Tài liệu bao gồm bốn bài: Bài 1. Huấn luyện đực giống và khai thác tinh Bài 2. Kiểm tra phẩm chất tinh dịch Bài 3. Pha loãng, bảo quản và vận chuyển tinh dịch Bài 4. Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo Tài liệu do ông Nông Văn Trung chủ biên cùng sự tham gia đóng góp ý kiến của tập thể thầy (cô) Khoa Nông lâm Ban giám hiệu nhà trường. Biết rằng với hiểu biết có hạn nên bài giảng chắc chắn sẽ có nhiều sai sót, vì vậy rất mong nhận được góp ý của đồng nghiệp và bạn đọc gần xa để bài giảng được hoàn thiện hơn.
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ
-NÔNG VĂN TRUNG
BÀI GIẢNG
MÔ ĐUN: KỸ THUẬT TRUYỀN GIỐNG
(Tài liệu lưu hành nội bộ dùng cho trình độ trung cấp nghề Thú Y)
Trang 2Phú Thọ, năm 2015
LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử phát triển kỹ thuật truyền giống nhân tạo cho Gia súc, Gia cầm trênthế giới trải qua nhiều giai đoạn Hiện nay kỹ thuật truyền giống cho vật nuôi đã rấtphát triển và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Nó đã và đang mang lại những lợiích kinh tế kỹ thuật to lớn mà phương pháp giao phối tự nhiên không thể có được
Với mong muốn được đóng góp một phần tri thức, kinh nghiệm nhỏ bé củamình cho sản xuất, đáp ứng yêu cầu chương trình đào tạo Tôi đã biên soạn bàigiảng “ Kỹ thuật truyền giống” với nhiều nội dung kiến thức, kỹ năng mới phù hợpvới đối tượng học viên và đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo
Tài liệu bao gồm bốn bài:
Bài 1 Huấn luyện đực giống và khai thác tinh
Bài 2 Kiểm tra phẩm chất tinh dịch
Bài 3 Pha loãng, bảo quản và vận chuyển tinh dịch
Bài 4 Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo
Tài liệu do ông Nông Văn Trung chủ biên cùng sự tham gia đóng góp ý kiếncủa tập thể thầy (cô) Khoa Nông lâm - Ban giám hiệu nhà trường Biết rằng vớihiểu biết có hạn nên bài giảng chắc chắn sẽ có nhiều sai sót, vì vậy rất mong nhậnđược góp ý của đồng nghiệp và bạn đọc gần xa để bài giảng được hoàn thiện hơn
Trang 3M c l c ụ ụ
Mục lục 3
Bài 1 HUẤN LUYỆN ĐỰC GIỐNG VÀ KHAI THÁC TINH 4
1 Đại cương về các phương pháp phối giống 4
2 Huấn luyện đực giống 6
3 Khai thác tinh 13
Bài 2 KIỂM TRA PHẨM CHẤT TINH DỊCH 17
1 Đại cương về tinh dịch 17
2 Kiểm tra phẩm chất tinh trùng 24
Bài 3 PHA LOÃNG, BẢO QUẢN VÀ VẬN CHUYỂN TINH DỊCH 42
1 Giới thiệu một số môi trường hỗn hợp dùng trong pha loãng tinh 42
2 Tác dụng của các chất liệu tham gia vào môi trường 48
3 Kỹ thuật pha chế môi trường 50
4 Kỹ thuật pha loãng tinh dịch 52
5 Bảo quản tinh dịch 56
6 Vận chuyển và phân phối tinh 58
Bài 4 DẪN TINH NHÂN TẠO CHO TRÂU BÒ, LỢN, GIA CẦM 60
1 Kỹ thuật dẫn tinh nhân tạo cho trâu bò 60
2 Kỹ thuật dẫn tinh nhân tạo lợn 69
3 Kỹ thuật dẫn tinh nhân tạo cho gia cầm 73
Trang 4Bài 1 HUẤN LUYỆN ĐỰC GIỐNG VÀ KHAI THÁC TINH
Mục tiêu của bài: Học xong bài này người học có khả năng:
- Tự huấn luyện được đực giống
- Thực hiện việc khai thác tinh thành thạo
1 Đại cương về các phương pháp phối giống
Hiện nay ở nước ta tồn tại hai phương pháp phối giống đó là: Phương phápphối giống trực tiếp và phương pháp phối giống gián tiếp
1.1 Phối giống trực tiếp
Là phương pháp cho gia súc đực và cái tự giao phối với nhau hay là giaophối tự do để duy trì nòi giống
- Gồm có các hình thức phối sau:
+ Phối đơn: Khi con cái động dục, cho một đực giao phối một lần, phươngpháp này được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất vì đơn giản, rẻ tiền, dễ áp dụng,nhưng đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ thì tỷ lệ thụ thai mới cao
+ Phối lặp: Khi con cái động dục, cho một đực giao phối hai lần cách nhau
từ 12-18 giờ Phương pháp giao phối này có tỷ lệ thai thai cao, số con nhiều, sứcsống cao, nhưng ảnh hưởng tới sức khỏe và tuổi thọ của đực giống
+ Phối kép: Khi con cái động dục cho hai đực giao phối hai lần cách nhauvài phút Phương pháp giao phối này tăng được số con đẻ trong một lứa và sứcsống đời con nhưng tốn kém nhiều đực giống
+ Phối nhiều lần: Khi con cái động dục, cho nhiều đực, mỗi đực giao phốinhiều lần, có tác dụng kích thích sự rụng trứng, khắc phục tình trạng khó chửa, đẻcủa gia súc cái Phương pháp giao phối này thường áp dụng chữa bệnh khó chửa đẻcủa gia súc cái
- Phương pháp phối giống trực tiếp có ưu điểm là tính sinh vật học cao, dễ thựchiện
Trang 5- Bên cạnh đó phương pháp này có nhược điểm là hiệu quả kinh tế không cao vìmỗi lần phối giống mỗi đực chỉ phối được một con cái
- Nếu dùng phương pháp này phải nuôi rất nhiều đực giống, tốn kém nhiều về kinh
tế Khi phối giống tự do khó quản lý giống, dễ sinh ra hiện tượng cận huyết Bệnhtật lây truyền từ con đực sang con cái hoặc từ con cái sang con đực dễ dàng
- Hiện nay, phương pháp này dần dần được sử dụng ít đi
1.2 Phối giống gián tiếp (TTNT)
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo ở nước ta bắt đầu nghiên cứu và sử dụng từ năm
1958 Trải qua hơn 30 năm, nhiều công trình nghiên cứu và áp dụng tiến bộ kỹthuật đã được kết luận và đưa vào sản xuất Mục tiêu và hiệu quả cuối cùng của kỹthuật thụ tinh nhân tạo được thể hiện ở kết quả sinh sản của gia súc cái Kỹ thuậtthụ tinh nhân tạo đã mang lại lợi ích kinh tế và kỹ thuật mà phương pháp phốigiống trực tiếp không có được
Ví dụ: thụ tinh nhân tạo cho lợn, thì 1 lợn đực 1 năm có thể đảm nhận 3600
- 4000 liều tinh/năm, còn nếu phối giống trực tiếp thì 1 lợn đực 1 năm có thể đảmnhận 300 con nái/năm
- Vì vậy thụ tinh nhân tạo sẽ giảm số đầu đực giống phải nuôi
- Khắc phục được tình trạng thiếu đực giống hiện nay
- Giảm được các khoản chi phí để nuôi đực giống (thức ăn, chuồng trại, nhân công,
…) từ đó giảm giá thành, tăng hiệu quả kinh tế
- Tăng số năm sử dụng đực giống vì khai thác đúng quy trình kỹ thuật
- Ngăn ngừa được bệnh tật lây truyền qua đường sinh dục từ con đực sang con cái
và ngược lại
- Khắc phục sự chênh lệch về khối lượng giữa con đực và con cái
- Bảo tồn tinh dịch được lâu, vận chuyển đi xa dễ dàng và giảm chi phí
Ví dụ: Tinh viên đông khô của bò khi bảo tồn ở trong bình nitơ lỏng ở
-1960C có thể giữ được hàng trăm năm
