1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại vườn quốc gia bạch mã và sinh kế cho người dân tại xã thượng nhật, huyện nam đông, tỉnh thừa thiên huế

74 733 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do trên, tôi quyết định thực hiện đề tài: “Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại vườn quốc gia Bạch Mã và sinh kế cho người dân tại xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

 -

Đề Tài:

VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ VÀ SINH KẾ CHO NGƯỜI

Sinh viên th ực hiện: Giáo viên hướng dẫn:

Trang 2

Lời Cảm Ơn

Trong quá trình h ọc tập và nghiên cứu hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ quý báu của nhiều đơn vị và cá nhân khác nhau

Trước tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy Cô của Khoa Kinh t ế và Phát triển, trường Đại học Kinh tế Huế đã tạo những điều kiện

và h ỗ trợ tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo và toàn bộ cán bộ của văn phòng đại diện WWF tại Huế đã giúp đỡ, cung cấp những tư liệu và tạo điều

ki ện một cách tốt nhất trong thời gian tôi thực tập tại văn phòng

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cán bộ và các hộ dân

t ại xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ trong thời gian khảo sát tại địa bàn xã

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS Trần Hữu Tuấn, người thầy đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành đề tài khóa lu ận tốt nghiệp này

Cuối cùng, xin chân thành cám ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ

và động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

M ặc dù đã cố gắng nỗ lực hết sức để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này nhưng chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong

nh ận được sự cảm thông và tận tình chỉ bảo của quý thầy cô giảng viên để đề tài được hoàn thiện hơn

Sinh viên th ực hiện

Trang 3

M ỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH iii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Phương pháp thu thập tài liệu 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu 4

4.3 Phương pháp chọn mẫu 5

4.4 Phương pháp phân tích số liệu 5

5 Kết cấu đề tài 5

Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN ĐDSH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG 6

1.1 Một số khái niệm 6

1.2 Tình hình bảo tồn ĐDSH ở các Vườn quốc gia (VQG) ở Việt Nam 13

1.3 Hiện trạng quản lý bảo tồn ĐDSH ở VQG Bạch Mã 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN ĐDSH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI VQG BẠCH MÃ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ THƯỢNG NHẬT 16

2.1 Đặc điểm địa điểm nghiên cứu 16

2.1.1 V ị trí địa lý, diện tích, ranh giới 16

2.1.2 Địa hình và địa chất 18

2.1.3 Khí h ậu thủy văn 19

2.1.5 Tài nguyên r ừng 22

2.1.6 Đặc điểm xã hội 23

tế Hu

ế

Trang 4

2.2 Công tác quản lý và bảo vệ ĐDSH dựa vào cộng đồng của ban quản lý VQG Bạch

Mã 24

2.2.1 Ch ức năng, nhiệm vụ của VQG Bạch Mã 24

2.2.2 Th ực trạng bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH ở VQG Bạch Mã hiện nay26 2.3 Các mối đe dọa đến công tác bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và biện pháp 28 2.3.1 Các m ối đe dọa đến công tác bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học 28

2.3.2 Các bi ện pháp để giảm thiểu và hạn chế 29

2.4 Sinh kế của người dân các xã vùng đệm 30

2.4.1 Đời sống của cộng đồng dân cư sống xung quanh vùng đệm của VQG Bạch Mã30 2.4.2 S ự phụ thuộc của người dân vào rừng 33

2.5 Ảnh hưởng của bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng ở VQG Bạch Mã đến sinh kế của người dân ở xã Thượng Nhật 34

2.5.1 Vài nét v ề xã Thượng Nhật 34

2.5.2 Ảnh hưởng của bảo tồn đa dạng sinh học VQG Bạch Mã đến sinh kế các hộ điều tra 35

2.5.1 Ảnh hưởng đến sinh kế của người dân 36

2.5.3 Nh ận thức và sự tham gia của người dân 38

2.5.4 Ý ki ến của người dân về những ảnh hưởng của việc tham gia QLRBV đến kinh tế h ộ gia đình cũng như tài nguyên rừng 40

2.6 Thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng ở các vùng đệm của Vườn quốc gia Bạch Mã 42

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN ĐDSH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ CẢI THIỆN SINH KẾ CHO NGƯỜI DÂN XÃ THƯỢNG NHẬT 44

3.1 Định hướng bảo tồn và phát triển vùng đệm VQG Bạch Mã 44

3.2 Giải pháp để phát triển lâm nghiệp cộng đồng và sinh kế cho người dân 44

Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LỤC 50

tế Hu

ế

Trang 5

DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH

Bảng 01 : Dân số và dân tộc vùng đệm của VQG Bạch Mã 31

Bảng 02: Thông tin về giới tính của mẫu điều tra 36

Bảng 03: Thông tin về độ tuổi của mẫu điều tra 36

.Bảng 04: Cơ cấu thu nhập bình quân của các hộ điều tra năm 2015 38

Bảng 05 Nhận thức và sự tham gia của người dân 39

Bảng 06: Ý kiến của người dân về ảnh hưởng của QLRBV đến kinh tế hộ gia đình cũng như nguồn tài nguyên rừng 40

Bảng 07: Kết quả kiểm định One – Sample T –test……… 41

Hình 01: Sơ đồ các bước chính cộng đồng tham gia vào dự án sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH 11

Hình 02: Bản đồ vườn Quốc gia Bạch Mã và vùng đệm 17

Hình 03: Bản đồ hệ thống thủy văn ở VQG Bạch Mã 21

tế Hu

ế

Trang 6

DANH M ỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

WWF : Quỹ bảo vệ thiên nhiên Quốc tế

LSNG : Lâm sản ngoài gỗ

UBND : Ủy ban nhân dân

PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng

CSLI : Chia sẻ lợi ích

Trang 7

Ph ần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng của loài người nói riêng và tất cả các sinh vật nói chung và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất

Ngày nay kinh tế xã hội phát triển một cách nhanh chóng và thiếu bền vững cùng với công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học yếu kém đã dẫn đến những nguy

cơ suy giảm đa dạng sinh học cực kỳ nghiêm trọng Nhiều loài động vật, thực vật trên

thế giới dần dần biến mất và có nguy cơ tuyệt chủng, diện tích rừng suy giảm trầm

trọng, diện tích các khu bảo tồn và vườn quốc gia đang dần bị thu hẹp, suy giảm đa

dạng sinh học nghiêm trọng… mà nguyên nhân chủ yếu là do việc sử dụng không hợp

lý tài nguyên thiên nhiên và công tác quản lý yếu kém Từ đó dẫn đến những hậu quả khôn lường ảnh hưởng đến trực tiếp đến cuộc sống của con người, đặc biệt một trong

những hậu quả được nhắc đến rất nhiều trong những năm trở lại đây đó là biển đổi khí

hậu toàn cầu

Sớm nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn và sử dụng bền vững

đa dạng sinh học, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn

Công ước Đa dạng sinh học Ngày 17/10/1994, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định số 279 QĐ/CTN về việc phê chuẩn Công ước Đa

dạng sinh học Tại kỳ họp quốc hội thứ 4, quốc hội thứ 12 nước ta cũng đã thông qua

Luật đa dạng sinh học và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2009

Để khắc phục tình trạng suy giảm đa dạng sinh học, chính phủ Việt Nam cũng

đã đề ra các chính sách cũng như biện pháp để bảo vệ ĐDSH tốt hơn, và một trong

Năm 1992 Việt Nam đã thành lập Vườn quốc gia Cúc Phương, đây là vườn

tế Hu

ế

Trang 8

đây là khu vực cung cấp nơi cư trú cho sự sống hoang dã, mặt khác nó lại phục vụ như

là nơi du lịch phổ biến cho quần chúng Tuy nhiên giữa hai vai trò này lại có những mâu thuẫn và nó tạo ra những thách thức quan trọng trong công tác quản lý vườn quốc gia Các tổn thất trong khai thác không hợp lý, đốn hạ bất hợp pháp, tham nhũng,… ,

