Bài giảng bảo tồn đa dạng sinh học Nguyễn Mộng c4
Trang 1Chương 4.
Bảo tồn ở cấp quần xã
Trang 2Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Một trong những bước đi cơ bản quan trọng nhất
trong việc bảo tồn các quần xã sinh vật là chính thức thành lập các khu bảo tồn
Có thể thành lập các khu bảo tồn theo nhiều cách,
song có hai phương thức phổ biến nhất, đó là thông qua nhà nước (thường ở cấp trung ương, nhưng đôi khi có thể ở cấp khu vực hay địa phương) và các tổ chức bảo tồn hay cá nhân mua lại các khu đất đó Các khu bảo tồn còn được hình thành bởi các cộng đồng truyền thống vì họ muốn giữ gìn lối sống của
họ Chính phủ ở nhiều nơi đã thừa nhận quyền sở hữu của các cộng đồng này đối với đất đai.
Các khu bảo tồn (Protected Areas)
Trang 3I Khu bảo vệ nghiêm ngặt (Strict protection)
Ia Khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt (Strict Nature Reserve)
Ib Khu hoang dã (Wilderness)
II Bảo tồn các hệ sinh thái và giải trí (Ecosystem conservation and recreation) (Vườn Quốc gia)
III Bảo tồn các đặc điểm tự nhiên (Conservation of natural features) (Các công trình quốc gia)
IV Bảo tồn qua quản lý chủ động (Conservation through active management) (Quản lý nơi ở và loài)
V Bảo tồn cảnh quan trên đất liền, trên biển và giải trí (Landscape/seascape conservation and recreation) (Bảo vệ cảnh quan)
VI Sử dụng bền vững các hệ sinh thái tự nhiên (Sustainable use
of natural ecosystems) (Quản lý tài nguyên khu bảo vệ)
Trang 4Các mục tiêu quản lý trong các khu bảo vệ
Các mục tiêu quản lý Ia Ib II III IV V VI
Bảo tồn da dạng di truyền và loài 1 2 1 1 1 2 1Duy trì các dịch vụ môi trường 2 1 1 - 1 2 1Các đặc điểm văn hoá, thiên nhiên
Trang 5Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Các khu bảo tồn hiện có
Khu bảo tồn chính thức đầu tiên được hình thành vào ngày 1 tháng
3 năm 1872 khi tổng thống Mỹ, Ulysses Grant chỉ định 800.000 ha ở vùng đông bắc Wyoming làm Vườn Quốc gia Yellowstone.
Theo danh sách của Liên hiệp quốc về các khu bảo vệ (UNEP,
WCMC 2003), có 102.102 khu bảo vệ trên toàn thế giới, với diện tích 18,8 triệu km2 chiếm 12,65% diện tích bề mặt trái đất
Nếu trừ đi 1,7 triệu km2 là các khu bảo tồn biển thì diện tích các khu bảo tồn trên cạn là 17,1 triệu km2, chiếm 11.5% diện tích bề mặt trái đất
Trong số 191 quốc gia có khu bảo tồn, 36 quốc gia có khu bảo tồn chiếm 10 - 20% diện tích đất đai, 24 quốc gia có diện tích các khu bảo tồn lớn hơn 20% diện tích lãnh thổ.
Trang 6t í c h
Năm
Trang 8Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Bảng 4.2 Số lượng và diện tích các khu bảo tồn trên Thế giới theo khu vực
Trang 9Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Tính hiệu quả của các khu bảo tồn
Chính phủ Indonesia bảo vệ các quần thể của những loài chim và linh trưởng bản địa trong
hệ thống các vườn Quốc gia và khu bảo tồn nhờ vào việc tăng diện tích các khu bảo tồn
từ 3,5% lên 10% so với tổng diện tích đất đai của cả nước.