- Nhanh chóng nâng cao tiến bộ di truyền cho đời sau (nâng cao chất lượng phẩmgiống) Vì một con đực giống được sử dụng cho kỹ thuật thụ tinh nhân tạo phải là
Trang 6những con đực đã được kiểm tra các chỉ số chọn lọc có quan hệ đến thế hệ đời sau:tốc độ tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, phẩm chất thịt ngon, …tất cả các chỉ
số năng suất, khả năng sinh trưởng phát dục được thể hiện ở hệ số di truyền chođời sau
- Ghi chép sổ sách, dễ theo dõi từ đó chủ động phối giống và biết được ngày đẻ củagia súc, tránh được hiện tượng đồng huyết Ứng dụng chọn lọc, chọn đôi giao phốitrong chăn nuôi Tăng chất lượng và số lượng đàn con sinh ra sau mỗi lứa đẻ
2 Huấn luyện đực giống
2.1 Nguyên tắc huấn luyện
Việc huấn luyện đực giống nhảy giá lấy tinh nói chung dựa trên nguyên tắcgây một phản xạ có điều kiện cho đực giống và sau một thời gian thường xuyênđược nhắc lại, đực giống sẽ nhảy giá một cách thành thạo Mặt khác tùy theo cátính của từng con đực giống mà chọn phương pháp huấn luyện thích hợp để đạt kếtquả cao
- Huấn luyện lợn đực nhảy giá không nên đơn thuần coi giá nhảy là đối tượng duynhất Để tạo ra phản xạ nhảy giá xuất tinh là cả một hệ thống tác động đồng bộ gâyphản xạ có điều kiện
Ví dụ: chỉ nên huấn luyện vào 7 - 8 giờ sáng; trước khi đi huấn luyện nên
cho con đực ăn nhẹ một chút thức ăn tinh; chỉ đi theo một con đường duy nhất đếnphòng huấn luyện; ổn định người huấn luyện và lấy tinh kể cả màu áo; tạo điềukiện làm quen với lợn đực bằng cách thường xuyên xoa chải, vuốt ve; tạo tiếng
động ổn định trước khi lợn đực vào phòng huấn luyện lấy tinh
- Sau khi huấn luyện và lấy tinh cần có một số động tác ổn định nào đó góp vào hệthống phản xạ có điều kiện cho lợn đực như: xuất tinh xong, xuống giá nhảy cho
ăn 1 - 2 quả trứng gà tươi cần chú ý đến chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc
- Trước khi huấn luyện khoảng 1 tháng, khẩu phần ăn cần đảm bảo đầy đủ chấtdinh dưỡng theo tiêu chuẩn quy định Có chế độ vận động thích hợp cho từng loạiđực giống
Trang 7- Thực hiện việc tắm chải sạch sẽ và xoa kích thích vùng sinh dục của đực giốngthường xuyên Tuyệt đối không đối xử thô bạo đối với đực giống kể cả khi đựcgiống không có ham muốn giao phối.
- Đực giống cần nhốt riêng xa đàn cái để không bị tác động của con cái Khi vàophòng huấn luyện lấy tinh chỉ có đối tượng duy nhất là giá nhảy
- Phải kiên trì tập luyện, ổn định các yếu tố huấn luyện Tùy từng cá tính của đựcgiống để có phương pháp huấn luyện phù hợp Quá trình huấn luyện phải liên tục,tuyệt đối không được làm gián đoạn thời gian khi tập luyện, nhất là khi con đực códấu hiệu nhảy giá Khi đực giống đã có phản xạ nhảy giá cần củng cố phản xạ bằngcách luyện tập thường xuyên
- Trong quá trình huấn luyện phải linh hoạt, tránh máy móc, đơn điệu một phươngpháp nào đó Nếu đực giống không chịu tiếp thu, cần.thay đổi phương pháp chothích hợp với từng cá thể Thời gian huấn luyện cũng cần linh hoạt theo thời tiết,khí hậu (mùa hè có thể huấn luyện sớm hơn mùa đông)
- Đối với trâu, bò, dê, cừu, phản xạ xuất tinh diễn ra trong một thời gian rất ngắn,
vì vậy thao tác của người huấn luyện, khai thác phải nhanh nhẹn, khéo léo và chínhxác
2.2 Kỹ thuật huấn luyện
Hiện nay, người ta có nhiều phương pháp để huấn luyện gia súc đực nhảygiá Tùy từng loại gia súc khác nhau và đặc tính riêng của từng gia súc mà người ta
có phương pháp huấn luyện phù hợp
2.2.1 Huấn luyện lợn đực nhảy giá
a Yêu cầu kỹ thuật của giá nhảy
Để lấy được tinh lợn đực cần phải có giá nhảy thích hợp Tùy theo dụng cụlấy tinh hoặc phương thức lấy tinh, tầm vóc của lợn đực mà thiết kế kiểu giá nhảycho phù hợp
Trang 8Hình 1.1 Giá nhảy của đực giống
Yêu cầu chung của một giá nhảy là:
- Thân và chân giá phải vững chắc đảm bảo an toàn cho lợn và người khi huấnluyện cũng như là khi lợn nhảy giá
- Có độ cao phù hợp với lợn đực để khi nhảy giá lợn có cảm giác thoải mái nhưnhảy lên lung con nái thật Độ cao có thể cố định hoặc tạo thành từng nấc ở chângiá để nâng than giá lên hay hạ xuống một cách dễ dàng
- Thân giá có độ dài vừa đủ để lợn đực khi nhảy giá xuất tinh có thể gác mõm lênđầu thân giá
- Hai bên thân giá phải có chỗ cho lợn đực bám khi nhảy giá giống như bao ôm lợncái đồng thời để tạo vững chắc cho lợn đực khi xuất tinh Có thể tạo vài “mấu” ở 2bên sườn ngang tầm vai giá nhảy Khoảng cách mấu xa, gần khác nhau sao cho phùhợp với tầm vóc của lợn
- Vệ sinh thuận tiện sau mỗi lần lấy tinh: dễ rửa và mau khô, không bị ám mùi hôitanh của tinh dịch
b Tuổi huấn luyện và thời gian sử dụng lợn đực
Tùy theo giống, độ thành thục tính dục mà tuổi bắt đầu huấn luyện nhảy giá,lấy tinh cũng khác nhau Tuổi và khối lượng trung bình lợn đực khi bắt đầu huấnluyện lấy tinh ở một số giống lợn được quy định như sau:
Trang 9Bảng 1.1 Tuổi và khối lượng cơ thể lợn đực khi huấn luyện lấy tinh
Lợn đực giống Tuổi huấn
- Thời gian sử dụng lợn đực giống nên tốt nhất trong khoảng từ 2,5 - 3 năm, khôngnên sử dụng lợn đực giống quá 4 năm tuổi
c Phương pháp huấn luyện
Để huấn luyện lợn đực giống người ta có 4 phương pháp sau:
và nhảy giá
* Cưỡng bức kích thích
Đối với lợn nhút nhát người ta có thể huấn luyện bằng cách: một người ôm 2bên vai lợn đực, giữ cho lợn đực ôm ghì vào giá nhảy giống như tư thế giao phối,một người khác dùng tay kích thích vào bao dương vật để lợn đực thò dương vật rangoài Sau vài lần, lợn đực mạnh dạn hơn, quen với giá nhảy và có thể tự độngnhảy lên giá dễ dàng Lúc đó, cần chuẩn bị sẵn sàng tạo điều kiện cho lợn đực xuấttinh
* Tham quan
Cố định lợn đực cần huấn luyện ở vị trí mà nó có thể quan sát được một lợn
Trang 10đã nhảy giá ra khỏi phòng lấy tinh, cho lợn đực cần huấn luyện vào phòng lấy tinhquan sát giá nhảy và ngửi mùi tinh dịch của lợn đực vừa nhảy, kết hợp với kíchthích bao dương vật và tạo âm thanh "kích động” cho lợn đực cần huấn luyện hưngphấn đòi giao phối Tiến hành cho tham quan một số lần, khi lợn đực cần huấnluyện có dấu hiệu muốn nhảy giá và cương cứng dương vật, cần tạo điều kiện đểcho lợn đực xuất tinh.