đe dọa đến tính nguyên vẹn của nhiều môi trường sống có giá trị ở các vườn quốc gia nói chung trong đó có Vườn quốc gia Bạch Mã nói riêng

VQG Bạch Mã được xem là một trong những khu vực giàu đa dạng sinh học

của Việt Nam và trên thế giới Toàn bộ khu Bạch Mã - Hải Vân được xem là một trong bảy vùng có tầm quan trọng toàn cầu của Việt Nam, là một trong những trung tâm đa dạng thực vật (Davis et al 1995)

Vườn quốc gia Bạch Mã được thành lập năm 1991 với diện tích 22.031 ha Cho đến năm 2008, diện tích của Vườn đã được mở rộng lên đến 37.487 ha theo quyết định

số 01/2008/QĐ-TTg ngày 02/01/2008 Năm 2011, Tổng cục Lâm nghiệp đã phê duyệt

đề án “Quy hoạch, bảo tồn và phát triển bền vững VQG Bạch Mã giai đoạn 2010 – 2020” theo quyết định số 1633 QĐ/BNN-TCLN ngày 20/07/2011

Vườn quốc gia Bạch Mã là trung tâm của vùng rừng tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam nối từ biển Đông đến biên giới Việt – Lào, toàn bộ khu Bạch Mã – Hải Vân được xem là một trong bảy vùng có tầm quan trọng toàn cầu của Việt Nam, là

nhiệt đới (ở độ cao dưới 900m) và rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới (ở độ

1/5 tổng số loài thực vật ở Việt Nam, trong đó có 86 loài được liệt kê vào sách đỏ Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng, trên 500 loài có tiềm năng thương mại và được sử dụng làm cây thuốc Hệ động vật ở đây cũng rất phong phú với nhiều loài đặc hữu và quý hiếm, thống kê có tới 1493 loài động vật gồm 132 loài thú (chiếm 1/2 số loài thú ở Việt Nam), 358 loài chim, 31 loài bò sát, 21 loài ếch nhái, 57 loài cá, 894 loài côn trùng, trong đó có 68 loài được ghi vào sách đỏ Việt Nam là những loài cần phải bảo

Trang 9

Mặc dù ban quản lý (BQL) VQG Bạch Mã đã có nhiều chương trình, biện pháp

để quản lý, bảo vệ tuy nhiên do đặc điểm về mặt tự nhiên và dân số mà công tác bảo tồn ở vườn Quốc gia Bạch Mã hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn, đời sống người dân ở vùng đệm còn khó khăn, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trình độ canh tác lạc hậu, các nhu cầu gỗ, củi,…, đều khai thác trực tiếp từ VQG nên vườn luôn phải đối mặt với sức ép từ dân cư sống xung quanh vùng đệm Mặt khác mâu thuẫn giữa người dân và ban quản lý VQG đã tạo ra những mối đe dọa nghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học ở đây Do đó muốn thực hiện tốt công tác bảo tồn thì trước hết phải giải quyết được các mâu thuẫn, xung đột hiện có Chính vì vậy mà phương pháp quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bạch Mã dựa vào cộng đồng là một giải pháp tối ưu hiện nay

Vì những lý do trên, tôi quyết định thực hiện đề tài: “Bảo tồn đa dạng sinh học

dựa vào cộng đồng tại vườn quốc gia Bạch Mã và sinh kế cho người dân tại xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” để có một cái nhìn tổng

quát và toàn diện hơn về công tác quản lý vùng đệm vườn quốc gia Bạch Mã dựa vào cộng đồng hiện nay và những ảnh hưởng đến sinh kế của người dân ở vùng đệm, từ đó đưa ra những giải pháp góp phần quản lý vườn Quốc gia Bạch Mã có hiệu quả và bền vững hơn

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và thực hiện đề tài này, tôi đã cố gắng hết sức, tuy nhiên khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến và bổ sung từ phía quý thầy, cô để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 10

• Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn ĐDSH và ảnh hưởng của nó đến sinh kế của người dân địa phương;

• Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng

và những ảnh hưởng của nó đến sinh kế người dân tại xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

• Đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng và cải thiện sinh kế người dân xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

• Không gian: Đề tài này tập trung vào tìm hiểu về Đa dạng sinh học ở vườn

Quốc gia Bạch Mã tỉnhThừa Thiên Huế, và công tác quản lý cộng đồng cũng như

những tác động đến sinh kế của người dân tại xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh

Thừa Thiên Huế

• Thời gian: tình hình quản lý vườn Quốc gia Bạch Mã giai đoạn từ năm 2012 đến 2015, thực hiện điều tra số liệu sơ cấp năm 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập tài liệu

• Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Nghiên cứu các tài liệu như: Phương pháp này sử dụng để thu thập và nghiên

cứu các số liệu thống kê và các thông tin được nêu trong đề tài:

- Phân tích tổng hợp từ các tài liệu, báo cáo ở văn phòng WWF, số liệu của Ban

quản lý Vườn quốc gia Bạch Mã và từ các website chính thống

- Các bài báo, tạp chí môi trường, các khóa luận và luận án có ở thư viện trường

- Tham khảo các nghiên cứu liên quan

- Các phương tiện truyền thông như báo chí, internet,…

- Các khóa luận tại thư viện trường

• Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

4.2 Phương pháp nghiên cứu

• Nghiên cứu sơ bộ

tế Hu

ế

Trang 11

- Tiến hành phỏng vấn thử 10 hộ dân ở xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông,

tỉnh Thừa Thiên Huế bằng phương pháp sử dụng bảng hỏi và điều chỉnh lại bảng hỏi cho phù hợp để tiến hành phỏng vấn chính thức

- Tiến hành phỏng vấn cán bộ Ủy ban nhân dân xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế và cán bộ thôn Ta Lu, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông,

tỉnh Thừa Thiên Huế về công tác quản lý bảo vệ rừng ở VQG Bạch Mã

• Nghiên cứu chính thức

Giai đoạn này tiến hành nghiên cứu định lượng thông qua việc khảo sát ý kiến người dân tham gia quản lý bảo vệ rừng ở VQG Bạch Mã bằng phiếu phỏng vấn

Các bước thực hiện: Tiến hành điều tra chính thức thông qua phiếu phỏng vấn

đã điều chỉnh bằng cách phỏng vấn trực tiếp các hộ dân ở xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

4.3 Phương pháp chọn mẫu

Để thuận tiện cho việc điều tra thực hiện đề tài, đã tiến hành điều tra 30 hộ sống

ở xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế trong đó có 20 hộ tham gia

quản lý bảo vệ rừng và 10 hộ không tham gia công tác này

4.4 Phương pháp phân tích số liệu

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích số liệu sau:

- Công cụ chủ yếu là phần mềm SPSS 20.0

- Ngoài ra đề tài còn sử dụng Excel để tính toán

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng và ảnh hưởng của

nó đến sinh kế người dân địa phương

Chương 2: Thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại VQG Bạch Mã và ảnh hưởng của nó đến sinh kế người dân xã Thượng Nhật

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho người dân xã Thượng Nhật

tế Hu

ế

Trang 12

Ph ần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN ĐDSH DỰA VÀO CỘNG

ĐỒNG VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG

• Khái niệm vườn Quốc gia

Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN) thì vườn quốc gia vườn quốc gia là khu vực của vùng đất hay vùng

biển được chọn để:

- Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các

thế hệ hiện tại và tương lai

- Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích

của việc chọn lựa khu vực

- Chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và tham quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường

Theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001 về Quy chế quản lý rừng thì vườn quốc gia là một dạng rừng đặc

dụng, được xác định trên các tiêu chí sau:

-Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo

tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp

-Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng

và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái

- Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn

tế Hu

ế

Trang 13

• Vùng đệm bảo tồn ĐDSH

"Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có

rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn

của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể , đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các

cư dân sống trong vùng đệm" (D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản, 1999)

• Khái ni ệm Đa dạng sinh học

Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “ĐDSH là

sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh

vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng phức tạp cùng tồn

tại trong môi trường’’

Theo Công ước Đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống

gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài)

và sự đa dạng hệ sinh thái (đa dạng HST) Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự

sống ở các cấp độ và các tổ hợp

Theo Luật ĐDSH năm 2008 của Việt Nam, được Quốc hội thông qua ngày 03/11/2008 thì ĐDSH là sự phong phú về nguồn gen, các loài sinh vật và HST trong tự nhiên

ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên trái đất,

từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ Vi sinh vật, Nấm, Thực vật, Động vật, các HST và môi trường chúng sinh sống

ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con người trong phát triển kinh tế, góp

phần xóa đói, giảm nghèo,…, những giá trị trực tiếp đó là giá trị sử dụng, tiêu thụ, và

sản xuất ra các mặt hàng phục vụ nhu cầu của con người ĐDSH và cảnh quan là nền

tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổi khí hậu hiện nay

tế Hu

ế

Trang 14

• B ảo tồn ĐDSH

Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện

tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau

Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản

phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,… Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:

- Bảo tồn tại chỗ:

Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên Tùy theo đối tượng

bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện

bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp

- Bảo tồn chuyển chỗ:

Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh

vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng Mục đích của việc di dời này là để nhân

giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: nơi sống bị suy thoái hay

hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, dùng để làm vật liệu cho nghiên

cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo

tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống…

- Phục hồi:

Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ Các

biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi

đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có Một trong những mục tiêu quan

tế Hu

ế

Trang 15

trọng trong việc bảo tồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần

của ĐDSH Ngoài việc xây dựng các khu bảo tồn cũng cần thiết phải giữ gìn các thành

phần của sinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực mà con người đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, và bảo vệ các khu vực được xây dựng để thực hiện

chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH

Các phương thức quản lý bảo tồn ĐDSH và quản lý tài nguyên thiên nhiên

Các nhà quản lý cũng đã tìm hiểu và đưa ra nhiều phương thức quản lý tài nguyên thiên nhiên khác nhau, trong đó có 5 phương pháp chủ yếu đó là: Quản lý hệ sinh thái, quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn và phát triển tổng hợp và phát triển bền vững

Các phương thức tiếp cận nêu trên đều giống nhau trong việc nỗ lực tìm kiếm

một số giải pháp tối ưu để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trong việc sử

dụng các nguồn Tài nguyên thiên nhiên

Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng là vấn

đề được chú trọng trong quản lý, sử dụng ĐDSH ở dải núi đá vôi nói riêng Đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự phát triển của xã hội sinh thái học bền vững Thực tế tại New Zealand cho thấy, vào những năm 1980, mạng lưới

các VQG ở nước này bắt đầu phát triển và liên tục, vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo

ra các khu giải trí cho cộng đồng

- Khái niệm cộng đồng

Cộng đồng được hiểu là một nhóm người dân cùng nhau sinh sống trong một khu vực địa lý xác định, có cùng đặc điểm văn hóa, truyền thống, tập quán quản lý chung một phần tài nguyên đất, rừng

Hay nói cách khác, cộng đồng là tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục, tập quán, có quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và có ranh giới không gian trong một thôn bản Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là cộng đồng dân cư thôn bản” (sau đây “thôn bản” được gọi chung là

“thôn’ cho phù hợp với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004)

tế Hu

ế

Trang 16

Theo Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 “cộng đồng dân cư thôn

là tập hợp toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”

- Quản lý dựa vào cộng đồng

Một trong những hình thức quản lý tài nguyên có hiệu quả đang được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay là quản lý dựa vào cộng đồng, hình thức quản lý này tập trung chủ yếu vào cộng đồng dân cư, lấy cộng đồng làm trọng tâm và trực tiếp đưa họ tham gia vào hệ thống quản lý tài nguyên, họ tham gia vào nhiều công đoạn khác nhau của quá trình quản lý Sự tham gia của người dân cộng đồng rất đa dạng tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và quy mô của từng địa phương

Quản lý rừng cộng đồng là một phương thức quản lý rừng hướng đến nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác cho cộng đồng và các bên liên quan nhằm quản lý tài nguyên bền vững và góp phần nâng cao đời sống cho cộng đồng

Hình thức quản lý này đánh trực tiếp vào nguyên nhân đe dọa đến việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên hiện nay, gắn lợi ích của cộng đồng dân cư trực tiếp với việc

bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý theo cơ chế từ dưới lên giải quyết được nguyên nhân trực tiếp và giải quyết được mâu thuẫn giữa các cấp quản lý với cộng đồng dân cư, đáp ứng thõa mãn yêu cầu, nguyện vọng của người dân do đó hình thức

quản lý này thu lại hiệu quả cao và đảm bảo tính bền vững

Theo Madeleen (1998), quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng có 3 khía cạnh chính là:

• Trách nhiệm: cộng đồng tham gia làm chủ (có quyền sở hữu) và có nghĩa vụ tham dự vào hệ thống cấp nước để đảm bảo việc vận hành và duy trì thành công

• Quyền lực: với tư cách vừa là người sử dụng, vừa là người quản lý tài nguyên nước, cộng đồng có quyền hợp pháp để ra những quyết định liên quan đến kiểm soát, vận hành và duy trì tài nguyên nước và hệ thống cấp nước đi kèm

• Kiểm soát: cộng đồng có khả năng thực hiện và xác định được kết quả từ các quyết định của mình có liên quan đến hệ thống Khía cạnh này chính là đề cập đến năng lực của cộng đồng ở khả năng đóng góp về kỹ thuật, nhân công và tài chính,

tế Hu

ế

Trang 17

cũng như sự hỗ trợ về thể chế của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện và duy trì tính bền vững của hệ thống cung cấp nước

Theo Th.S Lương Đức Cương “Quản lý bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng là một quá trình mà qua đó những cộng đồng được tăng quyền lực về chính trị và kinh tế để họ có thể đòi và giành được quyền kiểm soát quản lý và tiếp cận một cách

hợp pháp đối với nguồn tài nguyên của họ”

Theo Isobel W Heathcote, 1998, cộng đồng tham gia vào dự án sử dụng bền

vững tài nguyên đa dạng sinh học gồm các bước sau:

Hình 01: Sơ đồ các bước chính cộng đồng tham gia vào dự án sử dụng bền vững tài

nguyên ĐDSH

Hiểu biết về dự Đồng thuận về thay đổi

Thiết lập quá trình thay đổi

Mô tả đặc trưng của hệ thống Xác định mục tiêu của cộng đồng

Duy trì và giám sát

Ổn định các thay đổi Tuyển chọn các phương án thay thế thích hợp

Đưa ra những phương án về thay đổi

tế Hu

ế

Trang 18

Khái ni ệm sinh kế và các tác động có thể có của công tác bảo tồn đa dạng

• Khái ni ệm sinh kế

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm sinh kế khác nhau, tuy nhiên đa

số đều cho rằng sinh kế là những hoạt động ảnh hưởng đến đời sống của cá nhân hay

hộ gia đình Theo Ellis (2000) cho rằng: sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, nguồn vốn xã hội) những hoạt động và cơ hội để tiếp

cận đến được đến các tài sản và hoạt động đó (tiếp cận bằng các thể chế hay quan hệ

xã hội), mà theo đó các quyết định vè sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hay mỗi nông

hộ

Theo Ủy Ban phát triển quốc tế (Vương Quốc Anh) thì một sinh kế bao gồm 3

yếu tố cấu thành: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và

khả năng sinh kế Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng

Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực

và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên

• Ch ỉ tiêu đánh giá sinh kế của người dân địa phương

Theo DFID (2001) thì sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (gồm các nguồn lực

vật chất và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được các căng thẳng và đột biến hoặc có

khả năng phục hồi, duy trì, tăng cường khả năng ở hiện tại hoặc trong tương lai mà không làm tổn hại đến nguồn tài nguyên thiên nhiên

