1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng bảo tồn đa dạng sinh học Nguyễn Mộng c5

35 587 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn MộngKhoa Môi trường, ĐHKH Huế Các xã hội truyền thống và sự đa dạng sinh học Cộng đồng địa phương và đa dạng sinh học • Có khoảng 5.000 đến 6.000 các cộng đồng truyền thống khá

Trang 1

Làm sao phát triển được nền kinh tế xã hội trong khi vẫn

có thể giữ gìn, bảo vệ được thiên nhiên Bảo tồn là để liên kết được việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc thù với những nhu cầu phát triển có thể chấp nhận được của một bộ phận dân cư mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên đó

Trang 2

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

ĐHKH Huế

Các xã hội truyền thống và sự đa dạng sinh học

Cộng đồng địa phương và đa dạng sinh học

• Có khoảng 5.000 đến 6.000 các cộng đồng truyền thống khác nhau sống trong hơn 70 quốc gia Dân số của các cộng đồng này khoảng 250 triệu người Hầu hết các cộng đồng này sống trong các vùng hoang vu hẻo lánh và chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do các vùng hẻo lánh và nguyên sơ thường giàu có về đa dạng sinh học, mà phần lớn đất đai của các cộng đồng truyền thống thường đươc chọn làm Vườn Quốc gia hay các dạng khu bảo vệ khác

• Các xã hội truyền thống sử dụng các phương pháp thủy lợi cổ điển và gieo trồng tổ hợp các cây trồng đảm bảo đầy đủ khả năng

để nuôi dưỡng một quần thể loài người tương đối lớn mà không gây tác động có hại gì đáng kể đối với môi trường và các quần thể sinh học ở xung quanh

Trang 3

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Cộng đồng bản địa

Trang 4

cuộc sống hàng ngày, bao gồm tất các các lĩnh vực của đời sống như:

 Nông nghiệp: sản xuất lương thực, thực phẩm, cất giữ

và chế biến thức ăn, thu lượm, sử dụng, chăn nuôi,

 Sức khoẻ: các loại cây thuốc hoang dại, cách chữa bệnh

cho người và gia súc,

 Quản lý tài nguyên thiên nhiên: săn bắt chim thú, bảo

vệ các nguồn sông suối,

 Tổ chức quản lý: hệ thống tổ chức cộng đồng, luật lệ

truyền thống bản làng,

Trang 5

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Cộng đồng địa phương và đa dạng sinh học

• Người Tukano ở phía Tây Bắc Brazin sống bằng một loại cây ăn

củ và cá sông; họ có một đức tin mạnh mẽ và tập quán cấm chặt, phá rừng ở hai bên bờ thượng nguồn sông Rio Negro, nơi mà họ

ý thức được rằng đó là nơi quan trọng để duy trì nguồn cá Người Tukano tin rằng các khu rừng này thuộc về cá và con người không được chặt phá Họ cũng tích cực tạo ra những nơi trú ngụ cho cá và chỉ cho phép đánh cá trong một khoảng ít hơn 40% diện tích bề mặt của sông

Người Tukano

Trang 6

từ đó con người có thể có được thực phẩm, gỗ, và các sản phẩm cần thiết khác Các nguồn tài nguyên rừng này cung cấp cho những gia đình người Huastec lương thực phụ trợ trong thời gian mùa màng bị thất bát

Người da đỏ Huastec

Trang 7

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Người dân địa phương và chính quyền

Tại các nước đang phát triển, người dân địa phương thường khai thác các sản phẩm mà họ cần - kể cả thực phẩm, nhiên liệu và các nguyên liệu xây dựng - từ môi trường xung quanh

Khi các vườn quốc gia mới được thành lập hoặc khi người ta tăng cường kiểm soát trong khu giáp ranh vùng đệm của các khu vườn quốc gia, dân cư

có thể bị cấm không cho tiếp cận tới các nguồn tài nguyên mà họ vẫn thường sử dụng và thậm chí đôi khi họ đã từng bảo vệ

Để có thể tồn tại, họ sẽ phá bỏ hàng rào của khu bảo tồn và sẵn sàng chiến đấu, đụng độ với các cán bộ của khu bảo tồn

Một hậu quả nữa là việc thành lập vườn quốc gia thường biến những người dân địa phương trở thành những người săn bắt trộm, mặc dù họ không hề thay đổi bản chất hay phong cách sống so với trước kia Tồi tệ hơn, nếu như người dân địa phương bỗng cảm thấy vườn quốc gia và các nguồn tài nguyên không bao giờ thuộc về họ nữa mà là sở hữu của chính phủ thì họ

sẽ tranh thủ khai thác một cách không thương tiếc các nguồn tài nguyên của vườn quốc gia

