Một số biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục dinh dưỡng- sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở ở lứa tuổi này, việc chăm sóc giáo dục sức khoẻ cho trẻ là nhiệm vụ cần thiết
Trang 1Một số biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục dinh dưỡng- sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở
ở lứa tuổi này, việc chăm sóc giáo dục sức khoẻ cho trẻ là nhiệm vụ cần thiết và không thể thiếu được Trẻ rất cần bàn tay chăm sóc của bố mẹ, người thân và cô giáo Thông qua hoạt động chăm sóc nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, trẻ khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà, cân đối, giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ mọi người xung quanh, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp, mong muốn được tạo ra cái đẹp, thích khám phá tìm tòi, có một số kĩ năng cơ bản như:
So sánh, quan sát, phân tích tổng hợp, suy luận…,cần thiết làm tiền đề cho trẻ bước vào trường phổ thông
Thông qua việc giáo dục chăm sóc sức khoẻ cho trẻ, còn giúp trẻ phát huy tốt tinh thần tập thể và biết phòng một số bệnh thường gặp ở trẻ Muốn làm được điều đó thì yêu cầu giáo viên phải nắm chắc kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, phải thường xuyên nghiên cứu chuyên
đề và thường xuyên cung cấp những hiểu biết của mình cho trẻ, nhận thức
Trang 2được lợi ích tác dụng của các nhóm chất dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Xác định được mục tiêu và nhiệm vụ này tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường Mầm Non Thị Trấn Quán Lào Tôi hy vọng những kinh nghiện này sẽ góp phần tích cực trong việc chăm sóc giáo dục sức khoẻ cho trẻ
II Thực trạng chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩmtrong trường mầm Non
1 Thực trạng: Trường có tổng số trẻ là 247
Trong đó nhà trẻ là 47, Mẫu giáo là 200 Được phân bổ trên 8 nhóm lớp.Nhà trẻ 2 nhóm lớp: ở độ tuổi 18-24 tháng với số trẻ là 19, độ tuổi 25-36 tháng với số trẻ 28
Mẫu giáo 6 nhóm lớp:2 lớp 3 tuổi= 56 trẻ; 2 lớp 4-5 tuổi=66 trẻ;2 lớp 5-6 tuổi= 78 trẻ
Nhà trường có tổng số cán bộ giáo viên là 30 số giáo viên có trình độ cao đẳng đại học là 13
a Thuận lợi:
Có sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu, sự phối kết hợp giữa các ban ngành đoàn thể và phụ huynh học sinh
Vị trí nằm ngay trung tâm của huyện, môi trường giáo dục ở địa phương
từ mầm non đến cơ sở đều rất tốt
Trường được chọn là trường điểm trung tâm chất lượng cao của ngành mầm non huyện yên định
Đời sống nhân dân ổn định, đội ngũ giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm trong việc giáo dục chăm sóc trẻ
b Khó khăn:
Trang 3Cơ sở vật chất còn thiếu: Một số phòng chức năng như phòng nhạc, phòng
vi tính còn thiếu Bếp nấu còn chưa đủ đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng số lượng trẻ đến trường Chưa có vườn cổ tích cho trẻ hoạt động vui chơi
Trang thiết bị phục vụ cho dạy và học cũng như ăn ngủ tại trường còn hạnchế
2 Chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường Mầm Non.
* Đối với giáo viên:
Giáo viên giỏi nội dung giáo dục DD –VSATTP 10/30 33,3%
Trang 4Số giáo viên chưa nắm vững nội dung giáo dục DD và VSATTP còn cao.Số trẻ có hành vi vệ sinh cá nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế Trẻ chưa sử dụng thành thạo một số dụng cụ đơn giản như thìa, cốc, chén…và chưa có nhiều kỹ năng phân nhóm các chất dinh dưỡng và cách phòng chốngmột số bệnh thường gặp.
Từ thực trạng trên tôi suy nghĩ và tìm ra biện pháp khắc phục để nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường Mầm Non
B Giải quyết vấn đề.
* Các biện pháp thực hiện: Để nâng cao chất lượng giáo dục DD và
VSATTP ở trường Mầm Non tôi đã sử dụng một số biện pháp sau:
1 Xây dựng chỉ tiêu phấn đấu:
Trường giữ vững danh hiệu trường trung tâm chất lượng cao của huyện
2 Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho CBGV, nhân viên.