Theo FAO (2001) thì sinh kế bền vững có thể được mô tả là: chống đỡ được với

những cú sốc và áp lực từ bên ngoài; không phụ thuộc vào những hỗ trợ từ bên ngoài (hoặc được hỗ trợ bằng các cách thức bền vững về kinh tế và thể chế); được thích nghi hóa để duy trì sức sản xuất lâu dài của tài nguyên thiên nhiên; bền vững mà không làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh kế của người khác

Vì vậy, một giải pháp sinh kế được coi là bền vững phải lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người

tế Hu

ế

Trang 19

và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong

một mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động

Việc thành lập các vườn quốc gia hay các khu bảo tồn đều ít nhiều có tác động đến sinh kế của người dân địa phương sống xung quanh vùng đệm của các khu bảo

tồn, vườn quốc gia bởi cuộc sống của đại đa số dân cư sống xung quanh vùng đệm thường phụ thuộc trực vào tài nguyên rừng, họ khai thác gỗ, củi, động vật hoang dã,…, để phục vụ cho cuộc sống hằng ngày Vì vậy việc xây dựng hay tăng cường các

biện pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh học gián tiếp ngăn không cho người dân khai thác tài nguyên đa dạng sinh học từ đó làm giảm sinh kế của người dân Mặt khác việc

mở rộng diện tích các vườn quốc gia (khu bảo tồn) làm giảm diện tích đất nông nghiệp, một phần lớn diện tích đất nông nghiệp của người dân ở các xã vùng đệm sẽ bị

mất đi, từ đó sản lượng lương thực của người dân cũng bị giảm sút, cơ cấu nghề nghiệp thay đổi kéo theo nguồn thu nhập của nguời dân cũng bị thay đổi

Vì vậy trong công tác bảo tồn ĐDSH đòi hỏi phải nghiên cứu kết hợp với các biện pháp, chương trình hỗ trợ sinh kế bền vững cho người dân, giảm sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng nhằm đảm bảo tính bền vững trong công tác bảo tồn ĐDSH

Việt Nam có 30 Vườn quốc gia tính đến hiện nay, mặc dù vấn đề bảo tồn thiên nhiên ở nước ta đã được chú trọng và quan tâm từ rất sớm, tuy nhiên công tác bảo tồn

ở nước ta phát triển rất chậm so với việc khai thác, quá trình thực hiện công tác bảo

tồn còn tồn tại nhiều bất cập và thách thức, thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi

tiết Hệ thống các vườn thực vật, vườn cây gỗ, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng

hiện có chưa được quy hoạch, thiết thái và trên phạm vi toàn quốc Các Vườn thú,

Vườn quốc gia hiện nay chủ yếu vẫn kế hệ thống, chưa có tính chất chuyên đề, chuyên sâu hay đại diện cho từng vùng sinh mang tính chất phục vụ tham quan, chưa chú ý tới công tác bảoNam có 30 Vườn quốc gia tính đến hiện nay, mặc dù vấn đề bảo tồn thiên nhiên ở nước tồn

tế Hu

ế

Trang 20

Hầu hết các Khu bảo tồn, vườn Quốc gia đều nằm ở các vùng xa xôi hẻo lánh,

có vị trí hiểm trở, gây khó khăn cản trở trong việc tiếp cận và giám sát trong công tác

bảo tồn Mặt khác phần đa dân cư sống trong các vườn quốc gia hay sinh sống xung quanh vùng đệm của các vườn quốc gia đều là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa còn thấp và có sinh kế phụ thuộc vào việc khai thác trực tiếp các tài nguyên thiên nhiên ở các vườn Quốc gia

Hình thức quản lý bảo vệ bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên có

sự tham gia của cộng động còn gặp nhiều khó khăn và xãy ra rất nhiều mâu thuẫn về chính sách giao đất, giao rừng, về chế độ khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng

rừng mới Đa số người dân sống gần rừng bám vào rừng để kiếm sống bằng các hành

vi vi phạm và bằng nhiều hình thức khác nhau, dẫn đến làm mất đa dạng sinh học, tàn phá tài nguyên thiên nhiên

VQG Bạch Mã là một trong 6 VQG trong tổng số 30 VQG hiện nay ở Việt Nam

do Bộ NN&PTNT (trực tiếp là Tổng cục Lâm nghiệp) quản lý toàn diện.Tuy nhiên, về mặt địa phương, chính sách quản lý tất cả các hoạt động của VQG Bạch Mã đều phải có

sự đồng tình, hỗ trợ và tham mưu, phối hợp của các ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp của hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam Các hoạt động pháp chế, thanh tra

và xử lý vi phạm trong QLRBV ở VQG cũng được sự hỗ trợ và giám sát về mặt chuyên môn của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Sở tài chính, , với tư cách là một hạt kiểm lâm, một chủ rừng đóng trên địa bàn VQG Bạch Mã cũng đã ký kết các Quy chế phối hợp trong hoạt động QLRBV với Chi cục Kiểm Lâm, với các Hạt Kiểm Lâm của 03 huyện và với các UBND các xã, thị trấn ở vùng đệm, với mục đích tăng cường việc tham mưu, QLRBV trên địa bàn vùng lõi cũng như vùng đệm của VQG

Hiện nay Vườn quốc gia Bạch Mã đang phải đối mặt với nạn khai thác rừng do

có sự khó khăn về kinh tế của người dân ở đây Các hoạt động như: săn bắt động vật rừng, kiếm củi, khai thác gỗ, than, thu nhặt cây thuốc, lá nón, tìm kiếm kim loại,… trồng trọt, thả trâu bò ăn cỏ diễn ra thường xuyên là những thách thức lớn của VQG Bạch Mã Mặt khác việc khai thác các lợi ích từ rừng đã trở thành một tập quán lâu đời của người dân, nhiều hộ gia đình có cuộc sống phụ thuộc trực tiếp vào các tài nguyên

tế Hu

ế

Trang 21

từ vườn Vì những lý do trên thì vấn đề quản lý của vườn gặp phải những khó khăn trong việc giải quyết những mâu thuẫn giữa cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương và ban quản lý VQG Bạch Mã

Cho đến nay (trước năm 2012), Ban quản lý VQG và chính quyền địa phương chưa có dự án hỗ trợ với nguồn kinh phí lớn của trong và ngoài nước về phát triển kinh

tế - xã hội vùng đệm Các dự án kỹ thuật, phát triển kinh tế xã hội nhỏ mặc dù có

những thành công mang tính cục bộ nhưng chưa nhân rộng được các mô hình tốt về

sản xuất, chăn nuôi nhằm nâng cao sinh kế của người dân một cách bền vững và toàn

diện trong vùng đệm Vì vậy, việc thiếu đất sản xuất nông nghiệp (xuất phát từ việc

mở rộng VQG), không có ngành nghề phụ để tăng nguồn thu nhập và cải thiện cuộc

sống, đời sống người dân khó khăn chính là những nguyên nhân tạo ra mối đe dọa trực

tiếp và gián tiếp đến công tác quản lý bảo vệ VQG Bạch Mã

tế Hu

ế

Trang 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN ĐDSH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI VQG BẠCH MÃ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SINH

2.1 Đặc điểm địa điểm nghiên cứu

2.1.1 V ị trí địa lý, diện tích, ranh giới

+ Phía Bắc giáp với huyện Phú Lộc

+ Phía Nam giáp xã A Ting, Tà Lu huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam

+ Phía Đông giáp xã Hòa Bắc huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng

+ Phía Tây giáp thị trấn Khe Tre tỉnh Thừa Thiên Huế

Diện tích:

VQG Bạch Mã hiện nay gồm 42 tiểu khu rừng, với tổng diện tích tự nhiên là 37.487 ha (34.380ha thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và 3.107ha thuộc tỉnh Quảng Nam), trong đó diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 12,065 ha, phân khu phục hồi sinh thái là 20.234 ha và phân khu hành chính, dịch vụ là 5.188 ha và vùng đệm là 58.676

ha Đạ i h

tế Hu

ế

Trang 23

Hình 02: B ản đồ vườn Quốc gia Bạch Mã và vùng đệm

tế Hu

ế

Trang 24

2.1.2 Địa hình và địa chất

Địa hình

VQG Bạch Mã là một phần của thuộc dãu núi Trường Sơn Bắc, có nhiều đỉnh núi cao trên 1.000m chạy ngang theo hướng từ Tây sang Đông và thấp dần ra biển Địa hình hiểm trở, có độ dốc lớn và bị chia cắt mạnh, độ dốc bình quân toàn khu vực là 150

- 250, nhiều nơi có dốc đứng trên 400 Dưới chân của các dải núi là những thung lũng

hẹp, dài với những dòng suối rất đẹp và độc đáo thu hút khách du lịch, đồng thời góp

phần cải tạo tiểu khí hậu vùng và cũng là một trong những điều kiện thuận lợi tạo nên

sự phong phú về ĐDSH của vùng này Nhìn chung VQG Bạch Mã có địa hình phức

tạp, được cấu tạo bởi những ngọn núi cao, được phân chia đặc trưng thành hai kiểu địa hình phụ là núi trung bình và núi thấp

Trang 25

- Nhóm mẫu chất Phù sa cổ, ký hiệu (p)

- Nhóm mẫu chất Phù sa mới, ký hiệu (Pb)

Nền địa chất của dãy núi Bạch Mã ít phức tạp, phần lớn diện tích là đá Sét và

Biến chất, đá Mac ma axit Ngoài ra, một số vùng ở núi cao có xuất hiện đá thạch anh

kết tụ theo phiến hoặc rải rác

2.1.3 Khí h ậu thủy văn

• Khí h ậu

Vườn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Khí hậu nhiệt đới của vùng Bạch Mã

chịu ảnh hưởng của hai hiện tượng chính: gió mùa Tây Nam kéo theo khô hạn từ tháng

5 đến tháng 9 và gió mùa Đông Bắc kéo theo mưa từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau

Theo số liệu của Trạm khí tượng thủy văn VQG Bạch Mã, các đặc trưng khí

hậu khu vực VQG như sau:

Nhiệt độ bình quân năm của vùng Bạch Mã là 250C (chân núi), Nam Đông là

240C, khu vực đỉnh Bạch Mã là 190C (độ cao >1.200m)

Chế độ nhiệt có sự khác nhau theo năm tháng, theo độ cao, theo vùng Càng lên cao nhiệt độ càng giảm, từ độ cao >1.000m cứ lên cao 100m thì nhiệt độ giảm đi 10

C,

đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến nhiệt độ bình quân tại khu vực đỉnh Bạch Mã

thấp hơn so với nhiệt độ bình quân toàn vùng

Lượng mưa trung bình hàng năm được ghi nhận là 3.440 mm, phân bố không đều ở các vùng Mưa từ tháng 9 đến tháng 12 chiếm trên 70% tổng lượng mưa cả năm

và độ ẩm bình quân năm là 85% Có sự khác nhau đáng kể về khí hậu thời tiết giữa các khu vực ở huyện Phú Lộc và Nam Đông

Khu vực đỉnh Bạch Mã là nơi có lượng mưa lớn nhất tỉnh TTH cũng như khu

vực miền Trung Kết quả nghiên cứu khí tượng thuỷ văn của khu vực đỉnh Bạch Mã từ năm 1998 - 2000 cho thấy lượng mưa tại khu vực đỉnh Bạch Mã lên tới 10.758 mm/năm Xét về tổng thể, lượng mưa trung bình lớn nhất ở khu vực Bạch Mã là 8.000 mm/năm

Độ ẩm khu vực đỉnh Bạch Mã khá cao, chiếm 90% Độ ẩm bình quân toàn vùng

là 85% Ẩm độ giữa hai đai cao có sự khác biệt lớn, từ độ cao 900m trở lên sương mù

hầu như quanh năm bao phủ, tạo khí hậu mát mẻ ôn hoà

tế Hu

ế

Trang 26

Với nhiệt độ mát mẻ vào mùa hè chỉ từ 180 - 230C, Bạch Mã là nơi nghỉ dưỡng

lý tưởng để du khách có thể tránh được cái nóng oi bức ở vùng đồng bằng Đây là lý

do tại sao mà người Pháp trước đây đã phát hiện và xây dựng nên khu vực này và hiện nay nhiều doanh nghiêp du lịch trong tỉnh đã đầu tư khôi phục lại các ngôi biệt thự cũ

để đón khách tham quan

• Th ủy văn

Do đặc điểm của địa hình, địa thế nên hệ thống thuỷ văn của khu vực Bạch Mã

rất dày đặc Đây cũng là nơi điều hòa nguồn nước cho các con sông lớn trong vùng như: sông Truồi, sông Cuđê và nhất là sông Tả Trạch (đầu nguồn của sông Hương)

Bạch Mã là nguồn dự trữ nước cực kỳ quan trọng cho các xã vùng đệm của Vườn Đặc

biệt hiện nay trên thượng nguồn sông Truồi thuộc địa bàn VQG Bạch Mã quản lý đã xây dựng một hồ chứa nước với dung tích khoảng 60 triệu m3 nhằm cung cấp nước

phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, góp phần cải tạo tiểu khí hậu vùng Đập Truồi được xây dựng năm 1996, với chiều cao công trình đập tràn là 50m, ngăn các dòng suối chính chảy từ thượng lưu vùng núi Bạch Mã Toàn bộ lòng hồ khoảng 400 ha năm trọn trong ranh giới của VQG Bạch Mã, đây là cơ sở quan trọng cho việc hình thành mới nguồn sinh kế từ đánh bắt thủy sản

tế Hu

ế

Trang 28

2.1.5 Tài nguyên r ừng

Qua điều tra, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được 1.715 loài ( chiếm 7% tổng

số loài trong cả nước) thuộc 52 bộ, 258 họ, 1080 giống Hệ động vật ở đây rất đa dạng,

có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm và được thống kê chi tiết: Côn trùng có 17 bộ, 137

họ, 708 giống, 1.029 loài; Cá có 6 bộ, 17 họ, 46 giống, 57 loài; Ếch nhái – Bò sát có 3

bộ, 19 họ, 64 giống, 132 loài

Kết quả kiểm kê năm 2011 đã cho thấy có nhiều loài đặc hữu quý hiếm có nguy

cơ bị đe dọa được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam cần phải có giải pháp ưu tiên bảo tồn như sau:

- Theo Sách Đỏ Việt nam, Vườn có 69 loài được liệt kê cần phải được bảo vệ, điển hình như các loài sau: Voọc vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Sói lửa (Cuon alpinus), Cầy mực (Arctictis), Báo Hoa Mai (Panthera pardus), Sao la (Pseudoryx ghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacuc vuquangensis), Mang Trường Sơn (Caninmuntiacus truongsonensis), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwaedsi), Bồ câu nâu (Columba punicea), Trăn mốc (Python molurus), Rắn ráo ( Ptyas korros), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinnifrons), Rùa đầu to (Platysternon megacephalum), Cá chình hoa (Anguilla marmorata)…

