng càng ngày càng có nề nếp
Từ năm 1070, vua Lý Thánh Tông (1054-1072) bắt đầu “làm văn miếu, đắp
tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế Hoàng tử đến học ở đây.” (1)
Năm 1076, Lý Nhân Tông (1072 –1128) cho thành lập Quốc tử giám bên
cạnh văn miếu, “chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử
giám” (2)
Đến thời Trần, năm 1236, Quốc tử giám đổi tên thành Quốc tử viện, cho con
em các quan văn vào học
Năm 1253, Trần Thái Tông (1225-1293) “lập Quốc học viện, đắp tượng
Khổng Tử, Chu Công, Á Thánh (Mạnh Tử), vẽ tranh 72 người hiền để thờ.” (3)
( 1 ) Đại việt sử ký toàn thư
( 2 ) Đại việt sử ký toàn thư
( 3 ) Đại việt sử ký toàn thư
Trang 8Ngay sau đó, vua Trần “xuống chiếu vời nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện
giảng tứ thư lục học”(1)
Năm 1281, thời Trần Nhân Tông (1279-1292), nhà Trần lại mở thêm nhà học
ở phủ Thiên trường
Cuối thời trần, năm 1397, nhà Trần đặt chức giáo thụ ở các châu trấn Lời chiếu của vua Trần Thuận Tông viết :
“Đời xưa, nước có nhà học, đảng có nhà tự, Toại có nhà tường là để tỏ rõ giáo hóa, giữ gìn phong tực, ý trẫm rất chuộng như vậy
Nay quy chế ở kinh đô đã đầy đủ, mà ở Châu huyện thì có thiếu, làm thế nào rộng đường giáo hóa cho dân? Nên lệnh cho các phủ lộ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau : phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa 12 mẫu, phủ châu nhỏ 10 mẫu để chi dùng cho việc học trong phủ châu mình (một phần để cúng ngày mùng một, một phần cho nhà học, một phần cho đèn sách) Lộ quan và quan đốc học hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghệ, cứ đến cuối năm thì chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc”
Ngô Sĩ Liên nhận xét về việc ấy như sau :
“Bấy giờ có chiếu lệnh này, còn gì tốt đẹp bằng thế nữa? Nhưng lệnh này không thấy thi hành, vì không phải là bản ý của nhà vua, mà vì Quý Ly muốn làm việc cướp ngôi, mượn việc ấy để thu phục lòng người mà thôi”
3 Trường học thời Lê Nguyễn :
Trường học quốc lập chủ yếu ở kinh đô vẫn là Quốc tử giám Ngoài ra còn có một số trường khác dành riêng cho những đối tượng đặc biệt
a Quốc tử giám :
Việc điều hành trường Quốc tử giám đời Lý như thế nào không có tư liệu nói rõ Thời Trần được biết qua là người đứng đầu Quốc tử giám gọi là Tư Nghiệp Chu Văn An được cử làm Quốc tử tu nghiệp Đến thời Lê các quan chức quản lý và giảng dạy, học sinh, chế độ dạy và học ở trường Quốc tử giám mới được biết tương đối rõ ràng
Đầu thời Lê, người đứng đầu Quốc tử giám gọi là Tế Tửu (hiệu trưởng);
giáo viên có các chức Trực giảng, Bác sĩ, Giáo thụ Đến thời Lê Thánh Tông, còn đặt thêm chức Ngũ kinh bác sĩ Từ thời trung hưng về sau (thời Lê Trang Tông 1533-1548), bỏ chức Ngũ kinh Bác sĩ, các chức khác đều như cũ
Học sinh Quốc tử giám gọi là giám sinh Khi mới lập, giám sinh là con vua và các đại thần Thời Trần, mở rộng cho con em các quan lại khác và dân thường Trước khi có các cấp thi hương thi hội, giám sinh không có hạn định về học lực, về sau, những người thi trượt Thái học sinh được vào học ở đây
( 1 ) Đại việt sử ký toàn thư
Trang 9Ví dụ: Kỳ thi Thái học sinh năm 1305, có 44 người đỗ, còn 330 người trượt được vào học trường Quốc tử giám
Thời Lê Thánh Tông, giám sinh trường Quốc tử giám gọi là sinh viên ba xá Đó là những người đã đỗ hương cống và thi hội đỗ một hay hai kỳ gọi là trung xá sinh, đỗ một kỳ gọi là hạ xá sinh
Tổng số xá sinh là 300 người (mỗi xá 100 người) Các xá sinh được nhà nước cấp học bổng: thượng xá sinh mỗi tháng một quan, trung xá sinh mỗi tháng 9 tiền, hạ xá sinh mỗi tháng 8 tiền
Về chế độ dạy và học ở trường Quốc tử giám, theo “trị bình bảo phạm”
do vua Lê Tương Dực (1509-1511) ban hành chế độ học tập của giám sinh được quy định như sau:
Mỗi tháng giảng hai kỳ, nội dung là giảng kinh truyện
Tập làm văn : Mỗi tháng 4 kỳ Đúng ngày quy định, học trò đến chép đề về nhà làm, hẹn 5, 6 hôm thì nộp bài để chấm
Cũng có khi làm bài tại lớp, hạn trong ngày phải làm xong Các bài văn được đánh giá theo bốn bậc là : ưu (giỏi), bình (khá), thứ (trung bình), liệt
(kém) Thứ còn được chia thành “thứ mác” và “thứ cộc” (trung bình kém)
Học sinh vào các ngày mùng một và rằm phải mặc mũ áo đúng quy định Học sinh phải cố gắng học tập và tuân thủ học quy, nếu vi phạm sẽ bị phạt, cụ thể là : Người nào dám cầu may bên cạnh (nhìn bài), rong chơi đường sá, trễ bỏ việc học, thiếu điểm một lần thì phạt 140 tờ giấy trung chỉ, thiếu điểm hai lần thì phạt 200 tờ giấy trung chỉ, thiếu điểm 3 lần thì đánh 40 roi, thiếu điểm 4 lần thì tâu lên bộ Hình xét hỏi, thiếu điểm 1 năm thì bắt sung quân
Học sinh nội trú nếu vắng qua đêm hoặc nghỉ một hai ngày đều phải xin phép xá và trường Các con em quan lại trong triều được ngoại trú nhưng hàng ngày phải có mặt từ sáng để học tập
Thời gian học tập là 3 năm để thi hội Nếu không đỗ, ở lại học chờ thi khoa sau cho đến khi đỗ
b Các trường Quốc lập khác ở kinh đô:
Ngoài Quốc tử giám, thời Trần còn có Tư Thiện đường là nhà học của thái tử Thời Lê, số trường thuộc loại này có Ngự tiền cận thị cục, Chiêu văn quán, Tứ lâm cục, Trung thư giám, Sùng văn quán
Ngự tiền cận thị cục là trường đào tạo các quan lại lớp dưới Học sinh
mãn khóa phải dự một kỳ thi do Bộ Lại tổ chức Người trúng tuyển được bổ làm Huyện thừa
Chiêu văn quán là trường dành riêng cho con cái quan nhất nhị phẩm và
con trưởng của quan tam phẩm Học sinh theo học ở đây được gọi là “nho sinh”
Tứ lâm cục là trường dành riêng cho con các quan từ tam phẩm đến bát
phẩm Người học cũng được gọi là “Nho sinh”
Trang 10Trung thư giám là trường đào tạo thư lại Tiêu chuẩn tuyển sinh là
những người đã trúng tuyển trong các kỳ thi viết và thi toán Người học được gọi là “Hoa văn học sinh”
Sùng quán văn là trường dành riêng cho con em quý tộc và quan lại cao
cấp Sau 3 năm học tập, học sinh ở đây phải dự một kỳ thi do Bộ Lại tổ chức Nội dung thi gồm có 1 bài ám tả và 2 bài kinh nghĩa lấy trong Tứ thư Người trúng tuyển được sung vào các chức văn võ, như vậy không phải qua thi hương thi hội mà cũng được làm quan
Thời Nguyễn, năm 1803, trường Quốc tử giám được lập ở Huế gọi là nhà Quốc học Năm 1821, Minh Mạng lại đổi nhà Quốc học thành quốc tử giám Các giám sinh được cấp học bổng
Bên cạnh Quốc tử giám còn có một số nhà học khác gồm các nhà học của vua, của các hoàng tử và con cháu các hoàng thân và được gọi bằng nhiều tên khác nhau
Về nhà học của vua, năm 1810, Gia Long sai dựng điện Dưỡng Tâm để làm nơi đọc sách
Năm 1821, Minh Mạng xây thêm nhà Trí Nhân Đường để đọc sách và sáng tác
Năm 1848, Tự Đức mở viện Tập Hiền để nghe giảng bài Nhà học này khai giảng vào ngày tốt sau khi tế Nam giao Mỗi tháng vua học 6 ngày vào các ngày 2,8,12,18,22,28; nghỉ học 2 tháng (tháng 11 và tháng 12)
Nhân viên làm việc ở đây gồm :
2 Giảng quan
6 Nhật giảng quan
4 Chuyên viên bút thiếp
Năm 1887, Đồng Khánh cho xây Thái Bình Ngự Lãm Thư Lâu làm nơi cất giữ sách và đọc sách Ít lâu sau bị hỏng Năm 1919, Khải Định cho làm lại, đặt tên là Thái Bình Lâu Nhà này cũng là nơi vua tự học Nhà học của các hoàng tử lúc đầu chỉ có tập Thiện Đường, lập năm 1817
Năm 1823, Minh Mạng đặt các giáo quan :
Giáo đạo (quan văn tam phẩm trở lên)
Tán thiện 2 người (quan văn tứ ngũ phẩm)
Bạn độc 4 người (quan văn lục thất phẩm)
Nội dung học tập từ tiểu học trở lên, sách học từ Minh tâm bảo giám đến Tứ thư Ngũ Kinh
Về sau, số hoàng tử tăng lên nhiều nên mở thêm nhiều nhà học mới : Dưỡng Chính, Quảng Thiện, Quảng Phước, Quảng Nhân, Quảng Học, Càn Đông
Trang 11Tự Đức còn mở 3 nhà học cho 3 người con nuôi của mình là Dục Đức Đường, Chánh Mông Đường và Dưỡng Thiện Đường
Nhà học của con cháu các hoàng thân có Tôn Học Đường do Tự Đức thành lập năm 1851 Học sinh ở đây gồm có con cháu các hoàng thân tuổi từ 12-25 và chắt của vua từ 12 tuổi trở lên, sau đổi từ 10-35 tuổi
Học sinh ở đây được cấp học bổng : hạng nhất 5 quan, hạng nhì 4 quan, hạng ba 3 quan, hạng tư 2 quan
Cuối mỗi quý mỗi năm có xếp hạng : ưu, bình , thứ, liệt và có phần thưởng
Tôn Học Đường đến năm 1871 thì bỏ vì học sinh nghỉ nhiều hơn học nên giao cho gia đình quản lý
c Các trường Quốc lập ở các địa phương :
Năm 1397, Hồ Quý Ly lấy danh nghĩa vua Trần Thuận Tông ra lệnh mở trường học ở các lộ và đặt chức Giáo thụ để quản lý việc giáo dục nhưng việc đó chưa kịp thực hiện