- Đưa lợn nái động dục ở thời kỳ mê ỳ vào gầm giá nhảy, giữ cho lợn nái ổn định.Đưa lợn đực vào phòng lấy tinh Lợn đực đến giá nhảy thấy lợn cái động dục đòibao, ôm Kết hợp dùng tay kích thích dương vật lợn đực, kích thích tính dục,
dương vật cương cứng, lợn đực sẽ nhảy lên giá và người huấn luyện sẽ lấy được
tinh dịch của lợn huấn luyện Tuy nhiên, không nên lạm dụng phương pháp này vìkhi lợn đực đã ngửi được mùi lợn cái động dục, có thể lần sau nó tiếp tục đòi lợncái động dục
2.2.2 Huấn luyện trâu, bò đực nhảy giá
a Yêu cầu giá nhảy
Cách đơn giản nhất là chuồng ép và sử dụng bò sống làm giá cho bò đựcnhảy Bò làm giá có thể là bò cái hoặc bò đực Ưu điểm của phương pháp này làgần với tự nhiên, đơn giản, đầu tư ít Nhược điểm là dương vật đực giống bị bẻcong và cần kỹ thuật viên lấy tinh dũng cảm và nhiều kinh nghiệm
Sử dụng giá gỗ có gắn âm đạo giả bên trong để lấy tinh có ưu điểm là không
bẻ cong dương vật của đực giống Điều này sẽ làm tăng cường việc đẩy và phóngtinh, ảnh hưởng tốt đến số lượng và chất lượng tinh dịch Nhược điểm là mua giánhảy đắt tiền
Trang 11Hình 1.2 Giá nhảy của bò đực
b Tuổi huấn luyện và thời gian sử dụng
- Tuổi thành thục về tính của bò đực phụ thuộc vào giống, cá thể, mùa vụ, thời tiết,đặc biệt là chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
- Nhìn chung, thuổi thành thục về tính của bò biến động từ 12 - 18 tháng tuổi và tốtnhất ở độ tuổi 3 - 6 năm
- Trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng, các giống bò sữa thành thục về tính sớmhơn bò thịt và bò cày kéo
- Tuổi thành thục về tính của trâu muộn hơn bò Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt,tuổi thành thục về tính của trâu từ 18 - 24 tháng tuổi, tuổi bắt đầu sử dụng là lúc 24tháng tuổi và có thể sử dụng đến 4 - 5 năm tuổi
c Phương pháp huấn luyện
Hiện nay, ở Việt Nam đang sử dụng 3 phương pháp huấn luyện huấn luyện
bò đực nhảy giá
- Phương pháp thay thế
Dùng bò cái động dục tự nhiên hoặc nhân tạo (bằng cách tiêm kích dục tố)đứng làm giá nhảy (giá nhảy tự nhiên) để huấn luyện bò đực lấy tinh qua âm đạogiả Các lần sau thay bò cái động dục bằng bò cái không động dục hoặc bò đựchoặc bò đực thiến khác
Tuy nhiên, khi dùng bò thay thế nên có cùng màu sắc, tầm vóc và thuần tính
Bò đực tơ (chưa giao phối lần nào) dễ chấp nhận các các điều kiện thay thế hơn sovới bò đực đã giao phối tự nhiên nhiều lần
Trang 12Cho bò đực đang trong thời gian huấn luyện đứng cách xa từ 10 -15 m đểquan sát một bò đực khác nhảy giá và xuất tinh thành thạo qua âm đạo giả một sốlần Khi quan sát quá trình nhảy giá, bò đực cần huấn luyện có phản xạ cương cứngdương vật thì dẫn ngay vào gần giá nhảy để bò đực nhảy giá và xuất tinh qua âmđạo giả 2-3 ngày sau lặp lại và tiếp lục như vậy cho đến khi thành thạo.