Tại hầu hết các quốc gia nhiệt đới lớn vùng Châu phi, đa số quần thể của các loài chim bản địa nằm trong các khu bảo tồn
Vườn Quốc gia Santa Rosa ở vùng Tây Bắc Costa Rica chỉ chiếm 0,2 diện tích của Costa Rica song đã chứa tới 55% số lượng các quần thể của 135 loài bướm đêm của nước này
Trang 10Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Tỷ lệ các loài chim thấy trong các khu bảo tồn ở
một số nước Châu Phi
Tên nước % diện tích khu bảo
tồn
Số lượng loài
chim
% loài chim tìm thấy trong các khu bảo tồn
Trang 11Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Những tồn tại của các khu bảo tồn
Hầu hết các khu bảo tồn có diện tích nhỏ, khó để duy trì sự sống còn của các quần thể động vật có xương sống kích thước lớn.
Các khu bảo tồn có xu hướng nghiêng về các vùng đất có giá trị kinh tế thấp, ít có sự tranh chấp về việc sử dụng đất và các đơn vị hành chánh.
Trong thực tế nhiều khu bảo tồn hoạt động rất ít hay hầu như không hoạt động (các “khu bảo tồn giấy”).
Mạng lưới khu bảo tồn hiện nay còn quá nhỏ
Mạng lưới bảo tồn hiện có được hình thành theo nguyên tắt hơi tĩnh, không đáp ứng được với những sự thay đổi về vùng phân bố của loài do sự thay đổi khí hậu
Trang 12• Tính đặc biệt: một quần xã được ưu tiên bảo vệ cao hơn nếu ở
đó là nơi sinh sống chủ yếu của nhiều loài đặc hữu quí hiếm so với quần xã chỉ gồm các loài phổ biến Một loài thường có giá trị bảo tồn nhiều hơn nếu có tính độc nhất về phân loại học
• Tính nguy cấp: một loài đang có nguy cơ tuyệt chủng sẽ được
quan tâm nhiều hơn so với những loài không bị đe dọa tuyệt chủng Những quần xã sinh học mà đang bị đe dọa và sắp sửa
bị tiêu diệt cũng cần được ưu tiên bảo vệ
• Tính hữu dụng: những loài đã có giá trị kinh tế hoặc tiềm năng
đối với con người sẽ được ưu tiên bảo vệ nhiều hơn so với các loài không có giá trị rõ ràng
Trang 13Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Rồng Komodo
Trang 14Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Các phương pháp tiếp cận về loài
• Có thể thành lập các khu bảo tồn để bảo vệ những loài độc nhất
vô nhị Nhiều khu vườn Quốc gia đã được hình thành để bảo vệ những loài thú lớn đẹp đẽ là những loài thu hút sự quan tâm của công chúng, có giá trị biểu trưng và tính quyết định cho du lịch sinh thái Trong quá trình bảo vệ các loài này, hàng ngàn loài khác cũng được bảo vệ
• Xác định và chỉ ra được những loài cần ưu tiên nhất là bước đầu tiên trong quá trình lập kế hoạch bảo tồn cho từng loài Chương trình Hành động do Uỷ ban về sự Sinh tồn của các loài thuộc IUCN gồm khoảng 2.000 nhà khoa học, tập hợp trong 80 nhóm chuyên gia khác nhau để đánh giá và khuyến nghị bảo tồn cho các loài thú, chim, động vật không xương sống, bò sát, cá và thực vật Có một nhóm đã xây dựng Chương trình hành động cho các loài Linh trưởng ở Châu Á, trong đó đã xếp loại ưu tiên cho 64 loài dựa vào mức độ đe dọa, tính đặc hữu về phân loại học và mối liên quan tới các loài linh trưởng khác đang có nguy cơ tuyệt diệt
Trang 15Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Phương pháp tiếp cận quần xã và hệ sinh thái
Một số người quan tâm đến bảo tồn đã cho rằng nên tập trung vào bảo tồn các quần xã hoặc các hệ sinh thái hơn là chỉ bảo tồn loài Bảo tồn các quần xã có thể sẽ bảo vệ được một số lượng lớn hơn các loài, trong khi đó việc cứu hộ các loài cụ thể nào đó lại thường không đơn giản, tốn kém và ít hiệu quả
Trang 16Preserve sufficient areas
of habitats in different biomes and aquatic systems
Tactics
• Protect habitat areas through
private purchase or government action
• Eliminate or reduce populations
of alien species from protected areas
• Manage protected areas to
sustain native species
• Restore degraded ecosystems
Trang 17Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
• Cần phải lập ra những ưu tiên có tính toàn cầu cho các khu
bảo tồn mới tại các nước đang phát triển để từ đó có thể hướng mọi nguồn nhân tài và vật lực vào các nhu cầu thiết yếu nhất
• Hiện nay việc thiết lập những ưu tiên bảo tồn trên qui mô
toàn cầu có tầm quan trọng hơn bao giờ hết bởi vì lượng kinh phí dành cho xây dựng và quản lý các vườn quốc gia mới đã tăng lên đang kể sau khi Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) và các quỹ bảo tồn khác ra đời.