Trang 8

 Một ví dụ điển

hình của những

cuộc xung đột này

xuất hiện năm

xuất hiện năm

12 nhân viên của

Vườn Quốc gia

Trang 9

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa

• Suy thoái tài nguyên thiên nhiên và mất đa dạng sinh học không chỉ đơn thuần là do nhu cầu phát triển kinh tế, hay do áp lực dân số ngày càng tăng lên mà còn là vấn đề rất phức tạp liên quan đến lối sống của con người, phong tục tập quán, thái độ hành vi của từng cá nhân, của cộng đồng, dân tộc

• Mỗi tộc người có một nền văn hoá và quan niệm riêng về tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa thường liên quan với nhau Việc bảo vệ những nền văn hóa truyền thống đó trong môi trường tự nhiên của nó sẽ tạo cơ hội để đạt được cả hai mục đích: bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì đa dạng văn hóa

• Đa dạng văn hóa gắn bó chặt chẽ với đa dạng gen của nhiều loại cây trồng Đặc biệt ở khu vực miền núi, những nền văn hóa bị cách biệt bởi nhân tố địa lý, cho phép phát triển nhiều giống cây bản địa; những cây trồng này thích ứng với khí hậu, đất và các loài sâu hại địa phương và rất phù hợp với khẩu vị của dân cư ở đây

Trang 10

• Nguyên lý 1 Dân địa phương có những mối liên kết lâu

đời với thiên nhiên và có sự hiểu biết sâu rộng về thiên nhiên Người dân bản địa truyền thống thường góp phần quan trọng vào việc duy trì nhiều hệ sinh thái nhạy cảm trên trái đất thông qua việc sử dụng bền vững tài nguyên theo truyền thống và nền văn hoá dựa vào sự tôn trọng thiên nhiên Do vậy, sẽ không có những xung đột gắn liền với mục tiêu của khu vực bảo tồn và sự hiện diện của những người bản địa truyền thống trong và ngoài phạm vi khu vực Hơn nữa, họ sẽ nhận thấy sự đúng đắn và công bằng của các bên tham gia trong việc phát triển và thực thi các chiến lược bảo tồn ảnh hưởng đến đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, vùng

bờ và các nguồn tài nguyên khác của họ và đặc biệt trong việc thiết lập và quản lý các khu bảo vệ.

Trang 11

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

• Nguyên lý 2 Những thoả thuận giữa các tổ chức bảo tồn (gồm các cơ quan quản lý khu bảo vệ và dân bản địa truyền thống) đối với việc thành lập

và quản lý khu bảo vệ sẽ dựa vào việc tôn trọng đầy đủ đối với quyền lợi của người dân bản địa truyền thống trong việc sử dụng truyền thống và bền vững đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, vùng

bờ và các nguồn tài nguyên khác của họ Đồng thời, các thoả thuận như thế cũng sẽ thừa nhận trách nhiệm của dân bản địa trong việc bảo tồn

đa dạng sinh học, tính thống nhất sinh thái và các nguồn tài nguyên thiên nhiên chứa trong các khu bảo vệ đó.

Một số nguyên lý áp dụng ở các khu

bảo tồn và dân địa phương

Trang 12

• Nguyên lý 3 Các nguyên tắc của sự phân quyền, sự tham

gia, sự minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ được đề cập đến trong tất cả các nội dung đi đôi với lợi ích hai bên của khu bảo vệ và dân bản địa truyền thống.

• Nguyên lý 4 Dân bản địa truyền thống được phân chia đầy

đủ và công bằng các lợi ích với khu bảo tồn dựa vào sự công nhận các quyền hạn của các đối tác hợp pháp.

• Nguyên lý 5 Quyền hạn của dân bản địa truyền thống trong

mối liên hệ với khu bảo vệ thường chịu trách nhiệm quốc

tế do nhiều vùng đất, lãnh thổ, nguồn nước, vùng ven biển

và các tài nguyên khác mà họ sở hữu hay sử dụng vượt qua biên giới nhiều quốc gia

Trang 13

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Một số nghiên cứu điển hình

Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên là rất quan trọng đối với sự sống còn của các cộng đồng bản địa truyền thống Trong vòng 15 năm qua, các cộng đồng truyền thống là những người đóng vai trò quan trọng trong việc sở hữu và quản lý các vùng cảnh quan tương đối ít bị xáo động IUCN (2000) đã nêu ra 11 nghiên cứu điển hình để minh hoạ các kinh nghiệm trên thế giới trong vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên trong các khu bảo vệ chồng lên vùng đất đai hay lãnh thổ của các cộng đồng bản địa

Trang 14

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

ĐHKH Huế

Các đặc điểm chung

Các điểm được chọn rất đa dạng về nơi ở, từ các vùng

ven viển và biển đến các vùng núi cao 5.000 m, từ vùng bắc cực đến môi trường nhiệt đới Tổng diện tích các địa điểm 151.010 km 2

Các địa điểm đều có độ đa dạng cao và quan trọng về

mặt sinh thái Một số điểm là bãi đẻ của các loài hoang

dã hay bán hoang dã có giá trị kinh tế Mục tiêu bảo vệ của các địa điểm này cũng khác nhau, từ các khu bảo vệ nghiêm ngặt (hạng I, II, III) đến các khu bảo tồn ở các mức độ sử dụng bền vững cho phép (hạng IV đến VI theo IUCN).

