Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên World Wildlife Fund thì đa dạng sinh học là “sự phồn thịnh của cuộc sống trên Trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
BÀI GIẢNG (Luu hành nội bộ) BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Nguyễn Thị Quỳnh Phương
Năm 2016
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Bảo tồn đa dạng sinh học là môn học nhằm cung cấp những kiến thức cơ
bản nhất về khái niệm đa dạng sinh học và các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học Đây là môn học dành cho đối tượng là sinh viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường và các chuyên ngành gần tại trường Đại học Quảng Bình
Trong suốt những năm qua, Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Vì vậy giáo trình này luôn thay đổi cùng với sự thay đổi của các vấn đề nóng hổi của xã hội Đặc biệt là sau khi đổi mới chương trình giáo dục Đại học phù hợp với biến đổi
Bài giảng Bảo tồn đa dạng sinh học nhằm phục vụ cho công việc giảng dạy và học tập của sinh viên thuộc chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường và cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan ban ngành liên quan đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Bài giảng được biên soạn dựa trên sự tham khảo của rất nhiều tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề đa dạng sinh học
và bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới cũng như Việt Nam Tuy nhiên đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, sinh viên và độc giả trong và ngoài trường
để cuốn bài giảng này càng hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC 1
I KHÁI NIỆM VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC 5
1 Khái niệm về đa dạng sinh học 5
2 Một số vùng giàu về đa dạng sinh học trên thế giới 9
II GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC 10
1 Định giá giá trị của đa dạng sinh học 10
2 Giá trị của đa dạng sinh học 11
III SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC 15
1 Khái niệm về suy thoái đa dạng sinh học 15
2 Nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học 18
3 Thang bậc phân hạng mức đe doạ của IUCN .18
CHƯƠNG 2 BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 23
I CƠ SỞ VÀ NGUYÊN TẮC CỦA BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 23
1 Bảo tồn đa dạng sinh học 23
2 Các cơ sở của bảo tồn đa dạng sinh học 24
3 Các nguyên tắc cơ bản của bảo tồn đa dạng sinh học 24
II CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 25
1 Các phương thức bảo tồn chính 25
2 Luật pháp liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học 29
III TỔ CHỨC QUẢN LÝ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 32
1 Tổ chức quản lý đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn 32
2 Phối hợp và hỗ trợ trong bảo tồn đa dạng sinh học 37
CHƯƠNG 3.ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 41
I GIỚI THIỆU VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 41
1 Cơ sở tạo nên đa dạng sinh học ở Việt Nam 41
2 Mức độ đa dạng sinh học ở Việt Nam 42
3 Tính đa dạng trong các vùng địa lý sinh học Việt Nam 45
II SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 46
1 Thực trạng suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam 46
2 Nguyên nhân suy thoái đa dạng sinh học 47
III BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 50
1 Luật pháp Việt Nam liên quan đến bảo tồn ĐDSH 50
2 Hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học 52
CHƯƠNG IV GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC 62
Trang 4I LẬP KẾ HOẠCH ĐIỀU TRA, GIÁM SÁT ĐA DẠNG SINH HỌC 62
1 Sự cần thiết của giám sát, đánh giá đa dạng sinh học 62
2 Lập kế hoạch giám sát, đánh giá đa dạng sinh học 62
II PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC 64
1 Điều tra giám sát đa dạng loài động vật 64
2 Điều tra, giám sát đánh giá đa dạng loài thực vật 75
3 Giám sát tác động của con người đến khu bảo tồn 81
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC
I KHÁI NIỆM VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Khái niệm về đa dạng sinh học
Theo ước tính gần đây nhất thì có đến 12 định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học (Gaston and Spicer, 1998) Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước đa dạng sinh học (1992) được coi là "toàn diện và đầy đủ nhất" xét về mặt khái niệm Trong thực tế thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng lần đầu tiên vào năm 1988 và sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ký kết (5/6/1992) thì nó đã được dùng phổ biến hơn
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity,
biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, ; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái
Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự
đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái (Gaston and
Spicer, 1998)
Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (World Wildlife Fund) thì đa dạng sinh học là “sự phồn thịnh của cuộc sống trên Trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gene của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống”
Như thế, đa dạng sinh học cần phải được xem xét ở ba mức độ Đa dạng sinh học ở mức độ loài bao gồm tất cả sinh vật trên Trái đất từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và nấm Ở mức nhỏ hơn, đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gene giữa các loài, khác biệt về gene giữa các quần thể cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự khác biệt trong các quần xã sinh học nơi các loài đang sinh sống, các hệ sinh thái trong đó các quần
xã tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau Sự khác biệt giữa
đa dạng sinh học ở 3 mức độ khác nhau được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1 Các mức độ đa dạng sinh học
Đa dạng loài Đa dạng di truyền Đa dạng sinh thái
Giới (Kingdoms) Quần thể (Populations) Sinh đới (Biomes)
Ngành (Phyla) Cá thể (Individuals) Vùng sinh học (Bioregions) Lớp (Class) Nhiễm sắc thể (Chromosomes) Cảnh quan (Landscapes)
Loài (Species)
(Kevin J Gaston and John I Spicer, 2004)
Trang 61.1 Đa dạng loài
Đa dạng loài là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số lượng các phân loài (loài phụ) trên trái đất, trong một vùng địa lý, một quốc gia hay trong một sinh cảnh nhất định
Loài là những nhóm cá thể khác biệt với các nhóm khác về mặt sinh học và sinh thái Các cá thể trong loài có vật chất di truyền giống nhau và có khả năng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, thụ phấn) với nhau và cho các thế hệ con cái có khả năng tiếp tục sinh sản Như vậy các cá thể trong loài chứa toàn bộ thông tin di truyền của loài, do
đó tính đa dạng loài hoàn toàn bao trùm tính đa dạng di truyền và nó được coi là quan trọng nhất khi đề cập đến tính đa dạng sinh học
Sự đa dạng về loài trên thế giới được thể hiện bằng tổng số loài có mặt trên toàn cầu Tuy nhiên số lượng cá thể của loài cũng rất quan trọng khi đo đếm sự đa dạng loài
Đa dạng loài có thể được đo bằng một số cách khác nhau Hầu hết những cách này có thể được phân loại thành ba nhóm đo đạt: độ giàu có loài (species richness), sự phong phú loài (species abundance) và sự đa dạng về mặt phân loại hoặc chủng loại phát sinh (taxonomic hay phylogene tic diversity)
Đo đạt sự giàu có loài bằng cách tính tổng số loài trong một khu vực xác định
Đo đạt sự phong phú loài là lấy mẫu số lượng tương đối giữa các loài Một mẫu điển hình có thể chứa một số loài rất phổ biến, một vài loài ít phổ biến hơn và nhiều loài quý hiếm
Đo đạt đa dạng loài đơn giản hóa thông tin về độ phong phú loài và sự phong phú tương đối thành một chỉ số duy nhất được sử dụng rộng rãi
Có nhiều chỉ số để đánh giá đa dạng sinh học, trong đó chỉ số Shannon thường được sử dụng
Chỉ số đa dạng tính theo Shannon:
Trong đó:
H - chỉ số đa dạng
n - số loài trong quần xã
pi - t số cá thể của loài i trên tổng số cá thể tất cả loài trong quần xã (pi = 0 ~ 1) Một cách khác là để đánh giá độ đa dạng về phân loại hoặc phát sinh chủng loại, trong đó xem xét các mối quan hệ di truyền giữa các nhóm loài khác nhau Những tính toán này được dựa trên phân tích kết quả trong thứ bậc phân loại thường được đại diện bởi một 'cây', mô tả mô hình phân nhánh, được cho là tốt nhất, đại diện cho sự tiến hóa phát sinh chủng loại của các đơn vị phân loại liên quan Các tính toán khác nhau của đa dạng
về mặt phân loại, nhấn mạnh các đặc điểm phân loại khác nhau và các mối quan hệ
Hiện nay, có khoảng 1,7 triệu loài đã được mô tả Ít nhất là hai lần số đó còn chưa mô tả, chủ yếu là côn trùng và các nhóm chân khớp khác trong vùng nhiệt đới (Bảng 1.2)
Trang 7Trên phạm vi toàn Thế giới còn cần rất nhiều nổ lực để có thể hoàn thiện được danh mục đầy đủ các loài Mỗi năm các nhà phân loại trên Thế giới mô tả được khoảng 11.000 loài (chiếm từ 10 đến 30% các loài có trên Thế giới), và như vậy, để có thể mô
tả hết các loài trên Thế giới (ước tính 10 đến 30 triệu loài) dự kiến phải tốn từ 750 năm đến 2.570 năm, trong khi đó có nhiều loài đã bị tuyệt chủng trước khi chúng được mô
tả và đặt tên (Richard B Primack, 1995)
Kiến thức của chúng ta về số lượng loài là chưa chính xác do nhiều loài khó thấy còn chưa được phân loại học chú ý
Một vùng rùng mưa miền núi hẻo lánh nằm giữa Việt Nam và Lào vừa mới được các nhà sinh học khảo sát trong thời gian gần đây Một điều kỳ diệu đã xảy ra, tại đây
họ đã phát hiện được 5 loài thú mới cho khoa học đó là Mang lớn (Megamuntiacus vuquangenesis), Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), Bò sừng xoắn Tây Nguyên (Bos sauveli), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) và Mang lá (Muntiacus rooseveltorum)
Bảng 1.2 Số lượng loài các nhóm sinh vật đã được mô tả
Các nhóm Tên Tiếng Việt các nhóm Số lượng loài Vertebrates Động vật có xương sống
Trang 8Red algae Tảo đỏ 6.144
(Craig Hilton-Taylor, Caroline M Pollock et al., 2008)
Thể hiện sự sai khác về di truyền giữa các cá thể trong một quần thể và giữa các quần thể với nhau
Đa dạng di truyền trong nội bộ loài thường là kết quả của tập tính sinh sản của các cá thể trong quần thể Một quần thể là một nhóm các cá thể giao phối với nhau và sản sinh ra con cái hữu thụ Một loài có thể có một hay vài quần thể khác nhau Một quần thể có thể chỉ gồm một số ít cá thể hay có thể có hàng triệu cá thể
Các cá thể trong một quần thể thường rất khác nhau về mặt di truyền Sự đa dạng
về bộ gene có được do các cá thể có các gene khác nhau, gene là một đơn vị di truyền cùng với những chromosome được đặc trưng bởi những protein đặc biệt Các dạng khác nhau của gene được gọi là allen và những sự khác biệt nảy sinh qua đột biến, là những sự thay đổi xảy ra trong DNA, đơn vị cấu thành nhiễm sắc thể của cá thể Sự khác biệt của các allen trong gene có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh lý của các cá thể một cách khác nhau
Tổng số các sắp xếp của gene và allen trong quần thể được coi là quỹ gene (gene pool), trong khi một tổ hợp nào đấy của gene và allen trong bất kỳ cá thể nào thì được gọi là kiểu di truyền (geneotype) Kiểu hình (phenotype) của một cá thể nói lên các đặc điểm về hình thái, sinh lý, sinh hoá là kết quả của biểu hiện kiểu gene trong một môi trường nhất định
Sai khác di truyền cho phép các cá thể thích ứng với những thay đổi của môi trường Nhìn chung, các loài quí hiếm ít có sự đa dạng di truyền hơn các loài có phân
bố rộng và kết quả là chúng dễ bị tuyệt chủng hơn khi điều kiện môi trường thay đổi
1.3 Đa dạng quần xã và hệ sinh thái
Đa dạng về hệ sinh thái là thước đo sự phong phú về sinh cảnh, nơi ở, tổ sinh thái
và các hệ sinh thái ở các cấp độ khác nhau Sự đa dạng này được phản ảnh quan trọng nhất bởi sự đa dạng về sinh cảnh (biotops), các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển
Đa dạng hệ sinh thái bao gồm sự khác biệt rộng lớn giữa các loại hệ sinh thái,
sự đa dạng của môi trường sống và các quá trình sinh thái xảy ra trong mỗi loại hệ sinh thái Xác định tính đa dạng hệ sinh thái khó hơn so với đa dạng loài hoặc đa dạng di truyền vì 'ranh giới' của các quần xã và hệ sinh thái thường hay thay đổi Do khái niệm hệ sinh thái thường biến động và sự thay đổi đó, có thể được áp dụng ở
Trang 9nhiều quy mô khác nhau, mặc dù đối với mục tiêu quản lý, nó thường được sử dụng rộng rãi đối với các nhóm quần hợp giống nhau của quần xã, chẳng hạn như khu rừng nhiệt đới, ôn đới hoặc rạn san hô Một yếu tố quan trọng trong việc xem xét các hệ sinh thái đó là trạng thái tự nhiên, các quá trình sinh thái như dòng năng lượng và chu trình nước được bảo tồn
Việc phân loại sự đa dạng to lớn của các hệ sinh thái của Trái đất vào một hệ thống quản lý là một thách thức khoa học lớn, và quan trọng đối với quản lý và bảo tồn sinh quyển Ở cấp độ toàn cầu, hầu hết các hệ thống phân loại đã cố gắng để hướng đến một tiến trình trung gian giữa sự phức tạp của sinh thái quần xã và sự đơn giản của hệ thống phân loại nơi ở
Nói chung các hệ thống này sử dụng một sự kết hợp của một định nghĩa các kiểu nơi ở với sự mô tả khí hậu, ví dụ, rừng nhiệt đới ẩm, hoặc đồng cỏ ôn đới Một
số hệ thống cũng tích hợp địa lý sinh vật toàn cầu để giải thích các sự khác biệt trong sinh vật giữa các vùng trên Thế giới, tương tự như đặc điểm của khí hậu và tự nhiên (hình1.2)
Đo lường đa dạng sinh thái vẫn còn trong giai đoạn trứng nước Tuy nhiên, đa dạng hệ sinh thái là một yếu tố thiết yếu của toàn bộ đa dạng sinh học và nên được phản ánh trong bất kỳ đánh giá đa dạng sinh học nào
Hình 1.2 Bảy miền địa lý sinh học Thế giới
2 Một số vùng giàu về đa dạng sinh học trên thế giới
Môi trường giàu có nhất về số lượng loài có lẽ ở các rừng nhiệt đới, rạn san hô, các hồ lớn ở vùng nhiệt đới và ở các biển sâu Trong các rạn san hô, và các biển sâu,
sự đa dạng sinh học thuộc nhiều ngành và lớp khác nhau Sự đa dạng trong các biển sâu nhờ vào diện tích lớn, tính ổn định của môi trường cũng như vào sự biệt hoá của các loại nền đáy khác nhau
Đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới Mặc dù rừng nhiệt đới chỉ chiếm 7% diện tích Trái đất, chúng chứa hơn 1/2 loài trên Thế giới Khoảng 40% loài thực vật có hoa trên Thế giới (100.000 loài) ở vùng nhiệt đới, trong khi 30% loài chim trên Thế giới
Trang 10phụ thuộc vào những khu rừng nhiệt đới (Võ Quý, Phạm Bình Quyền et al.,1999)
Rạn san hô tạo nên một nơi tập trung khác về loài Các loài san hô bé nhỏ tạo ra các hệ sinh thái san hô vĩ đại, là vùng biển tương đương với rừng nhiệt đới về sự phong phú loài và độ phức tạp Rạn san hô lớn nhất Thế giới là rạn San Hô Lớn (Great Barrier Reffs) ở bờ biển phía đông nước Úc, có diện tích là 349.000 km2 Rạn san hô này có hơn 300 loài san hô, 1500 loài cá, 4000 loài thân mềm, 5 loài rùa biển và là nơi sinh sản của khoảng 252 loài chim Rạn san hô này chiếm 8% loài cá trên Thế giới
mặc dù chúng chỉ chiếm 0,1% diện tích đại dương
Đối với hầu hết các nhóm sinh vật, sự đa dạng loài tăng về hướng nhiệt đới Ví
dụ như Kenia có 308 loài thú, trong khi đó Pháp chỉ có 113 loài mặc dù hai nước này
có cùng diện tích Sự tương phản này đặc biệt chặt chẻ đối với cây cỏ và thực vật có hoa: một hecta rừng Amazon ở Peru hay vùng đất thấp ở Malaisia có thể có đến hơn
200 loài cây, trong khi đó ở rừng Châu Âu hay nước Mỹ thì chỉ có khoảng 30 loài trong cùng diện tích Kiểu đa dạng của các loài trên đất liền cũng giống như ở biển, nghĩa là cũng gia tăng sự đa dạng loài về phía nhiệt đới Ví dụ rạn San hô lớn ở Úc, phía Bắc có 50 giống trong khi phía Nam chỉ có 10 giống san hô
Có thể nêu một số lý do để giải thích cho việc vùng nhiệt đới có số lượng loài tăng như sau:
- Lượng bức xạ mặt trời cao tạo ra năng suất sinh học lớn, hổ trợ cho lưới thức ăn rộng;
- Khí hậu khô ẩm của vùng nhiệt đới đẩy mạnh sự tồn tại và phát triển của sinh vật cho phép các loài tương tác với nhau nhiều hơn tạo ra những tập tính và thích ứng cho
sự tiến hoá và sống còn;
- Khí hậu thuận lợi cho mầm bệnh và vật ký sinh phát triển, ngăn chặn sự phát triển quá mức của loài
- Vùng nhiệt đới cổ và ổn định về mặt địa chất, cho phép tiến hoá liên tục
- Đa dạng về thực vật cho phép gia tăng sự biệt hoá của động vật
Nhân tố lịch sử cũng rất quan trọng trong việc xác định kiểu phân bố đa dạng về loài Những vùng đất cổ có nhiều loài hơn các vùng đất mới Vì các vùng đất cổ có tuổi địa chất già hơn nên có nhiều thời gian hơn để nhận được các loài phát tán từ các nơi khác và các loài thích nghi đáp ứng với các điều kiện địa phương
Sự phong phú về loài cũng bị ảnh hưởng bởi các biến đổi về địa hình, khí hậu và môi trường địa phương Trong các quần xã trên cạn, sự giàu có về loài theo xu hướng tăng ở các địa hình thấp, tăng theo lượng bức xạ của mặt trời và tăng theo lượng mưa
Sự thay đổi lớn về nhiệt độ theo mùa là một nhân tố khác ảnh hưởng nhiều đến số lượng loài ở vùng ôn đới
Sự phong phú loài cũng có thể lớn hơn ở những nơi có địa hình phức tạp, để tạo nên những sự cách ly di truyền, thích ứng địa phương, và sự biệt hoá có thể xảy ra Ngoài ra, sự phong phú loài cũng thường gặp ở các vùng không có mùa hơn là các vùng có mùa rõ rệt (WCMC, 1994)
II GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Định giá giá trị của đa dạng sinh học
Ngoài định nghĩa đa dạng sinh học được chấp nhận bởi nhiều nhà sinh học bảo
Trang 11tồn, định nghĩa về lượng tính đa dạng sinh học cũng được sử dụng như là một phương thức để so sánh sự đa dạng tổng thể của các quần xã khác nhau
Theo như định nghĩa về đa dạng sinh học, rõ ràng là không có một thước đo duy nhất nào để định lượng đa dạng sinh học một cách đầy đủ Chúng ta không thể nói lên tính đa dạng sinh học của một khu vực dù có diện tích lớn hay nhỏ chỉ bằng một con
Khái niệm đa dạng beta đề cập đến mức độ dao động thành phần loài khi các điều kiện môi trường thay đổi như thế nào
Đa dạng gamma áp dụng đối với một vùng địa lý rộng lớn gồm nhiều sinh cảnh
và được định nghĩa là “một tỷ lệ mà ở đấy các loài thêm vào được bắt gặp là những
sự thay thế địa lý trong một dạng nơi ở thuộc các điểm khác nha
Đa dạng alpha xuất phát từ một khái niệm phổ biến về sự phong phú của loài (species richness) và có thể sử dụng để so sánh số lượng loài trong các hệ sinh thái khác nhau
Có nhiều phương thức khác nhau để định lượng đa dạng sinh học, tuy vậy, độ phong phú về loài là chỉ số thông dụng nhất để diễn tả đa dạng sinh học vì các lý do sau:
- Áp dụng thực tế: độ phong phú về loài đã được minh chứng về khả năng định lượng trong thực tế, ít nhất là chỉ ra những sự khác biệt về số lượng loài trong một trạng thái nào đó (ví dụ như sự có mặt, sinh sản, trú đông) đối với một bậc phân loại nào đó trong một diện tích nào đó trong một thời gian nào đó
- Thông tin có sẵn: một số lượng lớn thông tin có sẵn về độ phong phú của loài Ngoài ra, các thông tin khác còn có thể lấy ra từ các bộ sưu tập trong các bảo tàng với hàng triệu mẫu vật cùng với các tài liệu Đặc biệt là các thông tin này được đưa vào máy tính để các vùng xa xôi có thể sử dụng
- Tính đại diện: độ phong phú của loài có thể đại diện cho nhiều loại đa dạng sinh học khác nhau Nhìn chung, độ phong phú loài càng lớn thì độ đa dạng di truyền càng cao (đa dạng lớn về gene qua các quần thể), đa dạng về sinh vật càng nhiều (số lượng cá thể lớn qua các bậc phân loại cao hơn), và đa dạng sinh thái lớn hơn (từ các đại diện của nhiều tổ sinh thái và nơi ở qua nhiều sinh cảnh)
- Ứng dụng rộng rãi: đơn vị loài thường được coi như là đơn vị trong quản lý, luật pháp, chính trị và truyền thống Đối với nhiều người sự sai khác về đa dạng sinh học được coi như là sự sai khác về độ phong phú của loài
2 Giá trị của đa dạng sinh học
2.1 Giá trị trực tiếp
2.1.1 Giá trị tiêu thụ
Bao gồm các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và các loại sản phẩm khác cho các mục tiêu sử dụng như tiêu dùng cho gia đình và không
Trang 12xuất hiện ở thị trường trong nước và quốc tế
Những nghiên cứu về những xã hội truyền thống tại các nước đang phát triển cho thấy cộng đồng cư dân bản địa khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên xung quanh như củi đun, rau cỏ, hoa quả, thịt cá, dược phẩm và nguyên vật liệu xây dựng Trên 5.000 loài được dùng cho mục đích chữa bệnh ở Trung Quốc, Việt Nam và khoảng 2.000 loài được dùng tại vùng hạ lưu sông Amazon
Một trong những nhu cầu không thể thiếu được của con người là protein, nguồn này có thể kiếm được bằng săn bắn các loài động vật hoang dã để lấy thịt Trên toàn Thế giới, khoảng 100 triệu tấn cá, chủ yếu là các loài hoang dã bị đánh bắt mỗi năm Phần lớn số cá này được sử dụng ngay tại địa phương
2.1.2 Giá trị sử dụng cho sản xuất
Là giá bán cho các sản phẩm thu lượm được từ thiên nhiên trên thị trường trong nước và ngoài nước Sản phẩm này được định giá theo các phương pháp kinh tế tiêu chuẩn và giá được định là giá mua tại gốc, thường dưới dạng sơ chế hay nguyên liệu Tại thời điểm hiện nay, gỗ là một trong những sản phẩm bị khai thác nhiều nhất từ rừng tự nhiên với giá trị lớn hơn 100 tỷ đôla mỗi năm Những sản phẩm lâm nghiệp ngoài gỗ còn có động vật hoang dã, hoa quả, nhựa, dầu, mây và các loại cây thuốc Thế giới tự nhiên là nguồn vô tận cung cấp những nguồn loại dược phẩm mới 25% các đơn thuốc ở Mỹ có sử dụng các chế phẩm được điều chế từ cây, cỏ,
Một số lợi ích kinh tế của đa dạng sinh học
Dược phẩm: khoảng ½ các loài thuốc tổng hợp có nguồn gốc từ thiên nhiên Các dịch vụ thương mại về cây thuốc lên đến 60 tỷ USD năm 4/5 các loại thuốc mới được giới thiệu trên phạm vi toàn cầu bắt nguồn từ các sản phẩm tự nhiên Tất cả các loại thuốc chống ung thư có sẵn hiện nay, 42% bắt nguồn từ tự nhiên và 34% là bán tự nhiên
Giá trị toàn cầu về gỗ năm 2000 là 400 tỷ USD Lĩnh vực lâm nghiệp toàn cầu cung cấp sinh kế và việc làm cho khoảng 60 triệu người, phần lớn ở nước ở các nước đang phát triển Khoảng 2,6 tỷ người sử dụng các loại củi đun nấu hằng ngày từ rừng
500 triệu người trên Thế giới sống dựa vào các rạn san hô Khoảng từ 9 đến 12% nghề cá trên toàn Thế giới trực tiếp vào rạn Rạn là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và kiếm ăn của nghề cá ngoài khơi Du lịch là nguồn lợi chính của rạn san hô Bình quân toàn cầu
là 184 USD/ mỗi khách du lịch Ở khu vực Đông Nam Á, mỗi hecta rạn san hô thu được từ 231 – 2.700 USD
Giá trị của rừng ngập mặn khoảng 600 USD/ha đối với nghề cá Giá trị dược phẩm của rừng ngập mặn là 61 USD/ha/ năm Giá trị bảo vệ lưu vực của rừng ngập mặn
và các vùng đất ngập nước ước tính khoảng 845 USD/ha/năm ở Malaysia, ở Hawai khoảng 1.022 USD/ha/năm Cá là nguồn protein chính cho khoảng 1 tỷ người; cá chiếm tối thiểu 20% nguồn protein cho khoảng 2,6 tỷ người khác Câu cá giải trí là nguồn kinh tế quan trong ở nhiều nước Ở Mỹ, câu cá giái trí chiếm 21 tỷ, Canada là 5,2
tỷ và Úc là 1,3 tỷ USD/năm
Rạn san hô và rừng ngập mặn có thể hấp thu 70-90 năng lượng sóng gió, góp phần bảo vệ vùng bờ Các khu bảo tồn có thể tạo ra lợi ích từ hàng hóa và các dịch vụ sinh thái từ 4.400 đến5.200 tỷ USD/năm
Trang 132.2 Những giá trị gián tiếp
Những giá trị gián tiếp là những khía cạnh khác của đa dạng sinh học như các quá trình xảy ra trong môi trường và các chức năng của hệ sinh thái là những mối lợi không thể so đếm được và nhiều khi là vô giá
2.2.1 Giá trị sử dụng không cho tiêu thụ
Khả năng sản xuất của hệ sinh thái: khoảng 40% sức sản xuất của hệ sinh thái trên
cạn phục vụ cho cuộc sống của con người Tương tự như vậy, ở những vùng cửa sông, dãi ven biển là nơi những thực vật thuỷ sinh và tảo sinh phát triển mạnh, chúng là mắc xích đầu tiên của hàng loạt chuỗi thức ăn tạo thành các hải sản như trai, sò, tôm cua,
Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh học có vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ rừng đầu nguồn, những hệ sinh thái vùng đệm, phòng chống lũ lụt và hạn hán cũng như việc duy trì chất lượng nước
Điều hoà khí hậu: quần xã thực vật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều
hoà khí hậu địa phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu
Phân huỷ các chất thải: các quần xã sinh học có khả năng phân huỷ các chất ô
nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải sinh hoạt khác đang ngày càng gia tăng do các hoạt động của con người
Những mối quan hệ giữa các loài: nhiều loài có giá trị được con người khai thác,
nhưng để tồn tại, các loài này lại phụ thuộc rất nhiều vào các loài hoang dã khác Nếu những loài hoang dã đó mất đi, sẽ dẫn đến việc mất mát cả những loài có giá trị kinh tế
to lớn
Nghỉ ngơi và du lịch sinh thái: mục đích chính của các hoạt động nghỉ ngơi là
việc hưởng thụ mà không làm ảnh hưởng đến thiên nhiên thông qua những hoạt động như đi thám hiểm, chụp ảnh, quan sát chim, thú, câu cá Du lịch sinh thái là một ngành
du lịch không khói đang dần dần lớn mạnh tại nhiều nước đang phát triển, nó mang lại khoảng 12 tỷ đôla năm trên toàn Thế giới
Giá trị giáo dục và khoa học: nhiều sách giáo khoa đã biên soạn, nhiều chương
trình vô tuyến và phim ảnh đã được xây dựng về chủ đề bảo tồn thiên nhiên với mục đích giáo dục và giải trí Một số lượng lớn các nhà khoa học chuyên ngành và những người yêu thích sinh thái học đã tham gia các hoạt động quan sát, tìm hiểu thiên nhiên Các hoạt động này mang lại lợi nhuận kinh tế cho khu vực nơi họ tiến hành nghiên cứu khảo sát; nhưng giá trị thực sự không chỉ có vậy mà còn là khả năng nâng cao kiến thức, tăng cường tính giáo dục và tăng cường vốn sống cho con người
Quan trắc môi trường: những loài đặc biệt nhạy cảm với những chất độc có thể
trở thành hệ thống chỉ thị báo động rất sớm cho những quan trắc hiện trạng môi trường Một số loài có thể được dùng như những công cụ thay thế máy móc quan trắc đắt tiền Một trong những loài có tính chất chỉ thị cao là địa y sống trên đá hấp thụ những hoá chất trong nước mưa và những chất gây ô nhiễm trong không khí Thành phần của quần xã địa y có thể dùng như chỉ thị sinh học về mức độ ô nhiễm không khí Các loài động vật thân mềm như trai sò sống ở các hệ sinh thái thu sinh có thể là những sinh vật chỉ thị hữu hiệu cho quan trắc môi trường (Richard B Primack, 1995)
Trang 142.2.2 Giá trị lựa chọn
Giá trị lựa chọn của một loài là tiềm năng của chúng để cung cấp lợi ích kinh tế cho xã hội loài người trong tương lai Những chuyên gia về côn trùng tìm kiếm những loài côn trùng có thể sử dụng như các tác nhân phòng trừ sinh học; các nhà vi sinh vật học tìm kiếm những loài vi khuẩn có thể trợ giúp cho các quá trình nâng cao năng suất sản xuất; các nhà động vật học lựa chọn các loài có thể sản xuất nhiều protein; các cơ quan y tế, chăm sóc sức khỏe và các công ty dược phẩm đang có những nổ lực rất lớn
để tìm kiếm các loài có thể cung cấp những hợp chất phòng chống và chữa bệnh cho con người
2.2.3 Giá trị tồn tại
Con người có nhu cầu được tham quan nơi sinh sống của một loài đặc biệt và được nhìn thấy nó trong thiên nhiên hoang dã bằng chính mắt mình Các loài như gấu trúc, sư tử, voi và rất nhiều loài chim khác lại càng đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của con người Giá trị tồn tại như thế luôn luôn gắn liền với các quần xã sinh học của những khu rừng mưa nhiệt đới, các rạn san hô và những khu vực có phong cảnh đẹp
2.2.4 Những khía cạnh mang tính đạo đức
Mỗi một loài đều có quyền tồn tại: tất cả các loài đều có quyền tồn tại Trên cơ sở
đó, sự tồn tại của các loài phải được bảo đảm mà không cần tính đến sự phong phú hay đơn độc hoặc có tầm quan trong đối với con người hay không Tất cả các loài là một phần của tạo hoá và đều có quyền được tồn tại như con người ở trên Trái đất này Con người không những không có quyền làm hại các loài khác mà còn có trách nhiệm bảo
vệ sự tồn tại của chúng
Tất cả các loài đều quan hệ với nhau: giữa các loài có một quan hệ chằng chịt và
phức tạp, là một phần của các quần xã tự nhiên Việc mất mát của một loài sẽ có ảnh hưởng đến các thành viên khác trong quần xã Cho nên, chúng ta ý thức được sự cần thiết bảo tồn các loài, bảo tồn đa dạng sinh học cũng chính là bảo vệ mình
Con người phải sống trong một giới hạn sinh thái như các loài khác: tất cả các
loài trên Thế giới bị giới hạn bởi khả năng sức tải của môi trường sống Mỗi một loài
sử dụng nguồn tài nguyên trong môi trường để tồn tại và số loài sẽ bị suy giảm khi những nguồn tài nguyên này bị hu hoại và cạn kiệt đi Con người phải hành động rất thận trọng để hạn chế những ảnh hưởng có hại gây ra cho môi trường tự nhiên Những ảnh hưởng tiêu cực không chỉ gây hại đối với các loài mà còn gây hại đến chính bản thân con người
Con người phải chịu trách nhiệm như những người quản lý Trái đất: nếu như
chúng ta làm tổn hại đến những nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Trái đất và làm cho các loài bị đe dọa tuyệt chủng thì những thế hệ tiếp theo sẽ phải trả giá bằng một cuộc sống có chất lượng thấp Do vậy, con người ngày nay phải biết sử dụng các nguồn tài nguyên một cách khôn ngoan, tránh gây tác hại cho các loài và các quần xã sinh học
Sự tôn trọng cuộc sống con người và sự đa dạng văn hoá phải được đặt ngang tầm với sự tôn trong đa dạng sinh học: việc đánh giá cao giá trị đa dạng văn hoá và
Thế giới tự nhiên làm cho con người biết tôn trọng hơn đối với tất cả sự sống phong
Trang 15phú và phức tạp của nó
Thiên nhiên có những giá trị tinh thần và thẩm mỹ vượt xa giá trị kinh tế của nó:
trong lịch sử, những nhà sáng lập ra tôn giáo, những nhà thơ, nhà văn, những nghệ sĩ
và nhạc sĩ đã thể hiện những cảm hứng do họ nhận được từ thiên nhiên Đối với nhiều người, để có được những cảm hứng như thế họ cần phải sống với một môi trường thiên nhiên hoang sơ, chưa bị tác động bởi con người Hầu như ai cũng hào hứng và thích thú khi được chiêm ngưỡng Thế giới nguyên khai hoang dã và những phong cảnh đẹp Nhiều người coi Trái đất như là một sản phẩm kỳ diệu của tạo hoá với những điều linh thiêng cần được tôn trọng theo phong cách riêng
Đa dạng sinh học là cốt lõi đế xác định nguồn gốc sự sống: hai trong số những
huyền thoại chính của Thế giới triết học và khoa học là sự sống được hình thành như thế nào và tại sao lại có sự đa dạng sinh học như ngày nay Hàng ngàn chuyên gia sinh học tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề này và ngày càng đang tiến dần đến câu trả lời Tuy vậy khi các loài bị tuyệt chủng có nghĩa là mất đi những mắc xích quan trọng và huyền thoại đó khó tìm được lời giải
III SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Khái niệm về suy thoái đa dạng sinh học
1.1 Khái niệm
Suy thoái đa dạng sinh học có thể hiểu là sự suy giảm tính đa dạng, bao gồm sự suy giảm loài, nguồn gen và hệ sinh thái, từ đó làm suy giảm giá trị, chức năng của đa dạng sinh học Sự suy thoái đa dạng sinh học được thể hiện ở các mặt:
- Hệ sinh thái bị biến đổi
di truyền của loài đó sẽ mất đi, loài đó khó có khả năng để phục hồi và con người sẽ còn
ít cơ hội để nhận biết tiềm năng của loài đó
1.2 Quá trình suy thoái đa dạng sinh học
Cùng với những biến cố về lịch sử, về kinh tế xã hội, đa dạng sinh học trên toàn cầu đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của sự suy thoái đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng loài do môi trường sống bị thay đổi
Khái niệm tuyệt chủng có nhiều nghĩa khác nhau Một loài bị coi là tuyệt chủng khi không còn một cá thể nào của loài đó còn sống sót ở bất kỳ đâu trên thế giới Ví dụ:
loài chim Vermivora bachmaii, cá thể cuối cùng của loài này được nhìn thấy trong
những năm của thập kỷ 60 Loài mà chỉ còn một số cá thể còn sót lại nhờ sự chăm sóc,
Trang 16nuôi trồng của con người thì được coi là đã bị tuyệt chủng trong hoang dã, ví dụ loài
Hươu sao (Cervus nippon) ở Việt Nam Một loài được coi là tuyệt chủng cục bộ nếu như
nó không sống sót tại những nơi chúng đã từng sống, nhưng người ta vẫn tìm thấy chúng tại những nơi khác trong thiên nhiên
Một số nhà sinh thái học sử dụng cụm từ “loài bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái học”, có nghĩa là số lượng cá thể của loài còn lại ít đến mức ảnh hưởng của nó
không còn ý nghĩa đến những loài khác trong quần xã Ví dụ: loài Hổ (Panthera tigris)
hiện nay bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái học, điều này có nghĩa là số lượng hổ hiện nay còn trong thiên nhiên rất ít và tác động của chúng đến quần thể động vật mồi là không đáng kể
Ngoài ra trong nghiên cứu đa dạng sinh học còn có một hiện tượng khác, đó là
“cái chết đang sống” Khi quần thể của loài có số lượng cá thể dưới mức báo động,
nhiều khả năng loài sẽ bị tuyệt chủng Đối với một số quần thể trong tự nhiên, một vài
cá thể vẫn còn có thể sống sót dai dẳng vài năm, vài chục năm; chúng có thể vẫn sinh sản nhưng số phận cuối cùng của chúng vẫn là sự tuyệt chủng (nếu như không có sự can thiệp của công nghệ sinh học) Cây lấy gỗ là một ví dụ điển hình, một cây sống tách biệt, không sinh sản có thể sống đến hàng trăm năm Những loài này được coi là hiện thân
của “cái chết đang sống” mặc dù về phương diện chuyên môn nó chưa bị tuyệt chủng
nếu như một vài cá thể của loài vẫn sống, nhưng lúc này quần thể không thể tồn tại và sinh sản một cách khoẻ mạnh, sung sức nữa Dù muốn hay không tương lai của loài cũng chỉ giới hạn trong vòng đời của những cá thể còn sống sót đó
Sự sống xuất hiện cách đây 3 -4 tỷ năm và tính phức tạp của sự sống bắt đầu tăng dần từ đầu kỷ Cambrian (cách ngày nay khoảng 600 triệu năm) Cùng với sự tăng tính
đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng bắt đầu xuất hiện Trong giai đoạn từ kỷ Cambrian đến nay, các nhà cổ sinh học cho rằng có ít nhất 5 lần bị tuyệt chủng hàng loạt:
- Tuyệt chủng lần thứ nhất diễn ra vào cuối kỷ Ordovican (cách đây khoảng 450 triệu năm), khoảng 12% các họ động vật biển và 60% số loài động thực vật bị tuyệt chủng
- Tuyệt chủng lần thứ hai diễn ra vào cuối kỳ Devon (cách đây khoảng 365 triệu năm) và kéo dài khoảng 7 triệu năm đã gây nên sự biến mất của 60% tổng số loài còn lại sau lần tuyệt chủng lần thứ nhất
- Tuyệt chủng lần thứ ba là nghiêm trọng nhất kéo dài khoảng 1 triệu năm diễn ra vào kỷ Permian (cách đây khoảng 242 triệu năm) đã xoá sổ 54% số họ và khoảng 77 - 96% số loài động vật biển, 2/3 số loài bò sát, ếch nhái và 30% số bộ côn trùng
- Tuyệt chủng lần thứ tư xảy ra vào cuối kỷ Triassic (cách đây khoảng 210 triệu năm) với khoảng 20% số loài sinh vật trên trái đất bị tiêu diệt Hai đợt tuyệt chủng thứ
ba và thứ tư quá gần nhau vì vậy quá trình phục hồi lại hoàn toàn phải mất khoảng 100 triệu năm (Wilson, 1992 trong N.H.Nghĩa, 1999)
- Tuyệt chủng lần thứ năm diễn ra vào cuối kỷ Cretacis và đầu kỷ Tertiary (cách đây khoảng 65 triệu năm) Đây được coi là lần tuyệt chủng nổi tiếng nhất Ngoài các loài thằn lằn khổng lồ, hơn một nửa loài bò sát và một nửa loài sống ở biển đã bị tuyệt chủng
Theo Wilson (1992 trong N.H.Nghĩa, 1999) thì ngoài nguyên nhân do thiên thạch
ở lần tuyệt chủng thứ năm và một phần do núi lửa phun trào ở lần thứ ba, sự tuyệt chủng
Trang 17còn lại là do hiện tượng băng hà toàn cầu
1.3 Mức độ suy thoái đa dạng sinh học
Theo cách tính của các nhà khoa học thì tốc độ tuyệt chủng trung bình trong quá khứ vào khoảng 9% trên một triệu năm (Raup, 1978), tức là khoảng 0,000009% trong một năm Như vậy cứ 5 năm mất khoảng một loài trong 2 triệu loài có trong quá khứ Điều này có thể thấp hơn so với thực tế vì các nhà khoa học đã không tính được sự mất
đi của các loài đặc hữu Nếu vậy tốc độ tuyệt chủng cao nhất có thể là 2 loài mỗi năm (N.H.Nghĩa, 1999)
Mặc dù số lượng loài đã bị tuyệt chủng chỉ là những con số ước lượng vì chúng ta chưa thống kê được chắc chắn có bao nhiêu loài, song trên cơ sở nghiên cứu các nhà khoa học cho rằng có khoảng 85 loài thú và 113 loài chim đã bị tuyệt chủng từ những năm 1600, tương ứng 2,1% các loài thú và 1,3% các loài chim Chim và thú là những loài được nghiên cứu kĩ và do đó được biết đến nhiều nhất Tốc độ tuyệt chủng đặc biệt
tăng nhanh từ khi xuất hiện xã hội loài người, nếu tốc độ tuyệt chủng tự nhiên trong quá
khứ là 1 loài/năm thì tốc độ tuyệt chủng hiện nay là 1 loài/giờ, trong đó nguyên nhân
chính là do tác động của con người (Bryant, 2004) Tốc độ tuyệt chủng tăng nhanh cho thấy những mối đe doạ với đa dạng sinh học đã trở nên nghiêm trọng Tốc độ tuyệt chủng đặc biệt lớn ở các đảo vì đảo không những là nơi tập trung các loài đặc hữu mà nó còn bị khống chế về mặt không gian Hầu hết sự tuyệt chủng của các loài thú, chim, bò sát và ếch nhái được biết đến trong vòng 350 năm trở lại đây hầu hết là sống trên đảo và hơn 80% các loài thực vật đặc hữu trên các đảo hiện nay đều đang bị đe đoạ tuyệt chủng
Từ các nghiên cứu về những quần xã sống trên đảo, MacArthur và Wilson (1963 trong N.H.Nghĩa, 1999) đã đưa một quy luật chung về phân bố đa dạng sinh học và nó được
gọi là Mô hình địa lý sinh học đảo Mô hình này cho thấy rằng mối quan hệ giữa số
loài với diện tích và thường tuân theo quy luật Những đảo có diện tích rộng sẽ có nhiều loài hơn đảo có diện tích hẹp Các đảo lớn cũng cho phép các loài cách biệt về địa lý tồn tại với quần thể có kích thước lớn hơn và do đó làm giảm xác suất tuyệt chủng của các loài
Mô hình địa lý sinh học đảo cũng được sử dụng để dự tính, dự báo số lượng và tỷ
lệ loài có thể bị tuyệt chủng một khi nơi cư trú của chúng bị huỷ hoại (Simberloff, 1986 trong Phạm Nhật, 1999) Diện tích nơi cư trú bị thu hẹp làm giảm khả năng cung cấp của nơi sống Mô hình này cũng được mở rộng sự áp dụng đối với các khu bảo tồn, nơi được bao bọc bởi các hệ sinh thái bị tổn thương và nơi cư trú bị huỷ hoại Các khu này cũng được coi như những hòn đảo trên biển và đang bị khai thác làm cho nơi cư trú của các loài bị thu hẹp Mô hình này cho rằng nếu 50% diện tích của đảo (và các khu bảo tồn) bị huỷ hoại thì khoảng 10% số loài trên đảo sẽ bị tuyệt chủng Nếu 90% nơi cư trú bị phá hoại thì 50% số loài bị mất và khi 99% nơi cư trú bị mất thì 75% số loài sẽ bị mất
Rừng nhiệt đới là nơi sinh sống của phần lớn các loài sinh vật trên thế giới cho nên nếu rừng nhiệt đới tiếp tục bị suy thoái và nạn phá rừng còn tiếp tục cho đến khi chỉ còn lại các Khu bảo tồn thì khoảng 2/3 số loài thực vật và chim sẽ bị tuyệt chủng (Simberloff, 1986 trong Phạm Nhật, 1999) Nhiều nhà khoa học dự đoán rằng sẽ mất 5 - 10% số loài vào những năm 1990 - 2020, bình quân mỗi ngày mất đi 40 - 140 loài Có thể sẽ bị mất khoảng 25% số loài vào năm 2050
Trang 18a UCN
2 Nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học
Sự suy thoái đa dạng sinh học là do 2 nhóm nguyên nhân chính đó là hiểm hoạ tự
nhiên và tác động của con người
Các hiểm hoạ tự nhiên đã gây ra những tổn hại nặng nề cho đa dạng sinh học
trong những kỷ nguyên cách đây hơn 60 triệu năm, còn ảnh hưởng của các hoạt động do
con người gây nên đặc biệt nghiêm trọng từ giữa thế kỷ XIX đến nay
Những ảnh hưởng do tác động của con người gây ra chủ yếu làm thay đổi, suy
thoái và huỷ hoại môi trường sống Điều đó đẩy loài và các quần xã vào tình trạng bị
tuyệt chủng hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng Việc khai thác quá mức các loài phục vụ
cho nhu cầu của con người, việc du nhập các loài và gia tăng bệnh dịch cũng là những
nguyên nhân quan trọng làm suy thoái đa dạng sinh học Các mối đe doạ trên một phần
có liên quan mật thiết đến sự gia tăng dân số của toàn thế giới Việc phá huỷ các quần xã
sinh học xảy ra nhiều nhất trong vòng 150 năm trở lại đây và liên quan đến dân số thế
giới: 1 tỷ người năm 1850, 2 tỷ người năm 1930 và 5,9 tỷ người vào năm 1995, hiện nay
đã có trên 6 tỷ người Tốc độ tăng dân số thấp ở các nước công nghiệp phát triển nhưng
còn cao ở các nước kém phát triển ở châu Á, châu phi và Mỹ Latinh mà đây lại là những
nơi giàu tính đa dạng sinh học (WRI/UNEP/UNDP, 1994 trong Phạm Nhật, 1999)
3 Thang bậc phân hạng mức đe doạ của IUCN
Nhằm nêu bật tình trạng của một loài quí hiếm cho mục đích bảo tồn, IUCN đã
xây dựng các cấp độ bảo tồn như dưới đây Các cấp độ này có vai trò quan trọng ở cấp
quốc gia và quốc tế trong việc hướng sự chú ý vào những loài đang được quan tâm đặc
biệt và trong việc xác định những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng cần được bảo vệ
thông qua các cam kết quốc tế như Công ước CITES (IUCN, 2001)
Tuyệt chủng - EX
Đánh giá
Đủ dẫn liệu
Bị đe doạ
Ít nguy cấp - LR
Tuyệt chủng ngoài
thiên nhiên – EW Rất nguy cấp - CR Nguy cấp - EN
Sẽ nguy cấp - VU Phụ thuộc bảo tồn - CD Sắp bị đe dọa - NT
Ít lo ngại - IC Thiếu dẫn liệu - DD Không đánh giá - NE
Sơ đồ 1: Cấu trúc các cấp độ bảo tồn loài củ I
Thang bậc phân hạng mức đe doạ cụ thể:
+ Các bậc phân hạng chính
Trang 19- Bị tuyệt chủng - EX (Extinct):
Một đơn vị phân loại được coi là tuyệt chủng khi chắc chắn cá thể cuối cùng của đơn vị phân loại đó đã bị tiêu diệt
- Tuyệt chủng trong hoang dã - EW (Extinct in the wild):
Một loài được coi là tuyệt chủng trong hoang dã khi biết được loài đó chỉ tồn tại trong điều kiện nuôi trồng nằm ngoài phạm vi phân bố lịch sử cuả loài đó Loài được coi
là tuyệt chủng trong hoang dã khi những nỗ lực điều tra tại những vùng sống của loài đã biết hoặc những sinh cảnh có hi vọng gặp được vào những thời điểm thích hợp (theo ngày, mùa, năm) khắp các vùng phân bố lịch sử của nó, mà vẫn không tìm ra một cá thể nào Các cuộc điều tra vượt quá khung thời gian của một vòng đời hoặc tuổi thọ của chúng
- Rất nguy cấp - CR (Critical Endangered):
Một loài được coi là rất nguy cấp khi nó phải đối mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng tự nhiên rất lớn trong một tương lai gần, theo định nghĩa từ mục A - E dưới đây:
A Quần thể đang bị suy giảm theo những hình thức sau:
1 Các ước lượng chỉ ra rằng quần đã bị hoặc có xu thế hoặc nghi có sự suy giảm 80% trong vòng 10 năm hoặc trong 3 thế hệ vừa qua, được xác định bởi:
(a) Quan sát trực tiếp
(b) Chỉ số của độ phong phú phù hợp với phân loại đó
(c) Sự suy giảm trong vùng chiếm cứ
(d) Mức độ khai thác hiện tại hoặc xu hướng khai thác
(e) Hậu quả của du nhập loài mới, bệnh dịch, tạp lai, ô nhiễm, kí sinh
2 Sự suy giảm ít nhất 80%, có xu hướng hoặc nghi có thể sẽ xảy ra trong 10 năm tới hoặc trong 3 thế hệ dựa trên cơ sở xác địmh của bất kỳ điểm (b),(c),(d) hay (e) ở trên
B Phạm vi xuất hiện ước lượng nhỏ hơn 100km2 hay vùng chiếm cứ nhỏ hơn 10km2, và được chỉ ra bởi các ước lượng sau:
1 Bị phân cách nghiêm trọng hay được biết chỉ tồn tại trong một điểm duy nhất
2 Tiếp tục suy giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải trong các trường hợp: (a) Phạm vi xuất hiện
(b) Diện tích chiếm cứ
(c) Diện tích, phạm vi hay chất lượng sinh cảnh
(d) Số lượng cá thể trưởng thành
3 Những thay đổi cực kỳ bất thường theo các điểm sau:
(a) phạm vi xuất hiện
2 Quần thể vẫn tiếp tục giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải về số lượng các
cá thể trưởng thành và cấu trúc quần thể nằm trong các dạng:
(a) bị chia cắt nghiêm trọng
Trang 20(b) tất cả các cá thể đều nằm trong một quần thể phụ duy nhất
D Quần thể có số lượng dưới 50 cá thể trưởng thành
E Các phân tích trữ lượng chỉ ra rằng khả năng tuyệt chủng trong tự nhiên ít nhất
là dưới 50% trong vòng 10 năm hoặc là 3 thế hệ hay bất cứ khi nào dài hơn
- Nguy cấp - EN (Endangered)
Một loài được coi là nguy cấp khi nó chưa phải là nguy cấp cao nhưng nó đang phải đối mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng tự nhiên rất lớn trong một tương lai gần theo định nghĩa từ mục A - E dưới đây:
A Quần thể đang bị suy giảm theo một trong các hình thức sau:
1 Các quan sát, ước lượng chỉ ra rằng quần đã bị/có xu thế hoặc nghi có sự sự suy giảm ít nhất 50% trong vòng 10 năm hoặc trong 3 thế hệ vừa qua hoặc lâu hơn, được xác đinh bởi:
(a) Quan sát trực tiếp
(b) Một chỉ số của độ phong phú sát thực với đơn vị phân loại đó
(c) Suy giảm trong vùng chiếm cứ
(d) Mức độ khai thác hiện tại hoặc có xu hướng khai thác
(e) Hậu quả của du nhập loài mới, tạp lai, bệnh dịch, ô nhiễm hay ký sinh
2 Sự suy giảm ít nhất 50%, có xu hướng hoặc nghi sẽ có thể gặp phải trong 10 năm tới hoặc trong 3 thế hệ tới hoặc lâu hơn dựa vào trên cơ sở xác định của bất kỳ điểm (b), (c), (d) hoặc (e) ở trên
B Phạm vi xuất hiện ước lượng nhỏ hơn 5000km2 hoặc vùng chiếm cứ nhỏ hơn
500 km2 và được chỉ ra bởi các ước lượng sau:
1 Bị phân cách nghiêm trọng hay được biết chỉ tồn tại trong 5 điểm
2 Tiếp tục suy giảm qua quan sát hoặc gặp phải trong các trường hợp sau:
(a) phạm vi xuất hiện
(b) diện tích chiếm cứ
(c) diện tích, phạm vi hay chất lượng sinh cảnh
(d) số địa điểm phân bố hay số lượng quần thể phụ
(e) số lượng cá thể trưởng thành
3 Những thay đổi cực kỳ bất thường theo các điểm sau:
(a) phạm vi xuất hiện
2 Quần thể vẫn tiếp tục giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải về số lượng các
cá thể trưởng thành và cấu trúc quần thể nằm trong các dạng:
(a) bị chia cắt nghiêm trọng
(b) tất cả các cá thể đều nằm trong một quần thể phụ duy nhất
D Quần thể được ước lượng ít hơn 250 cá thể trưởng thành
Trang 21E Các phân tích số lượng chỉ ra rằng khả năng tuyệt chủng trong tự nhiên ít nhất
là dưới 20% trong vòng 20 năm hoặc 5 thế hệ
- Sắp nguy cấp - VU (Vulnerable):
Một loài được coi là sắp nguy cấp khi nó chưa phải nguy cấp cao hay nguy cấp nhưng đang phải đối mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng tự nhiên rất lớn trong một tương lai theo định nghĩa từ mục A - D dưới đây:
A Quần thể đang bị suy giảm theo một trong các hình thức sau:
1 Các quan sát, ước lượng chỉ ra rằng quần đã bị/có xu thế hoặc nghi có sự suy giảm ít nhất 20% trong vòng 10 năm hoặc trong 3 thế hệ vừa qua hoặc lâu hơn, được xác định bởi:
(a) Quan sát trực tiếp
(b) một chỉ số của độ phong phú sát thực với đơn vị phân loại đó
(c) suy giảm trong vòng chiếm cứ
(d) mức độ khai thác hiện tại hoặc có xu hướng khai thác
(e) hậu quả của du nhập loài mới, tạp lai, bệnh dịch, ô nhiễm hay ký sinh
2 Sự suy giảm ít nhất 20%, có xu hướng hoặc nghi sẽ có thể gặp phải trong 10 năm tới hoặc trong 3 thế hệ tới hoặc lâu hơn dựa trên cơ sở xác định của bất kỳ điểm (b), (c), (d) hoặc (e) ở trên
B Phạm vi xuất hiện ước lượng nhỏ hơn 20.000km2 hoặc vùng chiếm cứ nhỏ hơn 2000 km2 và được chỉ ra bởi các ước lượng sau:
1 Bị phân cách nghiêm trọng hay được biết chỉ tồn tại trong dưới 10 điểm duy nhất
2 Tiếp tục suy giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải trong các trường hợp: (a) phạm vi xuất hiện
(b) diện tích chiếm cứ
(c) diện tích, phạm vi hay chất lượng sinh cảnh
(d) số địa điểm phân bố hay số lượng quần thể phụ
(e) số lượng cá thể trưởng thành
3 Những thay đổi cực kỳ bất thường theo các điểm sau:
(a) phạm vi xuất hiện
(a) bị chia cắt nghiêm trọng
(b) tất cả các thể đều nằm trong một quần thể phụ duy nhất
D Qui mô quần thể là rất nhỏ hoặc quần thể giới hạn dưới 1000 cá thể trưởng thành
E Các phân tích số lượng chỉ ra rằng khả năng tuyệt chủng trong tự nhiên ít nhất
là 10% trong vòng 100 năm
- Đe doạ thấp - LR (Lower Risk):
Một loài được coi là bị đe doạ thấp khi nó đã được đánh giá là không thoả mãn các tiêu chuẩn đánh giá của mức nguy cấp cao, nguy cấp hay sắp nguy cấp Loài được
Trang 22coi là đe doạ thấp có thể chia ra ba mức phụ sau:
A Phụ thuộc bảo tồn - CD (Conservation Dependent): Loài là trọng tâm của chương trình bảo tồn riêng cho loài hoặc chương trình bảo tồn vùng sống, do đó loài đang được quan tâm nhưng nếu chương trình bảo tồn ngừng thì loài sẽ rơi vào một trong những mức độ đe doạ đã nêu ở trên trong vòng 5 năm tới
B Gần bị đe doạ - NT (Near Threatened): Loài không được xác định ở mức độ phụ thuộc bảo tồn, song gần với mức sắp nguy cấp
C Ít quan tâm - LC (Least Concern): Loài chưa được xếp vào cấp phụ thuộc bảo tồn hoặc gần bị đe doạ
+ Các nhóm chưa được xếp hạng:
- Thiếu số liệu - DD (Data Deficient):
Loài thiếu số liệu là loài không đủ thông tin để đánh giá trực tiếp hay gián tiếp hiểm hoạ tuyệt chủng dựa vào phân bố hoặc tình trạng quần thể Loài được xếp vào mức này có thể được nghiên cứu rất nhiều và có những hiểu biết về sinh học của chúng, song lại thiếu những số liệu đáng tin cậy về mức độ phong phú hay phân bố Vì vậy, thiếu số liệu không phải là thứ hạng bị đe doạ hay đe doạ thấp Những loài được liệt kê vào nhóm này cần có thêm nhiều thông tin để trong tương lai có thể xếp nó vào một mức đe doạ nào đó trong số các mức đe doạ kể trên
- Chưa được đánh giá - NE (Not Evaluated)
Loài chưa được đánh giá theo bất cứ tiêu chuẩn nào mà IUCN đã đưa ra
* Cần lưu ý: Trong Sách Đỏ Việt Nam, phần động vật (1992) và phần Thực vật
(1996) đã sử dụng các cấp đánh giá cũ của IUCN (1978) và một số điểm khác như sau:
+ Hiếm - R (Rare): Gồm những taxon (nhóm đã được phân loại) có phân bố hẹp,
nhất là những chi, giống đơn loài, có số lượng ít, tuy hiện nay chưa phải là đối tượng đang hoặc sẽ bị đe doạ nhưng sự tồn tại lâu dài của chúng là rất mỏng manh
+ Bị đe doạ - T (Threatened): Là những taxon thuộc một trong những cấp đe doạ
kể trên nhưng chưa đủ tư liệu để xếp chúng vào cấp cụ thể nào
+ Không biết chính xác - IK (Insufficiently Known): Là những taxon còn nghi ngờ
và không biết chắc chắn chúng thuộc loại nào trong các cấp trên vì thiếu thông tin Do vậy cần nghiên cứu thêm để xác định cụ thể mức đe doạ của chúng
Bảng 1.3: Số loài động vật bị đe doạ và tuyệt chủng, tổng hợp từ danh mục các
loài bị đe doạ của IUCN (1996)
Mức độ
Lớp
Rất nguy cấp
Trang 23CHƯƠNG 2 BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
I CƠ SỞ VÀ NGUYÊN TẮC CỦA BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Bảo tồn đa dạng sinh học
1.1 Khái niệm
Trong từ điển Đa dạng sinh học và phát triển bền vững (2001) thì bảo tồn đa dạng sinh học được định nghĩa là "việc quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại đồng thời duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai" Bảo tồn đa dạng sinh học có thể hiểu là giải pháp tổng hợp với mục đích bảo
vệ sự đa dạng của các loài sinh vật nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại đồng thời duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và lợi ích của các thế hệ tương lai
Nguyên lý khoa học của bảo tồn đa dạng sinh học chính là sinh học bảo tồn Sinh
học bảo tồn là một môn khoa học đa ngành được xây dựng nhằm hạn chế các mối đe doạ đối với đa dạng sinh học với hai mục đích (1) tìm hiểu những tác động tiêu cực do con người gây ra đối với đa dạng sinh học (2) Xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự suy thoái đa dạng sinh học
1.2 Sự cần thiết phải bảo tồn đa dạng sinh học
Thực trạng của đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu là đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng Suy thoái đa dạng sinh học sẽ dẫn đến những hậu quả to lớn và không lường trước được đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đa dạng sinh học
có giá trị rất lớn như đã nêu ở phần trước, chính vì thế bảo tồn đa dạng là việc làm cần thiết và khẩn cấp hiện nay của nhân loại Nhìn chung có một số lý do khẳng định sự cần thiết phải bảo tồn đa dạng sinh học là:
* Lý do kinh tế: lý do này trước hết đề cập đến giá trị kinh tế của đa dạng sinh
học, đó là những sản phẩm được con người trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng
* Lý do sinh thái: Lý do này đề cập đến việc duy trì các quá trình sinh thái cơ bản
của đa dạng sinh học Đa dạng sinh học đã tạo lập nên sự cân bằng sinh thái nhờ những mối liên hệ giữa các loài với nhau Cân bằng sinh thái là cơ sở để phát triển bền vững các quá trình trao đổi chất và năng lượng trong hệ sinh thái
* Lý do đạo đức: lý do này giúp chúng ta tôn trọng các loài sinh vật trong quá
trình cùng tồn tại Các loài sinh vật tồn tại không nhất thiết phụ thuộc vào giá trị sử dụng của chúng và sự cần thiết của con người
* Lý do thẩm mỹ: đa dạng sinh học đã tạo ra những dịch vụ tự nhiên phục vụ nhu
cầu vui chơi giải trí của con người chẳng hạn như du lịch sinh thái, thăm quan, do đó
nó góp phần cải thiện đời sống tinh thần của con người
* Lý do về giá trị tiềm ẩn: không phải các loài sinh vật đều có những giá trị kinh
tế, sinh thái, đạo đức, thẩm mỹ giống nhau và thực tế hiện nay chúng ta chưa xác định được hết các giá trị của chúng Một số loài hiện được coi là không có giá trị có thể trở thành loài hữu ích hoặc có một giá trị lớn nào đó trong tương lai, đó chính là giá trị tiềm
ẩn của đa dạng sinh học
Trang 242 Các cơ sở của bảo tồn đa dạng sinh học
Những nỗ lực về bảo tồn thường hướng đến việc bảo vệ các loài đang bị suy giảm
về số lượng và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Nhưng để có thể bảo tồn thành công loài trong những điều kiện khắc nghiệt do con người tạo nên, các nhà sinh học và các nhà bảo tồn cần phải xác định được tính ổn định của quần thể dưới những điều kiện nhất định Đó
là liệu quần thể của một loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng có thể tiếp tục tồn tại hoặc thậm chí phát triển trong một khu bảo tồn được không? Đồng thời các loài đang bị suy giảm có cần đến sự quan tâm đặc biệt nào để tránh khỏi sự tuyệt chủng hay không?
Nhiều khu bảo tồn được thành lập để bảo vệ một số loài quí hiếm, biểu tượng cho vùng, cho quốc gia hoặc có các giá trị đặc biệt khác Tuy nhiên việc khoanh nuôi thành các khu bảo tồn chưa hẳn đã có thể ngăn chặn được sự tuyệt chủng kể cả khi chúng được pháp luật bảo vệ Nhìn chung các khu bảo tồn chỉ được thành lập sau khi con người nhận thấy được sự suy giảm của hầu hết các quần thể và loài đang có nguy cơ bị tuyệt diệt trong hoang dã Trong những điều kiện như vậy thì hiện trạng của loài thường thay đổi theo xu thế suy giảm nhanh chóng về số lượng và dần tiến tới tuyệt chủng Cùng lúc đó các cá thể nằm ngoài ranh giới khu bảo tồn vẫn tiếp tục bị đe doạ do không được bảo vệ đúng mức
Theo nguyên tắc chung thì một kế hoạch bảo tồn thích hợp cho một loài đòi hỏi càng nhiều cá thể được bảo tồn càng tốt trong một diện tích lớn nhất có thể được của khu vực cần được bảo vệ Qua kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đối với bảo tồn quần thể cho thấy cần có các quần thể đủ lớn để bảo tồn hầu hết các loài Những quần thể nhỏ thường dễ có cơ bị tuyệt chủng cục bộ vì 3 nguyên nhân chính là:
* Mất tính biến dị di truyền, giao phối hẹp và lạc dòng gen
* Những dao động về số lượng quần thể do những biến động ngẫu nhiên giữa tỷ
lệ sinh và tỷ lệ chết
* Những biến động môi trường do những biến đổi về sự bắt mồi, cạnh tranh, dịch bệnh, nguồn thức ăn cũng như các rủi ro, thiên tai xảy ra bất thường
3 Các nguyên tắc cơ bản của bảo tồn đa dạng sinh học
Theo khuyến nghị của các nhà nghiên cứu bảo tồn, khi tiến hành nghiên cứu và triển khai việc phát triển chiến lược đa dạng sinh học, cần phải tuân thủ 10 nguyên tắc chỉ đạo cơ bản sau:
* Mọi dạng của sự sống là độc nhất và cần thiết và mọi người phải nhận thức được điều đó
* Bảo tồn đa dạng sinh học là một dạng đầu tư đem lại lợi ích lớn cho địa phương, cho đất nước và toàn cầu
* Chi phí và lợi ích của bảo tồn đa dạng sinh học phải được chia đều cho mọi đất nước và mọi người trong mỗi đất nước
* Vì là một phần của các cố gắng phát triển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học đòi hỏi những biến đổi lớn về hình mẫu và thực tiễn của phát triển kinh tế toàn cầu
* Tăng kinh phí cho bảo tồn đa dạng sinh học tự nó không làm giảm mất mát đa dạng sinh học Cần phải thực hiện cải cách chính sách và tổ chức để tạo ra các điều kiện
để nguồn kinh phí được sử dụng một cách có hiệu quả
Trang 25* Mỗi địa phương, đất nước và toàn cầu đều có các ưu tiên khác nhau về bảo tồn
đa dạng sinh học và chúng cần được xem xét khi xây dựng chiến lược bảo tồn Mọi quốc gia và mọi cộng đồng đều quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học riêng của mình, nhưng không nên chỉ tập trung cho riêng một số hệ sinh thái hay các đất nước giàu có về loài
* Bảo tồn đa dạng sinh học chỉ có thể được duy trì khi nhận thức và quan tâm của mọi người dân được đề cao và khi các nhà làm chính sách nhận được thông tin đáng tin cậy làm cơ sở xây dựng chính sách.(TL)
* Hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học phải được lên kế hoạch và được thực hiện
ở phạm vi đã được các tiêu chuẩn sinh thái và xã hội xác định Hoạt động cần tập trung vào nơi có người dân hiện đang sinh sống và làm việc và trong các vùng rừng cấm hoang dã
* Đa dạng văn hoá gắn liền với đa dạng sinh học Hiểu biết của nhân loại về đa dạng sinh học cũng như việc quản lý, sử dụng đa dạng sinh học đều nằm trong đa dạng văn hoá Do đó bảo tồn đa dạng sinh học góp phần tăng cường các giá trị và sự thống nhất văn hoá và ngược lại
* Tăng cường sự tham gia của người dân, quan tâm tới các quyền cơ bản của con người, tăng cường giáo dục và thông tin và tăng cường khả năng tổ chức là những nhân
tố cơ bản của bảo tồn đa dạng sinh học
IUCN, UNEP, WWF (1991) cũng đã đưa ra 9 nguyên tắc sống bền vững liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học:
1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng
2 Cải thiện chất lượng cuộc sống con người
3 Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của trái đất
4 Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn tài nguyên không tái tạo
5 Giữ vững/duy trì khả năng chịu đựng của trái đất
6 Thay đổi thái độ và thói quen của con người
7 Cho phép các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình
8 Một quốc gia thống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và bảo tồn
9 Cần tạo ra một cơ cấu liên minh toàn cầu trong bảo tồn ĐDSH
II CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Các phương thức bảo tồn chính
Để bảo tồn nguồn tài nguyên động thực vật nói riêng và đa dạng sinh học nói chung, hiện nay có 2 phương thức chủ yếu đó là bảo tồn tại chỗ (In - situ) và bảo tồn chuyển chỗ (Ex- situ) Ngoài 2 phương thức bảo tồn kể trên, gần đây trên thế giới người ta
còn chú trọng đến một hình thức bảo tồn mới gọi là bảo tồn circa situ Phương thức bảo
tồn này ra đời nhằm bảo tồn nguồn gen của một số loài cây hữu ích và có giá trị kinh tế ngay trên các trang trại Phương thức bảo tồn này cũng chú trọng đến vai trò của người dân và cộng đồng địa phương trong việc duy trì nguồn gen của những loài cây có giá trị trên trang trại mà không tồn tại trong các khu bảo tồn (Kanowski and Boshier, 1997)
1.1 Bảo tồn tại chỗ (In - situ conservation):
Phương thức này nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng Đối với các loài
Trang 26được thuần hoá, bảo tồn in - situ là bảo tồn chúng trong môi trường sống nơi đã hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trưng của chúng Do vậy bảo tồn in - situ cũng là hình thức lý tưởng trong bảo tồn nguồn gen
Ở những nơi có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ có hiệu qủa thì bảo tồn in - situ cho cả hệ sinh thái là phương pháp lý tưởng Chẳng hạn để bảo tồn nguồn gen cây rừng thì phương thức bảo tồn in - situ được thể hiện qua việc xây dựng các khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt, xác lập tình trạng hợp pháp trong các đơn vị lớn hơn như các khu rừng cấm và các công viên quốc gia
Loại hình bảo tồn tại chỗ hiện đang được phát triển mạnh trên thế giới là việc xây dựng các khu bảo tồn Khu bảo tồn là một vùng đất hay biển đặc biệt được dành cho việc bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hoá và được quản lý bằng các hình thức hợp pháp hay các hình thức hữu hiệu khác (IUCN, 1994 trong Phạm Nhật, 1999)
Loại hình và phân hạng các loại hình khu bảo tồn ở các quốc gia trên thế giới hiện có nhiều điểm khác nhau IUCN (1994 trong Phạm Nhật, 1999) đã đưa ra 6 loại hình khu bảo vệ như sau:
* Khu bảo vệ nghiêm ngặt (Strict Protection): gồm hai hình thức
+ Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt
(Strict nature reserve, Ia): là vùng đất hoặc biển chứa một số hệ sinh thái nổi bật hoặc đại diện, có những đặc điểm sinh vật, địa lý hoặc những loài nguyên sinh phục vụ cho nghiên cứu khoa học, quan trắc môi trường, giáo dục và để duy trì nguồn tài nguyên
di truyền trong một trạng thái động và tiến hoá
+ Vùng hoang dã (Wilderness area, Ib): là vùng đất rộng lớn chưa bị tác động hay biến đổi đáng kể hoặc là vùng biển còn giữ lại được những đặc điểm tự nhiên của nó, không bị ảnh hưởng thường xuyên và là nơi sống đầy ý nghĩa mà việc bảo tồn nhằm giữ được các điều kiện tự nhiên của nó
* Vườn quốc gia (National park, II) hay khu bảo tồn hệ sinh thái và giải trí
(Ecosystem conservation and recreation): II
Là vùng đất hoặc biển tự nhiên được quy hoạch để (a) bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái của một hoặc nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và mai sau; (b) loại bỏ sự khai thác hoặc chiếm dụng không mang tính tự nhiên đối với những mục đích của vùng đất và (c) tạo cơ sở nền móng cho tất cả các hoạt động khoa học, giáo dục, vui chơi, giải trí và tham quan mà các hoạt động đó phải phù hợp với văn hoá và môi trường
Vườn Quốc gia hoặc khu bảo tồn hệ sinh thái và giải trí thể hiện một hình mẫu tiêu biểu cho trạng thái tự nhiên của một vùng địa lý, một quần xã sinh học và tài nguyên di truyền, những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng để tạo ra tính ổn định và đa dạng
* Thắng cảnh thiên nhiên (Natural monument)/ Bảo tồn đặc điểm tự nhiên (Conservation of natural feature): III
Là vùng đất bao gồm một hoặc nhiều đặc điểm tự nhiên hoặc văn hoá nổi bật hoặc có giá trị độc đáo phục vụ cho mục đích thuyết minh, giáo dục và thưởng ngoạn của nhân dân
Trang 27* Khu bảo tồn thiên nhiên có quản lý (Conservation through active management)/ Khu bảo tồn sinh cảnh/bảo tồn loài (Habitat Species management area): IV
Là một vùng đất hay biển bắt buộc phải can thiệp tích cực cho mục tiêu quản lý
để đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc bảo vệ những loài có tầm quan trọng quốc gia, những nhóm loài, quần xã sinh học hoặc các đặc điểm tự nhiên của môi trường nơi mà chúng cần có sự quản lý đặc biệt để tồn tại lâu dài Nghiên cứu khoa học, quan trắc môi trường và phục vụ giáo dục là những hoạt động thích hợp với loại hình này
* Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/cảnh quan biển (Protected Landscape/Seascape): V
Là một vùng đất hay biển lân cận, nơi tác động giữa con người với tự nhiên được diễn ra thường xuyên Mục tiêu quản lý và duy trì những cảnh quan có tầm quan trọng quốc gia thể hiện tính chất tác động qua lại giữa người với đất hoặc biển Những khu này mang tính chất kết hợp giữa văn hoá và cảnh quan tự nhiên có giá trị thẩm mỹ cao
và đó cũng là nơi phục vụ mục đích đa dạng sinh thái, khoa học, văn hoá và giáo dục
* Khu sử dụng bền vững các hệ sinh thái tự nhiên (Sustainable use of natural ecosystem) hay Khu quản lý tài nguyên (Managed resource protected area): VI
Một vùng chứa các hệ thống tự nhiên chưa hoặc ít bị biến đổi được quản lý bảo
vệ một cách chắc chắn dài hạn vừa duy trì tính đa dạng sinh học đồng thời có khả năng cung cấp bền vững các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của con người
1.2 Bảo tồn chuyển chỗ (Ex - situ conservation)
Bảo tồn chuyển chỗ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng hợp nhằm bảo vệ các loài đang có nguy cơ bị tuyệt diệt Đây là phương thức bảo tồn các hợp phần của đa dạng sinh học bên ngoài sinh cảnh tự nhiên của chúng Thực tế, bảo tồn chuyển chỗ hay bảo tồn nơi khác là phương thức bảo tồn các cá thể trong những điều kiện nhân tạo dưới sự giám sát của con người
Đối với nhiều loài hiếm thì bảo tồn tại chỗ chưa phải là giải pháp khả thi nhất đặc biệt trong những điều kiện áp lực của con người ngày càng gia tăng Nếu quần thể còn lại là quá nhỏ để tiếp tục tồn tại, hoặc nếu như tất cả những cá thể còn lại được tìm thấy
ở ngoài khu bảo vệ thì bảo tồn tại chỗ sẽ không có hiệu quả Trong trường hợp này, giải pháp duy nhất để ngăn cho loài khỏi bị tuyệt chủng là bảo tồn chuyển chỗ
Bảo tồn chuyển chỗ thường gặp phải những khó khăn như: chi phí lớn, khó nghiên cứu đối với các loài có vòng đời phức tạp, có chế độ dinh dưỡng thay đổi mỗi khi chúng lớn lên và do đó môi trường sống của chúng thay đổi theo, và khó áp dụng cho các loài không thể sinh sản (động vật) hoặc tái sinh (thực vật) ngoài môi trường sống tự nhiên
Một số hình thức bảo tồn chuyển chỗ thường gặp:
* Vườn động vật hay vườn thú (Zoo): Vườn động vật trước đây có truyền thống là
đặc biệt quan tâm đến các loài động vật có xương sống Trong vài ba chục năm trở lại đây, mục tiêu cuả các vườn động vật đã có nhiều thay đổi, trở thành nơi nhận nuôi các loài động vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và phục vụ nghiên cứu Các vườn động vật trên thế giới hiện nay đang nuôi khoảng trên 500.000 loài động vật có xương sống ở cạn, đại diện cho 3000 loài thú,chim, bò sát và ếch nhái (Conway, 1998 trong Phạm Nhật, 1999) Phần lớn mục đích của các vườn động vật hiện nay là gây nuôi các quần thể động
Trang 28vật hiếm và đang bị đe doạ tuyệt chủng trên thế giới Việc nghiên cứu ở các vườn động vật đang được chú ý nhiều và các nhà khoa học đang cố gắng tìm mọi biện pháp tối ưu
để nhân giống, phòng chống bệnh tật Tất nhiên có nhiều vấn đề về kỹ thuật nhân nuôi, sinh thái và tập tínhh loài cũng như việc thả các loài trở về với môi trường sống tự nhiên đang đặt ra cho công tác nhân nuôi mà các vườn động vật cần giải quyết
* Bể nuôi (Aquarium): Trước kia bể nuôi thường chỉ dùng để trưng bày các loài
cá lạ và hấp dẫn khách tham quan Gần đây để đối phó trước nguy cơ tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật sống ở nước, các chuyên gia về cá, thú biển và san hô đã cùng hợp tác với các Viện nghiên cứu biển, các thuỷ cung và các bể nuôi tổ chức nhân nuôi bảo tồn các loài đang được quan tâm Có khoảng 580.000 loài cá đang được nuôi giữ trong
bể nuôi (Olney and Ellis, 1991 trong Phạm Nhật, 1999) Các chương trình gây giống các loài cá biển và san hô hiện còn trong giai đoạn khởi đầu, song đây là một lĩnh vực nghiên cứu có nhiều triển vọng
* Vườn thực vật (Botanic garden)
Hiện nay có khoảng 1500 vườn thực vật trên thế giới đã có các bộ sưu tập của các loài thực vật chính Đó thực sự là một nỗ lực lớn trong sự nghiệp bảo tồn thực vật Các vườn thực vật trên thế giới hiện nay đang quản lí ít nhất là 35000 loài thực vật chiếm khoảng 15% số loài thực vật toàn cầu (IUCN/WWF, 1989; Given, 1994 trong Phạm Nhật, 1999) Vườn thực vật lớn nhất trên thế giới là Vườn thực vật Hoàng gia Anh ở Kew có khoảng 25000 loài thực vật đã được trồng, bằng khoảng 10% số loài thực vật trên thế giới, trong đó có 2700 loài đã được liệt kê vào Sách Đỏ thế giới (Reid and Miller, 1989 trong Phạm Nhật, 1999) Vườn thực vật hiện đang có xu thế tập trung vào gieo trồng các loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng Vườn thực vật góp phần quan trọng trong việc bảo tồn thực vật vì các bộ sưu tập sống của chúng cũng như các bộ tiêu bản khô là một trong những nguồn thông tin tốt nhất về phân bố cũng như yêu cầu
về nơi cư trú của thực vật Ban thư ký bảo tồn các vườn thực vật (Botanic Garden Conservation Secretariat-BGCS) của IUCN đã được thành lập để điều phối những hoạt động bảo tồn của các vườn thực vật trên thế giới (BGCS, 1987 trong Phạm Nhật, 1999) Các ưu tiên của chương trình này là xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu toàn cầu để phối hợp các hoạt động thu mẫu cũng như xác định các loài quan trọng chưa được hiểu biết đầy đủ hay những loài không còn tìm thấy trong tự nhiên
Ngân hàng hạt giống (Seed bank): Hạt của nhiều loài thực vật có thể giữ và bảo
quản trong điều kiện khô, lạnh nên ngoài việc trồng cây, các vườn thực vật và viện nghiên cứu đã xây dựng bộ sưu tập về hạt Đây được coi là các bộ sưu tập hay là ngân hàng hạt giống Khả năng tồn tại lâu dài của hạt đặc biệt có giá trị cho việc bảo tồn Ex - situ vì nó cho phép bảo tồn hạt trong một không gian nhỏ, chi phí thấp Hiện có hơn 50 ngân hàng hạt giống trên thế giới, trong đó nhiều ngân hàng hạt giống được đặt tại các nước đang phát triển và được điều phối tích cực bởi nhóm tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp Quốc tế (Consultative Group on International Agricultural Research - CGIAR) (Phạm Nhật, 1999)
1.3 Sự liên quan giữa 2 phương thức bảo tồn
Bảo tồn Ex - situ và bảo tồn In - situ phải được nhìn nhận là những cách tiếp cận
Trang 29có tính bổ sung cho nhau (Robinson, 1992) Những cá thể từ các quần thể được bảo tồn
Ex -situ có thể được thả định kỳ ra ngoài thiên nhiên để tăng cường cho các quần thể được bảo tồn In- situ Việc nghiên cứu các quần thể được bảo tồn Ex -situ có thể cung cấp cho ta những hiểu biết về đặc tính sinh học của loài và gợi ra những chiến lược bảo tồn mới cho các quần thể được bảo tồn+ In - situ Các quần thể Ex -situ được bảo tồn tốt
sẽ làm giảm nhu cầu phải bắt các cá thể ngoài hoang dã để phục vụ mục đích trưng bày hoặc nghiên cứu Kết quả của bảo tồn Ex -situ đối với một loài sẽ góp phần giáo dục quần chúng về sự cần thiết phải bảo tồn loài cung như bảo vệ các cá thể của loài đó ngoài tự nhiên
Một phương thức trung gian cần cho bảo tồn In -situ và bảo tồn Ex - situ là sự giám sát và quản lý chặt chẽ quần thể các loài quý hiếm, đang có nguy cơ tuyệt diệt trong các khu bảo vệ nhỏ Những quần thể này vẫn còn mang tính hoang dã song con người thỉnh thoảng có thể can thiệp được để tránh sự suy thoái số lượng quần thể
Việc lựa chọn phương thức bảo tồn phải dựa trên cơ sở luật pháp về bảo tồn đa dạng sinh học (các công ước quốc tế, luật pháp của mỗi quốc gia) và điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng vùng
2 Luật pháp liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học
2.1 Vai trò của luật pháp trong bảo tồn đa dạng sinh học
Công cụ pháp chế hay luật pháp có thể được áp dụng tại các cấp địa phươnng, quốc gia hay quốc tế để bảo vệ tất cả các khía cạnh của đa dạng sinh học Các văn bản pháp luật sẽ cung cấp phương tiện và chương trình để bảo tồn đa dạng sinh học Mặc dù luật pháp là hết sức quan trọng nhưng nó chỉ là cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ các loài động thực vật quan trọng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Ngoài ra cần phải tổ chức tốt công tác bảo vệ cụ thể cũng như làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục để nhân dân trong vùng tự giác tham gia công tác bảo tồn đa dạng sinh học thì mới thực hiện được bảo tồn đa dạng sinh học một cách toàn diện
2.2 Các thoả hiệp quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học
2.2.1 Lý do
Bảo tồn đa dạng sinh học cần có sự tham gia của các quốc gia trên toàn thế giới Các cơ chế kiểm soát hiện đang tồn tại trên thế giới được dựa trên cơ sở của mỗi quốc gia và sự thoả hiệp quốc tế là tăng cường khả năng bảo tồn loài và sinh cảnh (de Klemn,
1993 trong Phạm Nhật, 1999) Hợp tác quốc tế là cần thiết vì một số lý do sau:
+ Các loài động vật không có khái niệm về biên giới trong phân bố Nỗ lực bảo tồn là phải bảo vệ loài ở tất cả mọi điểm trong vùng phân bố của chúng Như vậy, sự nỗ lực của một quốc gia là không hiệu quả nếu trong khi đó môi trường sống của loài đó ở quốc gia khác đang bị phá huỷ
+ Nạn buôn bán các sản phẩm sinh học hiện đang diễn ra trên thị trường quốc tế Nhu cầu lớn ở các nước giàu có thể sẽ dẫn đến hậu quả khai thác quá mức các loài ở những nước nghèo Để ngăn chặn việc khai thác quá mức, việc kiểm soát và quản lý buôn bán là yêu cầu cấp thiết cả trong nhập khẩu và xuất khẩu
+ Những lợi ích mà đa dạng sinh học mang lại có tầm quan trọng quốc tế Các quốc gia giàu có thuộc vùng ôn đới được hưởng lợi từ đa dạng sinh học của vùng nhiệt
Trang 30đới, do đó họ cần phải sẵn sàng giúp đỡ các nước nghèo khó hơn vì họ đã tham gia thực hiện việc bảo tồn đa dạng sinh học tại đó
+ Rất nhiều vấn đề của các loài hay các hệ sinh thái bị đe doạ có quy mô toàn cầu nên đòi hỏi sự hợp tác quốc tế để giải quyết, ví dụ như việc đánh bắt thuỷ hải sản quá mức, săn bắn quá mức, ô nhiễm không khí và mưa axit, ô nhiễm sông hồ, đại dương, biến đổi khí hậu toàn cầu và suy thoái tầng ôzôn
2.2.2 Các công ước quốc tế
* Công ước về bảo tồn loài:
Thoả hiệp quan trọng nhất trong việc bảo vệ các loài ở quy mô quốc tế là Công ước về buôn bán các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng (Convention on International
Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora - CITES) Công ước ra đời năm
1973 với tham gia của 120 nước, đồng thời có sự phối hợp với chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (United Nations Environmental Program - UNEP) Theo công ước này, các quốc gia thành viên đồng ý hạn chế buôn bán và khai thác có tính huỷ diệt những loài nằm trong danh sách được nhất trí của Công ước Công ước có 25 điều và 3 phụ lục Việt Nam là thành viên thứ 122 của CITES, được chấp nhận ngày 20/4/1994 (Phạm Nhật, 1999) Một số công ước bảo tồn khác:
+ Công ước về bảo tồn các loài động vật di cư (1979) + Công ước về bảo tồn các loài sinh vật biển vùng Nam Cực + Công ước về điều tiết săn bắt cá Voi
+ Công ước về bảo vệ các loài chim + Công ước về đánh bắt và bảo vệ sinh vật biển ở Vịnh Ban tích
* Công ước về bảo vệ các vùng đất ướt Ramsar (Ramsar Convention on Wetlands) ra đời năm 1971 nhằm ngăn chặn sự xuống cấp của các vùng đất ướt và thừa nhận các giá trị sinh thái, khoa học, kinh tế, văn hoá và giải trí của chúng Công ước này bao hàm các vùng nước ngọt, cửa sông, sinh cảnh bờ biển của 400 điểm khác nhau với
30 triệu ha
* Công ước về bảo tồn văn hoá thế giới và di sản thiên nhiên (Convention Concerning the Protection of the World Cultural and Natural Heritage) của UNESCO, IUCN với 109 nước tham gia Mục đích của công ước là bảo vệ các vùng đất tự nhiên đáng chú ý trên thế giới
* Mạng lưới khu dự trữ sinh quyển (International Network of Biosphere Reserves) được thiết lập bởi chương trình "Con người và sinh quyển" của UNESCO (UNESCO Man and the Biosphere Program - MAB)
Công ước về kiểm soát ô nhiễm: được ký kết nhằm ngăn cấm hoặc hạn chế tình trạng ô nhiễm ở các quốc gia và trên phạm vi toàn thế giới
* Công ước về bảo vệ tầng ôzon (Convention on the Protection of the
Ozone Layer) Công ước này liên quan đến việc điều tiết và không khuyến khích
sử dụng chất chlorofluofluorocarbon vì nó liên quan đến việc phá huỷ tầng ôzôn và làm tăng lượng tia cực tím chiếu vào quả đất
Ngoài ra, còn một số công ước về việc ngăn chặn ô nhiễm biển, công ước về vùng biển,…cũng đã được ký kết
Trang 312.2.3 Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường và phát triển (United Nations Conference on Environment and Development - UNCED) diễn ra tại Rio de Janeiro, Braxin, trong thời gian 12 ngày vào tháng 6 năm 1992 (5/61992) Tham gia Hội nghị có
178 nước với hơn 100 nguyên thủ quốc gia, cùng với những người đứng đầu tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức bảo tồn khác trên thế giới
Các thành viên Hội nghị đã bàn bạc, đi đến thoả thuận ký kết 5 văn bản chính thức được trình bày dưới đây và khởi xướng thực hiện nhiều dự án mới liên quan đến công tác bảo tồn và phát triển bền vững
Tuyên bố Rio (The Rio Declaration): tuyên bố nêu rõ những nguyên tắc có tính định hướng cho các nước giàu cũng như các nước nghèo về môi trường và phát triển Quyền lợi của các dân tộc trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên của họ phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội được thừa nhận đầy đủ nếu các hoạt động đó không làm tổn hại đến môi trường tại đó hay ở bất kỳ một nơi nào khác Tuyên bố đề cập đến nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo nguyên tắc này thì bất kỳ một công ty hay một chính phủ nào gây ra ô nhiễm môi trường phải có trách nhiệm sửa chữa thiệt hại hoặc trả tiền đền bù
Công ước về sự thay đổi khí hậu toàn cầu (Convention on Global Climate Change): Công ước này đỏi hỏi các nước công nghiệp phải giảm thiểu các chất gây ô nhiễm và các khí nhà kính khác do họ gây ra và phải thường xuyên làm báo cáo về tiến trình này Trong khi các giới hạn ô nhiễm chưa được xác định, công ước nêu rõ: các khí nhà kính phải được duy trì ổn định ở mức không làm ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu
Công ước về đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity): Công ước
này có 3 mục tiêu: bảo vệ đa dạng sinh học, sử dụng bền vững đa dạng sinh học, phân phối công bằng lợi nhuận của các sản phẩm mới lấy từ các loài hoang dã và các loài thuần dưỡng Hai mục tiêu đầu không phức tạp nhưng mục tiêu thứ ba gây ra rất nhiều
tranh cãi bởi vì nó yêu cầu các nước có tài nguyên đa dạng sinh học phải nhận được sự đền bù hợp lý từ các nước hay công ty có sử dụng các loài được thu thập từ lãnh thổ nước họ
Đã có 170 nước phê chuẩn công ước đa dạng sinh học (Bryant, 2004) Việt Nam là thành viên thứ 99 (ký công ước vào tháng 10/1994) và Công ước này chính thức có hiệu lực ở Việt Nam từ ngày 28 tháng 11 năm 1994 Một số nước trong đó có Mỹ không phê chuẩn công ước này vì e ngại ngành công nghệ sinh học khổng lồ của họ sẽ bị hạn chế
Các chính phủ đã kí kết và phê chuẩn công ước này nhất trí sẽ thực thi một số giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh học Các giải pháp chủ yếu:
+ Xây dựng các kế hoạch quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học
+ Xác định các hệ sinh thái, loài và tổ hợp gen quan trọng nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học
+ Theo dõi, giám sát đa dạng sinh học và các yếu tố có thể ảnh hưởng đến đa dạng sinh học
+ Thiết lập một hệ thống các khu vực bảo tồn
+ Quản lí tài nguyên sinh học phục vụ cho việc bảo tồn và sử dụng bền vững
Trang 32+ Phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái
+ Thực thi các giải pháp về bảo tồn ngoại vi
Tuyên bố về các nguyên tắc đối với rừng (Statement on Forest Principles): Sự nhất trí đạt được về công tác quản lý rừng đã gặp nhiều khó khăn vì những khác biệt sâu sắc về quan điểm giữa các nước ôn đới và nhiệt đới, các nước giàu và các nước nghèo Cuối cùng tuyên bố đã đưa ra lời kêu gọi về quản lý rừng theo hướng bền vững mà không có thêm khuyến cáo nào kèm theo
Lịch trình 21 (Agenda 21): Tài liệu này ra đời là một cố gắng mới để trình bày một cách có hệ thống và toàn diện những chính sách cần thiết liên quan đến phát triển bền vững Lịch trình này chỉ ra sự liên kết giữa môi trường và các vấn đề khác vốn trước đây vẫn thường đưa ra cân nhắc một cách tách biệt như: quyền lợi của trẻ em, sự nghèo khó, vấn đề phụ nữ, chuyển giao công nghệ…Các kế hoạch hoạt động được vạch ra để giải quyết các vấn đề về khí quyển, suy thoái đất, sa mạc hoá, phát triển miền núi, nông nghiệp và phát triển nông thôn, việc phá rừng, đất ngập nước, môi trường thuỷ vực và vấn đề ô nhiễm Các cơ chế về tài chính, tổ chức, công nghệ và pháp luật để thực hiện những hoạt động này cũng được đề cập
2.3 Luật pháp của mỗi quốc gia
Luật pháp là chỗ dựa hết sức quan trọng, là các căn cứ pháp lý làm cơ sở cho việc
tổ chức bảo tồn Ở mỗi quốc gia, dựa trên tình hình kinh tế, xã hội, điều kiện tự nhiên, đặc điểm và hiện trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên…nhiều văn bản pháp luật, dưới luật và các chính sách, thể chế liên quan được soạn thảo và ban hành kịp thời nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học Một điều dễ dàng nhận thấy rằng các văn bản pháp luật ở mỗi quốc gia không hoàn toàn giống nhau và luôn được thay đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế
III TỔ CHỨC QUẢN LÝ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Tổ chức quản lý đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn
1.1 Sự hình thành các khu bảo tồn
Một trong những bước đi cơ bản quan trọng nhất trong việc bảo tồn các quần xã sinh vật là việc thành lập hệ thống các khu bảo tồn Trong khi các điều kiện khác (pháp luật, việc sử dụng đất….) chưa đảm bảo cho việc gìn giữ môi trường sống của các loài thì các khu bảo tồn sẽ là một điểm khởi đầu quan trọng Có thể thành lập các khu bảo tồn theo nhiều cách, song có hai phương thức phổ biến nhất, đó là thông qua nhà nước ( thường ở cấp trung ương hay cấp địa phương ), và các tổ chức bảo tồn hay cá nhân sở hữu những vùng đất đó Nhà nước có thể dành ra những vùng đất làm khu bảo tồn và ban hành luật pháp cho phép sử dụng tài nguyên của các khu bảo tồn đó ở các mức độ khác nhau cho mục đích thương mại, thăm quan vui chơi giải trí và sử dụng theo phương pháp truyền thống của người dân địa phương Nhiều khu bảo tồn cũng đã được các tổ chức tư nhân thành lập nên Một hình thức đang ngày càng phổ biến đó là sự hợp tác giữa chính phủ của một nước đang phát triển với các tổ chức bảo tồn quốc tế, các ngân hàng quốc tế và chính phủ của các quốc gia phát triển Trong mối quan hệ hợp tác như thế, các tổ chức bảo tồn thường cung cấp tài chính và các hỗ trợ về đào tạo, khoa học và
Trang 33quản lý nhằm giúp các nước đang phát triển thành lập và quản lí hệ thống các khu bảo tồn Hình thức hợp tác này đã được tăng lên đáng kể nhờ cơ chế hỗ trợ vốn mới thông qua quỹ Môi Trường Toàn cầu (GEF) do Ngân hàng thế giới và các cơ quan của Liên Hiệp Quốc thành lập
Các khu bảo tồn còn được hình thành bởi các cộng đồng địa phương vì họ muốn gìn giữ những phong tục tập quán riêng trong đời sống của họ Thông thường các khu bảo tồn cũng là nơi cư trú của một số cộng đồng địa phương do vậy cần phải có những quyết định cho phép con người tác động ở một mức độ nào đó IUCN (1984, 1985, 1994) đã xây dựng và cải tiến một hệ thống phân loại các khu bảo tồn như đã nêu ở bài 5 Mức độ sử dụng/can thiệp cụ thể ở các khu bảo tồn đã được phân định từ nhỏ đến lớn như sau:
+ Khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt: Là những khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và quan trắc môi trường Các khu bảo tồn thiên nhiên này cho phép giữ gìn các quần thể của các loài cũng như các quá trình của hệ sinh thái sao cho chúng ở trạng thái không bị nhiễm loạn càng nhiều càng tốt
+ Vườn quốc gia: là những khu vực rộng lớn có vẻ đẹp thiên nhiên (ở biển hay ở đất liền) được gìn giữ bảo vệ một hoặc vài hệ sinh thái ở đó, đồng thời được dùng cho các mục đích giáo dục, nghiên cứu khoa học, nghỉ ngơi giải trí và tham quan du lịch Tài nguyên ở đây thường không được phép khai thác cho mục đích thương mại
+ Các di sản quốc gia: là những khu vực nhỏ hơn được thiết lập nhằm bảo tồn những đặc trưng về sinh học, địa lí, địa chất hay văn hoá của của một nơi nào đó
+ Các khu vưc quản lý nơi cư trú của động vật hoang dã: có những điểm tương tự với các khu bảo tồn nghiêm ngặt nhưng một số hoạt động chủ yếu của con người được phép tiến hành tại đây để duy trì các đặc thù của cộng đồng dân cư Việc khai thác có kiểm soát cũng được phép
+ Các khu bảo tồn cảnh quan trên đất liền và trên biển: cho phép người dân tác động/sử dụng theo cách cổ truyền, không phá huỷ, đặc biệt tại những nơi mà việc sử dụng
đã hình thành nên những khu vực có đặc tính văn hoá, thẩm mỹ và sinh học đặc sắc Những nơi này tạo nhiều cơ hội phát triển cho các ngành du lịch và nghỉ ngơi giải trí
+ Các khu dự trữ tài nguyên: là các vùng mà ở đó việc sử dụng tài nguyên được kiểm soát phù hợp với chính sách quốc gia Nguồn tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ cho tương lai
+ Các khu sử dụng bền vững hệ sinh thái - nhân văn tự nhiên: cho phép các cộng đồng địa phương được duy trì cuộc sống của họ mà không có sự can thiệp từ bên ngoài Thông thường họ được săn bắt và khai thác tài nguyên chủ yếu phục vụ cho đời sống cộng đồng Trong canh tác, họ thường áp dụng các biện pháp truyền thống
+ Các khu quản lý tài nguyên cho phép sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên nước, động vật hoang dã, chăn nuôi gia súc, gỗ, du lịch và đánh bắt cá Hoạt động bảo tồn các quần xã sinh học thường đi đôi với các hoạt động khai thác nói trên
Năm loại hình nêu đầu tiên có thể coi như là khu bảo tồn thực sự mà trong đó các nơi cư trú chủ yếu được quản lý vì mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học Mục tiêu của ba loại hình còn lại phục vụ gián tiếp việc quản lý bảo tồn đa dạng sinh học Các khu được
Trang 34quản lý này đôi khi đặc biệt quan trọng vì chúng thường rộng lớn hơn các khu bảo tồn thực sự rất nhiều, vì chúng còn bao gồm rất nhiều hay thậm chí đa số các loài nguyên sinh, mặt khác các khu bảo tồn thực sự thường nằm trong một hệ thống các khu được quản lý
1.2 Các khu bảo tồn trên thế giới
Cho đến năm 2003 thì toàn thế giới đã có tất cả 102.102 khu bảo tồn, với diện tích khoảng 18,8 triệu km2, chiếm 11,5% diện tích bề mặt trái đất Số lượng và diện tích các khu bảo tồn đã tăng hơn 10 lần kể từ 1962 khi khu bảo tồn đầu tiên trên thế giới được thành lập Vườn Quốc gia rộng nhất thế giới rộng 700.000km2 ở Greenland Mặc
dù con số về các khu bảo tồn nói trên khá ấn tượng song chúng chỉ đại diện cho 11,5% tổng diện tích bề mặt trái đất Chỉ có 3,5% tổng diện tích đất đai của thế giới là thuộc loại được bảo vệ nghiêm ngặt cho mục đích khoa học gồm vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Châu Âu là nơi có số lượng khu bảo tồn nhiều nhất, khoảng 43.000 khu nhưng Nam và Trung Mỹ có diện tích được bảo vệ nhiều nhất, khoảng 25% Diện tích của các khu bảo tồn lớn nhất là ở Bắc và Trung Mỹ và nhỏ nhất là ở Liên Xô cũ Diện tích của các khu bảo tồn khác nhau đáng kể giữa các quốc gia, ví dụ: Đức: 24,6%, Anh: 18,9%; Nga: 1,2%; Hy Lạp: 0,8% và Thổ Nhĩ Kỳ: 0,3% Số liệu này cũng mang tính tương đối ở từng quốc gia và châu lục
Bảng 2.1: Các khu bảo tồn và các khu được quản lý trên thế giới
Vùng Các khu bảo tồn
(Phân loại của IUCN, I - V)
Các khu được quản lý (Phân loại của IUCN, I - V)
Số các khu
Diện tích (km 2 )
Phần trăm tổng diện tích
Số các khu
Diện tích (km 2 )
Phần trăm tổng diện tích
(Nguồn WRI/UNEP/UNDP, 1994)
(b) Ôxtrâylia, Niu Dilân và các đảo Thái Bình Dương
(c) Không bao gồm Nam Cực
Tổ chức IUCN đề xuất các quốc gia nên dành tối thiểu từ 7 - 10% tổng diện tích cho các khu bảo tồn bởi nhu cầu của con người đối với tài nguyên thiên nhiên là rất lớn Việc thành lập các khu bảo tồn đã đạt đỉnh cao vào những năm 1970 - 1975 rồi sau đó chững lại, có lẽ là do những vùng đất còn lại đã được chọn cho mục đích sử dụng khác Nhiều khu bảo tồn nằm trên những vùng đất được coi là không có hoặc ít có giá trị kinh
tế Một diện tích khiêm tốn của các khu bảo tồn nói trên cho thấy rằng nhiều vùng đất có tầm quan trọng sinh học đã được sử dụng vào mục đích sản xuất
Trang 351.3 Tính hiệu quả của các khu bảo tồn
Diện tích các khu bảo tồn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trên trái đất do vậy khi xét đến hiệu quả bảo tồn không chỉ chú ý đến phạm vi diện tích còn phải xét đến toàn bộ cảnh quan, nơi tập trung sự phân bố loài Một vùng cảnh quan thường bao gồm các dải đất rộng lớn cùng với nơi cư trú của nhiều loài và trong đó chỉ có một vài khu vực nhỏ là nơi cư trú của các loài hiếm Trong trường hợp này hiệu qủa bảo tồn các loài hiếm có thể
sẽ không phụ thuộc quá nhiều vào bảo tồn toàn bộ vùng đất rộng lớn mà phải bảo tồn tất
cả các kiểu nơi cư trú của loài trong một hệ thống các khu bảo tồn Một số ví dụ minh hoạ: ở Indonexia, mục tiêu của kế hoạch bảo vệ các loài chim và linh trưởng bản địa sẽ đạt được nhờ vào việc tăng diện tích các khu bảo tồn trong hệ thống các khu bảo tồn từ 3,5% lên 10% so với tổng diện tích cả nước Ở Zaia cả nước có trên 1000 loài chim Trong số đó có 89% số loài xuất hiện trong các khu bảo tồn với diện tích chỉ chiếm 3,9% tổng diện tích cả nước Tương tự như vậy, 85% số chim của Kenya được bảo vệ trong các khu vực mà diện tích chỉ chiếm 5,4% tổng diện tích đất đai
Từ kinh nghiệm của các khu bảo tồn khác nhau trên thế giới cho thấy rằng: những khu bảo tồn được lựa chọn cẩn thận thì có thể nuôi dưỡng và che chở cho rất nhiều, nếu không nói là hầu hết các loài của một quốc gia Tuy nhiên tương lai lâu dài của nhiều loài trong các khu bảo tồn này vẫn còn là một vấn đề còn tranh cãi Xét về tính hiệu quả của khu bảo tồn còn phải tính đến cách thức quản lý, đây là một trong những yếu tố có tính chất quyết định
1.4 Xác định các ưu tiên cho bảo tồn đa dạng sinh học
Trong một thế giới rộng lớn và với nguồn kinh phí có hạn, không thể lập kế hoạch bảo tồn tất cả các loài, sinh cảnh do vậy cần phải thiết lập được các ưu tiên cho bảo tồn đa dạng sinh học và quan trọng nhất là bảo tồn loài Trong khi một số người bảo thủ cho rằng chưa chắc đã có loài nào đó bị tuyệt chủng, thì trên thực tế loài đang bị mất
đi hàng ngày Câu hỏi đặt ra ở đây là làm sao có thể giảm thiểu sự mất mát của các loài với một nguồn tài chính và sức lực có hạn Những câu hỏi có mối quan hệ tương tác lẫn
nhau mà các nhà hoạch định công tác bảo tồn cần phải làm sáng tỏ là: cần phải bảo vệ cái gì?, bảo vệ ở đâu? và bảo vệ như thế nào? Có thể dùng 3 tiêu chí sau đây để lập ra
các ưu tiên cho bảo tồn loài và quần xã
Tính đặc biệt
Một quần xã sẽ được ưu tiên bảo vệ cao hơn nếu ở đó là nơi sinh sống chủ yếu của nhiều loài đặc hữu quý hiếm hơn so với quần xã chỉ gồm các loài phổ biến Một loài thường có giá trị bảo tồn nhiều hơn nếu có tính độc nhất về mặt phân loại học, tức là loài duy nhất của giống hay họ
Tính nguy cấp
Một loài đang có nguy cơ tuyệt chủng sẽ được quan tâm nhiều hơn so với những loài không bị đe doạ tuyệt chủng Những quần xã sinh học đang bị đe doạ và sắp sửa bị tiêu diệt cũng cần được ưu tiên bảo vệ
Tính hữu dụng
Những loài có giá trị kinh tế hoặc có giá trị tiềm năng đối với con người sẽ được
ưu tiên bảo vệ nhiều hơn so với các loài chưa biết giá trị rõ ràng
Trang 36Loài rồng đất Komodo ở Indonesia là một ví dụ cụ thể cho một loài được ưu tiên bảo vệ theo cả 3 tiêu chí nêu trên: nó là loài thằn lằn lớn nhất thế giới (tính đặc biệt); chỉ xuất hiện trên một vài đảo nhỏ của một quốc gia (tính nguy cấp) và có tiềm năng lớn cho việc thu hút khách du lịch cũng như là mối quan tâm lớn của khoa học (tính hữu dụng)
Bằng cách ứng dụng tiêu chí này, nhiều hệ thống ưu tiên nhằm vào các loài và quần xã đã được xây dựng ở quy mô quốc gia và quốc tế Những tiêu chí trên nhìn chung có tính chất bổ sung trong việc lựa chọn ưu tiên trong công tác bảo tồn vì mỗi tiêu chí cho thấy một triển vọng riêng
1.5 Các phương pháp tiếp cận khi thành lập khu bảo tồn
Nhiều khu bảo tồn đã được thành lập để bảo vệ những loài độc nhất, những loài thú lớn, đẹp, những loài thu hút sự quan tâm của công chúng, có giá trị biểu trưng và có tính quyết định cho du lịch sinh thái Trong qúa trình bảo vệ loài này, toàn bộ các quần
xã của hàng ngàn loài khác cũng sẽ được bảo vệ Xác định và chỉ ra được các loài cần ưu tiên nhất là bước đầu tiên trong quá trình lập kế hoạch bảo tồn cho từng loài
Một số người quan tâm đến bảo tồn, với cách tiếp cận khác lại cho rằng nên tập trung vào bảo tồn các quần xã hoặc các hệ sinh thái hơn là chỉ bảo tồn loài Bảo tồn các quần xã có thể sẽ bảo vệ được một số lượng lớn hơn các loài, trong khi đó việc cứu hộ các loài cụ thể nào đó lại thường không đơn giản, tốn kém và ít hiệu quả Cần phải lập
ra những ưu tiên có tính toàn cầu cho các khu bảo tồn mới tại các nước đang phát triển
để từ đó có thể hướng mọi nguồn nhân và vật lực vào các nhu cầu thiết yếu nhất Một quá trình như vậy sẽ làm thay đổi khuynh hướng của các cơ quan tài trợ quốc tế, các nhà khoa học và các cán bộ phát triển là chỉ tập trung những dự án lớn cho bảo tồn ở một số nước có nền chính trị ổn định và giao thông thuận tiện Hiện nay, việc thiết lập những ưu tiên bảo tồn trên quy mô toàn cầu có tầm quan trọng hơn bao giờ hết bởi vì lượng kinh phí dành cho xây dựng và quản lý các vườn quốc gia mới đã tăng lên đáng kể sau khi Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) và các quỹ bảo tồn khác ra đời
Việc hình thành các khu bảo tồn mới cần phải đảm bảo được càng nhiều đại diện của các loại quần xã sinh học càng tốt Định ra được những khu vực nào trên thế giới đã được bảo vệ thoả đáng và những khu vực nào cần khẩn trương đưa vào bảo tồn bổ sung
là một việc làm có tính chất quyết định trong công tác bảo tồn Mọi nguồn lực, công tác nghiên cứu và tuyên truyền cần phải hướng vào những khu vực trên thế giới đang cần được đưa vào bảo vệ bổ sung
1.6 Thiết kế các khu bảo tồn
Kích thước và vị trí của các khu bảo tồn trên thế giới thường được xác định qua
sự phân bố của dân cư , các giá trị tiềm tàng của đất đai và nhận thức của cộng đồng Mặc dù hầu hết các vườn quốc gia và khu bảo tồn đã ra đời theo kiểu ngẫu nhiên và hoàn toàn phụ thuộc vào sự có sẵn của đất đai và kinh phí, song hiện đã có rất nhiều tài liệu về sinh thái học đề cập đến những cách thiết kế các khu bảo tồn nhằm bảo tồn đa dạng sinh học một cách hiệu quả nhất Tuy nhiên, các nhà sinh học bảo tồn đã thận trọng trong việc đưa ra các hướng dẫn chung và đơn giản trong việc thiết kế các khu bảo tồn bởi vì các vấn đề liên quan đến bảo tồn đều đòi hỏi một sự quan tâm đặc biệt
Những câu hỏi then chốt mà các nhà bảo tồn cố gắng giải quyết là:
Trang 371 Một khu bảo tồn cần rộng đến mức nào để bảo tồn được loài?
2 Tạo ra một khu bảo tồn lớn tốt hơn hay là nhiều khu bảo tồn nhỏ tốt hơn?
3 Cần phải phải bảo vệ trong khu bảo tồn bao nhiêu cá thể của một loài nguy cấp
là đủ để ngăn cho loài đó khỏi bị tuyệt diệt ?
4 Hình dạng hợp lý nhất cho một khu bảo tồn là gì?
5 Khi một số khu bảo tồn được hình thành, chúng nên nằm cạnh nhau hay xa nhau, và chúng nên biệt lập với nhau hay là liên hệ với nhau qua những hành lang?
Cho đến nay, sự thống nhất về kích thước khu bảo tồn có vẻ thiên về việc tuỳ thuộc vào nhóm loài cần bảo tồn cũng như vào đều kiện khoa học Điều được thừa nhận
là những khu bảo tồn lớn sẽ có khả năng hơn khu bảo tồn nhỏ trong việc gìn giữ các loài khác nhau bởi vì nó chứa đựng nhiều hệ sinh thái và những quần thể có kích thước lớn Tuy nhiên, những khu bảo tồn nhỏ nếu được quản lý tốt thì cũng rất có giá trị, đặc biệt là trong trường hợp bảo tồn các loài cây, các loài động vật không xương sống và những loài động vật nhỏ có xương số
Trên thực tế ít có khả năng lựa chọn nào khác nhau ngoài việc phải chấp nhận bảo tồn các loài trong các khu bảo tồn nhỏ bởi vì xung quanh các khu bảo tồn nhỏ không còn thừa đất để sử dụng vào mục đích vào bảo tồn
1.7 Quản lý các khu bảo tồn
Sau khi đã được thành lập một cách hợp pháp thì khu bảo tồn phải được quản lý tốt nhằm duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học Tuy nhiên, việc đưa ra được những quyết định có hiệu quả về quản lý trong các khu bảo tồn còn phụ thuộc vào việc có đủ thông tin qua các chương trình nghiên cứu và có đủ kinh phí cho việc thực hiện các kế hoạch quản lý đó hay không? Thực tế, việc quản lý tốt đôi khi lại không cần phải có những hoạt động gì vì nhiều hoạt động quản lý có lúc không hiệu quả thậm chí lại có hại Ví dụ: về việc các nhà quản lý khu bảo tồn quá sốt sắng trong việc thu dẹp, thu gom cây cối bị đổ và phát quang bờ bụi để "cải tiến" bộ mặt của khu bảo tồn đôi khi lại vô tình làm mất đi những nơi làm tổ, trú ngụ, nguồn thưc ăn…của nhiều loài hay một số loài nhất định Một thực tế khác, "chính sách không tác động đến’’ của các nhà quản lý ở một số khu bảo tồn tưởng chừng như cho phép thiên nhiên được tự do phát triển nhưng hậu quả lại làm huỷ hoại nhanh chóng một số loài
Thực tế cho thấy không có cách quản lý các khu bảo tồn nào là luôn đúng hoặc sai Việc áp dụng bất cứ một phương thức quản lý nào cũng phải dựa vào các đối tượng quản lý ở một địa điểm cụ thể Chỉ khi đã xác định được các đối tượng quản lý thì các kết quả quản lý khoa học mới được áp dụng
Việc quản lý đa dạng sinh học trong các khu bảo tồn cần thiết phải chú trọng đến các vấn đề: xử lý các mối đe doạ đối với các khu bảo tồn; quản lý tốt nơi cư trú của loài; quản lý hoạt động của con người liên quan đến tài nguyên khu bảo tồn
2 Phối hợp và hỗ trợ trong bảo tồn đa dạng sinh học
Tính chất quyết định trong các chiến lược bảo tồn là phải bảo tồn đa dạng sinh học một cách tổng hợp, chứ không chỉ quan tâm đến bảo tồn ở các khu bảo tồn.Việc chỉ dựa vào các khu bảo tồn tạo ra tâm lý “vây hãm” tức là chỉ có các loài hay quần xã trong phạm vi khu bảo tồn thì mới được bảo vệ nghiêm ngặt, trong khi chúng lại bị khai thác
Trang 38một cách tự do ở bên ngoài Điều này sẽ dẫn đến hậu quả là nếu các khu vực lân cận khu bảo tồn bị suy thoái thì đa dạng sinh học bên trong khu bảo tồn cũng bị suy giảm "Nếu chúng ta không thể bảo vệ thiên nhiên bên ngoài các khu bảo tồn thì thiên nhiên cũng sẽ chẳng tồn tại bao nhiêu trong các khu đó” (Western, 1989)
Theo dự tính có tới hơn 90% đất đai trên Trái đất là nằm ngoài các khu bảo tồn
Vì vậy các chiến lược nhằm điều hoà giữa các nhu cầu của con người với các lợi ích bảo tồn tại các khu vực không được bảo vệ nói trên có vai trò rất quan trọng đối với sự thành công của các kế hoạch bảo tồn Nhiều diện tích đất đai nằm ngoài phạm vi các khu bảo tồn vẫn chưa bị con người sử dụng triệt để và do đó vẫn là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật hoang dã Do phần lớn diện tích đất đai ở hầu hết các nước là không phụ thuộc khu bảo tồn nên rất nhiều loại quý hiếm vẫn xuất hiện bên ngoài ranh giới các khu bảo tồn Ví dụ: ở Ôxtrâylia, 79% các loài thực vật quý hiếm vẫn xuất hiện bên ngoài ranh giới các khu bảo tồn Phần lớn các loài liệt kê trong Luật về các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng của Mỹ là được tìm thấy trên các khu đất tư hữu
Một kế hoạch bảo tồn sẽ khó thành công nếu chỉ quan tâm đến công tác bảo tồn
mà không quan tâm đến nhu cầu của con người, đặc biệt là các cộng đồng dân cư sống trong hoặc xung quanh các khu bảo tồn Do vậy công tác bảo tồn còn phải gắn liền với các hoạt động phối hợp, hỗ trợ trong suốt cả tiến trình
2.1 Nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học
Việc giáo dục và khuyến khích các chủ sở hữu đất bảo vệ các loài quý hiếm rõ ràng là việc làm cần thiết trong các chiến lược bảo tồn đối với sự tồn tại lâu dài của các loài Nhiều chương trình quốc gia nhằm bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng tại các nước khác nhau đã thông báo cho những người thiết kế đường giao thông cũng như các nhà phát triển, về vị trí của loài quý hiếm và giúp đỡ họ sửa đổi kế hoạch để tránh gây huỷ hoại đến các vị trí này
Khuyến khích việc khai thác rừng có chọn lọc theo chu kỳ đủ dài hoặc hỗ trợ các cộng đồng dân cư vẫn còn canh tác nương rẫy theo phương thức truyền thống nhưng với mật độ dân cư vừa phải cũng góp phần duy trì được một tỷ lệ đáng kể các sinh vật nguyên thuỷ trong đó Tại nhiều nước, nhiều khu đất rộng lớn do nhà nước làm chủ đã được giành ra để sử dụng vào mục đích khác nhau Trước kia những mục đích sử dụng này bao gồm khai thác gỗ, khai thác khoáng sản, chăn thả, quản lý động vật hoang dã và khu nghỉ nghơi giải trí Ngày nay các khu vực sử dụng đa mục đích này càng được quan tâm đến mục đích sử dụng để bảo vệ các loài, các quần xã sinh vật và các hệ sinh thái
Việc áp dụng giáo dục môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên vào chương trình đào tạo ở các cấp cũng đã và đang được quan tâm ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Nhiều chương trình tuyên truyền giáo dục về bảo tồn đa dạng sinh học cũng
đã được nêu ra trong kế hoạch hành động đa dạng sinh học cấp quốc gia Hy vọng trong tương lai với sự tiến bộ về nhiều mặt, trong đó có công tác giáo dục và đào tạo, sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học sẽ thu được nhiều kết quả
2.2 Khuyến khích lợi ích kinh tế và phối hợp với người dân địa phương trong hoạt động bảo tồn
Việc sử dụng và tác động của con người là một thực tế mà chúng ta phải tính đến
Trang 39khi quy hoạch thiết kế bảo tồn Con người đã là một bộ phận của tất cả của các hệ sinh thái trên thế giới từ hàng ngàn năm nay, việc loại bỏ con người ra khỏi khu bảo thiên nhiên có thể sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng Ví dụ: một vùng đồng cỏ
sa van được bảo vệ để tránh khỏi bị cháy do con người gây ra có thể sẽ chuyển thành rừng, từ đó dẫn đến sự mất đi của những loài chỉ có ở sa van Tuy nhiên, việc đưa người dân ra khỏi khu bảo tồn có thể lại là sự lựa chọn duy nhất khi mà tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác tới mức sự toàn vẹn của các quần xã sinh vật bị đe doạ Tình trạng tương tự xảy ra đó là do chăn thả gia súc quá mức, khai thác củi ồ ạt hay nạn săn bắn động vật Tốt hơn hết là tìm ra những giải pháp trung hoà trước khi tình hình trên xảy ra
2.2.1 Khuyến khích lợi ích kinh tế
Trong bất kỳ kế hoạch của khu bảo tồn nào thì những tác động có thể lên khu bảo tồn của người địa phương cần phải là nội dung trung tâm Hiệu quả công tác bảo tồn phụ thuộc rất nhiều vào sự ủng hộ hay thù địch của các cộng đồng dân cư sống trong hoặc xung quanh các khu bảo tồn Nếu những người dân từ ngàn đời nay đã sinh sống và sử dụng các sản phẩm trong khu bảo tồn, nay đột nhiên không được vào trong đó nữa, họ sẽ mất đi quyền được tiếp cận với nguồn tài nguyên cơ bản cần cho cuộc sống của họ Trong các trường hợp như vậy, xung đột là điều có thể xảy ra
Nhiều nước trên thế giới hiện đang có chủ trương khuyến khích lợi ích kinh tế đối với các cộng đồng địa phương sống bên trong và xung quanh khu bảo tồn Đó có thể là những biện pháp tích cực, thúc đẩy tốt hơn các hoạt động bảo tồn, trong đó coi trọng lợi ích của người dân và gắn lợi ích kinh tế của người dân với công tác bảo tồn Một số quốc gia cho phép người dân được vào khu bảo tồn theo một lịch trình nhất định để khai thác lâm sản theo một định mức cho phép Ví du: một sô khu bảo tồn ở Châu Phi cho phép người dân địa phương khai thác một số loài thú theo quy định để làm thực phẩm Khu bảo tồn tê giác ở 1 sừng ở Nêpan cho phép người dân được hưởng toàn bộ thu nhập
từ việc đưa và hướng dẫn khách du lịch tham quan khu bảo tồn Khi cộng đồng dân địa phương được hưởng lợi ích từ các hoạt động liên quan đến bảo tồn thì áp lực từ phía họ
sẽ giảm và ngược lại, có thể họ sẽ trở thành những người đi đầu trong việc bảo vệ đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn địa phương
2.2.2 Phối hợp với người dân địa phương trong các hoạt động bảo tồn
Một chiến lược tỏ ra rất có hiệu quả là phối hợp với dân địa phương trong hoạt
động bảo tồn , đó là việc thiết lập các dự án phối hợp bảo tồn và phát triển (ICDP)
ICDP (Integrated Conservation and Development Program) được các tổ chức WWF và UNEP coi là giải pháp hữu hiệu nhất trong những năm gần đây đối với công tác bảo tồn
đa dạng sinh học trên thế giới Dự án được thiết kế nhằm thoả mãn 2 mục đích cơ bản là phát triển bền vững tính đa dạng sinh học của trái đất và đồng thời chú trọng phát triển kinh tế xã hội
Xuất phát từ thực trạng là đa dạng sinh học của các quốc gia đã và đang bị suy thoái Đồng thời các nước đã có nhiều nỗ lực để bảo vệ nhưng hiệu quả của công tác quản lý rất thấp Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã có không ít các dự án về bảo tồn Nhiều dự án, hoạt động đã kết thúc nhưng tài nguyên ở các khu bảo tồn vẫn bị suy thoái; nhiều khu vực thậm chí không còn đủ giá trị ban đầu để bảo tồn Nguyên nhân của
Trang 40sự thất bại này là thiếu sự hợp tác quản lý giữa cộng đồng dân địa phương với Ban quản
lý các khu bảo tồn ICDP được xây dựng và thực hiện dựa trên những thoả thuận, bàn bạc về cách thức bảo tồn, yêu cầu bảo tồn, giải pháp nâng cao đời sống kinh tế xã hội cho cộng đồng dân cư sống trong khu và xung quanh khu bảo tồn Các hoạt động của dự
án được người dân tham gia từ khi lập kế hoạch đến khi triển khai, kể cả giám sát và đánh giá dự án Chỉ khi người dân thực sự tham gia vào hoạt động bảo tồn và đồng thời các hoạt động bảo tồn thực sự mang lại những lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương thì lúc đó hoạt động bảo tồn mới thu được kết quả
Trong chương trình sinh quyển và con người (MAB), tổ chức văn hoá, khoa học
và giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã khởi xướng một cách tiếp cận mới
trong công tác bảo tồn "vì người dân và do dân thực hiện dưới sự giám sát và cung cấp các dịch vụ của nhà nước" Chương trình này đã thành lập một số khu bảo tồn sinh
quyển trên khắp thế giới nhằm cố gắng đưa các hoạt động của con người, các hoạt động nghiên cứu và bảo vệ môi trường thiên nhiên vào cùng một địa điểm Khu bảo tồn sinh quyển bao gồm một khu trung tâm trong đó các quần xã sinh vật và các hệ sinh thái được bảo vệ nghiêm ngặt Xung quanh nó là một vùng đệm trong đó các hoạt động truyền thống của người dân như thu hái các loại dược liệu, kiếm gỗ củi nhỏ được giám sát và những hoạt động nghiên cứu không có tính huỷ hoại cũng được tiến hành trong vùng này Xung quanh vùng đệm là vùng chuyển tiếp trong đó một số hoạt động phát triển
có tính bền vững nhu canh tác quy mô nhỏ, một số hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên như khai thác gỗ có lựa chọn và các thử nghiệm khoa học được phép tiến hành
Chiến lược tổng quát về một vùng trung tâm được bao bọc xung quanh bởi vùng đệm và vùng chuyển tiếp có thể đạt được một số kết quả đáng mong đợi Thứ nhất: người dân địa phương được khuyến khích tham gia thực hiện các mục tiêu của khu bảo tồn Thứ hai: một số cảnh quan do con người tạo ra được giữ gìn Thứ ba: vùng đệm có thể tạo điều kiện cho động vật phát tán và chuyển dịch gen giữa vùng trung tâm được bảo vệ nghiêm ngặt với các vùng chuyển tiếp có đông dân cư và khu không được bảo vệ
Mô hình chung của một khu bảo tồn sinh quyển (MAB) bao gồm: vùng lõi là khu bảo tồn nghiêm ngặt, được bao quanh bởi một vùng đệm trong đó các hoạt động truyền thống của con người được quản lý và giám sát, các hoạt động nghiên cứu khoa học cũng được tiến hành tại đây Bao quanh vùng đệm là vùng chuyển tiếp trong đó có hoạt động thử nghiệm và phát triển bền vững