2.2.3 Huấn luyện ngựa đực nhảy giá
a Tuổi huấn luyện và thời gian sử dụng
Tuổi thành thục tính dục của ngựa đực vào lúc 20 - 24 tháng tuổi Lúc ngựađực thành thục về tính cũng là thời điểm huấn luyện thích hợp Thời gian khai tháctinh dịch của ngựa đực có thể bắt đầu ngay sau khi huấn luyện thành công và kéodài tới 5 - 6 năm tuổi
b Phương pháp huấn luyện
Áp dụng như phương pháp huấn luyện trâu, bò nhảy giá
- Tuy nhiên cần lưu ý: Ngựa cái làm giá nhảy phải được buộc giữ 2 chân sau và
đuôi, nếu cho ngựa cái đứng giá vào trong gióng thì phải có then cài hai chân sauhoặc buộc giữ 2 chân sau để tránh sự cố cho người lấy tinh và ngựa đực giống
2.2.4 Huấn luyện dê, cừu đực nhảy giá
- Tuổi huấn luyện dê, cừu đực nhảy giá lấy tinh có thể bắt đầu vào lúc 7 - 8 thángtuổi vì lúc này dê, cừu đực đã thành thục về tính dục
- Phương pháp huấn luyện được áp dụng như đối với trâu bò Để làm giá nhảy cóthể dùng giá nhảy tự nhiên như dê, cừu cái động dục hoặc không động dục.Cũng có thể dùng giá nhảy nhân tạo bằng da súc vật nhồi, giá gỗ có phủ bạt,cao su hoặc bộ lông súc vật cùng loại
Trang 133 Khai thác tinh
3.1 Nguyên tắc khai thác tinh
Khai thác tinh dịch là một khâu có ý nghĩa quan trọng trong thụ tinh nhântạo động vật, vì nó cho phép đánh giá sức sản xuất của con đực, trên cơ sở đó đểđịnh ra chế độ chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp, nâng cao sức sản xuất của con đực.Đồng thời khai thác tinh dịch còn tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu tiếp theo củaquá trình thụ tinh nhân tạo, đó là: kiểm tra phẩm chất, pha loãng, bảo tồn và vậnchuyển tinh dịch
Khai thác tinh dịch dựa trên nguyên tắc đó là: Dựa vào các phản xạ sinh dục
tự nhiên để thiết lập nên các phản xạ sinh dục có điều kiện, làm cho hoạt động sinhdục của động vật xảy ra theo ý muốn
3.2 Phương pháp khai thác tinh
3.2.1 Khai thác tinh bằng âm đạo giả
Nguyên lý của phương pháp này là cho con đực giao phối và xuất tinh trongmột loại dụng cụ gọi là âm đạo giả có các điều kiện (nhiệt độ, áp suất, độ nhớt )tương tự như trong đường sinh dục của con cái động dục Đây là phương pháp khaithác tinh dịch cổ điển nhưng hiện nay vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong nghiêncứu và sản xuất
a Ưu điểm
- Khai thác được toàn bộ lượng tinh dịch trong một lần xuất tinh
- Không gây ảnh hưởng xấu đến cơ quan sinh dục đực
- Không cần sự có mặt của con cái động dục
Trang 14- Thân âm đạo giả:
+ Một ống nhựa cứng hình trụ làm bằng chất liệu không độc
+ Một ống cao su mềm, ống này được lồng khít vào thành bên trong của ốngnhựa cứng
+ Dây đai bằng cao su
- Bộ phận tạo áp lực:
Bơm tạo áp lực trong lòng âm đạo giả (có thể là bơm đơn hoặc bơm songliên cầu) Bơm được lắp vào thân âm đạo giả thông qua một chiếc van trên thân củaống nhựa cứng
410C (đối với ngựa) và 41 -420C (đối với trâu, bò, dê, cừu) Ở nhiệt độ này, khi giaocấu đực giống sẽ có được kích thích tính dục tối đa, giống như khi đang giao phốitrong âm đạo thật Nếu như nhiệt độ thấp dưới 380C (đối với lợn) và dưới 400C(đối với trâu, bò) sẽ không đủ kích thích, khó hình thành phản xạ xuất tinh, gia súcgiao cấu lâu sẽ mệt, chán, dễ gây hiện tượng giận dữ Nếu nhiệt độ cao quá 410C(đối với lợn) và trên 420C (đối với trâu, bò) sẽ gây bỏng dương vật hoặc qui đầulàm cho đực giống sợ hãi tuột khỏi giá nhảy, thậm chí có thể ức chế phản xạ nhảy giásau này
- Áp lực: Trong tự nhiên, khi giao cấu, dương vật con đực chịu một áp lực
Trang 15và lực ma sát trong âm đạo con cái Các yếu tố này kích thích hưng phấn tính dục.dẫn tới phản xạ xuất tinh Để tạo ra áp lực trong lòng âm đạo giả, người ta bơmkhông khí vào vách ngăn giữa vỏ và ruột âm đạo giả với một tần số và áp lực nhấtđịnh thông qua việc bóp vào quả bơm tạo áp lực Các kết quả nghiên cứu cho thấy,
áp lực thích hợp trong lòng âm đạo giả khi khai thác phải đạt từ 35-65mmHg (đốivới lợn) và từ 40-70 mmHg (đối với trâu, bò, dê, cừu) Nếu áp lực quá thấp (<30mmHg) hoặc quá cao (>80 mmHg) đều gây ức chế phản xạ giao phối và xuấttinh Trong thực tế, đế xác định áp suất phù hợp, sau khi lắp âm đạo giả xong,người ta tiến hành bơm không khí vào trong vách ngăn giữa ruột và vỏ âm đạo giả,khi nào quan sát thấy phần ruột ở mỗi đầu của âm đạo giả dầy lên tạo thành hìnhsao ba cạnh (như hình vẽ) là được Nếu miệng âm đạo giả tạo thành nhiều nếp nhănchứng tỏ phần ruột và phần vỏ không phù hợp về kích thước (thường là phần ruột tohơn), hoặc trong quá trình lắp ruột âm đạo giả bị vặn xoắn vỏ đỗ
- Độ nhớt: Trong tự nhiên, khi con đực và cái thực hiện phản xạ giao cấu, do tácđộng của sự cọ xát giữa dương vật và âm đạo đã kích thích các tuyến sinh dục tiếtdịch nhờn để bôi trơn âm đạo Trong khai thác tinh dịch bằng âm đạo giả, để tạo
độ nhớt trong lòng âm đạo giả, giúp cho dương vật gia súc đực giao cấu được dễdàng,người ta thường sử dụng một loại chất nhờn đã được khử trùng bôi vào haiphản ba mặt trong của âm đạo giả Chất nhờn sử dụng để bôi trơn lòng âm đạo giảthường là vazơlin hoặc hỗn hợp tragacant (một loại keo có nguồn gốc từ thực vật)
3.2.2 Khai thác tinh bằng tay
Phương pháp này được sử dụng từ năm 1779 bởi Lauro SpHllazani Đếnnay phương pháp này vẫn còn được áp dụng Nguyên lý của phương pháp này là sửdụng áp lực cơ học tác động vào cơ quan sinh dục đực, kích thích, gây hưng phấnsinh dục cho con đực để gây nên phản xạ xuất tinh Người khai thác nắm lấy da củabao qui đầu và thực hiện chuyển động đi lại của lòng bàn tay ở bao quy đầu Chính
sự di chuyển này kích thích những nhú nhận cảm của quy đầu và bao quy đầu làmdương vật cương cứng một cách nhanh chóng
Khi sự cương cứng đạt đến điểm đỉnh và sự phóng tinh bắt đầu, dương vật