Đến thời Lê các trường học ở phủ huyện mới được thành lập ở xung quanh kinh đô và vùng đồng bằng Trông coi việc học ở phủ là Giáo thụ, ở huyện là Huấn đạo
Trường học phủ huyện đặt ở văn chỉ (1) của phủ huyện hoặc ở công đường phủ huyện Trường tập hợp học sinh vào những ngày sóc vọng hàng tháng để giảng kinh sử, làm văn, chấm bài, và bình văn
Trước khi có khoa thi, học sinh có thể được tập trung vài tuần để ôn luyện và tham gia kỳ thi khảo khóa để được tuyển vào danh sách những người dự thi hương
Theo thống kê của Quốc sử quán triều Nguyễn thời Tự Đức (1864-1875), nước ta có 31 tỉnh và đạo, chia làm 321 phủ và huyện Số trường học phủ huyện trong cả nước có 158 trường, tính trung bình cứ 2 huyện có 1 trường
d Trường tư thục ở nông thôn:
Các trường tư thục là cơ sở đào tạo chủ yếu của nước ta thời phong kiến Những trường lớp này được mở khắp các thôn xóm Lớp học là nhà riêng của thầy hoặc của nhà chủ nuôi thầy
Thầy giáo là những thầy đồ không có điều kiện học cao, hoặc thi không đỗ, các ông tú, những người đỗ đạt nhưng không muốn làm quan hoặc đã từ quan… Học trò gồm nhiều lứa tuổi, từ ấu học cho đến những người đủ trình độ để đi thi
Nội dung học tập gồm những quyển sách được biên soạn để dạy chữ và lồng vào một ít lễ nghĩa, lịch sử… Như : Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên
( ) Văn chỉ : Nơi thờ Khổng Tử
Trang 12tự, Tam trị kinh, Tứ tự kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi…
Những quyển sách dạy chữ vỡ lòng thường được viết bằng văn vần cho học sinh dễ nhớ Ví dụ :
Thiên trời, địa đất, vân mây
Vũ mưa, phong gió, trú ngày, dạ đêm
Tinh sao, lộ móc, tường điềm
Hưu lành, khánh chúc, tăng thêm, đa nhiều
Hoặc : Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam
ba, gia nhà, quốc nước
(Tam thiên tự)
Tam tự kinh là một quyển sách mỗi câu đều có 3 chữ tất cả có 358 câu,
nội dung chủ yếu đề cập đến các vấn đề như tầm quan trọng của việc học, đạo đức, kiến thức thường thức, lịch sử
Ví dụ :
Dưỡng bất giáo, phụ chi quá
Giáo bất nghiêm, sư chi đọa
Tử bất học, phi sở nghi
Ấu bất học, lão hà vi
Ngọc bất trác, bất thành khí
Nhân bất học, bất tri lý
Nghĩa là :
Nuôi không dạy là lỗi của cha
Dạy không nghiêm là lỗi của thầy
Người không học, không biết cư xử
Nhỏ không học, già làm gì
Ngọc không dũa, không thành đồ dùng
Người không học, không biết đạo lý
Ấu học ngũ ngôn thi gồm 278 câu, nói về thú vui của việc học tập và niềm
hy vọng về sự đỗ đạt, do đó, còn gọi là Trạng nguyên thi Trong sách có những
câu như :
Di tử kim mãn doanh
Trang 13Hà như giáo nhất kinh
Tính danh thư quế tịch
Chu tử liệt triều khanh
Nghĩa là :
Để cho con vàng đầy rương
Sao bằng dạy cho một quyển sách
Họ tên chép vào sổ quế (danh sách người thi đậu)
Mặc áo đỏ tía đứng cùng các quan trong triều
Minh tâm bảo giám (cái gương quý làm sáng lòng) gồm 20 thiên, là
quyển sách sưu tập các câu cách ngôn chép trong các kinh truyện và các sách dạy tu dưỡng đạo đức
Tiếp đó, học sinh phải học các sách kinh điển của nhà Nho gồm Tứ thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung) Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân, Thu), Hiếu Kinh, các tác phẩm lịch sử, thơ, phú…
Từ khi bắt đầu học đến khi có thể đi thi học sinh phải qua 4 cấp học : mông học, ấu học, trung tập, đại tập
Mông học tức là cấp vỡ lòng Học sinh bắt đầu học chữ, học tập viết, bắt
đầu tập làm câu đối 4 chữ Cấp này kéo dài khoảng vài ba năm
Sau khi học xong giai đoạn mông học, học sinh đã được khoảng 10 tuổi
bắt đầu chuyển sang giai đoạn ấu học Ở giai đoạn này, học sinh được học sử
và kinh truyện, được tập làm câu đối 7,8 chữ và bắt đầu tập viết văn sách ngắn
Sau 5,6 năm, học sinh chuyển sang giai đoạn trung tập Ở giai đoạn này
học sinh tiếp tục học kinh truyện, học làm thơ phú, kinh nghĩa, văn sách Thầy giáo hạng này thường là Tú tài trở lên mới dạy được
Hết giai đoạn trung tập học sinh chuyển sang giai đoạn đại tập Trường này thường lập ở tỉnh hoặc phủ huyện do Giáo thụ hoặc Đốc học giảng Nếu trường làng do ông Nghè dạy thì học sinh không phải lên học ở trường phủ hoặc trường tỉnh
Tập làm văn là một môn học rất quan trọng đối với những học sinh chuẩn
bị đi thi Mỗi tháng có 4 kỳ tập làm văn Học sinh đến trường nhận đề về nhà làm, 5,6 ngày sau thì nộp bài gọi là văn thường kỳ Ngoài ra, mỗi tháng có 2 kỳ phải làm bài tập tại lớp, một ngày phải làm xong, gọi là văn nhật khắc
Năm nào có khoa thi, học sinh cùng làng rủ nhau làm văn hội Quyển văn hội làm như đi thi, do người có khoa bảng chấm Bài nào hay nhất được nhận giải thưởng bằng giấy hoa tiên hay bút mực
Trang 14Việc học tập của học sinh được cả làng quan tâm Học sinh nào học giỏi được làng khen Ngược lại nhà nào có con em theo học, tuần phu đi tuần vào ban đêm không nghe tiếng học thì làng phạt
III TÌNH HÌNH THI CỬ Ở VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN :
1 Tình hình thi cử từ năm 1075-1396
Trước năm 1075 tức là thời Bắc thuộc và thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, ở Việt Nam chưa có thi cử Thời Hán, ở Trung quốc thi hành chính sách tiến cử Hiếu Liêm và Mậu Tài Do đó, chậm nhất là vào thế kỷ II, có một số người Việt Nam đã được triều đình Đông Hán công nhận hai danh hiệu đó
Thời Đường, có một số người Việt Nam đã sang trung Quốc dự thi và đã đỗ Tiến sĩ, được làm quan ở Trung quốc Tiêu biểu cho số đó là gia đình họ Khương ở quận Cửu Chân (Yên Định, Thanh Hóa) Người ông là Khương Thần Dực làm Thứ sử Châu thư, hai cháu là Khương Công Phụ, Khương Công Phục sang học ở Trường
An, đỗ Tiến sĩ và được làm quan to ở Trung Quốc
Cuối đời Đường, có lẽ là do số thí sinh Việt Nam muốn tham dự các khoa thi
ở Trung Quốc tương đối đông nên năm 845 nhà Đường quy định: sĩ tử An Nam thi khoa Tiến sĩ không được quá 8 người, thi khoa Minh kinh không được quá 10 người
Sau khi giành được độc lập, thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, nước ta cũng chưa có
thi cử Vì vậy, trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú viết :”Nước
ta từ các đời Đinh Lê về trước, khoa cử còn thiếu, triều đình dùng người đại để không câu nệ, có lẽ việc cân nhắc còn rộng rãi mà thực ra thì điều mục chưa được tường”
Đến năm 1075, lần đầu tiên nhà Lý mở khoa thi để chọn Minh kinh bác học
và Nho học tam trường Khoa ấy Lê Văn Thịnh được trúng tuyển và được “vào
hầu vua học” (1)
Tiếp đó, nhà Lý còn tổ chức nhiều kỳ sát hạch để chọn những người biết viết chữ, biết làm toán và hình luật để làm nhân viên hành chính Ngoài ra nhà Lý còn chọn người cho vào Quốc tử giám và thi người có văn học sung làm quan Hàn Lâm Viện
Đến thời Trần, chế độ thi cử được phát triển thêm một bước Năm 1232, nhà Trần tổ chức thi Thái học sinh, những người thi đỗ được chia làm 3 giáp là đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, đệ tam giáp Việc chia thành 3 giáp ở Việt Nam bắt đầu từ đây
( 1 ) Năm 1085, Lý Nhân tông (1072-1127) phong Lê Văn Thịnh làm Thái sư Năm 1096, nhân khi vua ra Hồ Tây xem đánh cá, lợi dụng lúc có mây mù, Lê văn Thịnh đội lốt hổ bơi thuyền đến gần thuyền vua Người đánh cá là Mục Thận quang lưới trùm lên con hổ, phát hiện ra là Lê Văn Thịnh vua nghĩ Thịnh là đại thần có công không nỡ giết, đày lên an trí ở Thao Giang (Phú Thọ)
Trang 15Năm 1246, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép nhà Trần “định lệ thi Tiến sĩ,
cứ 7 năm 1 khoa.” Có lẽ chữ :”Tiến sĩ” ở đây chép nhầm mà phải viết “Thái học sinh” mới đúng Sang năm 1247, thì tổ chức thi và bắt đầu đặt danh hiệu tam khôi
: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Danh hiệu tam khôi bắt đầu có từ đây Trong kỳ thi này, Nguyễn Hiền, 13 tuổi, quê ở Hà Đông đậu Trạng nguyên, Lê Văn Hưu 17 tuổi, quê ở Thanh Hóa đậu Bảng nhãn; Đặng Ma la 13 tuổi, quê ở Hà Nội ngày nay đậu Thám Hoa Đó là 3 vị tam khôi đầu tiên và cũng là 3 vị tam khôi rất trẻ tuổi trong lịch sử khoa cử Việt nam
Đặc biệt, Bảng nhãn Lê Văn Hưu đến đời Trần Thánh Tông (1258-1277) được giữ chức Hàn Lâm Viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu và được giao nhiệm vụ soạn sách Đại Việt sử ký
Ngoài 3 vị tam khôi, khoa này còn có 48 người đỗ Thái học sinh
Năm 1304, thời vua Trần Anh Tông (1293-1314), người đỗ đầu đệ nhị giáp bắt đầu được gọi là Hoàng giáp
Khoa này, Mạc Đĩnh Chi quê ở Hải Dương đậu Trạng nguyên, Nguyễn Trung Ngạn quê ở Hưng Yên, 15 tuổi, đậu Hoàng giáp