• Việc hình thành các khu bảo tồn mới cần phải đảm bảo được
càng nhiều đại diện của các loại quần xã sinh học càng tốt Định ra được những khu vực nào trên thế giới đã được bảo
vệ thỏa đáng và những khu vực nào cần khẩn trương bổ sung bảo tồn là một việc có tính quyết định trong phong trào bảo tồn thế giới
Trang 18Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Phân tích khiếm khuyết
So sánh các ưu tiên về đa dạng sinh học với các khu bảo tồn đã có hoặc sắp thành lập Sự so sánh này có thể sẽ xác định được những lỗ hổng trong bảo tồn bằng cách thành lập các khu bảo tồn mới
Hiện đang có những nỗ lực cấp bách trên thế giới nhằm bảo tồn đa dạng sinh học biển tương tự như cách làm đối với các vườn quốc gia trên cạn, đó là thành lập các công viên biển Toàn thế giới hiện
đã có 1.300 khu bảo tồn biển, chiếm hơn 1,7 triệu km2
Ở qui mô quốc gia, bảo đảm rằng tất cả các dạng hệ sinh thái chủ yếu đều nằm trong các khu bảo tồn.
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là bước phát triển mới nhất trong kỹ thuật phân tích các khuyếm khuyết thông qua việc sử dụng máy tính để tích hợp các dữ liệu về môi trường tự nhiên với các thông tin về sự phân bố của loài
Trang 19Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
GIS tích hợp nhiều dữ liệu khác nhau
được biểu diễn trên bản đồ
vệ nhiều hơn
Trang 20Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Các trung tâm đa dạng sinh học.
gắng xác định các khu vực then chốt có tính đa dạng sinh học và có tính đặc hữu cao trên thế giới đang đứng trước
sự đe dọa bị tuyệt chủng loài và hủy hoại nơi cư trú: là điểm nóng phải được bảo tồn.
học, đã xác định được 17 quốc gia rất giàu có về đa dạng sinh học mà chỉ tính riêng các quốc gia này đã chứa tới 60 - 70% đa dạng sinh học toàn cầu.
cho tính đa dạng sinh học khi không có các số liệu về toàn
bộ quần xã Tổ chức bảo vệ chim Quốc tế (ICBP, International Council for Birds Protection) đang xác định những nơi tập trung nhiều loài chim có vùng phân bố hẹp Đến nay đã có 221 điểm như vậy chứa khoảng 2.484 loài chim, (trong đó có 3 điểm ở Việt Nam là rừng núi thấp ở miền Bắc Việt Nam (Kẻ Gỗ), cao nguyên Đà Lạt và Nam bộ) 20% của các điểm này là không nằm trong các khu bảo tồn
Trang 21nổ lực và chi phí hiệu quả ở đó 25 điểm nóng đa dạng
sinh học chứa 44% tất cả các loài thực vật và 35% tất cả các loài ĐVCXS trên cạn chỉ chiếm 1,4% diện tích hành tinh.