- Có 15 loài đặc hữu, chủ yếu tập trung vào lớp Chim chiếm đến 13 loài điển hình có các loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Gà so Trung bộ (Arborophila merlini), Gà so họng hung (Arborophila rufoguralis), Rắn lục sừng (Trimeresurus cornutus), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons)…

- Có 2 loại Ong mới cho khoa học được phát hiện và mang tên Bạch Mã là Spinaria bachmana Long & van Achterberg, Vietorogas bachma Long

Về hệ nấm và thực vật có 2.373 loài (chiếm gần 17% tổng số loài thực vật trong

cả nước) Cụ thể chi tiết: Nấm có 55 họ, 332 loài Rêu có 25 họ, 87 loài; Dương xỉ &

họ hàng thân cận có 28 họ, 183 loài; Ngành Hạt trần có 7 họ, 22 loài; Ngành Hạt kín

có 157 họ, 1.749 loài, trong đó lớp Một lá mầm có 464 loài, Hai lá mầm có 1.285 loài

tế Hu

ế

Trang 29

Qua kết quả kiểm kê năm 2011, cho thấy có nhiều loài thực vật đặc hữu, quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam cần được ưu tiên bảo tồn:

- Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) có 73 loài cần phải được bảo vệ, bao gồm các loài đển hình như: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Trầm hương (Aquilaria crassna), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Gụ mật (Sindora siamensis)Kiền kiền (Hopea pierrei), Kim tuyến (Anoectochilus roxburghii), Bảy lá một hoa (Paris polyphyla)…

- Đặc hữu có 204 loài bao gồm các loài điển hình như: Kim giao (Nageia fleuryi), Chân chim Pà Cò (Schefflera pacoensis), Cà na mũi nhọn (Canarium subulatum), Hoàng linh Bắc bộ (Peltophorum daysyrrachis), Song đinh Việt Nam (Diplopanax vietnamensis), Côm lá hẹp (Elaeocarpus angustifolius), Đỗ quyên vân cẩm (Rhododendron fortunei), Bọt ếch Bạch Mã (Glochidion bachmaensis), Cà đuối Trung bộ (Cryptocarya annamensis), Mã tiền núi Đinh (Strychnos dinhensis),…

- Có 5 loài mới cho khoa học, được phát hiện đầu tiên và đặt tên Bạch Mã gồm:

• Chìa vôi Bạch Mã (Cissus bachmaensis Gagnep.)

• Côm Bạch Mã (Elaeocarpus bachmaensis Gagnep.)

• Lá nón Bạch Mã (Licuala bachmaensis Henderson, N.K.Ban & N.Q.Dung)

• Mây Bạch Mã (Calamus bachmaensis Henderson, N.K.Ban & N.Q.Dung)

• Bọt ếch Bạch Mã (Glochidion bachmaensis Thin)

2.1.6 Đặc điểm xã hội

Vùng đệm của Vườn Quốc gia Bạch Mã trải dài trên 2 tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, gồm 3 huyện Phú Lộc, Nam Đông và Đông Giang, 15 xã, thị trấn gồm có

109 thôn

Trong VQG Bạch Mã không có dân cư sinh sống Ở vùng đệm bao quanh Vườn

có 4 dân tộc anh em sinh sống là: Kinh, Ca Tu, Vân Kiều và dân tộc Mường Trong

đó, dân tộc Kinh chiếm đại đa số Các dân tộc khác chỉ chiếm 19% Họ sống tập trung thành từng bản xen kẽ với dân tộc Kinh, có sự lai hoá và hoà nhập giữa các dân tộc với nhau Vì vậy những phong tục tập quán bản sắc riêng của từng dân tộc không có sự khác biệt nhiều so với dân tộc Kinh

Tập quán canh tác của tất cả các xã trong vùng chủ yếu là làm lúa nước và chăn nuôi, trồng cây lâm nghiệp,…, một số vùng dân cư như thị trấn Phú Lộc, Lộc

tế Hu

ế

Trang 30

Điền, Lộc Trì (huyện Phú Lộc); thị trấn Khe Tre (huyện Nam Đông), là những khu vực gần trung tâm thành phố cho nên có nhiều thuận lợi về phát triển kinh tế, bên cạnh việc sản xuất nông lâm nghiệp, các ngành như công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, phát triển mạnh, đời sống nhân dân có phần cao hơn

Nhìn chung dân cư trong vùng đã định canh định cư ổn định, tuy nhiên với đặc điểm địa hình chia cắt phức tạp, mật độ dân cư phân bố không đồng đều, dẫn đến việc quy hoạch định canh định cư gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các xã miền núi như: Thượng Long (Nam Đông), Tà Lu, A Ting, Xã Tư (Đông Giang)…

Hiện nay việc du canh du cư của một số thôn bản miền núi không còn, nhưng vẫn còn hiện tượng một số hộ đói nghèo, sống chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng với săn bắt thú rừng và khai thác lâm sản trái phép là nguồn thu chủ yếu

của pháp luật

• Nhi ệm vụ và quyền hạn:

Một là, quản lý bảo vệ, phát triển rừng:

- Trình tổng cục trưởng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng; điều chỉnh khu rừng đặc dụng; phát triển bền vững thuộc phạm vi quản lý của Vườn;

- Thực hiện bảo vệ hệ sinh thái rừng; phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tính đa dạng sinh học hiện có; ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại rừng, môi trường, cảnh quan;

tế Hu

ế

Trang 31

- Tổ chức các hoạt động thu hút cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cùng đệm theo mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững

Hai là, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, cứu hộ, phát triển sinh vật, phục hồi tài nguyên và cảnh quan thiên nhiên

- Bảo tồn các hệ sinh thái rừng; phòng trừ bệnh dịch và sinh vật ngoại lai xâm hại; phục hồi, phát triển các hệ sinh thái tự nhiên, bảo tồn các loài động, thực vật đặc hữu, quý, hiếm và các loài có nguy cơ tuyệt chủng;

- Quản lý, bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên trong Vườn;

- Phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng theo quy định của pháp luật;

- Lưu trữ, bảo tồn nguồn gen các loài nguy cấp, quý, hiếm, có nguy cơ quyệt chủng

Ba là, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

- Tổ chức, triển khai nghiên cứu khoa học về bảo vệ, bảo tồn và phát triển động, thực vật rừng, đa dạng sinh học, đặc biệt là đối với các loài động, thực vật đặc hữu, quý, hiếm, nguy cấp;

- Tổ chức các dịch vụ nghiên cứu khoa học, học tập và cung ứng giống cây rừng, động vật rừng từ hoạt động nghiên cứu khoa học của Vườn;

- Xây dựng chương trình, kế hoạch, đề tài nghiên cứu khoa học; tổ chức triển khai thực hiện sau khi đã được phê duyệt;

- Sưu tập, nuôi trồng thực nghiệm, bảo tồn nguồn gien các loài động, thực vật rừng hoang dã;

- Xây dựng chương trình, dự án hợp tác quốc tế về quản lý, bảo vệ, bảo tồn, phát triển tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội; tổ chức các hoạt động hợp tác quốc

tế sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

- Nghiên cứu xây dựng các mô hình lâm nghiệp trang trại, mô hình khuyến lâm, nông, ngư ở vùng đệm, mô hình làng du lịch, hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật cho nhân dân trong cả nước

tế Hu

ế

Trang 32

Bốn là, tổ chức hoạt động giáo dục môi trường và dịch vụ môi trường rừng

Xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, dự án phát triển dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái của Vườn và tổ chức thực hiện Tạo nguồn thu từ du lịch để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển;

Tổ chức thực hiện và liên doanh, liên kết, cho thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái theo quy hoạch và quy định hiện hành; hướng dẫn, kiểm tra và giám sát các hoạt động kinh đoanhu lịch sinh thái của tổ chức, cá nhân theo hợp đồng

ký kết;