Mạc Đĩnh Chi đậu trạng nguyên năm 24 tuổi, rất thông minh nhưng tướng mạo xấu xí, vua có ý chê, ông dâng bài phú Ngọc tỉnh liên (sen trong giếng ngọc) làm cho vua rất khâm phục Trong thời gian làm quan, ông được cử đi sứ Trung quốc hai lần, do đối đáp giỏi, vua quan nhà Nguyên cũng rất khâm phục, gọi ông
là “Lưỡng quốc trạng nguyên”
Nguyễn Trung Ngạn là vị Hoàng giáp đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam Ông từ nhỏ đã nổi tiếng học giỏi, người đương thời gọi là thần đồng Năm 25 tuổi cũng được cử đi sứ nhà Nguyên Do thông minh, có tài, ông có làm bài thơ tự phụ, dịch ra quốc ngữ như sau :
Giới Hiên tiên sinh tài lang miếu
Có chí nuốt trâu từ niên thiếu
Tuổi mới mười hai Thái học sinh
Vừa đến mười sáu dự thi Đình
Hai mươi bốn tuổi làm Quan giám
Hai mươi sáu tuổi sứ Yên kinh
(16,24,26 tuổi nói trong bài thơ này đều tính cả tuổi mụ, thực chất là 15,23,25 tuổi)
Năm 1374, Nhà Trần bắt đầu đặt ra danh hiệu Tiến sĩ và lần đầu tiên sách
Đại Việt sử ký toàn thư ghi tổ chức “thi đình cho các Tiến sĩ”
Sách “Quốc triều hương khoa lục” của cao Xuân Dục viết :”Danh hiệu Tiến
sĩ thì đến năm Long Khánh (1373-1377) đời Duệ Tông mới thấy có (xét trước đó đều gọi là thi Thái học sinh, đến lúc ấy bắt đầu gọi là thi Tiến sĩ, nhưng xem Thái
Trang 16học sinh hạng ưu được gọi là Tam Khôi và Hoàng Giáp, còn lại đều gọi là Thái học sinh, thì biết Thái học sinh chính là Tiến sĩ vậy)”
Sự phát triển của nền giáo dục và chế độ khoa cử đời Trần đã đào tạo được một đội ngũ trí thức quan lại rất đông đảo, trong đó tiêu biểu là Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu… Đặc biệt, thời Trần có một nhà giáo rất nổi tiếng, đó là Chu Văn An (1292-1370) Ông quê ở Thanh Trì, Hà Nội, không đi thi nhưng là người có đạo đức mẫu mực, học vấn uyên bác, là thầy giáo của nhiều người đỗ đại khoa và được làm quan to ở trong triều Trong số đó, có Phạm Sư Mạnh, Lê Quát tuy đã làm hành khiển mà vẫn giữ lễ học trò, khi đến thăm thầy thì lạy ở dưới giường, được nói chuyện với thầy vài câu rồi đi xa thì lấy làm mừng lắm Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc chửi mắng, thậm chí la thét không cho vào
Thời Trần Minh Tông (1314-1329), ông được vua mời làm Quốc tử giám Tư nghiệp dạy Thái tử học Trần Dụ Tông (1342-1369), con thứ 10 của Minh Tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước Ông dâng sớ chém 7 tên nịnh thần, Dụ Tông không trả lời, ông liền trao áo mũ từ quan về dạy học ở Chí Linh (Hải Dương), khi nào triều đình có việc quan trọng triệu ông đến thì ông mới về kinh đô Dụ Tông lại có ý đem chính sự trao cho ông nhưng ông không nhận
Năm 1370, Chu Văn An mất, Trần Nghệ Tông (1369-1371) sai quan đến tế,
truy tặng ông danh hiệu “Văn Trinh Công”, cho thờ ở văn miếu
Chu Văn An là một nhà giáo dục được lịch sử đánh giá rất cao Ngô Sĩ Liên
đời Lê, tác giả “Đại Việt sử ký toàn thư” nhận xét:”Những nhà nho nước Việt ta
được dùng ở đời không phải không nhiều, nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến công danh,, kẻ thì chuyên lo về phú quý, kẻ lại a dua với đời, kẻ chỉ cốt ăn lộc giữ thân, chưa có ai chịu để tâm đến đạo đức, suy nghĩ tới việc giúp vua nêu đức tốt, cho dân được nhờ
ơn Như Tô Hiến Thành đời Lý, Chu Văn Chinh đời Trần, có lẽ gần được như thế Nhưng Hiến Thành gặp được vua (sáng suốt) cho nên công danh, sự nghiệp được thấy ngay đương thời Văn Trinh không gặp vua (anh minh) nên chính học của ông, đời sau mới thấy được Huống chi tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ Ngàn năm về sau, nghe phong độ của ông , há không làm cho kẻ điêu ngoa thành liêm chính, người yếu hèn biết tự lập được sao? Nếu không tìm hiểu nguyên cớ, thì ai biết thụy hiệu của ông xứng đáng với con người của ông Ông thực đáng được coi là ông tổ của các nhà Nho nước Việt ta mà thờ vào văn miếu.”
Phan Huy Chú thời Nguyễn, tác giả bộ sách “Lịch triều hiến chương loại
chí” cũng viết :” Ông Văn Trinh học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, được
đời ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ Tìm trong làng Nho ở nước Việt ta, từ trước đến nay, chỉ có mình ông Các ông khác thực không thể so sánh được “
Trang 172 Tình hình thi cử từ năm 1396-1463:
Từ năm 1396 về trước, việc tuyển chọn nhân tài chỉ qua một kỳ thi mà thôi
Năm 1396, nhà Trần đặt thêm ký thi hương và quy định :”cứ năm trước thi hương
thì năm sau thi hội, người đỗ thì vua thi một bài văn sách để xếp bậc”
Tuy vậy, lúc bấy giờ nhà Trần đã hết sức suy yếu, Hồ Quý Ly đang chuẩn bị cướp ngôi vua nhà Trần nên từ đó cho đến khi triều Trần diệt vong (tháng 2 năm 1400) không có kỳ thi nào được tổ chức
Mãi đến tháng 8 năm 1400 tức là sau khi triều Hồ thành lập, Hồ Quý Ly mới tổ chức kỳ thi Thái học sinh Chính Nguyễn Trãi là một trong 20 người đã đậu trong kỳ thi này
Tháng 12 năm 1400, hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương Năm 1404, Hán Thương định thể thức thi chọn nhân tài : Cứ tháng 8 năm nay thi hương, ai đỗ thì được miễn lao dịch, tháng 8 năm sau thi ở Bộ Lễ, ai đỗ thì được sung tuyển bổ; lại tháng 8 năm sau nữa thì thi hội, ai đỗ thì bổ Thái học sinh Rồi năm sau nữa lại bắt đầu thi hương như năm trước
Năm 1405 “ Hán Thương sai bộ lễ thi chọn nhân tài, đỗ được 170 người Lấy
Hồ Ngạn Thần, Lê Củng Thần sung làm Thái học sinh lý hành (Thái học sinh chưa chính thức)”
Đầu thời Lê, ngay sau khi lên ngôi, năm 1428, Lê Thái Tổ ra lệnh cho các quan văn võ tiến cử người hiền lương phương chính, nếu tiến cử được người giỏi thì được thăng thưởng; nếu vì tiền tài, vì thân quen, tiến cử người không tốt thì bị trị tội theo lệ tiến cử kẻ gian
Cuối năm đó, Lê Thái Tổ lại ra lệnh cho các quan viên và quân dân cả nước, hạn đến tháng 5 sang năm, đến Đông Kinh để các quan văn hỏi thi kinh sử, ai tinh thông được bổ làm quan văn
Năm 1429, Lê Thái Tổ ra lệnh : quân nhân các phủ lộ và những người ẩn dật núi rừng, nếu ai quả thực thông kinh sử, giỏi văn nghệ thì đến ngày 28 tháng 5 tới sảnh đường trình diện để chuẩn bị dự kỳ thi Minh kinh, đồng thời các quan văn võ trong ngoài, từ tứ phẩm trở xuống, người nào thông kinh sử cũng tới sảnh đường để vào trường thi Minh kinh
Năm 1434, sau khi lên ngôi, Lê Thái Tông đã tổ chức một kỳ thi, đã chọn được 1000 học sinh, chia làm 3 bậc Bậc nhất và bậc nhì được vào học trường Quốc tử giám, bậc ba cho về học tại nhà học ở các lộ, đều được miễn lao dịch Những học trò ở nhà học các lộ, đến 25 tuổi mà thi không đỗ thì đuổi về làm dân Tiếp đó, cũng năm 1434, nhà Lê định rõ chế độ thi cử như sau : Bắt đầu năm
1438, tổ chức thi hương ở các đạo, đến năm 1439 thì thi hội ở sảnh đường tại Kinh đô Từ đó về sau, cứ 3 năm thi một lần
Tuy vậy, quy chế này chưa được thực hiện đúng kế hoạch Năm 1438 và
1439 đều chưa tổ chức thi hương và thi hội Đến năm 1442, nhà Lê mới tổ chức được kỳ thi hội đầu tiên Kỳ thi này, Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Lương Như
Trang 18Hộc đỗ Tiến sĩ cập đệ, 7 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, 23 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân trong đó có Ngô Sĩ Liên
Tiếp đó các năm 1448, 1453, 1458, 1462 nhà Lê đều tổ chức thi hội, và từ năm 1463 bắt đầu định lệ 3 năm thi Hội một lần, do vậy năm 1466 lại tổ chức thi Hội tức là đã thực hiện đúng quy chế đó (1)
Như vậy, từ năm 1396, nhà Trần bắt đầu đặt ra 3 cấp thi : Thi hương, thi hội, thi đình Cứ năm trước thi hương, thì năm sau thi hội, người đỗ thi hội thì vua thi một bài văn sách để xếp bậc Nhưng do đất nước có nhiều biến cố, việc thi cử chưa thực hiện đúng kế hoạch ngay cả mấy chục năm đầu của thời Lê mãi đến năm 1466 mới thực hiện đúng quy chế đã định
Khái quát tình hình đó, trong bài “Tiến sĩ đề danh bi ký” của Đàm Văn Lễ
có đoạn viết :”Lê Thái Tổ bình định thiên hạ, nuôi dạy anh tài, hỏi tìm rộng rãi thì cầu người ẩn dật, thu chọn quy mô thì thi khảo học trò, tuy chưa đặt khoa thi Tiến
sĩ mà khí mạnh văn học đã đủ Thái Tông dựng xây nền móng, từ năm Nhâm Tuất (1442) mở khoa thi mà nhân tài quần tụ Nhân Tông kế tiếp mở ba khoa thi mà nhân văn càng thêm rực rỡ Đến Thánh Tông trung hưng năm Quý Mùi (1463) thì số người lấy đỗ nhiều hơn so với trước Song từ khoa Nhâm Tuất (1442) đến khoa Quý Mùi (1463), khi thì 6 năm 1 khoa, lúc lại 5 năm 1 khoa, còn 3 năm 1 khoa thì năm Bính Tuất này (1466) mới bắt đầu.”
3 Chế độ khoa cử từ năm 1466-1919
a Thi sơ tuyển ở Huyện, Châu, Phủ :
Theo quy định của Nhà Lê ban hành năm 1462 những người muốn dự thi phải có giấy bảo đảm của quan địa phương về lý lịch và phải dự một kỳ thi sơ tuyển ở huyện, châu, phủ Những người bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa… dù học giỏi, văn thơ hay cũng không được đi thi
Phường chèo, con hát, và những kẻ phản nghịch, ngụy quan có tiếng xấu thì bản thân và con cháu đều không được dự thi Kỳ thi sơ tuyển ở địa phương gọi là thi khảo hạch, nội dung thi là ám tả, kinh nghĩa để loại bớt những người quá kém
Khi dự kỳ thi sơ tuyển, nếu thí sinh mang sách hay mượn người làm hộ bài thì bị trị tội theo luật
Đến năm 1750, tức là vào thời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) và thời Trịnh Sâm, do triều đình thiếu tiền cho nên cho phép thí
( 1 ) Khoa này, Lương Thế Vinh, quê ở Nam Định, đậu Trạng nguyên, Nguyễn Đức Trinh đậu Bảng nhãn, Quách Đình Bảo đậu Thám hoa, Lê Thánh Tông đã đề thơ trên cờ Tam Khôi như sau :
Trạng nguyên Lương Thế Vinh
Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh
Thám hoa Quách Đình Bảo
Thiên hạ cộng tri danh (cả thiên hạ đều biết tên)
Trang 19sinh được nộp 3 quan tiền gọi là “tiền thông kinh” và được miễn thi khảo hạch
“Vì thế người làm ruộng, người đi buôn, cho chí người hàng thịt, người bán vặt cũng đều làm đơn nộp tiền xin thi cả Ngày vào thi đông đến nỗi dày xéo lẫn nhau, có người chết ở cửa trường Trong trường thi, nào mang sách, nào hỏi chữ, nào mượn người thi thay, công nhiên làm bậy, không còn biết phép thi là gì, những người thực tài mười phần không đậu một” Do đó “hạng sinh đồ 3 quan
“đầy cả thiên hạ (Phan Huy Chú- Lịch triều hiến chương loại chí)
Ví dụ: Khoa Đinh Mão (1807) là khoa thi hương đầu tiên của triều Nguyễn, có 6 trường thi là : Nghệ An, Thanh Hóa, Kinh Bắc (sau đổi thành Bắc Ninh), Hải Dương, Sơn Tây
Khoa thứ 2 là khoa Quý Dậu (1813) gồm có 6 trường là : Quảng Đức(Thừa Thiên), Nghệ An, Thanh Hóa, Thăng Long, Sơn Nam,Gia Định Như vậy, bắt đầu từ năm 1813, ở Nam kỳ có một trường thi hương là trường Gia Định
Năm 1852, lại mở thêm trường thi Bình Định, do đó số trường thi trong cả nước tăng lên 7 trường: Thừa Thiên, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Bình Định, Gia Định
Năm 1861, Pháp tấn công Đại Đồn, rồi chiếm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa Vì vậy khoa này (Tân Dậu 1861) chỉ có 4 trường thi : Thừa Thiên (chung cho cả trường Bình Định), Nghệ An, Hà Nội (chung cho cả trường Thanh Hóa) và Nam Định, còn trường Gia Định thì ngưng hẳn
Khoa Giáp Tý (1864), vì 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã nhường cho Pháp theo hiệp định Nhâm Tuất 5-6-1862, nên nhà Nguyễn mở thêm trường An Giang ở miền Tây Nam Kỳ do vậy khoa này cũng có 6 trường là : Thừa Thiên, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, An Giang
Năm 1867, Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ (An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên) vì vậy từ khoa Đinh Mão (1867) này, ở Nam kỳ không còn trường thi nữa
Khoa Mậu Ngọ (1918) là khoa thi hương cuối cùng, chế độ khoa cử ở Bắc kỳ sau khoa Aát mão (1915) đã bãi bỏ, nên ở Trung kỳ chỉ còn lại 3 trường là Thừa Thiên, Nghệ An-Thanh Hóa và Bình Định
Trang 20Trường thi là một bãi đất trống hoặc cánh đồng đã thu hoạch Trường thi gồm 3 ngăn : ngăn trong cùng là nội trường, ngăn giữa là ngoại trường, ngăn ngoài cùng là nơi thí sinh cắm lều
Nội trường ở giữa có giám viện (nhà họp của các quan nội trường), hai
bên có nhà quan phúc khảo Phía sau nhà quan Phúc khảo có hai nhà quan Sơ khảo, phía sau là nhà quan Giám sát
Ngoại trường ở giữa có thí viện là nhà họp của các quan ngoại trường
Hai bên có nhà quan Chánh phó khảo, nhà quan Chánh phó phân khảo, nhà Giám sát và lại phòng (phòng nhân viên) Giáp nhà ở nội trường có nhà quan Chánh phó Đề tuyển, giữ quyền thi và khớp phách
Ngăn ngoài cùng là trường thi, chia làm 8 vi, ngăn nhau bằng một con đường chữ thập Giữa đường chữ thập có nhà thập đạo Thẳng đường thập đạo
ra đằng trước có một cửa gọi là cửa tiền dành riêng cho thí sinh làm bài xong đi
ra Trường thi được chia thành 8 khu gọi là 8 vi Bốn vi trước gọi là Giáp nhất, Giáp Nhị, Aát nhất, Aát nhị Bốn vi đằng sau gọi là Tả nhất, Tả nhị, Hữu nhất, Hữu nhị Mỗi vi có một cửa lên nhà thập đạo.Trước cửa cho thí sinh vào đều có treo bảng ghi danh sách thí sinh Trong trường thi có 3 cái chòi để các quan Ngoại trường ngồi coi thí sinh làm bài Các nhà dùng trong các kỳ thi trước kia chỉ tạm dựng bằng tre lá, thi xong thì dỡ bỏ
Từ năm 1834 nhà Nguyễn bắt đầu xây trường thi Thừa Thiên trong kinh thành, phía cửa Ninh Bắc Nhà cho các quan Chánh, Phó Chủ khảo, Chánh Phó Đề điêu, Phân khảo và Thập đạo gồm bảy căn một gian hai chái :Nhà cho các quan Giám khảo, Sơ khảo, Thể sát, Mật sát, Lại phòng ngoại trường gồm chín căn hai chái Nhà Thí viện, Công sảnh của quan Đề điệu, Lại phòng nội trường gồm 3 căn 5 gian hai chái : Nhà cho các quan sơ khảo gồm 3 căn sáu gian hai chái Vách sau và hai bên tả hữu hai chái mỗi căn tính toán mở rộng một cửa vòm cong hình bán nguyệt, sau cửa nới ra thêm một chỗ nhỏ làm nhà bếp Ơû mỗi cổng ra tới nhà quan Thập đạo giáp 4 vi Tả, Hữu, Giáp.Aát, và nhà quan Giám khảo giáp nhà các quan sơ khảo, phúc khảo đều xây tường gạch ngăn ra Nơi 4 vi lại dựng 17 dãy mái che dài, mỗi dãy 17 gian Phàm thi Hương thì cho
4 người vào một gian, thi hội thì cách 2 hoặc 3 gian cho một người ngồi, đều lợp bằng ngói
Ở Gia Định, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định cũng căn cứ theo quy thức của bộ gửi mà dựng trường thi, chỉ có 4 vi tả Tả Hữu, Giáp Aát thì để trống chứ không dựng mái che
Về thời gian tổ chức các kỳ thi Hương lúc đầu chưa có quy định, nhưng thường là năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội và đến năm Quý Mùi (1463) thì bắt đầu định lệ 3 năm một lần thi hội Từ đó nhà Lê cũng theo quy chế của nhà Minh :
Thi Hương vào các năm : Tý, Mão, Ngọ, Dậu
Thi Hội vào các năm : Sửu, Thìn, Mùi, Tuất
Trang 21Đến đời Nguyễn, trong thời Gia Long, cứ 6 năm tổ chức một kỳ thi hương; bắt đầu từ năm 1825 mới thực hiện quy chế 3 năm thi một lần Tuy vậy những khi có biến cố chính trị thì kỳ thi bị hoãn, ngược lại nhà nước thỉnh thoảng còn
tổ chức thêm một số kỳ thi gọi là ”Ân khoa” Đặc biệt Thiệu Trị chỉ làm vua
được 7 năm (1841-1847) mà liên tiếp mở ân khoa, đã tổ chức 5 khoa thi liền vào các năm 1841, 1842, 1843, 1846, 1847
Do vậy, từ khoa thi Hương đầu tiên năm 1807 đến khoa thi Hương cuối cùng năm 1918, trong 111 năm nhà Nguyễn đã tổ chức tất cả 45 kỳ thi Hương Về nội dung thi, từ năm 1396, vua Trần đã hạ chiếu quy định thi Hương gồm có 4 kỳ:
Kỳ thứ nhất, thi một bài kinh nghĩa có các phần phá đề, tiếp ngữ, tiền giảng, nguyên đề, đại giảng, kết luận, từ 500 chữ trở lên
Kỳ thi thứ hai, thi một bài thơ Đường luật và một bài phú cổ thể hay thể
Ly tao cũng từ 500 chữ trở lên
Kỳ thi thứ ba, thi một bài chiếu theo thể Hán, một bài chế, một bài biểu theo thể tứ lục đời Đường
Kỳ thứ tư, thi một bài văn sách, đề thi ra theo kinh, sử hay thời sự, 1.000 chữ trở lên
Từ đó về sau, trong một thời gian dài, nội dung thi đều tương tự như vậy, tuy có thời kỳ có thay đổi ít nhiều nhưng không đáng kể, chỉ đến kỳ thi năm
1909 nội dung thi có nhiều thay đổi so với trước Vốn là từ năm 1884, cả nước