- Căn cứ vào nhu cầu của nhiệm vụ, căn cứ vào tình hình thực tế của giáo viên, điều kiện thực tế của nhà trường Tôi đã đề ra một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm với các nội dung bồi dưỡng sau:
2.1 Bồi dưỡng qua chuyên đề:
Vào đầu năm học nhà trường tổ chức cho 100% giáo viên tham gia học các lớp chuyên đề do phòng, trường tổ chức ( chuyên đề mới) hoặc hội thảo,
Trang 5toạ đàm khắc sâu thêm nội dung các chuyên đề đã học, từ đó giúp nhau hoànthiện hơn trong việc tổ chức thực hiện chăm sóc giáo dục trẻ.
2.2 Bồi dưỡng qua sinh hoạt chuyên môn.
Tổ chức sinh hoạt chuyên môn đều đặn mỗi tháng 1 lần để học tập rút kinh nghiệm, bổ sung những phần hạn chế Hướng dẫn chỉ đạo cán bộ giáo viên thực hiện theo kế hoạch, cùng nhau tìm ra những biện pháp tốt nhất để nâng cao được kiến thức cho mình và truyền tải được kiến thức đó đến với học sinh
Qua mỗi lần sinh hoạt, học tập nhà trường thường kiểm tra xem mức độ nắm bắt nội dung chuyên đề của giáo viên đến đâu, vướng mắc chỗ nào để kịp thời bổ sung giải quyết
2.3 Bồi dưỡng trực tiếp cho giáo viên.
Xây dựng các giờ dạy mẫu, dự giờ, kiểm tra hồ sơ giáo án, đồ dùng phục
vụ cho nội dung hoạt động
Mời những các bộ có chuyên môn như y tế, cấp dưỡng về hướng dẫn trựctiếp cho giáo viên về cách chăm sóc sức khoẻ và chế biến các món ăn đảm bảo đúng theo yêu cầu của nội dung giáo dục DD và VSATTP
2.4 Bồi dưỡng qua tham khảo tài liệu, tham quan.
Việc tự học, tự bồi dưỡng, là biện pháp tốt nhất để không ngừng nâng caonghiệp vụ cho bản thân Vì thế việc tổ chức cho giáo viên tìm tòi những tài liệu như tập san, tạp chí, tài liệu về chăm sóc sức khoẻ, tài liệu hướng dẫn về
vệ sinh an toàn thực phẩm…Để từ đó rút ra những kinh nghiệm, tìm ra phương pháp, hình thức để áp dụng vào bài học thực tiễn
Tổ chức cho giáo viên đi tham quan các trường bạn để học hỏi, rút kinh nghiệm
2.5 Bồi dưỡng qua các hội thi.
Trang 6- Hội thi sáng tạo làm đồ dùng đồ chơi mô phỏng các hoạt động giáo dục
và cho trẻ thực hành, trải nghiệm
- Hội thi sáng tác thơ ca, hò vè, bài hát về dinh dưỡng
- Hội thi giáo viên dinh dưỡng giỏi
- Hội thi “ Bé tập làm nội trợ”
- Hội thi “ Gia đình và dinh dưỡng trẻ thơ”
Đây là việc làm thường xuyên và liên tục, nó vô cùng quan trọng trong việc thực hiện tốt nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
3 Thông qua công tác xây dựng chỉ đạo điểm.
Muốn thực hiện đại trà trên các lớp về nội dung giáo dục dinh dưỡng và
vệ sinh an toàn thực phẩm thì việc xây dựng chỉ đạo điểm là hết sức quan trọng, đòi hỏi Ban giám hiệu phải tìm hiểu nắm vững đặc điểm của từng lớp
mà chỉ đạo cho phù hợp, bổ sung kịp thời trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi, kếthợp với gia đình mua sắm thêm nguyên vật liệu để trẻ được thường xuyên luyện tập
Đối với bản thân, tôi phải luôn tìm tòi, học hỏi nghiên cứu sáng tạo tìm ra những phương pháp tốt nhất từ trong tài liệu, trong thực tế để chỉ đạo giáo viên xây dựng giờ mẫu, cử một giáo viên c ó năng lực tốt nhất thực hiện để cho tất cả giáo viên dự, nhận xét, rút kinh nghiệm, từ đó giáo viên có thể áp dụng vào tiết dạy ở chính lớp học của mình
Tổ chức cho các lớp đăng ký thi đua danh hiệu cá nhân, tập thể, đây chính
là mục tiêu đặt ra, là cái mốc để giáo viên phấn đấu thực hiện đảm bảo chương trình nội dung, biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt vào tất cảcác hoạt động có nội dung giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm đạt được hiệu quả cao nhất