Trang 16sau quy đầu Bình thu nhận tinh phải được giữ ở dưới đầu tự do của dương vật vàphải tránh những tiếp xúc của quy đầu với thành bình và giá nhảy vì có thể gây ra sự
ức chế phóng tinh của động vật Sự có mặt của con cái động dục sẽ kích thích hơntính hăng sinh dục.Theo Ivanov, sự có mặt của con cái động dục có tác dụng thúcđẩy sự bắt đầu phóng tinh, tăng thời gian phóng tinh, thể tích tinh dịch và nồng độtinh trùng
* Các bước tiến hành của phương pháp này như sau:
- Chuẩn bị dụng cụ: Dụng cụ khai thác tinh địch gồm có: găng tay bằng cao sumỏng, lọ (hay bình) hứng tinh Rửa sạch phần bụng, sát trùng bộ phận sinh dục đực,phần mông của giá nhảy, lọ hứng tinh và găng tay cao su
- Khai thác tinh dịch: Dùng tay kích thích vào bao dương vật để lợn đực hưng phấn, nhảy lên ôm giá nhảy Khi dương vật của lợn đực bắt đầu thò ra, dùng lòngbàn tay nắm nhẹ vào đầu dương vật (đoạn xoắn mũi khoan) và lái cho qui đầu lệch
ra ngoài giá nhảy Lúc này dương vật của lợn đực sẽ giao cấu trong lòng bàn tay.Bàn tay của người khai thác tinh cần nắm nhẹ dương vật (giữ nguyên tư thế, vị trícủa lòng bàn tay), các ngón tay hơi cử động nhẹ để gây kích thích Khi hưng phấnđạt cao độ, lợn bắt đầu xuất tinh Người khai thác tinh dùng tay kia cầm lọ hứngtinh kề gần vào qui đầu để hứng tinh dịch chảy ra
* Ưu điểm:
- Không cần nhiều trang thiết bị, dụng cụ
- Người khai thác tinh dịch có thể quan sát trực tiếp được các pha trong quá trìnhxuất tinh, từ đó đưa ra quyết định hứng tinh ở "pha" nào là tốt nhất, đặc biệt trongquá trình khai thác tinh dịch lợn
* Nhược điểm:
- Cần có sự luyện tập và thích ứng của động vật
- Dễ bị nhiễm bẩn cơ quan sinh dục hoặc lây truyền bệnh cho người khai thác tinhdịch nếu không vô trùng tốt hoặc các dụng cụ bảo hộ không đảm bảo an toàn vệsinh
- Kích thích không gây khoái cảm cho con đực dễ gây ức chế khó xuất tinh và tinh dịch thu được có số lượng và chất lượng tinh trùng thấp
Trang 17Bài 2 KIỂM TRA PHẨM CHẤT TINH DỊCH
Mục tiêu của bài: Học xong bài này người học có khả năng:
- Kiểm tra được một số chỉ tiêu về phẩm chất tinh dịch : Dung tích(V), hoạt lực (A),nồng độ (C), độ PH, tỉ lệ kỳ hình (K), màu và mùi tinh dịch
- Sử dụng các dụng cụ, trang thiết bị phòng thí nghiệm thành thạo
1 Đại cương về tinh dịch
Tinh dịch là sản phẩm hoạt động của bộ máy sinh dục đực khi con đực thựchiện hoàn chỉnh một phản xạ sinh dục Tinh dịch gồm hai thành phần: tinh trùng(tế bào sinh dục đực) và tinh thanh Tinh trùng là sản phẩm bài tiết của các ốngsinh tinh, trong khi đó tinh thanh là sản phẩm bài tiết của các tuyến sinh dục phụ.Thể tích tinh dịch của một lần phóng tinh và nồng độ tinh trùng có trong tinh dịchkhác nhau giữa các loài động vật
Tinh dịch của các loài động vật chứa một lượng lớn nước (từ 90-98%), vật chấtkhô chiếm từ 2-10% Nhìn chung tinh dịch của các loài động vật giàu protein Hàmlượng protein trong tinh dịch bò chiếm tới 5,8%; trong tinh dịch lợn chiếm3,8% Ngoài ra, tinh dịch còn chứa các loại muối khoáng (Na, K, Zn, Cl, Ca, P ),axit carbonic, các loại đường (fructose, glucose, galactose ) và những chất khác,như là: axit xước, axit sialic, phosphorylcholin, ergothionin, cholin, prostaglandin
và một số enzym Thành phần các muối khoáng, đường, các axit hữu cơ và cáchoạt chất sinh học là khác nhau tùy theo loài động vật Ví dụ: tỷ lệ fructose trungbình trong tinh dịch bò là 970 mg/100 ml, trong khi đó tỷ lệ này ở lợn chỉ là 52mg/100 ml Tinh dịch ngựa hầu như không có fructose
Bảng 2.1 Thành phần hóa học của tinh dịch một số loài động vật
Thành phần Tinh dịch lợn Tinh dịch bò Tinh dịch ngựa
Trang 181.1.1 Cấu tạo tinh trùng
Về cấu tạo đại thể, tinh trùng gồm 3 phần chính: Đầu, cổ thân và đuôi Phân đuôiđược chia thành ba phần: trung đoạn, đuôi chính và đuôi phụ
a Đầu
Đầu là phần chính của tinh trùng, có hình dạng thay đổi theo loài: Hình dạng kéodài ở ngựa; hình chùy ở cừu, dê và lợn; hình quả lê ở động vật ăn thịt và thỏ; hình liềm ởchuột và chim
- Phần ngoài cùng của đầu tinh trùng là màng sinh chất được cấu tạo bởi các phân
tử lipoprotein Các phân tử này xếp xen kẽ nhau với khoảng cách 120A0
- Nhân: ngoài cùng của nhân là màng nhân, phía trước gắn với thể arcosome tạo thành
mũ chóp trước, phía sau gắn với màng ngoài của tinh trùng Thành phần của nhânchủ yếu là chromatine đặc, đồng nhất mà nó bao gồm ADN và các protit thuộc nhómprotamin
- Thể acrosome: nằm bên trong màng sinh chất và ở phía đỉnh đầu tinh trùng, vì vậyngười ta còn gọi là thể đỉnh Màng trước của acrosome dính sát với màng ngoài củatinh trùng và màng sau dính với màng nhân làm thành mũ chóp trước của tinh trùng.Dịch chứa trong thể acrosome là một thể dịch đặc, đồng nhất trong thành phần của nó
Trang 19có các enzym cần thiết cho quá trình thụ tinh giữa trứng và tinh trùng Phần phía trêncủa thể acrosome chứa enzym hyaluronidase có tác dụng phá hủy vành phóng xạcủa tế' bào trứng, trong khi đó phần sau của thể acrosome chứa enzym acrosine cóvai trò trong việc chọc thủng vùng trong suất của tế bào trứng Ngoài ra, thể acrosomecòn chứa các enzym phosphatase axit, esterase, hydrolase axit
Thể acrosome của tinh trùng rất dễ bị biến tính bởi các tác nhân lý, hóa và cơhọc Các tác nhân đó dễ làm cho màng của thể acrosome biến tính, dẫn đến dịchacrosome bị thẩm xuất ra ngoài và tinh trùng không còn khả năng thụ thai
Do vai trò quan trọng của thể acrosome đối với quá trình thụ thai nên ngoài cácchỉ tiêu thông thường dùng để đánh giá phẩm chất tinh dịch, người ta đã sử dụng chỉtiêu đánh giá phẩm chất thể acrosome thông qua sự phát sáng của nó trong môi trườngacrota