ta trở thành thuộc địa của Pháp Bên cạnh chế độ giáo dục và thi cử cũ còn duy trì ở Trung kỳ và Bắc kỳ, Pháp đang thi hành một chế độ giáo dục mới ở Việt Nam Vì vậy, bắt đầu từ khoa Kỷ Dậu (1909), nội dung thi Hương ở 4 trường Trung kỳ được sửa đổi như sau :
Kỳ thứ nhất , thi văn sách 10 bài (gồm kinh, truyện, bắc sử, nam sử), nếu thí sinh làm được 5 bài (kinh 2 bài, truyện 1 bài, bắc sử 1 bài, nam sử 1 bài) là hợp lệ, nếu làm được cả 10 bài thì càng tốt
Kỳ thứ hai, thi thơ phú, mỗi loại một bài (như cũ)
Kỳ thứ ba, thi luận hai đề (1 đề chữ Nho, 1 đề chữ Quốc ngữ)
Nếu thí sinh nào tình nguyện thi dịch chữ Pháp ra chữ quốc ngữ thì thi riêng một kỳ (đề thi do tòa Khâm sứ soạn)
Kỳ thứ tư gọi là kỳ phúc hạch Nội dung thi gồm có văn sách 1 bài, phú 1 đề, luận chữ quốc ngữ 1 đề
Riêng trường Hà Nam, việc thi thơ phú kinh nghĩa đã bãi bỏ nên nội dung thi có hơi khác:
Kỳ thứ nhất, thi văn sách 5 bài, (gồm văn chương, luân lý, Nam Bắc sử, địa dư và chính trị Đông Dương)
Kỳ thứ hai, thi luận chữ Nho hai đề
Trang 22Kỳ thứ ba, thi luận chữ quốc ngữ 2 đề
Kỳ phúc hạch thi một bài luận chữ nho, một bài luận chữ quốc ngữ
Do phương thức thi là phải trúng kỳ trước mới được thi kỳ sau, nên thời gian thi Hương thường là một tháng hoặc hơn một tháng Ngày thi Hương ở các trường thi trong cả nước không thống nhất Dựa vào đặc điểm thời tiết, thời Nguyễn quy định các trướng Thừa Thiên , Nghệ An thi vào tháng 7 âm lịch, các trường Hà Nội, Nam Định thì thi vào tháng 10, trường Gia Định thi vào tháng 9 Về trường quy, chế độ khoa cử ngày xưa quy định hết sức nghiêm ngặt Thí sinh không được mang tài liệu vào trường thi, nếu vi phạm thì bị cấm thi suốt đời
Cụ Phan Bội Châu trong khoa thi năm Đinh Dậu (1897) bị một thí sinh khác bỏ tài liệu vào lều của cụ nên bị án ấy Về sau nhờ có các cụ Nguyễn Thượng Hiền, Khiếu Năng Tĩnh, Đào Tấn xin triều đình bỏ án ấy nên đến khoa thi Canh Tý (1900) được đi thi và đỗ giải nguyên
Bài thi phải viết bằng chữ chân Cả bài không được xóa, móc sót, chữa quá 10 chỗ Chữ viết thiếu hay thừa nét thì mắc lỗi “thiệp tích” tức là bài thi có dấu vết lạ, bị nghi là thí sinh làm dấu hiệu riêng cho quan trường biết
Trong khoa Nhâm Tý (1912), ở trường Bình Định có Trần Tuân trong bài
văn sách trên chữ “đệ” có dấu thêm vào nên bị quy lỗi”thiệp tích”, lại chép
ngược miếu hiệu, thiếu cẩn thận đối với chữ tôn quý, nên đáng lẽ đỗ Cử nhân đã bị giáng cho đỗ Tú tài
Phải kiêng chữ húy tức là phải kiêng tên vua và tên những người trong vương thất Trước ngày thi, danh sách tên húy được yết bảng Khi làm bài, gặp chữ trọng húy thì phải viết rời các nét, chữ khinh húy thì phải viết thiếu nét Nếu phạm húy thì thí sinh bị đóng gông phơi nắng 3 ngày và bị cấm thi suốt đời Nếu phạm trọng húy thì có thể bị tử tội, thầy giáo cũng bị liên lụy
Khi viết bài còn phải chú ý các quy định như đài, trang Đài là khi gặp
những chữ được coi là thiêng liêng như “thiên”, “giao”, “miếu”, “thánh
thượng” thì phải viết cao lên ở phía trên dòng, nếu không viết như vậy thì
phạm lỗi “khiếm đài”
Trang là phải thể hiện sự cung kính đối với vua, như khi làm văn không
được đặt các chữ “hôn” (tối), ”sát” lên trên các chữ “quân vương”, “đế”,
“thánh thượng”… Nếu vô tình việt như vậy thì phạm lỗi “khiếm trang”
- Về danh hiệu thi đỗ, thời Lê và đầu thời Nguyễn, thi Hương có hai
danh hiệu là Hương cống và Sinh đồ Từ khoa Ất dậu (1825) thời Minh Mạng, Hương cống đổi gọi là Cử nhân, Sinh đồ đổi thành Tú tài
Tiêu chuẩn để trúng tuyển Hương cồng hoặc Cử nhân và Sinh đồ hoặc Tú tài mỗi thời một khác Thời Lê và đầu thời Nguyễn người trúng tam trường (tức là kỳ thứ ba) là Sinh đồ, người trúng tứ trường (kỳ thứ tư ) là Hương cống
Trang 23Sau khi đổi Hương cống thành Cử nhân, Sinh đồ thành Tú tài, cách lấy đỗ cũng như vậy, tức là trúng tam trường là Tú tài, trúng tứ trường là Cử nhân Thời kỳ này, chấm điểm chia làm 6 hạng : ưu, ưu thứ, bình, bình thứ, thứ, thứ thứ Ngoài ra còn có điểm liệt là điểm kém
Năm 1909, bắt đầu áp dụng cách chấm điểm từ 0 – 20 Kỳ thứ nhất và kỳ thứ hai nếu được 10 điểm là trúng tuyển, được vào thi tiếp kỳ sau Riêng kỳ thứ
ba, được 40 điểm mới được vào phúc hạch Điểm của kỳ thi phúc hạch phải được 7 điểm trở lên mới đậu Cử nhân, đồng thời cộng điểm của cả bốn kỳ thi để xếp hạng Số còn lại cộng điểm cả 3 kỳ thi, nếu được từ 30-39 điểm thì đỗ Tú tài, nhưng đồng thời phải theo tỷ lệ 1 cử nhân chỉ lấy 3 tú tài
Những người đỗ thi Hương cống hoặc Cử nhân được ban mũ áo và được đãi tiệc Những người chỉ trúng nhị trường thì được miễn đi lính đi phu trong 3 năm, thi trúng nhất trường được miễn một năm
Tuổi dự thi tối đa thường là 40 tuổi, riêng từ năm 1909 quy định tuổi dự thi tối đa là 50 tuổi, nhưng những người đã đỗ tú tài, hoặc là tôn ấm… thì không hạn tuổi Vì vậy, khoa Canh Tý (1900) ở trường Nghệ An có Đoàn Tử Quang đã từng hai lần đậu Tú Tài, đến khoa này mới đậu Cử nhân thứ 29/30 Năm ấy, ông đã… 82 tuổi!
c Thi Hội :
Thi Hội là kỳ thi tổ chức ở kinh đô cho những người đã đỗ thi Hương Đầu đời Lê, thi ở Thăng Long, thời Lê trung hưng thi ở Thanh Hóa, thời Mạc thi ở Thăng Long 2 lần, những lần khác thi ở ngoài Kinh đô hoặc Cao bằng, thời Nguyễn thi ở Huế
Trường thi vẫn là một bãi đất trống nhưng lều của thí sinh được dựng
sẵn Năm 1664, trường thi Hội ở trước sân điện Giảng Võ Năm 1688, trường thi hội ở bãi sông Nhị Hà Năm 1834, nhà Nguyễn cho xây dựng trường thi ở trong kinh thành, bên trong dựng nhà ngói, bên ngoài bao tường gạch Đây là vừa trường thi Hương của địa điểm Thừa Thiên vừa là trường thi Hội của cả nước
Do trường thi thì rộng mà số người được vào thi Hội thì ít nên cách 2 hoặc 3 gian mới có 1 người ngồi thi
Thí sinh thi Hội chủ yếu là những người đã đỗ thi Hương cống hoặc Cử
nhân
Ngoài ra, giám sinh Quốc tử giám, nho sinh ở Chiêu văn quán và Tú lâm cục, ấm sinh và tôn sinh đã qua khảo hạch, các quan chức nhỏ hoặc quân nhân người đã đỗ tú tài đã qua sát hạch của Quốc Tử giám hoặc các quan đầu tỉnh cũng được dự thi
Tuy đây là kỳ thi của những người đã đỗ đạt, đã hoặc sắp trở thành quan lại, nhưng nội quy trường thi vẫn rất nghiêm ngặt Thí sinh chỉ được mặc 2 áo đơn không được mặc áo kép (thường thi vào các tháng 3,4,5) và phải qua 3 lần khám mới vào đến nơi ngồi thi
Về nội dung thi, Thi Hội cũng gồm 4 kỳ :
Trang 24Kỳ thứ nhất, thi kinh nghĩa
Kỳ thứ hai, thi chế, chiếu, biểu
Kỳ thứ ba, thi thơ, phú
Kỳ thứ tư, thi một bài văn sách
Năm 1434, nhà Lê quy định kỳ thi thứ nhất của thi Hội thi một bài kinh nghĩa, tứ thư mỗi sách 1 bài, mỗi bài đều 300 chữ trở lên Kỳ thứ tư thi văn sách, bài làm phải dài 1.000 chữ trở lên
Khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1472) thời Lê Thánh Tông quy định : Kỳ thứ nhất : 8 đề Tứ thư (luận ngữ 4 đề, Mạnh Tử 4 đề)
Thí sinh được chọn 4 đề làm 4 bài văn Kinh Xuân Thu thì hai đề gộp làm một mà làm
Kỳ thứ hai: thi chế, chiếu, biểu, mỗi loại 3 đề
Kỳ thứ ba : thi thơ phú, mỗi loại 2 đề
Kỳ thứ tư : thi một bài văn sách, hỏi về chỗ dị đồng trong nghĩa lý của kinh truyện, điều hay dở trong chính sự của các đời
Sau khi nước ta trở thành thuộc địa của Pháp, năm 1909, nội dung của thi Hương đã có một số thay đổi, nên nội dung khoa thi Hội năm Canh Tuất (1910) cũng thay đổi Cụ thể là :
Kỳ thứ nhất : thi 10 bài văn sách (gồm 5 bài kinh, 2 bài truyện, 2 bài Bắc sử, 1 bài nam sử)
Kỳ thứ hai : 1 bài chiếu, 1 bài dụ, 1 bài sớ, 1 bài biểu
Kỳ thứ ba : 1 bài luận chữ hán, 2 bài luận quốc ngữ
Ký thứ tư : 10 bài văn sách gồm 2 bài sử Pháp, 2 bài Cách trí, 2 bài Địa