4 Công tác thanh kiểm tra.
Trang 7Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn tổ chức kiểm tra thường xuyên đến từng giáo viên về việc tổ chức thực hiện nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệsinh an toàn thực phẩm, chú trọng một số nội dung kiểm tra:
- Kiểm tra hồ sơ, sổ sách Phải đảm bảo đầy đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng theo đúng từng nội dung
- Kiểm tra đồ dùng phục vụ cho công tác giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh antoàn thực phẩm, phù hợp theo từng độ tuổi, theo từng chủ điểm, sắp xếp khoa học, phản ánh nội dung một cách hài hoà tạo nên vẻ đẹp trong lớp nhưng lại có nội dung tuyên truyền cho trẻ, cha mẹ trẻ và cộng đồng
5 Về vệ sinh chăm sóc.
Chỉ đạo cho giáo viên thực hiện tốt việc giáo dục vệ sinh, rèn luyện cho trẻ
có thói quen vệ sinh cá nhân như đầu tóc, mặt mũi, chân tay, răng miệng, quần áo, vệ sinh đồ dùng…
Giáo dục trẻ có thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, đánh răng trước khi đi ngủ và buổi sáng sau khi ngủ dậy, giáo dục cho trẻ biết
“Răng sạch thì không bị sâu”.
Dạy trẻ biết lau miệng bằng khăn, khi ho hoặc hắt hơi dùng khăn hoặc dùng tay che miệng, không khạc nhổ bừa bãi ra lớp, đi tiểu tiện, đại tiện phảivào nhà vệ sinh
Giáo dục trẻ có thói quen ăn thức ăn đã nấu chín, uống nước đã đun sôi để nguội, nước các loại rau quả, biết trước khi ăn hoa quả phải rửa sạch gọt vỏ Giáo dục trẻ có thói quen đi dày dép, đội mũ nón khi đi ra nắng, có ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh chung, biết tự mình quét dọn, biết dọn dẹp đồ dùng cất đồ chơi cẩn thận vào nơi quy định
6 Đối với phụ huynh.
Trang 8Công tác tuyên truyền là chủ yếu với nhiều hình thức khác nhau như tổ chức cho phụ huynh tham quan bếp ăn, giờ ăn của trẻ, hướng dẫn cách chế
biến thức ăn, tham quan các hoạt động “ Bé tập làm nội trợ” của trẻ.
Phối hợp với y tế tổ chức các buổi nói chuyện 1 năm 2 lần để phụ huynh trực tiếp được nghe hướng dẫn nội dung chăm sóc sức khoẻ và biết cách xử
lý một số các bệnh thường gặp ở trẻ
Song song với công việc trên, nhà trường còn thường xuyên tổ chức phối hợp với hội phụ nữ tuyên truyền một số kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm trong các buổi sinh hoạt ở các khu Phối hợp với hội phụ
nữ tổ chức các chuyên đề phổ biến kiến thức nuôi con khoẻ, dạy con ngoan,
tổ chức hội thi nấu ăn được đông đảo các bậc phụ huynh tích cực tham gia
7 Đối v ới trẻ.