Cần chú ý rằng, enzym hyaluronidase không có tính đặc hiệu cho từng loài độngvật, do vậy, trong pha chế, bảo tồn tinh dịch, có thể tổng hợp và cho thêm enzym nàyvào môi trường để ngăn ngừa sự thẩm xuất của nó ra ngoài, góp phần nâng cao khảnăng thụ thai Ở một số loài động vật (loài gặm nhấm), người ta thấy enzymhyaluronidase không đóng vai trò quan trọng trong quá trình thụ thai, bởi vì khi quansát các tế bào tinh trùng xuyên qua màng phóng xạ chúng vẫn còn nguyên thểacrosome Điều đó chứng tỏ tinh trùng đã xuyên qua màng phóng xạ bằng chính sựvận động của nó khi những lớp keo liên kết các tế bào hạt của màng phóng xạ loãngdần ra
Trang 20Hình 2.1 Cấu tạo của tinh trùng
b Cổ - thân
Cổ - thân là vùng phức hợp do nguyên sinh chất dồn ép tạo thành Trong phầncổ-thân có hai loại cặp hạt là: cặp hạt trung tâm và 9 cặp hạt bên Ở động vật có vú, hạtbên có hình nón cụt, đầu tận cùng của nó mở ra bao quanh hạt trung tâm và đính vớimàng nucleic của nhân Từ cặp hạt trung tâm này xuất phát ra hai sợi trục chính đi vềphía đuôi
Từ 9 cặp hạt bên xuất phát ra 9 cặp sợi bên, được phân chia thành từng đoạn sángtối xen kẽ nhau, đi theo hình xoắn trôn ốc về phía đuôi Bao xung quang các sợi bên là hệthống ty lạp thể (Mitochondrie)
Phần cổ thân của tinh trùng chứa nhiều loại enzym oxy hóa-khử giúp cho tinhtrùng trao đổi chất Các enzym này chủ yếu là: phosphatase, transferase và ATPHse.Ngoài ra, phần cổ thân có chứa phospholipit có tác dụng cung cấp năng lượng cho tinhtrùng hoạt động Thành phần chủ yếu của phospholipit là plasmanogen và leucitin
c Đuôi: được chia thành 3 phần chính bao gồm:
* Trung đoạn (Middle piece):
- Bắt đầu từ các hạt bên và kết thúc ở chỗ dày lên của màng đuôi về phía dưới Nhìntheo thiết diện ngang từ trong ra ngoài: chính giữa là 1 cặp sợi trục trung tâm, xung
Trang 21quanh có có 9 cặp sợi trục ngoại vi (sợi bên)
- Bao bọc các sợi bên là những thể hạt (ty lạp thể) và một lớp nguyên sinh chấtmỏng (protoplasma) Lớp ngoài cùng bao bọc phần trung đoạn là lớp màng sinhchất (cytoplasma)
- Giữa các sợi bên và sợi trung tâm có các sợi tơ nhỏ liên kết chúng với nhau theo mốiliên kết "nan hoa" và giữa các vòng xoắn của các sợi bên cũng có các sợi tơ nối chúngvới nhau theo kiểu liên kết "bắt tay" Bản chất của các sợi tơ này là các sợi fibrin
* Đuôi chính (Main piece):
- Là phần dài nhất của đuôi
- Ngoài cùng là màng sinh chất, ở giữa có một cặp sợi trung tâm và xung quanh có chíncặp sợi trục ngoại vi (sợi bên) tạo thành hai lớp, xung quanh những cặp sợi này đượcbao bọc bởi một lớp ty lạp thể
- Khoảng cách giữa sợi trục trung tâm và sợi bên sát nhau hơn so với phần trungđoạn
* Đuôi phụ (End piece):
- Không có màng sinh chất bên ngoài, các sợi trục bên không tạo thành vòng xoắn nữa
mà chúng được giải phóng ra thành chùm tơ đuôi giúp cho tinh trùng vận động và chuyểnhướng được dễ dàng
- Cấu trúc bên trong của các sợi trục và bản chất hóa học của protein của các sợi vẫncòn đang được nghiên cứu
Nhiều tác giả nhận thấy sự giống nhau giữa sự vận động của tinh trùng với sự co rútcủa cơ và giữa một vài protein của tinh trùng với những protein của myosine
- Bằng những phép thử hóa tế bào đã chứng minh sự có mặt củ adenosine-triphosphate
ở những sợi trục, từ đó người ta khẳng định axit phosphoric tham gia vào sự trao đổichất và vận động của tinh trùng
1.1.2 Đặc điểm sinh lý tinh trùng
a Đặc tính chuyển động tới trước
Trang 22Tinh trùng sống luôn luôn chuyển động Sự chuyển động của tinh trùng là nhờphần cổ-thân và đuôi Trong khi vận động, đuôi tinh trùng luôn uốn éo, co rút tạo áplực cho tinh trùng tiến về phía trước Ngoài ra, do đầu tinh trùng có hình khí động học(hình quả lê hoặc hình chùy), có khả năng xoay tròn quanh trục của thân, kết hợp với sựvận động xoay tròn của cổ-thân và đuôi tạo thành vectơ chuyển động tiến thẳng tớitrước Tốc độ di chuyển tới trước của tinh trùng phụ thuộc vào các điều kiện nội tại (sứcsống của tinh trùng) và ngoại cảnh, như: niêm dịch của đường sinh dục cái tiết ra nhiềuhay ít; độ đặc, loãng của dịch tiết; phương thức phóng tinh của con đực; độ co bóp củacác bộ phận bên trong đường sinh dục cái mà chủ yếu là sừng tử cung và ống dẫntrứng
Tốc độ chuyển động của tinh trùng còn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường Ởnhiệt độ từ 38 - 400C, tinh trùng chuyển động nhanh, nhưng ở nhiệt độ sóc, tinh trùnggần như không vận động
Ngoài ra, tốc độ vận động của tinh trùng còn phụ thuộc vào mức độ thành thụccủa nó Tốc độ trung bình của tinh trùng ngựa thành thục trong cơ quan sinh dục cái là 5mm/phút; tinh trùng bò,dê: 4 mm/phút và tinh trùng thỏ, chó: 2mm/phút Sự vậnđộng của tinh trùng gắn liền với hoạt động của enzym và trao đổi chất Ở dịch hoànphụ, tinh trùng gần như không vận động, nhưng khi được phóng ra gặp tinh thanh, nóhoạt động ngay lập tức vì nó được hoạt hóa bởi các enzym và cơ chất có trong tinhthanh
Ngoài hai hình thức vận động trên, tinh trùng còn có thể vận động theo kiểu "lắclư,,, nghĩa là vị trí không gian của tinh trùng không thay đổi, chỉ có đầu và đuôi ve vẩyNhững tinh trùng loại này không có khả năng thụ thai
b Đặc tính lội ngược dòng
Tinh trùng có xu thế lội ngược dòng niêm dịch của đường sinh dục cái Khi gặpdòng niêm dịch chảy ngược thì vận tốc của nó tăng từ 2-2,5 lần Chính nhờ đặc tínhnày, khi gặp dòng niêm dịch chảy ra của đường sinh dục cái, tất cả tinh trùng đang
Trang 23chuyển động hỗn loạn đều vận động về cùng một hướng: tiến vào ống dẫn trứng Đặctính này đã được chứng minh bởi thí nghiệm sau: người ta nhỏ 1 giọt tinhdịch lênphiến kính, sau đó nghiêng phiến kính tạo thành một góc nhất định, rồi đưa lên quansát trên kính hiển vi Kết quả cho thấy tất cả tinh trùng tiến về phía ngược với trọng lựccủa chúng
c Đặc tính tiếp xúc với vật lạ
Trong khi vận động, nếu gặp các vật lạ (như hạt bụi, bọt khí, trứng ), tinh trùng
có đặc tính là bao vây lấy vật lạ đó Nhờ đặc tính này, khi vào đường sinh dục cái, tinhtrùng luôn có xu thế bao vây lấy trứng, phá hủy các màng của tế bào trứng, đi vàonhân để kết hợp với nhân tạo thành hợp tử
Người ta đã chứng minh đặc tính này bằng cách lấy một tế bào trứng của lợn cáiđộng đực hoặc một hạt bụi bất kỳ đặt vào trong một giọt tinh dịch lợn Quan sát trênkính hiển vi thấy tinh trùng bao vây lấy tế bào trứng hoặc hạt bụi và đang tiến hànhcông phá tế bào trứng hoặc hạt bụi
d Đặc tính tiếp xúc với hóa chất
Trong thời gian động dục, niêm mạc ống dẫn trứng tiết ra một chất hóa học cótên là pertilizin Chất này có tác dụng kích thích, gây hưng phấn cho tinh trùng, làmcho tinh trùng tập trung lại và tiến đến tế bào trứng Đặc tính này được chứng minhbằng thí nghiệm sau: dùng tinh trùng của thỏ hoặc chó cho vào nước sinh lý có chứadịch chiết niêm mạc ống dẫn trứng, quan sát thấy có hiện tượng tinh trùng tụ lại, nhưngnếu thay dịch niêm mạc tử cung bâng dịch chiết của tổ chức gan hoặc ruột thì khôngthấy có hiện tượng tụ lại của tinh trùng
e Đặc tính tiếp xúc với điện
Trong thời gian động dục, ống dẫn trứng và tử cung con cái có một điện thế nhấtđịnh và bản thân tinh trùng cũng mang điện, do đó có một điện thế được thiết lập giữatinh trùng và ống dẫn trứng Đặc tính của dòng điện là chạy từ nơi có điện thế cao đếnnơi có điện thế thấp cho nên tinh trùng vận chuyển theo một hướng nhất định Người ta
Trang 24làm thí nghiệm cho một dòng điện có hiệu điện thế 3,55 Vol vào trong một cốc đựngtinh dịch Kết quả quan sát cho thấy, tinh trùng hoạt động rất mạnh
1.2 Tinh thanh
Tinh thanh là dịch tiết của phụ hoàn và các tuyến sinh dục phụ Dịch tiết này gầnnhư trung tính và đẳng trương Trên phương diện sinh hóa học, tinh thanh rất cần thiếtcho sự sống và hoạt động của tinh trùng Thành phần và số lượng tinh thanh biến độngtheo loài động vật
Nhìn chung, tinh thanh có những chức năng chính sau đây:
- Rửa sạch ống niệu-sinh dục con đực và đường sinh dục cái trước khi phóng tinh
- Hoạt hóa tinh trùng, làm cho tinh trùng có khả năng vận động (ở phụ hoàn tinh trùnghầu như không vận động, khi tiếp xúc với tinh thanh, tinh trùng bắt đầu hoạt động)
- Pha loãng và cung cấp chất dinh dưỡng cho tinh trùng
2 Kiểm tra phẩm chất tinh trùng
2.1 Nguyên tắc kiểm tra
Kiểm tra phẩm chất tinh dịch có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác quản lý,
sử dụng đực giống Bởi vì, kiểm tra phẩm chất tinh dịch cho phép đánh giá phẩm chấtgiống, sức sản xuất của con đực để định ra chế độ nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp
Nguyên tắc kiểm tra phẩm chất tinh dựa vào màu sắc, mùi, tỷ lệ kỳ hình, tỷ lệ tinhtrùng tiến thẳng, kiểm tra phẩm chất tinh dịch là cơ sở để xác định mức pha loãng tinhdịch và góp phần chẩn đoán, ngăn ngừa một số bệnh của đường sinh dục
2.2 Phương pháp kiểm tra
2.2.1 Kiểm tra bằng mắt
a Lượng tinh (ký hiệu V, đơn vị tính ml)
Lượng tinh là thể tích tinh dịch bài xuất tối đa trong một lần xuất tinh Chỉ tiêunày cho biết sức sản xuất của đực giống Lượng tinh ở các loài gia súc khác nhau thìkhác nhau Ví dụ, lượng tinh trung bình của một số loài gia súc, như sau: Lợn đực
Trang 25nội: 200-300ml; Lợn đực ngoại: 300-500ml; Bò: 4-5 ml; Ngựa: 70-100 ml; Dê, cừu:l-2ml; Gà trống: 0,8 ml; Gà tây: 0,3 ml; Chó: loạn; Mèo: 0,01-0,3 ml; Thỏ: 0,7-1 ml.Lượng tinh thay đổi theo loài và ngay trong cùng một loài cũng thay đổi theotình trạng sinh lý, cá thể, giống, tuổi, thể chất cơ thể, tình trạng vệ sinh, bệnh tật, chế
độ nuôi dưỡng, chế độ sử dụng (khai thác) và kỹ thuật khai thác Lượng tinh thuđược là một chỉ tiêu để đánh giá sức sản xuất của một con đực Ở những loài thụtinh tử cung (ngựa, lợn, chó), lượng tinh thường nhiều và nồng độ tinh trùng thấpdịch dịch loãng) Trái lại, những loài thụ tinh âm đạo (bò, cừu, thỏ) thì lượng tinh ít,nồng độ tinh trùng cao (tinh dịch đậm đặc) Dưới đây, chúng ta chỉ xem xét một sốyếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới lượng tinh
*Giống: Thường thì các giống ngoại, giống lai có tầm vóc cơ thể lớn hơn sản
sinh ra lượng tinh cũng nhiều hơn so với các giống nội có tầm vóc cơ thể nhỏ.Ngay trong cùng một giống, thông thường những cá thể có khối lượng cơ thể lớnhơn, lượng tinh cũng nhiều hơn
*Tuổi: Lượng tinh phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển cơ thể Ở thời kỳ hậu
bị, dịch hoàn và các tuyến sinh dục phụ chưa phát triển hoàn chỉnh nên lượng tinh
ít hơn so với gia súc ở tuổi trưởng thành, khi các tuyến sinh dục phụ và dịch hoànphát triển hoàn chỉnh
Các kết quả thí nghiệm của Ilinscaia và M PHrer (1975) cho thấy, lượng tinhcủa lợn đực ở giai đoạn 7 tháng tuổi bình quân 120 ml, nhưng ở 8 tháng tuổi là150ml Kết quả nghiên cứu của Trần Thế Thông và cộng sự (1976) trên lợn đựcgiống Móng Cái cho thấy: ở 7 tháng tuổi, lượng tinh khai thác bình quân 110 ml,nhưng ở 8 tháng tuổi lượng tinh là 144,3ml
* Chế độ sử dụng: có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sản suất tinh dịch của
gia súc Với chế độ sử dụng hợp lý, lượng tinh khai thác đạt được tối đa và ngượclại, chế độ khai thác không hợp lý sẽ làm giảm rõ rệt lượng tinh
Trang 26(Viện chăn nuôi) cho thấy: Chế độ lấy tinh 4-5 ngày/lần, lượng tinh đạt từ 200ml; 2-3 ngày/1ần, lượng tinh đạt từ 60 - l00ml; lấy tinh hàng ngày (mộtlần/ngày), lượng tinh đạt từ 50-60ml và 2 lần/ngày, lượng tinh đạt từ 20 - 50ml.
150-*Kỹ thuật lấy tinh: ảnh hưởng trực tiếp tới lượng tinh trong một lần khai thác.