dư Việt Nam, 2 bài nhân vật nhà nước, 2 bài về thời sự
Kỳ thứ nhất và kỳ thứ tư nếu mỗi kỳ làm được 6 bài là đủ lệ
Riêng khoa thi Hội cuối cùng là khoa Kỷ Mùi (1919), kỳ thứ tư phải dịch
1 bài chữ Quốc ngữ ra chữ Pháp, 1 bài chữ Pháp ra chữ Hán, và phải làm một bài luận chữ Pháp
Về danh hiệu những người thi đỗ thi Hội, trước kia ba người đỗ đầu vẫn
gọi là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Năm 1484 (Hồng Đức thứ 15), nhân việc vua Lê Thánh Tông ra lệnh dựng bia Tiến Sĩ, Thượng thư bộ Lễ Quách Đình Bảo xin thống nhất quy định :
Trạng nguyên đổi thành Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh
Bảng nhãn : Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh
Thám Hoa: Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh
Những người đậu chánh bảng gọi là Tiến sĩ xuất thân
Trang 25Những người đậu phụ bảng gọi là Đồng Tiến sĩ xuất thân
Đến đời Nguyễn có một số thay đổi :
Trước kia chỉ có người đỗ đầu đệ nhị giáp gọi là Hoàng giáp, nay tất cả ngững người đỗ đệ nhị giáp đều gọi là Hoàng giáp, tất cả những người đỗ đệtam giáp đều gọi là Tiến sĩ
Ngoài ra, từ khoa Kỷ Sửu (1829), nhà Nguyễn định lệ chấm điểm chia ra chánh bảng, phó bảng
Cách chấm điểm lúc bấy giờ được quy định như sau :
Hạng ưu : 10 –9 điểm
Hạng ưu thứ : 8 – 7 điểm
Hạng bình : 6 –5 điểm
Hạng bình thứ : 4 – 3 điểm
Hạng thứ : 2 – 1 điểm
Hạng liệt : 0 điểm
Những người 3 kỳ liền được 10 điểm trở lên là chánh bảng, được 9 điểm trở xuống tới 4 điểm, hoặc hai kỳ liền được 10 điểm trở lên là phó bảng Phó bảng cũng được vào thi điện
Đến năm 1880 thì quy định chỉ có những người được 8 điểm trở lên mới được thi điện, những người được 4 – 7 điểm là là phó bảng, không được thi Điện
d Thi Đình :
Thi Đình tức thi điện là kỳ thi tổ chức ở trong cung vua, thí sinh là những người đã đậu thi Hội, mục đích là xếp hạng, chỉ trừ một số trường hợp cá biệt (1), nói chung không ai bị đánh trượt
Về danh hiệu những người thi Đình tùy theo quyết định của vua, có thể lấy cả 3 hạng đệ nhất, đệ nhị và đệ tam giáp, có khoa chỉ lấy đệ nhị và đệ tam giáp, có khoa chỉ lấy đệ tam giáp mà thôi Ngay trong đó đệ nhất giáp từ thời Lê có Khoa chỉ có đệ nhị hay đệ tam danh Riêng triều Nguyễn không lấy Trạng nguyên, nên đỗ cao nhất chỉ có Bảng nhãn mà thôi Vì vậy, có khi đỗ đầu nhưng chỉ là Đình nguyên Bảng nhãn hoặc Đình nguyên Thám hoa Nếu
Trang 26không có đệ nhất giáp thì chỉ có Đình nguyên Hoàng giáp, thậm chí nếu không có cả đệ nhị giáp thì chỉ có Đình nguyên Tiến sĩ
Do tình hình lấy đỗ như vậy nên triều Nguyễn đã tổ chức được 38 kỳ thi Hội và thi Đình nhưng chỉ có 2 bảng nhãn, 9 thám hoa, 54 Hoàng giáp, 226 Tiến
sĩ Trong số đó cụ Nguyễn Khuyến đỗ Đình nguyên Hoàng giáp khoa 1871 Việc thi cử ngày xưa hết sức khó, người dự thi rất nhiều, người đỗ rất ít Thi Hương đã khó, thi Hội lại càng khó hơn, có Khoa hơn 100 người mới có một người đậu
Sau đây là một số ví dụ :
Năm thi Số Thí sinh Số người đậu Tỷ lệ
Thực hiện chủ trương đó, năm 1304, vua Trần Anh Tông cho dẫn 3 người đỗ đầu Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Bảng nhãn Bùi Mộ, Thám hoa lang Trương Phòng đi du ngoạn đường phố Thăng Long 3 ngày
Đời Lê, đối với những người đỗ Tiến sĩ, nhà nước tổ chức nhiều nghi thức rất trọng thể như lễ xướng danh, treo bảng vàng, ban mũ áo, vua đãi tiệc, lễ vinh quy, bổ làm quan, đặc biệt là được khắc tên vào bia đá
Việc dựng bia Tiến sĩ ở Văn miếu được tiến hành vào năm 1484, thời Lê Thánh Tông cho những người đậu Tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất (1442) tức là từ khoa thi Hội đầu tiên của triều Lê đến khoa Giáp Thìn (1484) tất cả có 10 bia Mỗi bia đều có một bài thuyết minh ca ngợi chính sách trọng dụng trí thức của nhà nước, đồng thời khuyên những người đỗ đạt phải sống và làm việc cho xứng đáng với đạo thánh hiền và những ưu ái của vua
Ví dụ : Bia khoa Nhâm Tuất (1442) viết :
“Kẻ sĩ quan hệ với Quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng Đã yêu mến cho khoa danh lại đề cao bằng tước trật Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ, lại nêu tên ở tháp nhạn, ban danh
Trang 27hiệu Long Hổ, bày tiệc văn hỷ Triều đình mừng được người tài, không có việc
gì không làm đến mức cao nhất.”
Bia khoa Quý Mùi (1463) thì viết :
“Kẻ sĩ may được khắc tên lên bia đá này cố nhiên phải làm sao cho thực xứng với danh, rèn giũa đức hạnh, yên vui phận mình… ngõ hầu trên không phụ ý tốt của triều đình ban khen, dưới không phụ chí cả phò vua giúp dân vẫn thường ngày ôm ấp, để lại vinh dự khôn cùng, thơm tho muôn thủa… ”
Sau đó, trong thời Lê Mạc, việc dựng bia Tiến sĩ vẫn được tiếp tục thực hiện Hiện nay ở khu Văn miếu Hà Nội còn tất cả 82 bia
Do nước ta là nước có nền giáo dục phát triển sớm và phát triển cao như
vậy nên trong “Bình Ngô đại cáo“ Nguyễn Trãi đã khẳng định :
“Xét như nước Đại Việt ta
Thực là một nước văn hiến”
IV CUỘC VẬN ĐỘNG CẢI CÁCH GIÁO DỤC CỦA CÁC SĨ PHU YÊU
NƯỚC:
1 Hoàn cảnh lịch sử :
Đầu thế kỷ XX, sau khi phong trào cần vương thất bại, các sĩ phu yêu nước đang bôn tẩu tìm đường cứu nước Trong khi đó, ở Trung quốc đã diễn ra phong trào duy tân do Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu… đề xướng Cuộc biến pháp năm Mậu Tuất (1898) tuy chỉ tồn tại được 103 ngày thì thất bại nhưng hai họ Khang Lương đã xuất bản được nhiều sách báo mới, trong đó có một số là những sách dịch các tác phẩm của các nhà tư tưởng trong thời đại Khai sáng ở Phương Tây như
Dân ước của Rút xô (J.J Rousseau) Dân quyền thiên của Môngtexkiơ
(Montesquieu)…
Xa hơn một chút, Nhật Bản nhờ cuộc Minh Trị duy tân đã trở thành một nước hùng mạnh Riêng trong lĩnh vực giáo dục, từ năm 1858, ở Nhật Bản đã xuất hiện một trường học kiểu mới theo mô hình Âu Mỹ gọi là trường Keio gijuku (Khánh Ứng nghĩa thục) Đến năm 1905, trường này có 5 khoa là kinh tế, chính trị, pháp luật, văn học và kinh doanh Đó là những ngành học rất thiết thực đối với xã hội lúc bấy giờ
Những biến đổi mới mẻ đó của “các nước đồng văn” đã có ảnh hưởng rất
mạnh mẽ đến tư tưởng các sĩ phu yêu nước của nước ta đầu thế kỷ XX
Nhìn lại thực trạng của Việt Nam, nước ta đã mất, triều đình phong kiến thì ngày càng ươn hèn và thối nát,chế độ giáo dục vẫn tồn tại ở Trung Kỳ và Bắc kỳ thì lạc hậu, không có ích gì cho quốc tế dân sinh
Trước tình hình đó, các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX đã vận động cải cách giáo dục chủ trương xóa bỏ chế độ giáo dục kiểu cũ thay vào đó là một chế độ giáo dục kiểu mới có ích lợi thiết thực đối với sự giàu mạnh của đất nước
Trang 282 Đông Kinh nghĩa thục:
Trong cuộc vận động cải cách dân chủ, các cụ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng… đã thành lập được ở Trung Kỳ một số trường học kiểu mới như trường Dục Thanh ở Bình Thuận, các trường Phước Bình, Phú Lâm, Diên Phong… ở Quảng Nam Các trường này đều dạy bằng chữ quốc ngữ, nội dung học tập gồm các môn Sử ký, Địa dư, Cách trí, Vệ sinh… Ngoài ra học sinh ở những trường này còn được học hát và tập thể thao Có tàiliệu nói năm 1906 chỉ riêng ở Quang Nam đã có tời 40 trường lớn nhỏ kiểu mới này
Tuy nhiên, trường học kiểu mới quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn nhất là Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội
Đông kinh nghĩa thục bắt đầu thành lập tháng 3 – 1907 ở Hàng Đào Hà Nội Tháng 5 – 1907, Đông kinh nghĩa thục nhận được giấy phép của chính quyền thực
dân cho mở trường với điều kiện “ theo phương châm khai hóa của chính quyền