Có hơn 32 cộng đồng truyền thống cùng với các nhóm

dân thiểu số sống trong hay gần khu bảo vệ Tổng số người cư ngụ thay đổi từ 0 đến 25.000 Mật độ dân số thay đổi từ 0,3 người/km 2 đến 73,5 người/km 2

Người dân bản địa truyền thống sử dụng bền vững tài

nguyên ở các mức độ khác nhau

Trang 15

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Các hoạt động liên quan đến quản lý

Các tiếp cận quản lý trong các nghiên cứu điển hình gồm 3 loại:

Đồng quản lý không hạn chế: có sự tham gia toàn diện của cộng

đồng truyền thống trong các chương trình quản lý Sự tham gia bao gồm tất cả mọi mặt của tiến trình quản lý bao gồm kế hoạch

và thực hiện các qui hoạch và hoạt động quản lý Đặc biệt dân bản địa truyền thống trở thành bộ phận trong hội đồng quản lý hay các tổ chức tương tự.

Đồng quản lý có hạn chế: cộng đồng truyền thống tham gia có giới

hạn trong hoạt động quản lý Tuy vậy, không có luật lệ hay các cơ chế hợp pháp để bảo đảm cho điều đó, tiếp tục đươc hay không phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của nhân viên quản lý.

Không có sự tham gia quản lý: hầu hết các quyết định quản lý

được đưa ra bởi các nhà cầm quyền trong khu bảo vệ ở văn phòng trung tâm, nằm ở thủ đô

Trang 16

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

ĐHKH Huế

Các xung đột chính

Quyền sở hữu đất và biển trong khu bảo

tồn là nhân tố tạo ra hầu hết các khó khăn giữa cộng đồng bản địa và cơ quan bảo vệ

Khai thác các nguồn tài nguyên đất và biển

là nhân tố quan trọng thứ hai phát sinh xung đột giữa cộng đồng bản địa và cơ quan bảo vệ

Một nguồn xung đột khác là sự nhượng đất

cho các công ty thương mại để khai thác tài nguyên đất và biển (dầu khí, rừng, tôm cá, ) trong khu bảo vệ hay khu vực chung quanh khu bảo vệ

Trang 17

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Các bài học rút ra và các thách thức

1 Ở những nơi mà cộng đồng bản địa tham gia

quản lý từ những giai đoạn đầu của việc qui hoạch thì ở đó có những lợi ích cho cả cộng đồng bản địa và chính quyền quản lý.

2 Cộng đồng bản địa tham gia càng rộng rãi trong

tất cả các khía cạnh của quản lý thì càng ít khả năng nảy sinh xung đột

3 Ở những khu vực có một số loại hình cùng quản

lý, thì thách thức là làm thế nào để củng cố và

mở rộng cơ chế hợp tác Ở những nơi mà cộng đồng truyền thống chưa có sự tham gia thì

thách thức là làm thế nào để có được điều đó.

Trang 18

Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu

 Hội nghị Thượng đỉnh kéo dài 12 ngày vào tháng 6 năm

1992 tại Rio de Janeiro, Brazin Nó chính thức được biết đến như Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED), tham dự có 178 nước với hơn 100 nguyên thủ quốc gia, cùng với những người đứng đầu tổ chức Liên Hiệp Quốc và các tổ chức phi chính phủ và bảo tồn khác Mục đích của hội nghị là thảo luận bàn bạc tìm kiếm giải pháp cùng nhau phối hợp chặt chẽ để bảo vệ môi trường cùng với việc phát triển hiệu quả nền kinh tế tại những nước còn nghèo

 Các thành viên của hội nghị đã bàn bạc đi đến thoả thuận

ký kết năm văn bản chính và khởi xướng thực hiện nhiều

dự án mới

Trang 19

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu

Tuyên bố Rio: Tuyên bố nêu rõ những nguyên tắc chỉ

dẫn cho các nước giàu mạnh cũng như các nước nghèo

về môi trường và phát triển Tuyên bố khẳng định nguyên tắc ''người gây ô nhiễm phải trả tiền", thể theo nguyên tắc này một công ty nào hay một chính phủ nào gây ra thiệt hại, hay hủy hoại môi trường phải có trách nhiệm trả tiền đền bù và sửa chữa thiệt hại