Có hai nhân tố được xem xét để chỉ định điểm nóng:
- là những vùng chứa đựng một số lớn loài đặc hữu và
- bị tác động một cách đáng kể các tác động của con người
Để là một điểm nóng, một vùng phải có 1.500 loài cây đặc hữu và phải bị mất đi hơn 70% môi trường sống nguyên thuỷ của nó.
Trang 2213 Mountains of Southest China
14 Polynesia & Micronesia
15 New Caledonia
16 Guinean Forests of West Africa
17 Choco-Darian-Western Ecuador
18 Western Ghats & Sri Lanka
19 California Floristics Province
Trang 24Indo – Burma Hotspot
Trang 26Đ vật có xương đặc hữu
Thực vật đặc hữu/100
km 2
Đ.vật có xương đặc hữu/100 km 2
% hệ thực vật còn lại
Madagascar và những hòn đảo ở Ấn Độ Dương, Philippines, Sundaland, Atlantic Forest, và vùng Caribbean được coi như những nơi nóng nhất của các điểm nóng.
Trang 27Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Khái ni ệ m v ề đ ạ i đa d ạ ng sinh h ọ c đư ợ c đ ề nghị l ầ n
đ ầ u tiên khi viện Smithsonian t ổ ch ứ c H ộ i ngh ị v ề Đa d ạ ng
trị hơn là m ộ t thu ậ t ng ữ sinh thái
tr ọ ng v ề đa d ạ ng văn hoá
Các đơn vị đại đa dạng sinh học
(Megadiversity)
Trang 28Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
1 Australia 5 Zaia 9 Madagascar 14 Nam Phi
2 Brazil 6 Ecuador 10 Malaysia 15 Tán Guinea
3 China 7 India 11 Mexico 16 Myî
4 Colombia 8 Indonesia 12 Perou 17 Venezuela
13 Philippines
Trang 29Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Các khu hoang dã (Wilderness areas)
Các khu hoang dã lớn cũng là một ưu tiên quan trọng cho công tác bảo tồn Các khu hoang dã là những vùng đất lớn trên 1 triệu ha, có ít nhất 70% hệ thực vật nguyên thuỷ còn lại, mật độ dân cư thấp, ít hơn 5 người /km 2 và
có rất ít tác động của con người Các khu hoang dã nhiều khả năng không phát triển trong tương lai có lẽ sẽ là
những nơi duy nhất còn lại trên trái đất mà các quá trình tiến hoá tự nhiên có thể tiếp tục xảy ra Các khu hoang
dã này có thể duy trì để làm các khu đối chứng cho thấy các khu tự nhiên sẽ như thế nào nếu không có tác động của con người
Conservation International (CI) đã bước đầu xác định 24 khu hoang dã, chiếm 44% diện tích trái đất nhưng chỉ
chứa 3% dân số thế giới (Mittermeier et al 2003)
Trang 30quản lý ở các điểm nóng bị phá huỷ
hậu.
người dân bản địa có thể duy trì lối sống truyền thống của họ.
tinh thần
Trang 31điểm ưu tiên bảo tồn
núi, nhưng có rất ít người, chạy qua miền nam của Guyana, miền nam của Venezuela, miền bắc Brazil, Colombia,
Ecuador, Peru và Bolivia
bị xâm nhập trong khu vực Châu Á Thái bình Dương Một
nửa phía đông là quốc gia độc lập Papua New Ghine, nửa
phía tây của hòn đảo là một bang của Indonesia.
Trang 33Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Sai khác giữa điểm nóng và khu hoang dã có
đa dạng sinh học cao
Như vậy sự sai khác giữa một điểm nóng đa dạng sinh học
và một khu hoang dã có đa dạng sinh học cao là gì?