bảo hộ” Nhưng trường học này chỉ tồn tại được chín tháng, đến tháng 12-1907 thì
Cụ Nguyễn Quyền (1869-1941) quê ở Thuận Thành, Bắc Ninh, đậu tú tài, đã từng làm huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, sau từ chức Nhân vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (1908), cụ bị bắt và bị kết án tử hình, sau giảm xuống chung thân, bị đày ra Côn Đảo, sau một thời gian bị đưa về an trí ở Bến Tre Năm 1941, cụ mất ở Sa Đéc
Giáo viên của trường ngoài các trí thức Nho học còn có một số người tân học như Nguyễn văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học…
Trường gồm có 4 ban chuyên môn :
- Ban giáo dục : có nhiệm vụ chiêu sinh, xếp lớp, tổ chức giảng dạy, phân
phát tài liệu học tập
- Ban tài chính : Nguồn tài chính của trường gồm có số tiền đóng góp của
các hội viên Đông Kinh, học phí của học sinh (mỗi tháng 5 đồng/1 người), tiền tài trợ của những người có cảm tình với nghĩa thục
- Ban cổ động : Tổ chức các buổi diễn thuyết, bình văn, nội dung tập trung
vào các vấn đề lịch sử, xã hội, đời sống, bài trừ hủ tục, cổ động học chữ quốc ngữ…
- Ban tu thư : Biên soạn, in ấn tài liệu học tập
Trang 29Nhà trường còn có một cơ quan ngôn luận là tờ báo “Đại Nam Đăng Cổ tùng
báo”, sau đổi tên thành “ Đại nam Đồng văn Nhật báo”
Chủ trương cải cách giáo dục của Đông Kinh nghĩa thục gồm những nội dung chính sau đây :
a Bỏ chế độ giáo dục và khoa cử kiểu cũ
Văn minh tân học sách , một tài liệu quan trọng của Đông kinh nghĩa thục đã phê phán nội dung học tập lạc hậu không thiết thực của chế độ giáo dục cũ như sau :
“Người Châu âu đặt giáo dục chia làm 3 bậc : tiểu học, trung học, và đại học, cứ 4 năm là một kỳ Khi vào học, lấy những môn văn tự nước nhà ngày nay, cổ văn La Mã, văn tự, tiếng nói ngoại quốc, toán học, địa dư làm những môn học đầu tiên Khi học đã mãn khóa, lần bậc tiến lên, thì cứ tùy theo năng khiếu của học sinh, hợp với môn học nào thì dạy môn học đó : chia ra luật học, thiên văn học, võ bị học, y học, cách trí học… Học thành tài rồi mới dùng, dùng làm có được việc thì sau mới thăng chức
Nước ta có thế không? Những môn ta học và nhớ ấy chỉ là sách Tàu, những bài ta chú thích ấy chỉ là lời của cổ nhân, những thứ ta thi ấy chỉ là kinh nghĩa, thơ ngũ ngôn, biền ngẫu tứ lục! Đó là điều ta trái với người về giới giáo dục”
“Đăng Cổ Tùng báo” số ra ngày 28-03-1907 viết : “Chữ Hán quả là
hàng rào hiểm, chắn ngang đường văn minh, làm cho kẻ đi học mỏi lưng, tốn biết bao cơm gạo mới dùng được chữ Khi dùng được chữ thì trán đã nhăn, lưng đã còng vì nỗi dùi mài một đời học các điều cao xa quá
Chữ thảm, chữ hại, làm cho ai mó đến cũng phải quên cả việc thường đời nay để học việc đời xưa… ”
b Chủ trương học chữ Quốc ngữ :
Văn minh tân học sách viết :
“Gần dây, mục sư người Bồ Đào Nha chế ra chữ Quốc ngữ, lấy 26 chữ cái Châu Âu phối hợp với 6 âm , 11 vần đánh theo lối hài thanh mà đọc ra tiếng ta, rất là giản dị và nhanh chóng Tưởng nên một loạt học theo Phàm người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, để cho trong thời gian vài tháng đàn bà trẻ con cũng đều biết chữ, và người ta có thể dùng chữ Quốc ngữ để ghi việc đời xưa, chép việc đời nay, và thư từ thì có thể chuốt lời và đạt ý Đó là bước đầu tiên trong việc mở mang trí khôn vậy”
c Chú trương học các môn thiết thực và chú trọng thực tiễn Việt Nam:
Chương trình học của Đông Kinh nghĩa thục gồm các môn : Việt văn, Hán văn, Pháp văn, Lịch sử, Địa dư, Toán, Pháp Các sách cần đọc cần học trước hết là sách Việt Nam, lịch sử cần học trước hết là lịch sử Việt Nam, lịch sử Trung quốc, lịch sử Phương Tây chỉ học qua thôi
Trang 30Văn minh tân học sách viết :” Nước ta từ xưa đến giờ, các nhà viết văn kể cũng khá nhiều, như Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, như Thực lục, Liệt truyện, Nhất thống chí, Lịch triều chí, Vân đài loại ngũ, Công hạ kiến văn,
Dư địa chí, Gia định chí, Nghệ An phong thổ thoại, Đồ bàn thành ký, Hưng Hóa thập lục châu ký, Phủ Man tạp lục… đều đủ cung cấp tài liệu về sơn xuyên, phong tục, văn vật, điển chương, và để cho người sau mượn đó làm gương nữa Vậy mà người mình một khi đi học là đọc ngay sách Tàu, bỏ sách nước ta không thèm nhìn đến!”
Học Lịch sử thì phải “lấy Nam sử làm phần chính.” “Sử Tàu thì chỉ đọc qua cho biết đại lược Sử Tây thì… cần phải bỏ bớt những chỗ rườm rà để cho người đọc dễ hiểu là được rồi”
Trường Đông kinh nghĩa thục sau khi ra đời đã có ảnh hưởng lớn ở các tỉnh khác thuộc Bắc Kỳ Tại nhiều nơi ở Hà Đông, Hải dương, Thái Bình đã lập nghĩa thục tuy quy mô nhỏ nhưng cũng phỏng theo nghĩa thục Hà Nội
Các trường lớp kiểu mới này đã thu hút được rất nhiều người học, riêng nghĩa thục Hà Nội lúc cao điểm đã có khoảng một ngàn học sinh chính thức theo học
Chỉ một thời gian ngắn, chính quyền thực dân đã nhận ra tính chất cách mạng của tổ chức giáo dục này Toàn quyền Klobukowsky trong báo cáo của mình đã nói :
“ Trong những buổi nói chuyện hay diễn thuyết, bọn họ xúi nhân dân thôn quê chống lại chính phủ Pháp và các quan lại lâu nay cộng tác với sự nghiệp của chúng ta.”
“ Họ đọc thuộc lòng những đoạn thơ ca đượm một tinh thần yêu nước kích động.”
Vì vậy đến tháng 12 – 1907, phủ Thống sứ Bắc kỳ thu hồi giấy phép hoạt động của Đông kinh nghĩa thục với lý do Đông kinh nghĩa thục đã làm cho lòng dân náo động
Trang 31Chương 2 NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
I Chính Sách Giáo Dục Của Pháp Ơû Việt Nam :
Trong quá trình xâm lược và nhất là sau khi đã chiếm được nước ta làm thuộc địa, thực dân Pháp đã thi hành một chính sách giáo dục có tính chất hai mặt : một mặt cần phải truyền bá văn hóa Pháp và đào tạo tay sai, mặt khác phải hạn chế dân trí của Việt Nam
Từ cuối thế kỷ XIX, cố đạo Puy-gi-niê đã nói rằng :” chẳng mấy chục năm nữa, cái đất Việt Nam này sẽ sớm trở thành một tỉnh của Pháp Nhờ sự truyền bá đạo Thiên chúa và nhờ việc dạy tiếng Pháp”
Ngay sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ năm 1862, Thống đốc Bô-na (Bonard) đã coi việc mở rộng nền giáo dục Pháp là “yêu cầu đầu tiên đối với tương lai của Nam kỳ” Bô-na nói :” Cần dạy ngôn ngữ và cách sống Pháp cho thanh niên An Nam để về sau có được những nhân viên giàu năng lực và để đền bù cho những gia đình đã chứng tỏ lòng tận tụy đối với nước Pháp.”
Ngày 31-3-1863, Bô-na ký quyết định tổ chức lại việc giáo dục ở Sài Gòn và các vùng phụ cận Hai trường học đầu tiên, một trường nam, một trường nữ để dạy
con cái của các viên chức và “những người có lòng tận tụy” (1) đã được thành lập Chế độ khoa cử Nho học bị bãi bỏ ở miền Đông Nam kỳ sau khoa thi năm 1861 và ở miền tây nam kỳ sau khoa thi năm 1864
Nhưng mặt khác, Pháp rất hạn chế trong việc mở trường học và chỉ chủ yếu mở các trường học từ trung học trở xuống mà thôi Chính/Toàn quyền Đông Dương Méc
– lanh (Merlin) đã nói :” Ở đây chẳng nên mở mang nền giáo dục theo chiều dọc, mà
tốt hơn hết nên theo chiều ngang.”
Trong khi ở trong nước không có trường cao đẳng, một số thanh niên Việt Nam muốn ra nước ngoài du học thì bị hạn chế
Toàn quyền Anbe Xaro (Albert Sarraut) nói : “Thật là nguy hiểm nếu ta để cho bọn trí thức bản xứ được ăn học ở ngoài quyền hạn của ta, ở xứ khác dưới những ảnh hưởng và những tinh thần học hỏi, chính trị khác, rồi khi về nước, họ có thể dùng những tài tuyên truyền và hoạt động học được ở ngoài để chống lại người bảo hộ địa phương đã từ chối không cho họ ăn học.”