Công ước về Thay đổi Khí hậu: Sự thoả thuận này đòi

hỏi các nước công nghiệp phải giảm thiểu các chất gây ô nhiễm như cacbon ôxit và các khí nhà kính khác do họ gây ra và phải thường xuyên làm báo cáo về kết quả của tiến trình này Trong khi các giới hạn ô nhiễm chưa được xác định, công ước nêu rõ: các khí nhà kính phải được duy trì ổn định ở mức không làm ảnh hưởng đến khí hậu trên Trái đất

Trang 20

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

ĐHKH Huế

Công ước Đa dạng Sinh học, CBD

(Convention on Biological Diversity)

 Công ước đa dạng sinh học được ký kết năm 1992

tại Hội nghị Thượng đỉnh ở Rio de Janeiro bởi 150 nước và có hiệu lực kể từ tháng 12 năm 1992 Đến tháng 01 năm 2004 đã có 188 nước ký vào công

ước, trong đó Mỹ là một trong số những nước ký

sau cùng.

Công ước về Đa dạng Sinh học có ba mục tiêu:

 bảo vệ đa dạng sinh học;

 sử dụng bền vững đa dạng sinh học;

 phân phối công bằng lợi nhuận của các sản

phẩm mới lấy từ các loài hoang dã và các loài thuần dưỡng

Trang 21

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Khi ký vào công ước, các nước thành viên đã đồng ý thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để bảo tồn đa dạng sinh học Các biện pháp đó là:

1. Xây dựng kế hoạch quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học

2. Xác định các hệ sinh thái, các loài và các nguồn gen quan

trọng để bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học

3. Quan trắc đa dạng sinh học và các nhân tố có thể tác

động đến đa dạng sinh học

4. Thiết lập hệ thống các khu bảo tồn

5. Quản lý tài nguyên sinh học để đảm bảo cho việc bảo tồn

và sử dụng bền vững

6. Phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái

7. Thiết lập hệ thống bảo tồn chuyển vị

Công ước Đa dạng Sinh học,CBD

(Convention on Biological Diversity)

Trang 22

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

ĐHKH Huế

Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu

Tuyên bố về Các nguyên tắc đối với Rừng Sự nhất trí

đạt được về công tác quản lý rừng đã gặp nhiều khó khăn vì những sự khác biệt sâu sắc về quan điểm giữa các nước ôn đới và nhiệt đới, các nước giàu và các nước nghèo Cuối cùng đã đưa ra lời kêu gọi về quản lý rừng theo hướng bền vững mà không có một khuyến cáo nào kèm theo

Trang 23

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu

Lịch trình 21 Tài liệu 800 trang này là một cố gắng mới để

trình bày một cơ cấu toàn diện về những chính sách cần thiết cho sự phát triển theo chiều hướng bảo vệ môi trường Lịch trình 21 chỉ ra sự liên kết giữa môi trường và các vấn

đề khác vốn vẫn thường được đưa ra cân nhắc một cách tách biệt như quyền lợi của trẻ em, sự nghèo khó, vấn đề phụ nữ, chuyển giao công nghệ, Các kế hoạch hoạt động được vạch ra để giải quyết các vấn đề về khí quyển, suy thoái đất, hoang mạc hóa, phát triển các vùng núi, nông nghiệp và phát triển nông thôn, việc phá rừng, đất ngập nước, môi trường, thủy vực, và vấn đề ô nhiễm Các cơ chế

về tài chính, tổ chức, công nghệ và pháp luật để thực hiện những hoạt động này cũng được mô tả trong Lịch trình 21

Trang 24

Nguyễn Mộng

Khoa Môi trường,

ĐHKH Huế

Tài trợ quốc tế và phát triển bền vững

Càng ngày nhóm các nước phát triển ý thức được rằng nếu

họ muốn bảo vệ đa dạng sinh học tại các nước đang phát triển giàu có về số loài nhưng lại rất nghèo về khả năng tài chính thì họ cần phải cung cấp tài chính Những sự giúp đỡ của các tổ chức này rất đáng kể

Mặc dù quỹ sử dụng cho bảo tồn ở những nước đang phát

triển được tăng một cách đáng kể nhưng số tiền chi trả vẫn chưa đủ để bảo vệ những căn nhà lớn của sự đa dạng sinh học rất cần thiết cho tương lai phát triển lâu dài của xã hội loài người

Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), được thành lập năm 1991

do Ngân hàng Thế giới cùng với Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP và Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc UNEP

Quỹ Môi trường Quốc gia (NEF) được thành lập tại trên 20

nước với nguồn vốn hỗ trợ của chính phủ Mỹ và các tổ chức khác như Ngân hàng Thế giới và Quỹ Bảo tồn Các loài Hoang

dã Thế giới

Ngày đăng: 10/04/2015, 09:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  của  những - Bài giảng bảo tồn đa dạng sinh học Nguyễn Mộng c5
nh của những (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm