quân một năm xảy ra trên 100 vụ giết trẻ em, 800 vụ xâm hại tình dục với khoảng 900 em là nạn nhân và 50 vụ bắt cóc, buôn bán trẻ em được phát hiện và xử lý hình sự, trong đó có một số v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ THỊ THUÝ HUYỀN
BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG
BẠO LỰC TRẺ EM HIỆN NAY
(Khảo sát báo Giáo dục và Thời đại, báo Lao động và Xã hội,
báo Pháp luật Việt Nam, báo Hoa học trò và báo Thiếu niênTiền phong
từ tháng 06/2011 đến tháng 05/2012)
Ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC OANH
HÀ NỘI – 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẠO LỰC TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9
1.1 Khái niệm về vấn đề phòng chống bạo lực đối với trẻ em 9
1.2 Nguyên nhân 12
1.3 Hậu quả 25
1.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và quyền trẻ em 30
1.5 Pháp luật Việt Nam đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em bị bạo lực nói riêng 35
1.6 Báo chí với vấn đề phòng chống bạo lực đối với trẻ em 38
CHƯƠNG 2:KẾT QUẢ KHẢO SÁT TRÊN CÁC BÁO: LAO ĐỘNG XÃ HỘI, PHÁP LUẬT VIỆT NAM, GIÁO DỤC&THỜI ĐẠI, HOA HỌC TRÒ VÀ THIẾU NIÊN TIỀN PHONG,TỪ THÁNG 6/2011 ĐẾN THÁNG 5/2012 50
2.1 Lý do chọn các báo; Vài nét về các báo chọn khảo sát 50
2.2 Kết quả khảo sát về số lượng 53
2.3 Kết quả khảo sát về nội dung phản ánh 60
2.4 Kết quả khảo sát về hình thức phản ánh 84
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI BÁO CHÍ VỀ VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC TRẺ EM 97
3.1 Tăng cường tuyên truyền làm thay đổi nhận thức 98
3.2 Tăng cường giáo dục về pháp luật 104
3.3 Đa dạng hóa thể loại tác phẩm báo chí 107
3.4 Bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ phóng viên viết về trẻ em và đề tài bạo lực đối với trẻ em 110
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 120
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
11 Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em : UBDSGĐ&TE
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội Sự phát triển của trẻ em có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở đất nước ta Từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác này trong các thời kỳ Những năm gần đây, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày càng được
xã hội quan tâm nhiều hơn và đạt được những tiến bộ đáng khích lệ
Nhân loại đang sống trong thế kỷ XXI với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật và công nghệ, cùng với những biến đổi nhanh chóng của các quan hệ xã hội, gia đình cũng có sự biến đổi mạnh mẽ Trải qua gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế của chúng ta đã và đang vận hành theo cơ chế thị trường Những mặt tích cực của cơ chế thị trường, của tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế đã đem lại những đổi thay kỳ diệu, mở ra nhiều cơ hội mới cho đất nước Song nó cũng đem đến những thách thức không nhỏ cho quốc gia và công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang có xu hướng gia tăng, trong đó gồm trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ
em bị bỏ rơi, trẻ em lang thang, trẻ em phải lao động sớm, trẻ em bị buôn bán, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDs
Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình trạng bạo lực đối với trẻ em diễn biến phức tạp, tính chất cũng nghiêm trọng hơn và đã ảnh hưởng rất lớn đến toàn xã hội Tình trạng bạo lực đối với trẻ em vẫn chưa được ngăn chặn
có hiệu quả Theo báo cáo của Bộ LĐTB&XH, trong hai năm 2008-2009 cả
Trang 5quân một năm xảy ra trên 100 vụ giết trẻ em, 800 vụ xâm hại tình dục với khoảng 900 em là nạn nhân và 50 vụ bắt cóc, buôn bán trẻ em được phát hiện
và xử lý hình sự, trong đó có một số vụ gây bức xúc trong dư luận xã hội, nhiều trẻ em bị chính cha mẹ, người thân, thầy cô giáo và những người có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hành vi bạo lực đối với trẻ em
Tất cả những điều đó đã trở nên bức xúc, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có nhiều quyết sách về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đồng thời phải tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục những kiến thức
về Quyền trẻ em, phòng chống bạo lực đối với trẻ em, đặc biệt cần phát huy ưu thế của hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là báo chí
Đảng và Nhà nước ta cũng đã đặc biệt chú trọng tới việc tuyên tuyền, giáo dục kiến thức Quyền trẻ em, phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên hệ thống thông tin đại chúng Nhiều tờ báo, tạp chí, đặc san, phụ san chuyên về lĩnh vực gia đình, trẻ em, pháp luật như: Pháp luật Việt Nam, Lao động và Xã hội, Gia đình và trẻ em, Gia đình và xã hội, Giáo dục và Thời đại, Hoa học trò, Thiếu niên Tiền phong, Nghiên cứu gia đình và giới, Gia đình, Kiến thức gia đình, Bác sĩ gia đình, Hạnh phúc gia đình lứa đôi, Phụ nữ Việt Nam, Phụ
nữ Thủ đô, đã xuất hiện và ngày càng có vị trí quan trọng
Từ thực tế này xuất hiện một yêu cầu cần thiết là nghiên cứu, tổng kết, đánh giá một cách có hệ thống từ mỗi tờ báo nói chung, ở những tờ báo, tạp chí chuyên về lĩnh vực trẻ em, gia đình, pháp luật nói riêng nhằm tiếp tục phát huy những thế mạnh, đồng thời rút kinh nghiệm kịp thời những hạn chế, thiếu sót, mở ra những hướng nghiên cứu, tuyên truyền và giáo dục hiệu quả hơn
Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Báo chí với vấn đề phòng chống bạo lực
đối với trẻ em hiện nay” làm đề tài nghiên cứu là một trong những việc làm
cần thiết và mang ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
Trang 62 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến nay, nhiều hội thảo bàn giải pháp phối hợp giải quyết tình trạng trẻ
em bị bạo lực, xâm hại được tổ chức với sự tham gia đóng góp ý kiến của Lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia chuyên ngành được tổ chức
Năm 2010, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo quốc gia về giải pháp phòng ngừa bạo lực, xâm hại trẻ em
Năm 2011, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Văn hóa, Giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội tổ chức Hội thảo: “ Thúc đẩy hợp tác liên ngành phòng chống xâm hại trẻ em ở Việt Nam”
và Diễn đàn trẻ em quốc gia lần thứ 2 với chủ đề “ Trẻ em với môi trường an toàn, thân thiện”
Bộ Công an thực hiện Đề án 4 thuộc Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm “ Đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên”
Từ 8/2009 đến 11/2010, báo Gia đình và Xã hội tổ chức cuộc thi viết báo “Nói không với bạo lực gia đình”, với sự chỉ đạo của Tổng cục Cảnh sát Phòng, chống tội phạm (Bộ Công an), Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Cục Dân số-
Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) Cuộc thi đã nhận được 1.536 bài gửi về 4 cơ quan báo chí tham dự và trong đó có nhiều bài viết về vấn đề trẻ em bị bạo lực
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Hoa cũng đã chọn “Đề tài bạo hành đối với phụ nữ trên báo chí hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ Báo chí năm 2007 Trong đó, tác giả cũng có đề cập, khảo sát tệ nạn xâm hại tình dục trẻ em, nạn mại dâm, buôn bán trẻ em
Các cách tiếp cận trên về phòng chống bạo lực đối với trẻ em dưới nhiều góc độ khác nhau, tập trung vào phân tích thực trạng, nguyên nhân và
Trang 7công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động xã hội phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em
Tuy nhiên, chƣa có đề tài nào lấy báo chí làm đối tƣợng khái quát và nghiên cứu cụ thể về việc tuyên truyền phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên báo chí
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Việc tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối
với trẻ em trên báo chí
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong việc tập trung khảo sát nghiên cứu
những nội dung chủ yếu về tuyên truyền phòng chống bạo lực đối với trẻ em
đã đăng tải trên báo Giáo dục và Thời đại, báo Lao động và Xã hội, báo Pháp
luật Việt Nam, báo Hoa học trò và báo Thiếu niên Tiền phong trong thời gian một năm từ tháng 6/2011 đến tháng 5/2012
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Tìm hiểu đƣợc những thành công và hạn chế trong công tác
tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên các báo Giáo dục và