Nếu có thanh niên Việt Nam nào được phép sang Pháp du học cũng chỉ được học một số ngành quy định mà thôi Vì vậy, khi Nhất Linh xin sang Pháp du học nói là xin học nghề chụp ảnh mới được đi
Về sau, vì sợ thanh niên Việt Nam sau khi sang các nước khác du học trở về sẽ trở thành một mối nguy hại đối với sự thống trị của Pháp ở Đông Dương, nên Pháp
1 Dẫn theo Nguyễn Văn Y – Giáo dục số 3 - 1970
Trang 32buộc lòng phải mở một cách nhỏ giọt một ít trường cao đẳng ở Việt Nam Về vấn đề đó, Anbe Xarô nói :
“Trước chiến tranh, những người cách mạng An Nam tạm trú ở Hồng Kông, ở Tàu, Nhật và học hỏi ở các trường đại học Nhật hay Anh… Khi người ta hỏi họ tại sao không theo học ở Đông Dương, họ trả lời :Thực dân không làm gì để dạy dỗ họ,
vì chúng chỉ mở một thứ học chính thấp lẹt bẹt Cho nên tôi đã mở những Lycée (trường đào tạo Tú tài), trường cao đẳng cho An Nam để không còn đứa nào được quyền nhắc lại câu trên và trốn khỏi Đông Dương để đi học những bài dạy làm loạn
ở chỗ khác “
Tuy vậy, số trường học rất ít, số học sinh được thu nhận vào cũng rất ít Theo số liệu chủ tịch Hồ Chí Minh cung cấp năm 1924, toàn Đông Dương có 19 triệu dân mà chỉ có 2965 trường học với 148.000 học sinh, như vậy cứ 1.000 người mới có 7 người được đi học
Nói về chính sách hạn chế giáo dục của chính quyền thực dân, đồng chí Nguyễn Aùi Quốc viết :
“ Nhân dân Đông Dương khẩn khoản đòi mở trường học vì trường học thiếu một cách nghiêm trọng Mỗi năm, vào kỳ khai giảng, nhiều phụ huynh phải đi gõ cửa, chạy chọt mọi nơi thân thế, có khi chịu trả gấp đôi tiền nội trú, nhưng vẫn không tìm được chỗ cho con học Và hàng ngàn trẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường “
(1)
II Chế Độ Giáo Dục Của Pháp Ơû Việt Nam Từ 1861-1945
1 Các trường học ở nam Kỳ từ 1861-1886
Tháng 02 – 1859, Sài Gòn bị quân Pháp chiếm Để được thuận lợi hơn trong việc chinh phục Việt Nam, năm 1861, Pháp thành lập trường học đầu tiên ở Nam Kỳ, đó là trường thông ngôn được đặt tên là trường Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) do cố đạo Cơrốc làm Hiệu trưởng Những học viên đầu tiên của trường này là một số ngụy quân và những kẻ sẵn sàng làm tay sai cho Pháp
Sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) vào năm 1862 Pháp đã bắt tay ngay vào việc thành lập các trường tiểu học ở các trung tâm lớn Trong các trường học đó đã bắt đầu dạy chữ quốc ngữ nhưng chưa bắt buộc Đến năm 1880, thống đốc Lơ Mia đơ Vile (Le Myre de Vilers) ra nghị định quy định trường học phải dạy song song hai thứ chữ Hán và chữ quốc ngữ Từ đó việc dạy chữ quốc ngữ mới có tính chất bắt buộc
Để có giaó viên có thể giảng dạy trong các trường kiểu mới, năm 1871, Pháp bắt đầu mở trường Sư phạm ở Sài Gòn Trong trường này, học chữ Pháp là chính, chữ Nho và chữ quốc ngữ là phụ Sau 3 năm, trường này đã đào tạo được một đội ngũ giáo viên được phân công đến giảng dạy ở các trường tiểu học ở các thị trấn
1 Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 2 NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội – 1995 Trang 97
Trang 33Đến năm 1874, Pháp ban hành bản quy chế đầu tiên về giáo dục, chia nền giáo dục làm hai bậc là tiểu học và trung học
Bậc tiểu học, bỏ các trường dạy quốc ngữ ở các làng, lập 6 trường mới ở Sài
Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng
Thời gian học : 3 năm
Chương trình học : chữ quốc ngữ, chữ Nho, chữ Pháp, số học
Cuối bậc tiểu học, học sinh phải thi tốt nghiệp với hai hình thức thi : thi viết
và thi vấn đáp
Bậc trung học : Chỉ mới có một trường là Trường Sư phạm thành lập năm
1871, đến năm 1874 được đổi thành trường Sátxơlu Lôba (Chasseloups Laubat – tên của một bộ trưởng bộ Hải ngoại Pháp)
Thời gian học : cũng 3 năm
Chương trình học gồm tiếng Pháp, chữ quốc ngữ, Toán, Đại lý, Lịch sử
Cuối bậc trung học, học sinh phải thi tốt nghiệp
Năm 1897, quy chế ban hành năm 1874 được sửa đổi Quy chế mới chia hệ thống giáo dục thành 3 cấp I, II,III
Các trường cấp I là các trường hàng tổng Thời gian học là 3 năm Chương
trình học gồm chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, và bốn phép tính Cuối cấp I phải thi lên cấp
II
Các trường cấp II được gọi là trường hàng quận Thời gian học cũng 3 năm
Chương trình học gồm tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ, chữ Nho, Toán, Lịch sử, Địa lý Chữ Nho và chữ Quốc ngữ mỗi tuần chỉ học 2 ngày Các môn khác đều học bằng tiếng Pháp Cuối cấp II có một kỳ thi để lấy bằng Sơ học (Brevet élémentaire)
Trường cấp III là trường trung học Thời gian học là 4 năm Các môn học như cấp II nhưng cao hơn Cuối cấp III có một kỳ thi để lấy bằng Cao học (Brevet Supérieur) Lúc bấy giờ ở Sài Gòn chỉ có 2 trường trung học là trường Bá Đa Lộc và trường Satxơlu Lôba Ở Mỹ Tho năm 1879 cũng thành lập một trường trung học, đến năm 1881 thì đổi tên thành trường Le Myre de Vilers Đến năm 1886 tức là sau gần
20 năm chiếm toàn bộ Nam kỳ, về giáo dục , Pháp đã đạt được kết quả như sau :
Số giáo viên Loại trường Số trường
Người Pháp Người Việt
Số học sinh
Trang 34Tổng cộng :
- Số trường các cấp : 343 trường
- Số giáo viên người Việt : 503 người
- Số học sinh các cấp : 18.231 học sinh
Tính trung bình, mỗi trường hàng quận có gần 100 học sinh
Mỗi trường hàng tổng có : gần 50 học sinh
Mỗi trường xã có : gần 40 học sinh
Sở dĩ số học sinh theo học ở các trường do Pháp mở hạn chế như vậy là vì nhiều phụ huynh học sinh tẩy chay không cho con em mình đến học Trong khi đó nhiều gia đình vẫn cho con học chữ Nho với các thầy đồ Đến năm 1886, ở Nam kỳ vẫn còn 426 thầy đồ và 8.496 học sinh theo học
Do tình hình đó nên người Pháp than phiền rằng hơn 20 năm xâm chiếm Việt Nam mà họ chỉ đào tạo được “vài trăm người An Nam nói tiếng Pháp, vài ngàn người nói sai tiếng Pháp, đó là những bồi bếp, những người kéo xe… ”
2 Chế Độ Giáo Dục Của Pháp Ơû Việt Nam Từ 1886 - 1917
Sau hiệp ước Patenôtre năm 1884, toàn bộ Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, nhưng về hình thức, chỉ có Nam kỳ là xứ thuộc địa của Pháp, còn Trung kỳ và Bắc kỳ là xứ bảo hộ Triều đình nhà Nguyển dù không có quyền hành vẫn tiếp tục tồn tại
Do tình hình như vậy, ở Nam kỳ, chế độ khoa cử đã bị xóa bỏ hoàn toàn sau khi thi cuối cùng ở An Giang năm 1864, và các trường học kiểu mới đã được thành lập sớm nhất ở đây, còn ở Trung kỳ và Bắc kỳ Pháp tỏ ra thận trọng hơn : đồng thời với việc thành lập chế độ giáo dục mới, Pháp vẫn duy trì chế độ khoa cử thêm một thời gian nữa nhưng cũng lồng vào một số nội dung mới
a Sự thiết lập chế độ giáo dục mới :
Trong giai đoạn này, Pháp đã mở được một số trường học mới, trong đó tiêu biểu là :
Trường thông ngôn : Lập tháng 01 năm 1886 ở Hà Nội Năm 1905,
trường chuyển thành trường Cao đẳng tiểu học, đến năm 1908, cơ sở chuyển đến làng Bưởi và đổi tên thành Trường Bảo Hộ (Collège du Protectorat) nhưng nhân dân thì quen gọi là trường Bưởi
Quốc gia học đường tức Pháp tự quốc gia học đường thành lập ở Huế năm
1896 theo Dụ của vua Thành Thái ngày 23-10-1896 và Nghị định của Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau ngày 18-11-1896 Khi mới thành lập, trường chỉ là một trường Tiểu học đóng ở dinh Thủy sư (trại lính thủy xây dựng từ năm 1806) Năm 1918 mới khánh thành trường khang trang như hiện nay Đến năm 1936, đổi tên thành trường trung học (lycée) Khải Định Từ năm 1958 gọi là trường Quốc học
Trang 35Trường Nữ trung học Sài Gòn thành lập năm 1913, còn gọi là trường Aùo Tím, sau đổi tên thành trường Gia Long
Trường Đồng Khánh thành lập ở Huế năm 1917, dành riêng cho nữ học sinh
Trường Marie Curie thành lập ở Sài Gòn năm 1917, dành riêng cho nữ sinh người Pháp và một số ít nữ sinh người Việt
Trường Nội trú ở Cần Thơ thành lập năm 1917 Năm 1925 đổi tên thành trường Trung học Cần Thơ
Ngoài ra còn nhiều trường Tiểu học ở các địa phương
Bên cạnh hệ thống các trường phổ thông, thời kỳ này Pháp đã thành lập ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn một số trường chuyên nghiệp
Các trường chuyên nghiệp ở Hà Nội :
- Trường Dạy nghề thành lập năm 1898 Thời gian học là 3 năm Trường
có 3 ngành :
Kỹ nghệ gồm hai phân ban đồ sắt và đồ gỗ
Kỹ nghệ nông nghiệp gồm : làm vườn, chăn nuôi, chăn tằm
Mỹ nghệ gồm : sơn, đúc đồng
Điều kiện được dự thi tuyển là phải biết tiếng Pháp và biết làm 4 phép tính Mục đích nhằm đào tạo những công nhân có học, có khả năng trở thành đốc công hoặc xưởng trưởng
- Trường Công Chính thành lập năm 1902, mục đích nhằm đào tạo nhân
viên kỹ thuật công chính Khi trường mới thành lập, thời gian học là 2 năm Điều kiện vào học là nếu có bằng Trung học thì được miễn thi tuyển, nếu chỉ có bằng Tiểu học thì phải thi
Trường Hậu bổ (Ecole d’apprentis mandarins) thành lập năm 1903 Năm
1912 đổi thành trường Sĩ hoạn (Ecole des mandarins) Mục đích nhằm đào tạo các quan lại như tri phủ, Tri huyện, Giáo thụ, Huấn đạo Điều kiện nhập học là những người đã đậu Cử nhân Tú tài Nho học hoặc là ấm sinh Thời gian học là
3 năm
Năm 1917, trường đổi thành trường Pháp Chính Đông Dương (Ecole de Droit et d’Administration) để đào tạo quan lại ngạch Tây Những người tốt nghiệp ở đây được bổ làm Tham biện
Trường Y khoa Đông Dương thành lập năm 1904 Hiệu trưởng đầu tiên
là bác sĩ Alexandre Yersin Thời gian học là 3 năm Năm 1913, trường được cải tổ và đổi tên thành trường Y Dược Đông Dương, gồm các khoa Y, Dược, Hộ sinh Đến năm 1919 thì thêm khoa Mắt
Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương thành lập năm 1917