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên, môi trường, hướng dẫn việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn rừng cho khách du lịch và cộng đồng dân cư sống quanh Vườn; kiểm tra việc thực hiện các hoạt động quảng bá, tiếp thị để thu hút khách du lịch

Năm là thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công, phân cấp của Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp

2.2.2 Th ực trạng bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH ở VQG Bạch Mã

hi ện nay

Đến năm 2015, Vườn quốc gia Bạch Mã đã giao khoán cho 46 cá nhân, 12 xã

và 1 đơn vị lực lượng vũ trang nhận bảo vệ 10.000 ha rừng, với tổng kinh phí lên đến 2

tỷ đồng, bình quân mỗi hộ nhận khoán bảo vệ rừng có thu nhập từ 2,5-3 triệu đồng Bên cạnh đó, khi rừng được bảo vệ, các tổ chức và cá nhân trong vùng còn được hưởng lợi ích từ Vườn quốc gia Bạch Mã, nhờ cơ chế gắn trực tiếp lợi ích của người dân với việc bảo vệ rừng, từ đó nâng cao nhận thức của cộng đồng trong quản lý và

bảo vệ rừng ngày càng hiệu quả hơn

Nhờ thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân cùng với việc kết

hợp với địa phương thực hiện nghiêm ngặt các chương trình quản lý, giám sát Bên

cạnh đó nhận được sự hỗ trợ của chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ

chức phát triển Hà Lan (SNV), Đại sứ quán Đức, Đại sứ quán Anh, Quỹ bảo vệ thiên nhiên hoang dã thế giới (WWF), và một số tổ chức khác đã triển khai nhiều dự án hỗ

trợ cho cộng đồng dân cư vùng đệm nhằm góp phần cải thiện đời sống và nâng cao

nhận thực cho cộng đồng dân cư vùng đệm, giảm sức ép cộng đồng vào vườn nhờ đó

tế Hu

ế

Trang 33

các tác động tiêu cực của con người lên VQG đã được giảm tới mức tối thiểu để không làm ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học của vườn, độ che phủ của rừng cũng tăng lên

rõ rệt

Vườn đã và đang tiến hành triển khai từng bước chương trình giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và bảo tồn ĐDSH với các đối tượng khác nhau như: Học sinh, thanh thiếu niên, cộng đồng địa phương và khách tham quan du lịch

Thường xuyên tổ chức họp dân, truyền thông lưu động, tờ rơi, bảng biểu nhằm tuyên truyền rộng rải trong địa phương những thông tin liên quan đến các quy định QLRBV, phòng cháy chữa cháy hay bảo tồn các loài, bảo vệ môi trường

Tổ chức xây dựng các câu lạc bộ bảo tồn tại các trường học vùng đệm Tập huấn và phối hợp với giáo viên để tổ chức sinh hoạt định kỳ cho các câu lạc bộ và các hoạt động truyền thông BVR hướng đến cộng đồng như các cuộc thi tìm hiểu BVR, biểu diễn văn nghệ, tuyên truyền cổ động,

Biên soạn, phát hành các tài liệu tuyên truyền, giới thiệu thông tin cho du khách qua các hình thức tờ rơi, bảng biểu truyền thông hay các tập gấp Đặc biệt, VQG Bạch Mã đã xây dựng hệ thống các đường mòn diễn giải thiên nhiên, trung tâm

du khách, và các hoạt động hướng dẫn viên, đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao nhận thức cho học sinh và du khách

Bên cạnh các hoạt động giáo dục môi trường, phát triển du lịch sinh thái và các

mô hình du lịch sinh thái cộng đồng, VQGBM còn rất chú trọng đến công tác phát triển sinh kế cho cộng đồng địa phương vùng đệm Nhìn chung các hoạt động phát triển vùng đệm thông qua ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung vào việc phát triển các công trình giao thông nông thôn, các hoạt động phát triển sinh kế cho người dân qua các chương trình lâm sinh (327 và 661) và các dự án tài trợ phi chính phủ Thông qua các tổ chức như Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), Quỹ bảo vệ động vật thiên nhiên hoang dã thế giới (WWF), chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ

chức phát triển quốc tế (IDE)), dự án JICA, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB), Tropenbos, Năng lượng Đức (EnBW), … VQG Bạch Mã đã

thực hiện rất nhiều dự án nhỏ để cải thiện sinh kế cho người dân Có thể liệt kê 1 số

mô hình như: nuôi ong, trồng nấm, nuôi dê, nuôi thỏ, nuôi cá nước ngọt, nuôi lợn nái

tế Hu

ế

Trang 34

sinh sản, nuôi ếch cá kết hợp, nuôi giun quế, trồng tre lấy măng, trồng cây ăn quả,

trồng cỏ làm thức ăn gia súc, cải tạo vườn tạp, trồng cây đa mục đích, trồng nấm linh chi, bếp đun cải tiến tiết kiệm nhiên liệu, biogas sử sinh dụng khí sinh học, hệ thống nước tự chảy, trồng cây bản địa

Hầu hết các chương trình đã góp phần nâng cao nhận thức cho người dân địa phương và du khách Tuy nhiên, do nguồn kinh phí còn khá hạn hẹp từ nguồn ngân sách và nguồn nhân lực còn khá mỏng nên tần suất và tỷ lệ tác động đến toàn vùng đệm chưa cao

2.3.1 Các m ối đe dọa đến công tác bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học

Hiện nay VQG Bạch Mã đang phải đối mặt với 8 nguy cơ đe dọa chính (trong

đó có 4 đe dọa cao, 3 đe dọa trung bình và 1 đe dọa thấp) Bốn đe dọa cao gồm:

1) Khai thác trái phép g ỗ từ rừng tự nhiên của VQG quản lý

Phần lớn được tiến hành bởi những người chủ sâu, đầu nậu là người ngoài địa phương Những người này thường đầu tư cưa máy, điện thoại và trả tiền ứng trước cho người dân bản địa khai thác, vân chuyển các loài có giá trị cao Dân bản địa khai thác

ở mức độ nhỏ để hộ gia đình sử dụng

2) Săn bắn, bẫy bắt động vật hoang dã bất hợp pháp

Nạn săn bắn được tiến hành chủ yếu bởi người địa phương để bán hoặc sử dụng, chủ yếu là thú nhỏ, ốc và cá Các loài thú lớn thường bị săn bởi thợ săn chuyên nghiệp đến từ các tỉnh phía Bắc

3) Khai thác quá m ức các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ

Không giống khai thác gỗ và săn bắt thú rừng, hoạt động khai thác quá mức một số loài LSNG xảy ra ít đối tượng hơn Người dân thường khai thác mây rất thiếu bền vững để bán theo yêu cầu của người mua Ngoài ra, một số loài LSNG khác như nấm linh chi, mật ong, ốc (để bán hoặc dùng), hoặc lá nón, thảo dược (đa số để dùng)

4) Chuy ển đổi mục đích sử dụng đất, tăng sự chia cắt trong Vườn và ảnh hưởng vùng biên

tế Hu

ế

Trang 35

Do sức mua của thị trường đối với gỗ Keo làm dăm gỗ nguyên liệu xuất khẩu còn khá cao, trong thời gian gần đây, một số khu vực giáp ranh (đa số là rừng tự nhiên bên ngoài VQG) bị người dân phát cây, trồng keo trái phép Một số trường hợp do các mốc giới chưa có hoặc không rõ ràng giữa bản đồ và thực địa; sự quản lý địa bàn rừng

tự nhiên của các UBND xã còn khá lõng lẻo, nên một số đối tượng đã lợi dụng để xâm lấn, trồng rừng trái quy định Điều này cũng được xác định có nguy cơ ảnh hưởng đến

rừng của VQG nếu không có các giải pháp cắm mốc ranh giới, bàn giao cột mốc tại

hiện trường hoặc tăng cường tuyên truyền, tuần tra ranh giới, thì tương lai sẽ có các

hiện tượng xâm lấn rừng của VQG xảy ra

Các đe dọa trung bình và thấp được xác định là hoạt động khai thác mỏ, đá; cháy rừng, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng; đánh bắt thủy sản và chống người thi hành công vụ