Điểm nóng đa dạng sinh học và khu hoang dã có đa dạng sinh học cao đều có các mức độ cao về đa dạng sinh học, tuy nhiên các điểm nóng đa dạng sinh học chủ yếu chứa
đựng các hệ sinh thái bị khai thác quá mức và chia cắt nặng
nề, trong khi đó các vùng hoang dã có đa dạng sinh học
cao là những khu vực có kích thước lớn, còn nguyên sơ và
có mật độ dân số thấp Như vậy, điểm nóng là những nơi cần có những hành động cấp thiết để ngăn chặn sự tuyệt chủng trong khi đó các khu hoang dã là những vùng còn có nhiều cơ hội để triển khai các hoạt động tiên phong về bảo tồn
Trang 34Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Các thỏa thuận Quốc tế
⇒ Công ước Ramsar ra đời năm 1971 nhằm ngăn ngừa việc tiếp tục phá hủy các vùng đất ngập nước, đặc biệt là những vùng có nhiều loài chim nước di cư nhằm công nhận các giá trị về sinh thái, khoa học, kinh tế, văn hoá và giải trí của các vùng đất ngập nước Công ước này gồm 590 địa điểm với tổng diện tích trên 37 triệu ha
61 quốc gia đã ký kết và sẽ chỉ định ít nhất một vùng đất ngập nước có ý nghĩa quốc tế để bảo tồn.
⇒ Công ước bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới có liên quan đến UNESCO, IUCN và Hội đồng quốc tế về địa danh và di sản, với sự tham gia của 109 nước Mục tiêu của công ước này là
để bảo vệ các vùng thiên nhiên có ý nghĩa quốc tế thông qua chương trình Địa danh Di sản Thế giới
⇒ Năm 1971, Chương trình con người và sinh quyển của UNESCO (MAB) đã xây dựng mạng lưới quốc tế về các khu bảo tồn sinh quyển Tới năm 1994, đã có tất cả 312 khu bảo tồn sinh quyển được ra đời tại hơn 70 nước, chiếm tổng cộng khoảng 1,7 triệu km 2
Trang 35T
Trang 36Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Thiết kế các khu bảo tồn
Kích thước và vị trí của các khu bảo tồn trên khắp thế giới được xác định qua sự phân bố dân cư, các giá trị tiềm tàng của đất đai
và các nỗ lực chính trị của những công dân có ý thức bảo vệ Có rất nhiều tài liệu về sinh thái học đề cập đến những cách thiết kế về các khu bảo tồn có hiệu quả nhất nhằm bảo tồn đa dạng sinh học
Một khu bảo tồn cần rộng đến mức nào để bảo tồn được loài?
Tạo ra một khu bảo tồn lớn hay tạo ra nhiều khu bảo tồn nhỏ?
Cần phải bảo vệ trong khu bảo tồn bao nhiêu cá thể của một loài nguy cấp là đủ để ngăn cho loài đó khỏi bị tuyệt diệt?
Hình dạng hợp lý nhất cho một khu bảo tồn thiên nhiên là hình gì?
Khi một số khu bảo tồn được hình thành, chúng nên nằm gần nhau hay xa nhau, và chúng nên biệt lập với nhau hay là nên liên hệ với nhau qua những đường hành lang?
Trang 37Nguyễn Mộng
Khoa Môi trường,
ĐHKH Huế
Kích thước của khu bảo tồn
“Cuộc tranh luận SLOSS” (Single Large Or Several Small)
Những khu bảo tồn lớn mới có thể chứa đủ số lượng các loài có kích thước lớn, có phạm vi hoạt động rộng và mật độ thấp để duy trì quần thể của chúng lâu dài Giảm bớt được hiệu ứng vùng biên, chứa đựng nhiều loài hơn và có tính đa dạng nơi cư trú hơn
Các khu bảo tồn nhỏ có khả năng chứa đựng nhiều kiểu hệ sinh thái cũng như quần thể của các loài quí hiếm hơn Tránh cho quần thể khỏi bị hủy diệt toàn bộ khi xảy ra sự cố Là những trung tâm nghiên cứu và giáo dục lý tưởng về bảo tồn thiên nhiên.
Những khu bảo tồn lớn sẽ có khả năng hơn trong việc gìn giữ các loài khác nhau Những khu bảo tồn nhỏ nếu được quản lý tốt thì cũng có giá trị, đặc biệt trong trường hợp bảo tồn các loài cây, các loài động vật không xương sống và những loài động vật có xương sống nhỏ