Thời đại, báo Lao động và Xã hội, báo Pháp luật Việt Nam, báo Hoa học trò
và báo Thiếu niên Tiền phong Góp phần đƣa ra vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên báo chí nói chung, ở những báo chuyên ngành nói riêng
Nhiệm vụ: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về bạo lực đối với trẻ em;
thực trạng; phòng ngừa và khắc phục tình trạng bạo lực đối với trẻ em; sự cần thiết phải tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em và vai trò của
báo chí trong công tác đó
Khảo sát thực trạng việc tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên năm tờ báo để đánh giá những thành công, hạn chế về nội dung
Trang 8cũng như hình thức của những báo chí đó trong việc tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em
Phân tích những nguyên nhân cơ bản của thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trong báo chí nói chung, trong báo chí chuyên ngành nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp khảo sát, thống kê, đúc rút thực tiễn với sự tham khảo có chọn lọc và đưa ra những đề xuất, góp ý trên
tinh thần khách quan, khoa học và xây dựng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Góp phần hệ thống hóa, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận liên quan đến trẻ em, bạo lực đối với trẻ em; phòng ngừa và giải pháp
Góp phần làm sáng tỏ thêm vai trò, tác dụng của tuyên truyền, giáo dục
về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên báo chí trong giai đoạn cách mạng mới
Đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả, tác dụng của việc tuyên truyền, giáo dục về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên báo chí
Góp thêm tiếng nói và một số kinh nghiệm nhắc nhở trẻ em, các bậc cha
mẹ và toàn xã hội nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, thay đổi, điều chỉnh thái
độ, nhận thức và hành vi trong cuộc sống; giảm thiểu bạo lực đối với trẻ em
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm có 3 chương, 14 tiết
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ BẠO LỰC TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Khái niệm về vấn đề phòng chống bạo lực đối với trẻ em
1.1.1 Khái niệm về Trẻ em
Khái niệm “Trẻ em” đã được đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ (1924), Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1959), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1968), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (1990), Công ước 138 của
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc (1976): “Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người” Trẻ em là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCSGD) đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp
về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời
Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục
Theo Điều 1 của Công ước LHQ về quyền trẻ em, “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn” Tuy nhiên, Luật BVCS&GD trẻ em của nước ta (12-8-1991) xác định trẻ em là “ Công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”[25, tr.3] Còn theo Từ điển bách khoa Việt Nam 4 do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn, nhà xuất bản Từ điển bách khoa, năm 2005 thì Khái niệm như sau:
Trang 10Trẻ em: giai đoạn phát triển của đời người từ lúc sơ sinh cho đến tuổi trưởng thành Có đặc điểm nổi bật là sự tăng trưởng và phát triển liên tục về thể chất và tâm thần Quá trình phát triển của trẻ em trải qua các thời kì: sơ sinh, bú mẹ, trước khi đi học, đi học
và tuổi dậy thì Ở mỗi thời kì, có những đặc điểm sinh học khác nhau nên việc nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cũng khác nhau, phù hợp với những đặc điểm của mỗi thời kì
1.1.2 Khái niệm về Bạo lực, trẻ em bị bạo lực:
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Bộ GD&ĐT - Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam biên soạn (1999), Bạo lực là “Sức mạnh dùng để trấn áp, chống lại lực lượng đối lập hay lật đổ chính quyền”
Còn theo Từ điển Tiếng Việt do Viện KHXHVN - Viện Ngôn ngữ học biên soạn (1992), Bạo lực là “Sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ” Định nghĩa trên dường như chưa thực sự phản ánh đầy đủ trên bình diện
xã hội học bởi vì nó mới chỉ nhấn mạnh yếu tố về sức mạnh, cưỡng bức Bạo lực không chỉ bao hàm cả hành động bạo lực mang tính vật chất mà còn gây
ra những thương tổn tinh thần cho con người
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát
Bạo lực đối với trẻ em là một khái niệm khá rộng, pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa chính thức cũng như chưa quy định cụ thể các hành vi bạo lực đối với trẻ em
Nhưng theo Thông tư số 23/2010/TT-LĐTBXH ngày 16/8/2010 của Bộ
Trang 11em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục thì có đề cập: Trẻ em bị bạo lực là nạn nhân của một trong các hành vi sau đây:
- Lăng nhục, chửi mắng, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý, gây tổn thương về tinh thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em;
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của trẻ em;
- Đối xử tồi tệ, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bắt làm những việc trái với đạo đức xã hội;
- Cưỡng ép trẻ em lao động quá sức, quá thời gian quy định, làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại và những công việc trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng hoạt động mại dâm
1.1.3 Khái niệm về Phòng chống
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam biên soạn (Nguyễn Như Ý chủ biên), nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 1998 thì Khái niệm rằng:
“Phòng là tìm cách ngăn ngừa, đối phó với điều không hay có thể xảy
ra, gây tai hại cho mình”
“Chống là gây tác động, trở lực ngược lại với hoạt động của ai hoặc của cái gì”
Trong khuôn khổ luận văn này thì phòng chống cũng được dùng theo nghĩa trên, nghĩa là ngăn ngừa và xử lý đối với bạo lực trẻ em
1.1.4 Khái niệm về Vấn đề
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam biên soạn (Nguyễn Như Ý chủ biên), nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 1998 thì Khái niệm rằng:
“Vấn đề là điều cần phải được nghiên cứu giải quyết”
Trang 12Trong luận văn này, vấn đề cũng được dùng theo nghĩa trên
1.2 Nguyên nhân
Trẻ em bị bạo lực là thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Vì sao trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ngày càng gia tăng? Có nhiều nguyên nhân được đưa ra, tuy nhiên chúng ta có thể phân tích và tổng hợp một số nguyên nhân chính như sau:
• Thiếu một khuôn khổ hoàn chỉnh về pháp luật, quy định và chính sách;
• Hệ thống bảo vệ trẻ em còn yếu, các chính sách và dịch vụ phúc lợi xã hội chưa phù hợp;
• Các nhân tố kinh tế, xã hội; và
• Xã hội, gia đình và bản thân trẻ em còn thiếu nhận thức về quyền trẻ em Các nguyên nhân trên sẽ lần lượt được phân tích trong phần dưới đây
1.2.1 Thiếu một khuôn khổ hoàn chỉnh về pháp luật, quy định và chính sách
Việt Nam đã xây dựng nhiều luật và quy định nhằm giải quyết vấn đề xâm hại trẻ em và đã có nhiều nỗ lực nhằm hài hòa khuôn khổ luật pháp quốc gia với các văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn Tuy nhiên tới nay, các nỗ lực bảo vệ trẻ em của Việt Nam chưa tạo nên một phương pháp tiếp cận toàn diện mang tính hệ thống, luật pháp và chính sách hiện tại chưa bảo
vệ được một cách hiệu quả tất cả trẻ em Việc xây dựng các luật, chính sách
và chương trình vẫn được thực hiện đơn lẻ, phân tán và thiếu hệ thống
Một trong số những khó khăn lớn trong bảo vệ trẻ em là việc thiếu một khung luật pháp và điều chỉnh toàn diện về vấn đề trình báo, đánh giá, điều tra, cũng như chuyến tuyến và cung cấp dịch vụ cho trẻ em bị xâm hại, bạo lực, bóc lột, hoặc trẻ em có nguy cơ cao
Vấn đề bạo lực, xâm hại trẻ em lại được quy định rải rác trong nhiều
Trang 13định nghĩa không thống nhất về bạo lực, xâm hại trẻ em Việc thiếu một định nghĩa cụ thể về bạo lực, xâm hại trẻ em cũng là một điểm yếu của hệ thống tạo điều kiện cho việc hiểu hoặc diễn giải sai bản chất vấn đề, do đó làm hạn chế việc trình báo các trường hợp bạo lực, xâm hại
Năm 2005, Ủy ban DS-GĐ&TE trước đây đã tiến hành đánh giá các chính sách và pháp luật có liên quan và đối chiếu với các văn kiện quốc tế trong đó có CRC nhằm tăng cường cải thiện môi trường pháp lý về bảo vệ trẻ
em khỏi mọi hình thức bạo lực, xâm hại Đánh giá này đã khuyến nghị xây dựng một khuôn khổ pháp luật và chính sách toàn diện và khắc phục một số khiếm khuyết của khuôn khổ pháp luật hiện hành về bảo vệ trẻ em
Ví dụ, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em năm 2004 quy định các hành vi bị cấm nhưng lại không phân loại những hành vi này thành các nhóm hành vi xâm hại thể chất, xâm hại tình dục, xâm hại tinh thần Điều này gây khó khăn cho việc hình dung ra một bức tranh cụ thể thế nào thì bị coi là xâm hại trẻ em ở Việt Nam Một số hình thức xâm hại trẻ em như sao nhãng, xâm hại tinh thần còn được định nghĩa khá mơ hồ, đặc biệt, vấn đề xâm hại tinh thần còn chưa được quy định rõ ràng, cụ thể và chưa được quan tâm thích đáng Ranh giới giữa dâm ô trẻ em quy định tại điều 116 Bộ luật Hình sự và quấy rối tình dục trẻ em quy định tại điều 15 Nghị định số 11/2006/NĐ-CP chưa rõ ràng
Pháp luật Việt Nam đã quy định cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành
vi bạo lực, bạo hành gia đình Tuy nhiên, các quy định liên quan còn phân tán trong nhiều văn bản luật và quy định, thiếu tính nhất quán, tính khả thi,
và thiếu các biện pháp cụ thể cần thiết cho việc phòng chống bạo lực gia đình
Vì lý do này, việc phòng ngừa và đấu tranh chống bạo lực đối với trẻ em, bạo lực gia đình còn gặp nhiều khó khăn
Trang 14Điều 13 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em 2004 quy định không ai có quyền bắt buộc trẻ em phải sống tách biệt khỏi cha mẹ trừ khi xét thấy sự cách ly đó là phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ Luật này chưa quy định các trường hợp cụ thể cần cách ly trẻ khỏi cha mẹ khi trẻ bị bạo lực, xâm hại Tuy nhiên, một số các luật khác (Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Tố tụng Dân sự và Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình) đều đã có quy định về việc cách ly trẻ khỏi cha mẹ hoặc cấm tiếp xúc khi trẻ bị xâm hại hoặc bạo lực trong môi trường gia đình
Mại dâm trẻ em là một hình thức bóc lột trẻ em cần phải lên án mạnh
mẽ Tuy nhiên, luật pháp Việt Nam còn thiếu định nghĩa rõ ràng về mại dâm trẻ em Bộ luật Hình sự có quy định một số tội danh liên quan tới mại dâm bao gồm "chứa mại dâm" (điều 254) và "môi giới mại dâm" (điều 255) trong
đó có quy định tình tiết tăng nặng khi đối tượng mại dâm là trẻ em Bộ luật này cũng có một số quy định cụ thể về hành vi mua dâm người chưa thành niên từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi (điều 256) Tuy nhiên, các quy định này chưa bao quát đầy đủ tất cả các hành vi liên quan đến mại dâm như quy định của Nghị định thư Bổ sung CRC về Buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
Pháp luật hiện hành tại Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc người hành nghề mại dâm là trẻ em dưới 18 tuổi phải được đối xử như nạn nhân và không được áp dụng bất kỳ chế tài xử phạt nào đối với hành vi này của các
em Các văn bản pháp luật hình sự và hành chính đều cần sửa đổi theo hướng này để đảm bảo những trẻ em là nạn nhân bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại thông qua hoạt động mại dâm không phải chịu bất kỳ hình thức xử phạt hoặc cưỡng bức phục hồi hoặc tước tự do và bảo đảm quyền của các em Đặc biệt, các văn bản luật cần quy định phân biệt rõ ràng giữa người
Trang 15trẻ em, và bóc lột tình dục vì mục đích thương mại Tiêu chí hiện tại để phân biệt các hành vi phạm pháp bị truy cứu trách nhiệm hình sự như chứa mại dâm, môi giới mại dâm, mua dâm người chưa thành niên còn quá chung chung và chưa rõ ràng
Mặc dù pháp luật Việt Nam đã quy định cả các chế tài hình sự và hành chính đối với hoạt động phát tán văn hóa phẩm đồi trụy nhưng những quy định này cũng lại bị cho là quá chung chung dẫn đến không hiệu quả Luật pháp hiện hành cũng chưa có quy định riêng và phân biệt hành vi khiêu dâm trẻ em, cũng như chưa định nghĩa rõ thế nào là "văn hóa phẩm đồi trụy" và
"khiêu dâm trẻ em" như yêu cầu của Nghị định thư Bổ sung CRC
Nhìn chung, Việt Nam đã xây dựng nhiều văn bản pháp luật quan trọng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về vấn đề lao động trẻ em Tuy nhiên, theo ILO, vẫn còn một số thách thức như thiếu khuôn khổ pháp lý trong việc ngăn chặn lao động trẻ em trong các ngành kinh tế không chính thức và bảo vệ trẻ em làm việc trong môi trường gia đình Ngoài ra, Việt Nam còn cần xây dựng pháp luật về bảo vệ những trẻ em làm việc tự do Một khó khăn nữa là mại dâm trẻ em và người hành nghề mại dâm nói chung chưa được quy định trong nhóm lao động nguy hiểm độc hại theo Bộ luật Lao động
Pháp luật Việt Nam còn thiếu một số điểm bảo vệ cơ bản đối với trẻ
em Hiện chưa có quy trình khiếu nại, trình báo riêng về bạo lực, xâm hại trẻ
em, trừ những trường hợp nghiêm trọng có yếu tố cấu thành tội phạm; và thiếu thủ tục khiếu nại thân thiện với trẻ em để các em có thể tự tố cáo các hành vi xâm hại
Việc thi hành các quy định của pháp luật cũng là một vấn đề quan trọng cần quan tâm Mặc dù nhiều văn bản luật đã được ban hành nhưng trên thực tế, nhiều điều khoản quy định một số bảo vệ cơ bản đối với trẻ em thường không được thi hành Luật pháp còn có nhiều lỗ hổng và thiếu cơ chế
Trang 16đảm bảo thực thi luật Thêm vào đó, chỉ dựa vào việc ban hành mới và sửa đổi luật thì chưa đủ để tạo ra một môi trường bảo vệ cho trẻ em Các biện pháp quản lý hành chính như xây dựng hệ thống quy chuẩn, quy định, hướng dẫn cần được đẩy mạnh nhằm tăng cường việc thực thi hiệu quả các quy định pháp luật hiện hành Các thể chế, hệ thống và quy trình liên quan tới bảo vệ trẻ
em cũng cần được rà soát và điều chỉnh để đảm bảo quyền trẻ em tốt hơn
1.2.2 Hệ thống bảo vệ trẻ em còn yếu, các chính sách và dịch vụ phúc lợi xã hội chưa phù hợp
Rào cản chính cho việc xây dựng một hệ thống bảo vệ trẻ em toàn diện
là việc thiếu các số liệu đáng tin cậy Thông tin về trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt cần được lưu hồ sơ từ thời điểm khi trẻ được đăng ký khai sinh, nhưng báo cáo của Chính phủ cho thấy một số địa phương không có cán bộ có năng lực chuyên trách những vấn đề liên quan đến đăng ký khai sinh, và cũng không chủ động nỗ lực tìm giải pháp đảm bảo phổ cập đăng ký khai sinh trong khu vực Ngoài ra, việc phổ biến kiến thức về luật và chính sách liên quan đến đăng ký khai sinh vẫn chưa tới được những vùng sâu vùng xa và kém phát triển
Một số vấn đề, ví dụ như bạo lực, xâm hại trẻ em mới chỉ có các cuộc điều tra phạm vi hẹp được tiến hành Những hệ thống bảo vệ trẻ em hiện hữu không được thiết kế hay trang bị một cách có hệ thống để có thể ngăn chặn, phát hiện, chuyển tuyến và xử lý các trường hợp xâm hại, bạo lực và bóc lột trẻ em Vì vậy, đây chính là một vòng luẩn quẩn - càng ít vụ việc được phát hiện, nhận thức về hiện trạng vấn đề càng hạn chế và phản ứng về mặt chính sách đối với vấn đề này càng yếu ớt
Hệ thống bảo vệ trẻ em hiện hành thiếu các chính sách quyết liệt và các dịch vụ phúc lợi xã hội hiệu quả Một trong những vấn đề chính là thiếu
Trang 17quả hơn Vì công tác xã hội vẫn chưa được hoàn toàn coi là một nghề ở Việt Nam nên có ít nhân viên được đào tạo và đủ khả năng chuyên môn để đảm đương các vụ việc liên quan đến bảo vệ trẻ em Hiện cũng chưa có một hệ thống quản lý và giám sát từ trung ương cho tới địa phương nhằm hướng dẫn
và đào tạo về công tác bảo vệ trẻ em
Một trong những trở ngại cụ thể của hệ thống hiện hành là việc Việt Nam chưa xây dựng được một chương trình và hay các dịch vụ quốc gia toàn diện nhằm bảo vệ trẻ em khỏi nguy cơ bị bạo lực, bị xâm hại và giúp đỡ các
em hồi phục và tái hòa nhập vào cộng đồng Chương trình Hành động quốc gia vì Trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010 có đề cập tới các dịch vụ xã hội cho các gia đình và trẻ em nhưng chỉ đưa ra một chính sách chung chung Bên cạnh đó, chương trình cũng còn khá hạn chế vì chỉ tập trung vào việc ngăn ngừa và bảo vệ trẻ em đường phố hay trẻ em bị xâm hại tình dục chứ chưa bao trùm được những đối tượng trẻ em bị xâm hại khác
Chương trình Hành động quốc gia bảo vệ trẻ em Việt Nam giai đoạn 2011-2015 có đề cập tới trẻ em bị bạo lực nhưng chung chung và nằm trong mục tiêu tổng quát: “Tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất
cả trẻ em đều được bảo vệ Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy
cơ gây hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực, tạo cơ hội để các em được tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển”
Những hạn chế trong hệ thống bảo vệ trẻ em ở Việt Nam còn được biểu hiện ở lĩnh vực trẻ em sống trong các cơ sở chăm sóc tập trung Như đã đề cập, một số nhóm trẻ, đặc biệt là trẻ em có khuyết tật về trí tuệ và những trẻ trước kia từng bị buộc trở thành lao động tình dục vì mục đích thương mại
bị phân biệt đối xử hay ngược đãi Điều này cho thấy hạn chế trong áp dụng
Trang 18các nguyên tắc của CRC, như "lợi ích tốt nhất của trẻ" và"quyền được trưởng thành tại gia đình và trong môi trường gia đình của trẻ"
Hiện đa số đều tin tưởng ở năng lực của Chính phủ và các cơ sở chăm sóc tập trung sẽ cung cấp các dịch vụ chăm sóc cơ bản cho trẻ em Do hiện chưa có một đánh giá chuyên môn có tính hệ thống nào về trẻ mồ côi và bị bỏ rơi được tiến hành để có thể quyết định hình thức chăm sóc tốt nhất áp dụng cho các đối tượng trẻ em này, thêm vào đó là việc thiếu năng lực và nguồn lực nói chung để đảm bảo sự chăm sóc tốt nhất cho từng cá nhân trẻ Bên cạnh
đó, việc thiếu các chính sách phòng ngừa cũng khiến trẻ em thường bị chia lìa khỏi gia đình Có rất ít sự hỗ trợ (ví dụ tư vấn sau sinh) từ phía cộng đồng hay trong các bệnh viện dành cho những cặp cha mẹ có ý định bỏ rơi hoặc từ bỏ việc chăm sóc đứa trẻ được sinh ra Số liệu cho thấy trẻ bị bỏ rơi thường được người nước ngoài nhận làm con nuôi: những người nhận nuôi con nuôi trong nước thường ít khi nhận nuôi những trẻ ở nhóm này vì sợ cha mẹ đẻ có thể thay đổi ý định
Thực trạng thiếu những quy định về vấn đề xâm hại tình dục, bạo lực, ngược đãi và buôn bán trẻ em cho thấy một lỗ hổng lớn trong hệ thống xã hội
và pháp luật Ngoài ra, không có tiêu chí nào để xác định các trường hợp bị xâm hại hay các phương tiện xử lý, phòng ngừa và giải quyết chính thức đối với dạng xâm hại này
Cần phải tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ ngành để giải quyết vấn
đề bảo vệ trẻ em một cách toàn diện hơn với phương pháp tiếp cận đa ngành Việc này bao gồm nâng cao nhận thức mối quan hệ tương hỗ giữa các quyền của trẻ em và làm như thế nào, ví dụ, để thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe và được giáo dục cũng là một khía cạnh mang tính bản chất của hệ thống bảo vệ trẻ em toàn diện Bộ LĐ-TB&XH đã khởi xướng việc xây dựng
Trang 19hoạch ngành 5 năm (2011-2015) Bộ LĐ-TB&XH hiện đang xây dựng 7 chiến lược chính và các hoạt động liên quan trong kế hoạch 5 năm, bao gồm: đào tạo nghề, lao động và việc làm, giảm nghèo, bảo trợ xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới
Chính phủ cũng đang xây dựng Chiến lược và các chương trình bảo trợ
xã hội nhằm tăng cường một cách có hiệu quả vấn đề dinh dưỡng, sức khỏe
và chất lượng giáo dục cho trẻ em đồng thời giảm thiểu nguy cơ trẻ bị xâm hại và bóc lột, đảm bảo những lợi ích phát triển lâu dài
1.2.3 Các nhân tố kinh tế và xã hội
Có những yếu tố quan trọng về kinh tế và xã hội là nguyên nhân sâu xa dẫn tới tình trạng hiện nay của trẻ cần sự bảo vệ đặc biệt Các yếu tố này bao gồm sự đói nghèo và điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, sự gia tăng khoảng cách về thu nhập cũng như thiếu công ăn việc làm, gia đình đổ vỡ và trình độ học vấn thấp Ngoài ra, Khái niệm và thái độ cố hữu của xã hội cũng là những rào cản đối với việc thực hiện quyền trẻ em
Những điều ra xã hội học gần đây đã cho thấy, sự thiếu thốn trong đời sống kinh tế đã là một nguyên nhân quan trọng gây nên bạo lực gia đình Các gia đình nghèo thu nhập thấp, đông con, hay các gia đình làm ăn thua lỗ, phá sản là nơi sản sinh mạnh mẽ các hiện tượng bạo lực Trong lúc quẫn bách nhiều người cha, người mẹ thường quên rằng con họ cũng chịu chung với họ
sự thiếu thốn gian khổ Thế nhưng họ thường trút lên đầu những đứa trẻ vô tội
ấy tất cả bực dọc, thua thiệt và nhiều khi gây ra hậu quả nghiêm trọng Có người coi trọng đồng tiền hơn con cái, người thân
Chẳng hạn như câu chuyện được đưa tin trên báo Pháp luật Việt Nam
số 129 ngày 8/5/2012, một bé gái 5 tuổi bị cha đẻ (ở Tuyên Quang) bỏ rơi trước cổng chùa Bồ Đề, Hà Nội với lý do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, trong khi bé vẫn có cả cha lẫn mẹ Hay một câu chuyện thương tâm khác cũng
Trang 20được đề cập trên Báo Pháp luật và thời đại số 22 tháng 5/2012, một bé gái đã
tự sát vì đói tình thương của cha mẹ Cha mất, mẹ đi làm ăn xa, bé phải ở nhà một mình
Một báo cáo gần đây đề cập đến những vấn đề chính cần quan tâm liên quan đến chăm sóc thay thế tại Việt Nam và đưa ra một số nguyên nhân dẫn tới việc phải đưa trẻ em vào cơ sở chăm sóc tập trung, trong đó nguyên nhân chính là do nghèo đói Các kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn trẻ em trong các cơ sở chăm sóc tập trung ít nhất đều có cha hoặc mẹ Dưới 30% số trẻ trong nghiên cứu không biết đến cha mẹ mình Trên thực tế, trẻ em là con của những bà mẹ độc thân có nguy cơ bị chia cắt cao hơn do không đủ điều kiện tài chính so với gia đình truyền thống cũng như do sự kỳ thị của cộng đồng Bên cạnh nghèo đói, nếu trẻ em bị nhiễm HIV hay có những nhu cầu đặc biệt khác thì nguy cơ bị bỏ rơi hoặc không được thừa nhận tăng lên Cha mẹ thường không được chuẩn bị cho việc sinh ra những đứa con khuyết tật vì việc sàng lọc trước khi sinh để xác định các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng vẫn còn rất hạn chế ở Việt Nam
Một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng lao động trẻ
em là việc trẻ em nghèo không được tiếp cận dễ dàng với hệ thống giáo dục (bậc tiểu học và đặc biệt là trung học cơ sở) Theo một đánh giá mới nhất, trẻ
em nam dường như phải chịu một bất lợi kép so với trẻ em nữ vì có nguy
cơ phải lao động và không được tới trường Tuy nhiên, như đã nói ở trên, giới tính dường như không phải là một yếu tố biến đổi quá mạnh mẽ trong bối cảnh của Việt Nam Trình độ học vấn của cha mẹ tăng lên cũng có ảnh hưởng tích cực tới việc giảm lao động trẻ em Lý giải duy nhất cho điều này là các bậc cha mẹ có học vấn cao hơn thì cũng có nhận thức tốt hơn về lợi thế của giáo dục
Trang 21Đã có nhiều bằng chứng cho thấy các yếu tố kinh tế là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam Thu nhập từ trẻ em trong thực tế có vai trò ngày càng quan trọng đối với các gia đình có thu nhập thấp, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam quá độ từ nền kinh
tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Tiếp cận với nước sạch cũng là yếu tố
có tác động đáng kể đối với khả năng tham gia lao động của trẻ Tiếp cận nguồn nước sạch dễ dàng sẽ giải phóng thời gian mà người lớn có thể sử dụng cho hoạt động sản xuất, từ đó mà giảm sự lệ thuộc vào lao động trẻ em Bên cạnh đó, tình hình lao động trẻ em chịu tác động mạnh từ yếu tố địa bàn cư trú Trẻ em sống ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Bắc có nguy cơ bị bóc lột vì mục đích kinh tế và không được đi học cao hơn trẻ em sống ở các vùng miền khác
Thực trạng trẻ em ra thành phố để kiếm tiền giúp đỡ gia đình là một hiện tượng nữa có liên quan chặt chẽ với những thay đổi xã hội gần đây Nhiều trẻ em và gia đình bị buộc phải di cư ra thành phố để kiếm việc sau tác động của thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, bão và hạn hán
Điển hình như vụ cháu Nguyễn Thị Bình bị vợ chồng chủ quán phở ở quận Thanh Xuân, Hà Nội ngược đãi, đánh đập, hành hạ trong một thời gian dài đến mức để lại nhiều hậu quả về thể chất, di chứng sẹo trên người em đến bây giờ Hay trường hợp cháu Nguyễn Hào Anh 14 tuổi ở Cà Mau bị vợ chồng chủ trại nuôi tôm Minh Đức hành hạ trong suốt một thời gian dài bằng các hình thức dã man như dùng kìm bấm vào môi, bẻ răng
Phần lớn người chưa thành niên vi phạm pháp luật xuất thân từ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn như ly hôn, cha mẹ đi tù, sử dụng ma túy, thất nghiệp, ảnh hưởng xấu từ bạn bè và nghèo đói Một trong những nguyên nhân sâu xa khiến trẻ vi phạm pháp luật là thiếu sự chăm sóc và hỗ trợ từ cha mẹ và cộng đồng Một khuyến nghị cũng được đề ra là cần đưa giáo dục về quyền trẻ em và giáo dục công dân vào trong chương trình học ở nhà trường
Trang 22Sau khi bỏ học, trẻ em có rất ít sự lựa chọn Thông thường trẻ không thể được nhận vào trường đào tạo nghề nếu thiếu các bằng cấp cần thiết Do
đó, trình độ văn hóa thấp, thiếu cơ hội cộng với thiếu nhận thức về hậu quả pháp lý của việc vi phạm pháp luật là những yếu tố góp phần dẫn đến tình trạng phạm tội ở người chưa thành niên Đối với nhiều em, tình trạng khó khăn càng trở nên tồi tệ hơn bởi các em thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề và áp lực xấu từ bạn bè
Sự kết hợp giữa các yếu tố kinh tế và xã hội khiến cho trẻ em dễ bị xâm hại tình dục Các yếu tố này bao gồm tiểu sử đã từng bị xâm hại tình dục, trình độ học vấn thấp, gia đình đổ vỡ và thiếu nhận thức về quyền trẻ em Thông tin, giáo dục và các tài liệu truyền thông thiết kế được thiết kế bởi trẻ
em và dành cho trẻ em để nâng cao nhận thức cho các em về quyền của mình vẫn còn thiếu Ngoài ra còn có các nhân tố mang tính cộng đồng như sự có mặt của những kẻ buôn bán trẻ em hay các cơ sở kinh doanh mại dâm,nhu cầu và việc sẵn sàng trả giá cao để quan hệ tình dục với gái "tân", điều kiện lao động nghèo nàn và bất ổn định, và thực trạng thi hành luật còn yếu kém Những nguyên nhân cốt lõi như nghèo đói và tình trạng kém phát triển ở khu vực nông thôn cũng được xác định là nhân tố góp phần đẩy các em di cư ra khu vực thành thị Lợi ích kinh tế cho những kẻ buôn người hay các nhà chứa được coi
là những yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần dẫn đến nạn bóc lột tình dục trẻ
em vì mục đích thương mại Việc dễ dàng tiếp cận với yếu tố tình dục qua phim ảnh, internet và các ấn phẩm cũng được xem là một nguyên nhân
Một nghiên cứu gần đây cho thấy trẻ em phải đi lang thang vì rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân trốn chạy khỏi gia đình tan vỡ hay bạo lực gia đình Nhiều ý kiến cho rằng đây là do sự đổ vỡ các giá trị gia đình và
cơ cấu cộng đồng truyền thống Cũng như một số quốc gia, sự xuất hiện của trẻ em lang thang là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân khác nhau,
Trang 23cùng với tỷ lệ gia đình đổ vỡ ngày càng gia tăng Số lượng các vụ ly hôn gia tăng đã trở thành một vấn đề xã hội bức xúc ở Việt Nam và trẻ em đặc biệt dễ
bị ảnh hưởng bởi cú sốc tinh thần nghiêm trọng này, và càng bị ảnh hưởng lớn hơn nếu bị cha hay mẹ bỏ rơi Bạo lực gia đình cũng là nguyên nhân đẩy trẻ em ra khỏi gia đình Nhiều trẻ em không muốn trở về quê, và nhiều trẻ em
di cư đóng vai trò trong việc tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ở nông thôn,
và trở thành trụ cột trong gia đình
Tình hình sử dụng ma túy đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam do các loại ma túy bất hợp pháp được buôn lậu vào Việt Nam từ các nước láng giềng Các nhân tố khác góp phần làm gia tăng tình trạng sử dụng ma túy bao gồm thất nghiệp và thay đổi trong lối sống và chuẩn mực xã hội, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi Thanh niên thất nghiệp, thất học, lao động di cư, người dân tộc thiểu số và trẻ em lang thang đang đối mặt với nguy cơ sử dụng và buôn bán trái phép ma túy cao hơn bao giờ hết Bên cạnh đó, tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm giữa các đối tượng sử dụng ma túy rất cao, dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV giữa những nhóm này
Những nguyên nhân trực tiếp khiến trẻ em dùng ma túy rất phức tạp và liên quan tới một số vấn đề xã hội như tỷ lệ gia đình tan vỡ gia tăng và bạo lực gia đình đẩy trẻ em khỏi nhà và cộng đồng, khiến các em trở thành đối tượng bị xâm hại và bóc lột về kinh tế cũng như tình dục và phải sống trên đường phố Đối với một số trẻ em nữ bị biến thành gái bán dâm và những em phải sống ngoài lề phố, sử dụng ma túy là một cách giúp các em đối mặt với hoàn cảnh khó khăn của mình
1.2.4 Nhận thức của toàn xã hội, gia đình và trẻ em về quyền của trẻ em còn hạn chế
Khái niệm trẻ em có quyền còn chưa được chấp nhận một cách rộng rãi
ở xã hội Việt Nam, mặc dù Việt Nam đã phê chuẩn CRC và ban hành một số
Trang 24em không phải lúc nào cũng phù hợp với những nguyên tắc và chuẩn mực được nêu trong Công ước
CRC nghiêm cấm các hình phạt thân thể (nhục hình) đối với trẻ em và bất cứ hình thức bạo lực nào về thể chất hay tinh thần, gây thương tích hay xâm hại Nhưng, hình thức kỷ luật còn khá phổ biến trong thực tế trong xã hội Việt Nam là các hình phạt thân thể Điều tra và nghiên cứu cho thấy rõ rằng cần phải thúc đẩy các biện pháp kỷ luật và các chiến lược giáo dục thay thế trong đó không dùng đến bạo lực
Sự xấu hổ và che dấu trong các vụ việc xâm hại tình dục ở trẻ em vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi tại Việt Nam và là một trong những nguyên nhân dẫn tới số lượng vụ việc được trình báo có tỷ lệ khá thấp Phần lớn gia đình tin rằng việc mọi người biết sự thật là con cái họ đã từng bị xâm hại tình dục sẽ gây trở ngại cho việc hôn nhân của đứa trẻ sau này Cách suy nghĩ này cũng đồng nghĩa với việc kẻ phạm tội xâm hại trẻ em trên thực tế lại được bảo vệ trong khi nạn nhân là chính trẻ em lại không được công lý bảo vệ Một nhân
tố khác là nhận thức mang tính khuôn mẫu về giới trong vấn đề xâm hại tình dục ở trẻ em cùng với sự thiếu hiểu biết và nhận thức về các trường hợp xâm hại đối với trẻ em nam
Vì hiểu biết và nhận thức kém mà đã xảy ra câu chuyện loạn luân, đau lòng cha đẻ giam con trong rừng rồi quan hệ tình dục với con gái trong nhiều năm và sinh ra một đứa trẻ Cả gia đình đều biết, vừa là vợ của thủ phạm, vừa
là mẹ của nạn nhân đều chứng kiến sự việc diễn ra, xảy ra nhưng không dám
tố cáo mà cam chịu cho đến khi người ngoài phát hiện ra
Trẻ em và gia đình không nhận thức được hết những hiểm họa có thể ảnh hưởng tới những em phải làm việc từ lúc còn quá nhỏ hoặc lao động trong môi trường độc hại Một số doanh nghiệp tư nhân ít có kiến thức về
Trang 25tới việc bóc lột lao động trẻ em Do đó, chính quyền trung ương và địa phương cần phải tăng cường nỗ lực để mở rộng truyền thông và giáo dục về những ảnh hưởng tiêu cực của lao động trẻ em và lợi ích của việc tới trường
Trẻ em di cư có thể thiếu nhận thức về quyền của chính mình và thiếu năng lực đòi hỏi các quyền đó vì trình độ học vấn thấp và bị xã hội cô lập Rất
dễ để đưa ra mức thù lao thấp và điều kiện làm việc tồi tệ đối với trẻ di cư do các em không có ai để có thể nhờ cậy trong môi trường xa lạ Rất ít trẻ di cư nhận thức được rằng các em có quyền được bảo vệ chống lại việc bị bóc lột
và ngược đãi Các em cũng có ít khả năng tác động tới quá trình xã hội quyết định cuộc sống của các em và cũng như trong việc bảo vệ chính mình khỏi bị xâm hại
Tuyên truyền thông tin về quyền trẻ em tới những trẻ em di cư vẫn chưa được thực hiện đúng mức Nhiều chủ lao động không cho rằng mình phải thực hiện các quy định về lao động, mặc dù một số có thể nhận thức được sự tồn tại của luật; nguyên nhân là do sự hạn chế trong việc thực hiện các quy định trong luật
1.3 Hậu quả
Bạo lực đối với trẻ em rõ ràng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng và nặng nề Nó là vấn nạn mang tính toàn cầu Hầu như trên thế giới nước nào cũng xảy ra Những năm gần đây ở Việt Nam, tình trạng bạo lực đối với trẻ
em càng gia tăng và diễn biến phức tạp bởi vậy đề tài này được báo chí đề cập khá nhiều với một sự đòi hỏi bức xúc của toàn xã hội Bởi vì, trẻ em là tương lai của đất nước, mà hậu quả của vấn nạn này để lại thật nghiêm trọng
Trong khuôn khổ luận văn này, tuy chỉ khảo sát đề tài trên 05 báo và trong thời gian một năm (từ 6/2011-5/2012), có thể thấy một bức tranh khái quát nhưng toàn diện về đề tài bạo lực đối với trẻ em, hậu quả của nó và sự cần thiết phải phòng và tránh vấn nạn này
Trang 26Báo Lao động và Xã hội ngày 12/5/2012 đã đăng bài ”Phòng tránh bạo hành trẻ em: Cả cộng đồng phải vào cuộc”, ngay tiêu đề bài viết đã cho chúng
ta thấy sự cấp thiết, quan trọng của một vấn đề đối với cả một cộng đồng, một quốc gia Đây là một vấn đề mà cần sự phối hợp của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, gia đình, nhà trường và chính bản thân trẻ em; ”Hướng tới một xã hội không bạo lực, không xâm hại trẻ em” (Báo Pháp luật và Xã hội số 64 ngày 27/5/2012); ”Cần kiên quyết ngăn chặn Bạo lực và xâm hại trẻ em” (Báo Lao động và Xã hội số 32 ngày 13/3/2012); ”Phòng chống xâm hại trẻ em: Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành chức năng” (Báo Lao động và
Xã hội số 151 ngày 18/12/2011); ”Vì một xã hội không bạo lực, không xâm hại trẻ em” (Báo Hoa học trò số 961 ngày 28/5/2012)
Trên thực tế báo chí phản ánh chúng ta có thể thấy hậu quả của bạo lực đối với trẻ em để lại hậu quả trong đời sống với những biểu hiện sau:
1.3.1 Tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của nạn nhân
Kết cục của các vụ bạo lực đối với trẻ em là hàng trăm, hàng nghìn trẻ
em bị chết, tự tử, thương tật suốt đời, bị điên, tâm thần, khủng hoảng thần kinh Trên đây chỉ là một trong số những hậu quả nghiêm trọng, chúng ta không thể thống kê hết các bài báo viết, phản ánh về các loại hậu quả của nạn bạo lực đối với trẻ em
Báo Pháp luật và Thời đại tháng 11/2011 đã đề cập đến một vụ án vừa
xử tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, tên Vũ Văn Quang đã ra tay thiêu sống con trai mình chỉ vì do mâu thuẫn vợ chồng Y đã hành động lạnh lùng
và dã man như những gì y đe dọa Theo chẩn đoán của Bệnh viện Nhi tỉnh Thanh Hóa, thì cháu Vũ Quốc Linh con trai của thủ phạm bị nhiều vết bỏng, cháy đen toàn thân Theo kết quả giám định pháp y thương tích của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận mức độ tổn hại sức khỏe của
Trang 27Một câu chuyện khác xảy ra ngay thủ đô Hà Nội, cháu nguyễn Hồng Anh, 4 tuổi không có cha, mẹ đi tù nên đã gửi tên Bùi Văn Đạt chăm sóc ở quận Hoàng Mai, bé Anh đã bị tên Đạt hành hạ, khiến bé tổn hại sức khỏe hơn 15% và luôn bị ám ảnh, sống trong sợ hãi…
Chúng ta không khỏi bức xúc về vụ bà mẹ đánh con ở quận Bình Chánh,
TP Hồ Chí Minh Cháu Phạm Huy Hoàng là con đẻ của Phạm Thị Mai, do nóng giận vì con nghịch ngợm nên Mai đã dùng những vật cứng đánh tới tấp vào đầu con, khiến bé bị chấn thương sọ não và tử vong mấy ngày sau đó
Trên báo Pháp luật Việt Nam đã đăng những vụ án nữ sinh phổ thông giết bạn ở Hưng Yên, Tiền Giang… hay vụ chính người mẹ đẻ chỉ vì uất ức trước lời nói vô tình của chồng rằng Con sao không giống anh? Mà đã thả đứa con mình vừa đứt ruột đẻ ra mới được 20 ngày tuổi…
Biết bao nhiêu nạn nhân nếu thoát khỏi cái chết thì cũng sống với những di chứng suốt đời đau đớn Đó là nạn nhân những vụ án bị thiêu đốt, những trận đòn "thừa sống thiếu chết"… Tuy nhiên, đó chỉ là hậu quả, di chứng về thể chất, còn đau đớn hơn, nặng nề hơn là những hậu quả, di chứng suốt đời về tinh thần
1.3.2 Di chứng nặng nề về tinh thần, tình cảm của nạn nhân
Do luôn sống trong không khí sợ sệt nên những người bị đánh đập, hành hạ thường hao mòn nghị lực, thiếu tự tin, ngớ ngẩn hay mụ mẫm Họ gần như bị mất niềm tin vào con người
Những đứa trẻ bị bạo lực thường sống trong sự sợ hãi, ngại giao tiếp,
có những bé khi nhìn thấy người lạ là khóc thét, chui vào nhà vệ sinh, góc tối
ẩn nấp Một đứa trẻ lớn lên trong môi trường như vậy chắc hẳn không thể phát triển toàn diện và lành mạnh Người ta có thể nói Bạo lực sinh ra bạo lực Vì những đứa trẻ đã phải chứng kiến, sống cùng với những hành vi bạo
Trang 28lực nên khi lớn lên chúng cũng rất có thể xử sự với người khác theo kiểu bạo lực mà chúng đã từng phải gánh chịu
Như câu chuyện được báo Pháp luật và Thời đại - một ấn phẩm của báo PLVN phản ánh trong số 7 tháng 11/2011, một bé gái học lớp 5 tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã phát điên 4 năm sau khi bị Thầy giáo và công an ép cung buộc em phải nhận lấy trộm 20,8 ngàn đồng tiền quỹ lớp Từ ngày đó em cứ nhìn thấy công an là khóc ầm ĩ và sợ hãi đến ngất Gia đình
em đã nghèo lại càng khó khăn hơn khi phải tốn rất nhiều tiền của, công sức
để chữa trị cho em Không những thế, hệ lụy kéo theo là các thành viên trong gia đình em cũng xảy ra xích mích, rạn nứt vì hoàn cảnh đã khó khăn lại cộng thêm sự ức chế, đau lòng về đứa con bị oan ức và hậu quả là cuộc đời đứa con của gia đình bị hủy hoại và phải sống trong điên loạn
Một học sinh lớp 9 tại thị xã Sơn Tây, Hà Nội đã treo cổ tự tử cùng lá thư tuyệt mệnh được báo Pháp luật và thời đại phản ánh trong số 6 tháng 4/2012 Qua lá thư tuyệt mệnh ai cũng nghĩ rằng một cậu bé lớp trưởng, học giỏi, ngoan đã dại dột tự tử vì những uẩn ức đa sầu yêu đương, nhưng tìm hiểu
kỹ nguyên nhân là do phải chịu đựng, kìm nén trong một quá trình lâu dài từ những chuyện tưởng chừng như rất bình thường như bị bố mẹ mắng, chán học…và sâu xa hơn cả đó là từ việc mẹ em phải đi làm xa vì lý do kinh tế và tin mẹ có người khác đã làm gia đình em rạn nứt, bố em từ đó thường xuyên có những hành vi bạo lực đối với mẹ và các con, tính tình em cũng thay đổi, từ một cậu bé hiền lành mà sau này tính tình em nóng nảy và “cứng đầu” hơn… Như vậy, rõ ràng khi phải chứng kiến hay khi phải hứng chịu chính những hành vi bạo lực thì trẻ em bị ảnh hưởng nặng nề về tinh thần, tình cảm…
1.3.3 Xúc phạm đến nhân cách của trẻ em
Nhiều đứa trẻ bị đánh đập, sỉ nhục trước mặt bạn bè, gia đình hay hàng
Trang 29áo và nhốt trong truồng gà… Ví dụ khác được phản ánh trên báo Pháp luật và thời đại số 22 tháng 5/2012, một nhóm trẻ 10 tuổi ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nhiễm bạo lực từ phim, tự xưng là “đệ tử” của Năm Cam tra tấn bạn học một cách tàn tệ và xúc phạm đến nhân cách của những đứa trẻ, khi bắt cả lớp trong nhiều tháng liền phải tuột hết quần và bị đánh 50 roi/buổi học
Một hiện tượng còn làm nhức nhối xã hội chúng ta là hiện tượng xâm hại tình dục trẻ em Báo Pháp luật Việt Nam đã phản ánh rất nhiều những vụ hiếp dâm “kỳ quái” và gây bức xúc trong dư luận như vụ vợ giúp chồng hại đời bé gái hàng xóm 8 tuổi…; rồi nhiều vụ hiếp dâm, quan hệ tình dục trong một thời gian dài của chính những người cha đẻ, cha chú dượng, chú họ…
Trên mặt báo, số lượng tin, bài phản ánh về hiện tượng, sự việc bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em chiếm phần lớn, điều đó chứng tỏ đây là một vấn đề xảy ra nhiều trong xã hội mà vẫn chưa được ngăn chặn
1.3.4 Ảnh hưởng đến nhận thức
Hậu quả của nạn bạo lực đối với trẻ em làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng lực sáng tạo của con người, nhất là bạo lực đó xảy ra trong gia đình Bởi vì gia đình không yên ổn thì làm sao làm ăn được, làm sao phát huy năng lực học tập, sáng tạo được Trên thực tế, nhiều trẻ em thông minh, học giỏi, ngoan hiền nhưng lại phải chứng kiến hay thậm chí còn phải hứng chịu những hành vi bạo lực của những người thân, thì sẽ thui chột mất những năng lực vốn có đó Có những em sớm kết thúc cuộc đời một cách oan uổng hoặc trở thành thương tật về thể xác, què quặt về tâm hồn
Những trẻ em đó không thể phát huy được tài năng của mình cho gia đình và cho xã hội Nhiều bậc cha mẹ biến gia đình mình thành địa ngục, bắt con cái phải tận mắt chứng kiến những cảnh chửi mắng đánh đập lẫn nhau, rồi nhiều khi “giận cá chém thớt”, trút luôn mọi bực dọc ở ngoài một cách vô cớ lên đầu con cái Những đứa trẻ thường lớn lên với một nỗi mặc cảm, một
Trang 30nhân cách méo mó Thậm chí những hành vi bạo lực đó, con cái sẽ học theo
bố mẹ Đó là hiện tượng "chuyển giao" hành vi bạo lực rất nguy hiểm và gây
ra những hậu quả khôn lường cho các thế hệ nối tiếp
1.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và quyền trẻ em
Quyền con người là một phạm trù lịch sử Quyền con người ra đời, tồn tại và phát triển gắn với quá trình tiến hóa của lịch sử xã hội loài người, mỗi bước phát triển của xã hội loài người đều tất yếu gắn liền với sự phát triển tư tưởng quyền con người và quyền công dân Theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Quyền con người là một phạm trù lịch sử, không phải là một khái niệm thuần túy sinh ra từ ý muốn chủ quan của con người, không phải là bẩm sinh mà
là sản phẩm của lịch sử, gắn liền với những giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại Chủ thể quyền con người bao gồm: Cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân tộc, quốc gia; từng đối tượng cụ thể như: Quyền trẻ em, quyền phụ nữ còn chủ thể quyền công dân chỉ là những người có quốc tịch và trong mối quan hệ giữa cá nhân với một Nhà nước và trong một xã hội công dân
Trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc trước quốc dân đồng bào ngày 2/9/1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những luận điểm về quyền tự do của con người như sau:
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Đó là những lẽ phải không
ai chốt cãi được."
Trẻ em cũng là con người, vì thế, khi nói đến Quyền trẻ em là nói đến những đòi hỏi cơ bản và chính đáng của một con người Nó qui định trách nhiệm, nghĩa vụ khiến người khác phải tôn trọng, bảo vệ và đáp ứng Quyền của trẻ em được công nhận về phương diện pháp lý Đây là quyền bất khả
Trang 31kháng xâm phạm, áp dụng với mọi trẻ em, liên quan với nhau và không thể tách rời Quyền luôn đi đôi với bổn phận và trách nhiệm
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trẻ em cũng là con người Trẻ em là những công dân sống trong xã hội, như mọi tầng lớp nhân dân khác phải có quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc và quyền tự do Đó là quyền lợi bất khả xâm phạm của mọi người trong đó có trẻ em Vì thế, bất cứ sự áp bức bóc lột nào, bất cứ tội ác nào làm tổn hại đến trẻ em đều phải lên án Ngay từ những
ngày đầu, khi bước chân ra đi tìm đường cứu nước, trong tác phẩm "Bản án
chế độ thực dân Pháp" (1925) bên cạnh việc tố cáo tội ác của thực dân đối với
các tầng lớp nhân dân Việt Nam và các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã viết: "Bảo đảm quyền học tập của trẻ em theo Hồ Chí Minh bao gồm nhiều mặt: Xây dựng một chế độ giáo dục dân chủ, tiến bộ, chống nền giáo dục nô
lệ, đảm bảo và phương pháp giáo dục "
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho chúng ta thấy, trẻ em cần được chăm sóc về mọi mặt, bao gồm: Sức khỏe, giáo dục học tập, vui chơi giải trí
và hoạt động đoàn thể
Về sức khỏe, Bác Hồ chi rõ phải làm sao cho các cháu được ăn no, mặc
ấm, giữ gìn vệ sinh, phòng bệnh chữa bệnh chữa bệnh, rèn luyện thân thể
Về giáo dục, Bác Hồ chỉ rõ mục đích giáo dục là phục vụ nhân dân,
phục vụ Tổ quốc, nhằm tạo các cháu trở thành người công dân tốt, người chiến sỹ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà Người đòi hỏi trẻ em cần được giáo dục toàn diện "không những có tri thức phổ thông, mà phải có đạo đức cách mạng"
Về vui chơi giải trí và hoạt động đoàn thể của trẻ em, Bác Hồ quan tâm
từ đồ chơi dành cho trẻ em đến sách, báo, thư viện, phim ảnh và các sinh hoạt khác Người chỉ cho các cháu cách tổ chức những "Đội Trần Quốc Toản" và thường xuyên cổ vũ phong trào làm "Nghìn việc tốt"
Trang 32Bác Hồ khuyên các cháu "phải đòi hỏi khi học tập ở trường, khi sinh hoạt, hoạt động đội nhi đồng, khi vui chơi" Người đặt niềm tin yêu vào thế hệ đang lớn lên: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ phần lớn ở công học tập của các em"
Những tư tưởng này hầu hết hiện nay đều được thể hiện trong Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, nó rất gần gũi với Công ước quốc tế về Quyền trẻ em
Ngày nay, khi giáo dục Quyền trẻ em, người ta không quên giáo dục các em bổn phận của trẻ em Những tư tưởng ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm Không chỉ tôn trọng và bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh tới trách nhiệm của trẻ Ở lứa tuổi các
em thiếu niên, nhi đồng, ý thức xã hội và ý thức trách nhiệm của bản thân đối với xã hội chưa được định hướng rõ ràng, nếu chỉ nhắc tới quyền mà không đặt ra bổn phận và trách nhiệm đối với trẻ thì sẽ tạo cho các em tâm lý thụ động, ỷ lại, thái độ thờ ơ trước xã hội Vì thế, Bác Hồ luôn chỉ dẫn các em những điều tốt nên làm, những điều không tốt nên tránh Trong bối cảnh này, Bác dạy phải làm thế này, trong bối cảnh khác có những yêu cầu khác phù
hợp Trong "Thư gửi cho học sinh" nhân dịp khai trường đầu tiên của nước
Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần khuyên bảo, nhắc nhở các cháu thiến nhi luôn nhớ tới trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc Bác chỉ rõ, học sinh được may mắn tiếp nhận một nền giáo dục mới, độc lập
"các em phải làm thế nào để đền ơn đáp công lao của những người đi trước đã không tiếc thân, tiếc của để chiếm lại nền độc lập cho nước nhà" Người khuyên các em phải "cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy yêu bạn"
Trang 33Những mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một thế hệ trẻ em Việt Nam là lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào quyết tâm bảo vệ non sông đất nước Như vậy, gắn liền quyền lợi và trách nhiệm của thế hệ trẻ, Bác Hồ đã từng bước nâng cao ý thức giác ngộ cách mạng của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng, nhằm phát huy mọi khả năng của các em trong việc trau đồi trí tuệ, đạo đức để cống hiến tốt nhất cho dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ chăm sóc trẻ em là một di sản quý và giá trị
Về vị trí của trẻ em và phương pháp giáo dục trẻ em
Trẻ em là người chủ đất nước chúng ta, và của cả thế giới Chính vì vậy, Bác đã nêu rõ: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" Hay: 'Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình" Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyên mọi người tạo môi trường lành mạnh cho trẻ em
Người lớn luôn luôn phải làm gương cho trẻ em noi theo Đồng thời phải khuyến khích trẻ em tham gia các hoạt động, các công việc của xã hội Mục tiêu giáo dục trẻ em không tách rời quá trình giáo dục lý tưởng cách mạng
Thông qua những lời dạy của Bác với trẻ em cho thấy: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, nhà văn hóa lớn mà còn là một nhà sư phạm rất am hiểu tâm lý của trẻ em
Về trách nhiệm gia đình, nhà trường và xã hội đối với trẻ em
Đồng thời với việc đảm bảo mọi quyền cơ bản của trẻ em, đòi hỏi cao tinh thần trách nhiệm của các em đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh đến trách nhiệm của xã hội, gia đình, nhà trường đối với trẻ em Bác Hồ coi đây là một nhiệm vụ quan trọng
để duy trì, bảo vệ và phát triển nòi giống, loài người
Bác Hồ đã kêu gọi "Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt", "Vì lợi ích trăm năm trồng người" Công sức mà xã hội dành cho các em hôm nay
Trang 34sẽ được đền bù ở tương lai Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em cần tính đến hiệu quả lâu dài, cần phát triển ý thức công dân và nhân cách của chính bản thân các em chứ không phải nhằm thu lại hiệu quả vật chất trước mắt, bắt các
em phải lao động hết sức, cho nên Bác đã không tiếc công sức mình để dành
cả sự nghiệp cho Tổ quốc, cho nhân dân và cho tương lai của trẻ em Nguyên tắc trước hết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phát huy tính tích cực xã hội ở trẻ em là tình yêu thương, khích lệ, động viên Trẻ em rất cần được yêu thương Bác muốn tất cả người lớn đều phải có tình thương đối với trẻ, chiếm được tình cảm của các em và thuyết phục được các em làm theo một cách tự nguyện Trước lúc đi xa, Bác vẫn không quên dặn lại: "Bác để muôn vàn thương yêu cho các cháu" Nhưng tình thương của Bác luôn có nguyên tắc Thương yêu nhưng cũng đòi hỏi ở các em có sự nỗ lực vươn lên để xứng đáng với lòng tin và tình cảm của Bác Như vậy, Bác đã giáo dục các em vừa có tình cảm, lại vừa có lý trí để giáo dục và làm phát triển những nhu cầu đúng đắn, có lợi cho nhân cách của các em
Trong Khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không có trẻ em hư Trong một cuộc phỏng vấn, bà Lê Thu Trà, nguyên Chủ tịch Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương kể lại: Khi Ủy ban báo cáo Bác Hồ về việc có một số trẻ em
là con em miền Nam tập kết ra Bắc học trong các trường hợp học sinh ở miền Nam rất hư, Bác Hồ đã ân cần chỉ ra rằng: Không có trẻ em hư, chỉ có trẻ em chưa ngoan, mà chưa ngoan là lỗi ở các cô chú chưa có phương pháp giáo dục tốt Sau lần ấy, Ủy ban có nhiều biện pháp tích cực phối hợp trong việc giáo dục trẻ em Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhìn thấy trẻ ở bản tính "tự nhiên" mà còn ở vai trò của công tác chăm sóc, giáo dục Khái niệm này vừa rất khoa học, vừa toát lên tinh thần nhân ái, trách nhiệm của xã hội đối với trẻ em
Trang 35Nhà báo, với chức năng và nhiệm vụ cao cả của những người tham gia công cuộc "trồng người", cần thấm nhuần những nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ, làm nổi bật tính nhân văn:
"Đầu tiên là công việc đối với con người" và "Tất cả vì con người"
1.5 Pháp luật Việt Nam đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em bị bạo lực nói riêng
1.5.1 Đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn có các chủ trương, đường lối lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt động Quan điểm của Đảng về trẻ em được thể hiện qua việc luôn luôn quán triệt cả về tình cảm, đạo lý, truyền thống của dân tộc; đồng thời gắn trách nhiệm của gia đình và xã hội đối với trẻ em Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã từng nhận định
về bảo vệ và chăm sóc trẻ em như sau: "Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
là một mắt xích thứ nhất, quan trọng nhất trong chiến lược của chúng ta" Nhận định trên cho thấy: Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Theo nhiều văn bản của Đảng, quan điểm nhìn nhận về trẻ em Pháp luật của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã khẳng định: Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục nòi giống, truyền thống của gia đình, dòng họ, tổ tông Còn đối với đất nước, trẻ em là công dân đặc biệt, là tương lai của dân tộc ra Trẻ em còn là nguồn nhân lực, là người chủ tương lai của nước nhà Chủ tương của Đảng luôn nhấn mạnh vai trò trách nhiệm của gia đình, nhà nước, xã hội đối với trẻ em Gia đình phải dành cho trẻ em tình cảm yêu thương, đùm bọc Gia đình phải thực hiện đầy đủ và đáp ứng những chính sách của Nhà nước đối với trẻ em như: Tiêm chủng mở rộng, làm giấy khai sinh Gia đình còn phải