2.3.2 Các bi ện pháp để giảm thiểu và hạn chế

Từ việc xác định các đe dọa trên, cần thực hiện tốt các biện pháp sau nhằm

giảm thiểu và hạn chế tới mức thấp nhất các đe dọa đó:

-Cần cải thiện công tác tuần tra BVR và tăng cường phối kết hợp với người dân, chính quyền địa phương và các đơn vị chức năng nhằm bảo vệ tốt tài nguyên rừng của VQG;

- Quản lý tài nguyên rừng ở cấp độ sinh cảnh và các loài hoang dã theo các khu

vực và nhóm loài ưu tiên và nâng cao độ che phủ cũng như chất lượng rừng, góp phần

bảo tồn và phát triển bền vững các nguồn gen động, thực vật quý hiếm;

- Xây dựng các dự án phát triển vùng đệm đến cấp thôn, xã nhằm làm cơ sở, chiến lược cho vấn đề phát triển dân sinh, kinh tế dựa vào nông lâm nghiệp, gắn công tác bảo vệ và phát triển sinh kế dưới tán rừng tự nhiên;

- Cải thiện công tác nghiên cứu và giám sát các loài chính nhằm phục vụ công tác bảo tồn và phát triển; tiếp tục phát triển các nghiên cứu cơ bản về thành phần loài, các tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội và nghiên cứu đánh giá tác động của việc thực hiện thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích (Quyết định 126);

- Hoàn thiện công tác cắm mốc phân định ranh giới VQG và vùng đệm nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho VQG, tăng cường tuần

tế Hu

ế

Trang 36

tra ranh giới và cải thiện cơ sở dữ liệu về phân vùng quản lý của các phân khu chức năng;

- Xây dựng quy chế quản lý du lịch sinh thái (DLST) trong toàn Vườn và một

số đề án quy hoạch chi tiết ở từng vùng để định hướng cho việc quản lý, phát triển DLST, du lịch cộng đồng, …, nhằm thí điểm việc cho thuê môi trường làm DLST và kêu gọi hỗ trợ du lịch cộng đồng nhằm trao quyền quản lý và tham gia dịch vụ cho người dân để có thêm thu nhập;

- Tổ chức các lớp tập huấn, các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận

thức bảo tồn và trách nhiệm cho người dân và các cấp chính quyền, các bên liên quan,

cộng đồng địa phương và du khách;

- Xây dựng đề án thành lập Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật

rừng, tuyển dụng bổ sung và đào tạo cán bộ nhằm nâng cao số lượng và chất lượng của đội ngũ làm công tác bảo tồn của VQG;

- Phát triển mới một số cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ BVR-PCCCR, và tăng cường công tác duy tu, bảo dưỡng hàng năm nhằm sử dụng có

hiệu quả và đáp ứng kịp thời công tác bảo tồn VQG;

2.4.1 Đời sống của cộng đồng dân cư sống xung quanh vùng đệm của VQG

B ạch Mã

• Dân s ố và dân tộc

Khu vực vùng đệm có diện tích là 58.676 ha (cập nhập 2012), nằm trên địa bàn

15 xã, thị trấn bao gồm: thị trấn Phú Lộc, xã Lộc Điền, Xuân Lộc, Lộc Hoà, Lộc Trì (huyện Phú Lộc - tỉnh TT Huế); thị trấn Khe Tre, xã Hương Phú, Hương Lộc, Thượng

Lộ, Thượng Nhật, Thượng Long (huyện Nam Đông - tỉnh Thừa Thiên Huế); xã Tà Lu, Sông Kôn, A Ting và xã Tư (huyện Đông Giang - tỉnh Quảng Nam) Bảng 01 mô tả tình hình dân số vùng đệm của VQG

tế Hu

ế

Trang 37

B ảng 01 : Dân số và dân tộc vùng đệm của VQG Bạch Mã

Đơn vị: người

Toàn vùng 12.960 62.974 31.531 31.443 50.946 11.391 637

T ỉnh TT- Huế 11.444 56.019 27.971 28.048 50.035 5.347 637

Huyện Phú Lộc 8.326 41.604 20.641 20.963 40.967 - 637 Huyện Nam Đông 3.118 14.415 7.330 7.085 9.068 5.347 -

T ỉnh Quảng Nam 1.516 6.955 3.560 3.395 911 6.044 -

Huyện Đông Giang 1.516 6.955 3.560 3.395 911 6.044 -

(Báo cáo T ổng cục lâm nghiệp VQG Bạch Mã)

Mật độ dân số trong khu vực ở mức trung bình và không đồng đều giữa các vùng Mật độ bình quân trên toàn khu vực là 159 người/km2, mật độ dân số cao nhất là

790 người/km2, thấp nhất là 10 người/km2

Tỷ lệ tăng dân số trong khu vực không đồng đều, tỷ lệ tăng dân số bình quân trên toàn khu vực là 1,2%, thấp nhất là 0,6%, cao nhất là 1,8% Tỷ lệ dân số cao chủ

yếu ở các xã miền núi như: Thượng Long, Thượng Nhật, Thượng Lộ,

• Sinh k ế và đời sống người dân

Ở các khu vực thấp của vùng đệm VQG, như Thị trấn Phú Lộc, Lộc Trì và Lộc Điền, hầu hết người dân đều trồng được lúa nước mặc dù mật độ dân số khá cao và tỷ

lệ hộ có ruộng là 0,11% Bên cạnh nông nghiệp, người dân ở đây còn có nguồn thu

nhập phi nông nghiệp khác như buôn bán và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác

do ở đây gần với thành thị Diện tích cây trồng nương rẫy (chủ yếu là lúa rẫy) nhiều hơn so với lúa nước ở tất cả các xã khác của huyện Nam Đông và Đông Giang ở khu vực miền núi vùng xa phía tây của vùng đệm VQG Bạch Mã Người dân của 6 xã thuộc huyện Nam Đông chủ yếu trồng keo (bên cạnh một số hộ trồng cao su) Những năm gần đây số người tham gia trồng keo gia tăng Ở đây, có 3.169 ha cây công nghiệp độc canh trong khi chỉ có 256 ha ruộng lúa nước và 468 ha cây trồng trên nương rẫy

tế Hu

ế

Ngày đăng: 19/10/2016, 10:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 01: Sơ đồ các bước chính cộng đồng tham gia vào dự án sử dụng bền vững tài - Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại vườn quốc gia bạch mã và sinh kế cho người dân tại xã thượng nhật, huyện nam đông, tỉnh thừa thiên huế
Hình 01 Sơ đồ các bước chính cộng đồng tham gia vào dự án sử dụng bền vững tài (Trang 17)
Hình 02: B ản đồ vườn Quốc gia Bạch Mã và vùng đệm - Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại vườn quốc gia bạch mã và sinh kế cho người dân tại xã thượng nhật, huyện nam đông, tỉnh thừa thiên huế
Hình 02 B ản đồ vườn Quốc gia Bạch Mã và vùng đệm (Trang 23)
Hình 03: B ản đồ hệ thống thủy văn ở VQG Bạch Mã - Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại vườn quốc gia bạch mã và sinh kế cho người dân tại xã thượng nhật, huyện nam đông, tỉnh thừa thiên huế
Hình 03 B ản đồ hệ thống thủy văn ở VQG Bạch Mã (Trang 27)
Bảng 07: Kết quả kiểm định One – Sample T -test - Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại vườn quốc gia bạch mã và sinh kế cho người dân tại xã thượng nhật, huyện nam đông, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 07 Kết quả kiểm định One – Sample T -test (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w