Nhà trường đã chỉ đạo giáo viên tích hợp, lồng ghép, giáo dục dinh dưỡng
vệ sinh an toàn thực phẩm vào tất cả các môn học, các hoạt động theo chủ điểm để cho trẻ được hoạt động, được thực hành nhằm củng cố kiến thức thông qua thói quen vệ sinh ăn uống, phòng chống bệnh tật, thông qua hoạt
động “Bé tập làm nội trợ” Với trẻ mẫu giáo “ Bé tập làm nội trợ” là một
hình thức và kỹ năng thực hành dinh dưỡng đến với trẻ thơ, hình thành kỹ năng hoạt động một cách tích cực, giáo dục trẻ biết sử dụng các đồ dùng, dụng cụ như dao, thìa, cốc, chén…Biết làm một số công việc đơn giản như pha nước chanh, làm bánh, rửa, gọt vỏ hoa quả Trẻ biết giữ gìn vệ sinh trước khi làm thức ăn, biết xếp đồ dùng gọn gàng, không để thức ăn sống lẫnvới thức ăn chín
* Qua hoạt động ‘ Bé tập làm nội trợ” trẻ được thực hành học tập một cách
tích cực những bài học về dinh dưỡng, cách chọn thức ăn giàu dinh dưỡng như:
- Có nhiều chất béo ( dầu, mở, lạc, vừng)
Trang 9- Có nhiều chất đạm (Sữa, thịt bò, đỗ xanh, đỗ tương)
- Nhiều chất bột ( Bánh mỳ, bột, gạo, khoai)
- Nhiều vitamin và muối khoáng ( Rau, củ, quả)
Qua hoạt động này còn giúp trẻ giao tiếp được với nhau, trao đổi bàn bạc
về cách làm, trẻ được làm quen một số từ mới có liên quan, được phát triển ngôn ngữ bằng cách miêu tả các thức ăn, cách làm thức ăn
* Giáo dục trẻ thông qua hoạt động vui chơi ( Trò chơi sáng tạo)
Đối với trẻ mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo, vì vậy thông qua hoạt động vui chơi trẻ sẽ được tái tạo lại công việc của người lớn, ví dụ: Khi tổ chức cho trẻ chơi ở góc phân vai, trẻ được đóng vai làm bác cấp dưỡng, trẻ biết công việc của mình từ khâu đi mua thực phẩm đến khâu chế biến, biết chọn những loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và đảm bảo tươi sạch…Hoặc ở góc xây dựng các trang trại chăn nuôi, xây dựng các vườn rau, ao cá
để cung cấp nguồn thực phẩm cho trường mầm non…Đây cũng là một biện pháp lôi cuốn trẻ được hào hứng tham gia của trẻ và kết quả đạt được cũng rất cao
* Giáo dục thông qua mọi lúc mọi nơi
Ngoài việc giáo dục trẻ trên tiết học, qua hoạt động “ Bé tập làm nội trợ”
“Hoạt động vui chơi” thì việc giáo dục trẻ khắc sâu thêm kiến thức về dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở mọi lúc mọi nơi là rất cần thiết Vì vậy tôi đã chỉ đạo giáo viên sưu tầm các bài thơ, ca dao, vè, bài hát đã được sáng tác qua các hội thi để vận dụng dạy trẻ ở mọi lúc mọi nơi Trong các giờ hoạt động ngoài trời, đi dạo, hoạt động chiều, ở đây giáo viên không chỉ dạy trẻ học thuộc mà còn giảng giải giúp trẻ hiểu được nội dung của bài thơ,
ca dao đó…Từ đó giáo dục trẻ ích lợi của việc ăn đủ 4 nhóm chất, ăn được nhiều món ăn, nhiều loại rau quả Thông qua v iệc dạy thơ, ca dao, bài hát có
Trang 10nội dung giáo dục dinh dưỡng sẽ làm cho nội dung giáo dục trẻ trở nên nhẹ nhàng, không khô cứng, trẻ dễ tiếp thu.
8 Chỉ đạo nâng cao chất lượng dinh dưỡng trong bữa ăn cho trẻ.
Để thực hiện tốt yêu cầu mà ngành học mầm non đề ra trong công tác nuôi dưỡng và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ Để cho trẻ được ăn đầy
đủ các chất dinh dưỡng trong từng bữa ăn thì đòi hỏi người quản lý phải thường xuyên theo dõi, hướng dẫn chỉ đạo tổ nuôi dưỡng thực hiện tốt một
số nội dung:
8.1 Xây dựng khẩu phần ăn:
Xây dựng được thực đơn và khẩu phần ăn hợp lý nhằm đảm bảo đầy đủ nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ, xây dựng khẩu phần ăn phải dựa trên một số nguyên tắc để vận dụng thay thế các loại thực phẩm, đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa các chất động vật và thực vật, vitamin
và chất khoáng…đảm bảo khẩu phần ăn ở trường của trẻ
Thực đơn xây dựng theo mùa, ngày đảm bảo đủ, đúng chất dinh dưỡng phù hợp với nguồn thực phẩm có ở địa phương Song phải đảm bảo thực đơn
Trang 11ngon, sử dụng được nhiều loại thực phẩm, phù hợp với mức tiền cha mẹ trẻ đóng.
Khi đã xây dựng được thực đơn chuẩn rồi, bản thân tôi thường xuyên kiểm tra chỉ đạo cho tổ nuôi phải tổ chức thực hiện theo đúng thực đơn, nếu
có vướng mắc, chỉnh sửa gì thì phải báo cáo ngay để phối hợp giải quyết Tránh trường hợp không đảm bảo chế độ ăn, hoặc không phù hợp với độ tuổi, chỉ đạo việc chế biến các món ăn phù hợp, thay đổi thực phẩm hàng ngày để giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết khẩu phần, đảm bảo cho trẻ ăn uống
đủ nước nhất là vào mùa hè, đảm bảo tốt khâu vệ sinh ăn uống, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh đồ dùng
9 Biện pháp chỉ đạo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đây là vấn đề luôn mang tính xã hội, bao gồm nhiều khâu, nhiều mắt xíchliên hoàn chỉ cần hỏng một mắt xích là sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Vì vậy để đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng mô hình thực phẩm sạch đề phòng ngộ độc thực phẩm có ý nghĩa thực tế và vô cùng quan trọng Chính vì thế, chỉ đạo tốt việc mua thực phẩm an toàn tôi đã nghiên cứu và sử dụng một số biện pháp hướng dẫn nhân viên thực hiện nhưsau:
Với điều kiện thực tế của nhà trường chưa đảm bảo đủ nguồn cung cấp thực phẩm sạch, nhà trường đã điều chỉnh bằng cách ký hợp đồng với người cung cấp thực phẩm như ( Thịt bò, lợn, cá, đậu phụ, ….) hợp đồng đảm bảo đầy đủ tính hợp pháp của các bên với yêu cầu thực phẩm phải tươi ngon, sạch, nếu thực phẩm không đảm bảo yêu cầu sẽ được thay đổi ngay Trường hợp có xảy ra ngộ độc thức ăn người cung ứng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, hợp đồng được ký từng năm một Đối với các loại thực phẩm như gà,rau, hến, cua, trứng thì đặt mua những cửa hàng có uy tín biết rõ nguồn gốc
Trang 12thực phẩm, rau phải sạch an toàn Ngoài ra chúng tôi còn vận động phụ huynh cung cấp nguồn thực phẩm sạch cho nhà trường.
Chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện nghiêm túc các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, các công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ giáo dục và đào tạo
Tăng cường công tác tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm cho cha mẹ trẻ và nhân dân địa phương
Tăng cường công tác kiểm tra giám sát vệ sinh chung và vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng như ( Có chữ ký của người giao và người nhận) các loạithực phẩm không đúng yêu cầu về chất lượng hoặc thiếu về số lượng được giải quyết ngay Đối với thịt tươi sống chỉ mua đủ sử dụng trong ngày, không mua thực phẩm chế biến sẵn
Thường xuyên liên hệ với trạm y tế địa phương để có sự hỗ trợ trong việcđảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Tăng cường công tác kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm với các nội dung:
- Vệ sinh an toàn nơi chế biến thực phẩm( để riêng thực phẩm sống và chín)
- Vệ sinh người sử dụng thực phẩm
Chỉ đạo việc thường xuyên lưu mẫu thức ăn ( Lưu mẫu trong tủ lạnh ngăn mát trong 24 giờ ) để khi cần có thể xác định được nguyên nhân gây ra ngộ độc (nếu có)
* Công tác vệ sinh
- Vệ sinh cá nhân:
+ Thường xuyên giữ cho trẻ sạch sẽ
+ Rèn luyện cho trẻ có nề nếp ăn uống sạch sẽ, lịch sự
+ Vệ sinh cô ở nhóm lớp và nhân viên phục vụ tại bếp