có trách nhiệm phòng ngừa cho trẻ em khỏi rơi vào các tệ nạn xã hội, khỏi bị
Trang 36ngược đãi và bị bóc lột Trách nhiệm của các cấp cơ sở (xã, phường) là: Đáp ứng nhu cầu vật chất cho trẻ em như sân chơi, trường học, trạm xá; huy động
hỗ trợ của cộng đồng như trẻ em; đặc biệt phải thực hiện các chính sách của nhà nước đối với trẻ em Trách nhiệm của địa phương (tỉnh, thành phố), của quốc gia là phải coi các chương trình, mục tiêu vì trẻ em là bộ phận của chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phường và của quốc gia Đầu tư ngân sách nhà nước trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đầu tư cở vật chất cho trẻ em
Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em là bộ phận của sự nghiệp cách mạng, thể hiện ở tính ưu việt hơn hẳn của chế độ Xã hội chủ nghĩa Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em là một khoa học và cũng là một nghệ thuật Đồng thời, nó còn là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân tộc về bảo vệ chăm sóc trẻ em Đây
là chiến lược toàn cầu của con người nên nhất thiết phải cần có sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Trước hết, mục đích của việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được thể hiện rõ Đó là việc đáp ứng những nhu cầu sống còn
và phát triển của trẻ em, phải thực hiện đầy đủ quyền của trẻ em Đào tạo ra những công dân tốt và phải có năng lực toàn diện Đồng thời phải đào tạo ra những lớp người cách mạng có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu nước có tinh thần dân tộc cách mạng, có trách nhiệm với gia đình, với xã hội và đặc biệt phải có kỷ cương, lành mạnh theo đúng pháp luật
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em (CRC) và cả hai Nghị định thư
bổ sung của Công ước này Việt Nam đã trình các báo cáo định kỳ thứ nhất và thứ hai lên Ủy ban CRC vào năm 1993 và năm 2002, và báo cáo kết hợp lần thứ ba và thứ tư vào tháng 5 năm 2009 Những báo cáo quốc gia này cung cấp nhiều thông tin về các biện pháp lập pháp, hành chính tư pháp và các biện
Trang 37Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em thể hiện qua các chủ trương, chính sách pháp luật ở từng giai đoạn
1.5.2 Đối với trẻ em bị bạo lực
Trong những năm gần đây tình hình trẻ em bị bạo lực ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp, tính chất nghiêm trọng hơn và trở thành vấn đề xã hội bức xúc, vì vậy ngoài các chủ trương, chính sách pháp luật, các văn bản qui phạm pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung, thì đối tượng trẻ
em bị bạo lực còn có một số chính sách pháp luật riêng biệt, cụ thể:
- Luật Giáo dục sửa đổi năm 2004, ngoài các nguyên tắc giáo dục trẻ
em, Luật còn qui định nhằm xử lý tình trạng bạo lực học đường và khuyến khích phát triển các trường học bạn hữu trẻ em
- Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, qui định Bạo lực gia đình (bao gồm cả bạo lực đối với trẻ em) là hành vi phạm pháp
- Luật Bình đẳng Giới năm 2006, qui định các nguyên tắc và biện pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới trong xã hội và trong gia đình
- Quyết định số 267/2011/QĐ-TTg ngày 22/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2011-2015, trong đó có mục tiêu tổng quát tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em
bị bạo lực Trợ giúp, phục hồi kịp thời trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em
bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực, tạo cơ hội để các em có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển
- Thông tư số 23/2010/TT-LĐTBXH ngày 16 tháng 8 năm 2010 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội qui định quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em
bị bạo lực, bị xâm hại tình dục
Trang 38- Năm 2012, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tham mưu cho Chính phủ tổ chức phát động Tháng Hành động Vì trẻ em với chủ đề “ Vì một
xã hội không bạo lực, không xâm hại trẻ em”
1.6 Báo chí với vấn đề phòng chống bạo lực đối với trẻ em
Khái niệm báo chí: Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam, báo là “ Xuất
bản phẩm có định kỳ đăng tin tức, bài viết, tranh ảnh để thông tin, tuyên truyền, vận động, nghiên cứu, nghị luận, đấu tranh tư tưởng”; báo chí (H chí: tạp chí) là “Các cơ quan ngôn luận nói chung” [24, tr.92] Còn Từ điển tiếng Việt 2000 định nghĩa: báo là “ Xuất bản phẩm định kỳ in trên giấy khổ lớn,
đăng tin, bài, tranh ảnh để thông tin, tuyên truyền”; báo chí là “Báo và tạp chí; xuất bản định kỳ (nói khái quát) [37, tr.40]
Cùng với những thành tựu to lớn của đất nước sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, báo chí đã có những chuyển biến tích cực , đạt được nhiều kết quả tiến bộ Nền báo chí đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, cả về công nghệ làm báo và trình độ chính trị, chuyên môn phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước, có những đóng góp không nhỏ vào thành tựu chung của đất nước
Với bốn loại hình báo chí: báo in, báo phát thanh, báo hình, báo mạng điện tử, công nghệ sản xuất hiện đại như ở các nước phát triển, báo chí nước
ta đã trở thành hệ thống thông tin đa loại hình, đa phương tiện
Phòng chống bạo lực đối với trẻ em là vấn đề nóng được báo chí ưu tiên và quan tâm phản ánh Sự vào cuộc của báo chí đã tạo ra hiệu ứng xã hội trong việc bảo vệ trẻ em khỏi các nguy cơ xâm hại, bạo lực Nhiều vụ xâm hại, bạo lực đối với trẻ em được chính các cơ quan truyền thông phát hiện, điều tra và phản ánh đã giúp các cơ quan chức năng can thiệp và xử lý kịp thời các hành vi bạo lực đối với trẻ em theo quy định của pháp luật, đã bảo vệ
Trang 39tích cực, mạnh dạn thông tin, tố cáo các hành vi bạo lực đối với trẻ em, chung tay hỗ trợ nạn nhân trẻ em Điều đó thể hiện cụ thể:
1.6.1 Báo chí phản ánh nhanh, kịp thời
Các phương tiện truyền thông đại chúng đều tham gia thể hiện đề tài phòng chống bạo lực đối với trẻ em, tuy nhiên báo chí đóng vai trò quan trọng nhất Bởi báo chí không những nhiều về số lượng mà còn nhanh nhạy, kịp thời trong phản ánh các vấn đề bức xúc, nóng hổi…
Báo chí ngày nay đã phát triển thành nhiều loại hình, nhưng dù là báo
in, báo phát thanh, báo hình, báo ảnh hay báo mạng điện tử đều có một đặc trưng chung là thông tin thời sự Bản chất của báo chí là truyền tải, phản ánh những gì vừa diễn ra, đang diễn ra Báo chí luôn bám sát cuộc sống, theo sát cuộc sống để ghi lại và nhanh chóng làm thỏa mãn nhu cầu thông tin của công chúng Chính vì thế, báo chí là loại hình truyền thông nhanh nhạy nhất, đem đến cho công chúng kịp thời nhất, sống động nhất những gì diễn ra ở trong nước và trên thế giới
Tính nhanh nhạy, thời sự và kịp thời còn biểu hiện ở chỗ, báo chí chuyển tải thông tin từ nơi phát, người phát đến công chúng tiếp nhận bằng con đường nhanh nhất Báo chí còn một nét đặc trưng khác so với các loại hình truyền thông khác, đó là tính định kỳ Định kỳ của báo in có khác định
kỳ của báo phát thanh và truyền hình Tính định kỳ giúp người đọc đón đợi thông tin mà báo chí đưa tới Định kỳ như phát thanh, truyền hình ngày càng cập nhật với thông tin đa dạng và phong phú Đặc biệt Internet thì sự tiếp nhận thông tin lại nhanh nhạy hơn nữa
Tính nhanh nhạy, kịp thời của báo chí giúp cho bạn đọc nắm bắt thông tin trong một thời gian ngắn Báo chí nước ta từ báo Trung ương đến báo địa phương, từ báo chuyên ngành đến báo đoàn thể… phản ánh rất nhanh những
Trang 40thực trạng, những câu chuyện cụ thể đáng buồn về bạo lực đối với trẻ em trên toàn quốc
Dư luận chưa hết sốc với hình ảnh bé Lê Quang Vinh ở TP Hồ Chí Minh bị bảo mẫu Trần Thị Xuân Nữ nhốt vào thang máy, bấm cho thang chạy
để dọa, dẫn đến đa chấn thương khắp mình mẩy thì người dân cả nước lại
“choáng” khi hình ảnh (được ghi trong clip) bảo mẫu Trần Thị Phụng ở xã Thuận Giao, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương hành hạ bé Hồ Thị Thúy Ngân, 3 tuổi Trong clip, bà Phụng dùng chân đạp lên người bé Ngân, giật tóc
và liên tục đổ từng ca nước lớn vào miệng bé; hay clip bảo mẫu Quản Thị Kim Hoa ở tỉnh Đồng Nai tát, hành hạ các bé trong khi cho các bé ăn
1.6.2 Báo chí với thái độ rõ ràng, dứt khoát
Báo chí không những truyền tải thông tin ở quy mô, diễn biến, ở diện mạo của các sự kiện, hiện tượng mà còn bộc lộ một thái độ rõ ràng Trong lĩnh vực thể hiện đề tài phòng chống bạo lực đối với trẻ em, nét chung nổi bật
là thái độ bộc lộ vừa rõ ràng, vừa dứt khoát Đó chính là thái độ lên án những hành động, việc làm của những kẻ gây ra bạo lực đồng thời bộc lộ một sự thông cảm, thương cảm, chia sẻ với các nạn nhân, đặc biệt nạn nhân lại là trẻ
em Báo chí nước ta, dù đưa tin bạo lực đối với trẻ em ở các nước trên thế giới hay ở nước ta, kẻ gây ra bạo lực dù ở nước nào, nạn nhân dù quốc tịch nào, khuynh hướng, lập trường, tư tưởng, thái độ tình cảm của các nhà báo đều thống nhất, rõ ràng
Trong lý luận báo chí, các nhà nghiên cứu nói nhiều đến những nguyên tắc hoạt động của báo chí, đó là tính khách quan, chân thật, tính nhân dân, tính nhân đạo, tính dân tộc Báo chí thể hiện mảng đề tài phòng chống bạo lực đối với trẻ em có thể nói đã thực hiện tốt các nguyên tắc trên Tuy nhiên, điểm nổi bật và hội tụ của các nguyên tắc đó là tính nhân đạo của báo chí