Yếu tố này phụ thuộc chủ yếu vào thao tác của người khai thác tinh Muốn khaithác được tối đa sản phẩm tinh dịch thì các thao tác kỹ thuật trong khi khai tháctinh dịch phải thuần thục, chính xác, tạo cho con vật có cảm giác như đang giao phốitrong điều kiện tự nhiên Mặt khác, các dụng cụ khai thác tinh (ví dụ như âm đạogiả) cũng phải có đầy đủ các điều kiện như trong giao phối tự nhiên với con cáiđộng dục (nhiệt độ, áp suất độ mềm, độ nhớt )
b Màu sắc
Phần lớn các loài động vật, tinh dịch có màu trắng đục, trắng sữa và đôi khi cómàu vàng ngà hoặc trắng sữa hơi ánh xanh (như tinh dịch trâu) Độ đục của tinh dịchphản ánh nồng độ tinh trùng trong đó Tinh dịch có nồng độ tinh trùng loãng thường cómàu sáng Tinh dịch các loài gia súc khác nhau có màu sắc khác nhau: Tinh dịch bò cómàu trắng, đặc như sữa Cá biệt có màu vàng do Riboflavin trong thức ăn
- Tinh dịch ngựa có màu đục mờ hoặc trắng đục và được tạo thành 3 phần: Phần đầutiên là nước, chỉ chứa rất ít tinh trùng; phần thứ hai có màu sáng, chứa số lượng lớntinh trùng; phần thứ ba có dạng nhầy, là sản phẩm bài tiết của tuyến tiền liệt vàCowper
- Tinh dịch lợn có màu trắng trong hoặc trắng đục, có hàm lượng lớn gelatin, chứa một
số lớn những hạt vẩn, đóng cục lổn nhổn, có nguồn gốc từ tuyến Cowper Những hạtvẩn này được tụ lại dưới đáy bình khi tinh dịch được để yên tĩnh Trong giao phối tựnhiên, những hạt này được kết tụ trong âm đạo, tạo thành một khối đặc, hình nón cụtdài khoảng 15cm và thể tích khoảng 30ml Chính khối đặc này bịt lấp cổ tử cungkhông cho tinh trùng chảy ra ngoài sau khi giao phối
- Tinh dịch cừu có màu trắng sữa, đặc hơn tinh dịch bò Sự bất bình thường về màu sắc
Trang 27của tinh dịch có thể do các nguyên nhân bệnh lý hoặc thức ăn gây nên Người ta có thểcăn cứ vào màu sắc của tinh dịch để chẩn đoán tình trạng sinh lý đường sinh dục conđực
c Mùi
Bình thường tinh dịch có mùi hăng hoặc tanh đặc biệt
- Nếu có mùi khai, thường do bị lẫn nước tiểu
- Nếu có mùi hôi thối, thường do dường sinh dục bị viêm nhiễm
d Độ vẩn
Trong tinh dịch, tinh trùng luôn vận động Quá trình vận động của tinh trùng kéo
sự chuyển động của các thành phần khác có trong tinh dịch như: các hạt keo protein,
Trang 28keo lipit gây ra sự chuyển động hỗn độn tạo nên độ vẩn của tinh dịch
Căn cứ vào độ vẩn của tinh dịch có thể đánh giá nồng độ tinh trùng Người tathường sử dụng thang điểm ký hiệu bằng dấu cộng (+) để biểu thị độ vẩn của tinhdịch Ứng với mỗi mức độ biểu thị của dấu cộng là một mức độ biểu thị nồng độ củatinh trùng
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá nồng độ tinh trùng dựa vào độ
vẩn tinh dịch Mức độ biểu thị tinh
- Độ pH của tinh dịch: Độ pH của một chất lỏng được xác định bằng nồng độ ion
H+ có trong đó Số lượng ion H+ càng tăng thì chất lỏng đó càng toan và ngược lạithì kiềm tính Tinh dịch bình thường phải có pH bình thường, nếu pH quá cao hoặcquá thấp đều ảnh hưởng đến chất lượng của tinh dịch
Độ pH của tinh dịch thay đổi theo loài động vật:
- Tinh dịch bò chất lượng tốt có pH giao động từ 6,5 - 6,8 Nó có thể đạt tới trungtính và ngay cả hơi kiềm khi chất tiết của tuyến sinh dục phụ tăng
- Ở cừu, pH trung bình của tinh dich là 6,85 Nó trở nên kiềm ở những cá thể ít cókhả năng thụ thai hoặc vô sinh Tinh dịch có nồng độ tinh trùng cao thì độ axit caohơn và pH có thể đạt tới 5,9
Ở ngựa, pH của tinh dịch giao động từ: 6,2 7,8; ở lợn: 7,2 7,5; ở chó: 6,67 6,76; ở thỏ: 6,8 - 7,5 và ở gà: 6,8 - 8,4
-Sau khi ra khỏi cơ thể, nguồn năng lượng chính của tinh trùng dựa vào sự thủyphân đường Người ta nhận thấy rằng, những mẫu tinh dịch có nồng độ tinh trùng
Trang 29cao và giầu fructose thể hiện sự giảm pH nhanh chóng do sự tích tụ axit lactic saukhi phân giải fructose Như vậy, tốc độ tăng axit trong tinh dịch sau khi phóng ra có
ý nghĩa để đánh giá chất lượng tinh dịch Do đó, xác định pH có thể mang tới giá trị
bổ sung để đánh giá phẩm chất tinh dịch
Tuy nhiên, xác định giá trị pH ngay sau khi khai thác cũng có thề chẩnđoán được một số tình trạng bênh lý và dinh dưỡng của con đực:
- Trường hợp pH quá toan so với mức chung của loài có thể do đường sinh dục bịviêm nhiễm, quá trình viêm nhiễm sẽ sinh ra nhiều ton H+ làm cho pH giảm (phầnlớn do viêm nhiễm tuyến tiền liệt)
- Ngược lại, pH quá kiềm so với mức chung của loài có thể do khẩu phần ăn cónhiều thành phần thô gây nên Trong trường hợp này cần điều chỉnh khẩu phần ăncủa con giống cho phù hợp
f Độ nhớt và tỷ trọng
Độ nhớt của tinh dịch phụ thuộc vào nồng độ tinh trùng và nó có thể thay đổitrong một giới hạn rộng Theo Szumoski, độ nhớt trung bình của tinh dịch bò 3,74(so với giá trị là 1 được quy định bởi nước) Độ nhớt của tinh thanh là khá caotrong những loài có hiện tượng tạo thành các cục đông vón trong tinh dịch (ví dụ:lợn) và độ nhớt cũng bị thay đổi khi viêm nhiễm mào tinh và túi tinh
Độ nhớt của tinh dịch cũng phụ thuộc vào điện tích và tính dẫn điện Tỷ lệion K+ của tinh dịch bò rất cao và có thể đạt tới 400 mg/ ml Dựa vào độ nhớtcủa tinh dịch người ta có thể sơ' bộ đánh giá phẩm chất tinh dịch và tình trạng sinh
lý của cơ quan sinh dục
Tỷ trọng (trọng lượng riêng) trung bình của tinh dịch bò là 1,035, tinh dịch chó
là 1,011 Sự giao động tỷ trọng liên quan đến sự biến đổi tỷ lệ giữa tinh trùng và tinh
thanh Bởi vì, tinh thanh nhẹ hơn nhiều so với tinh trùng, cho nên, trên thực tế,người ta thấy rằng, trọng lượng riêng của tinh dịch tỷ lệ thuận với nồng độ tinhtrùng Những tinh dịch có trọng lượng riêng thấp nhìn chung là loãng, kém chất
Trang 30lượng và ngược lại.
2.2.2 Kiểm tra bằng kính hiển vi
a Hoạt lực của tinh trùng (A)
Hoạt lực của tinh trùng là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá phẩm chất tinh dịch.Chỉ tiêu này nói lên sức sống và khả năng vận động của tinh trùng sau khi ra khỏi cơthể Hoạt lực của tinh trùng được tính bằng tổng số tinh trùng còn khả năng vận độngtiến thẳng so với tổng số tinh trùng có trong tinh dịch Vận động tiến thẳng của tinhbao gồm: chuyển động tiến về phía trước, chuyển động xoay quanh trục thân tạo thànhvéc tơ hướng tới phía trước
Để đánh giá chỉ tiêu hoạt lực của tinh trùng, người ta thường sử dụng kính hiển
vi có độ phóng đại từ 200 - 600 lần Nhiều nước đã sử dụng kính hiển vi đặc biệt có lắp
hệ thống phóng hình lên màn ảnh để quan sát Phương pháp này cho độ chính xác caohơn
Hoạt lực của tinh trùng được đánh giá dựa vào thang điểm của Milovanop cụ thểnhư sau:
Bảng 2.3 Thang đi ểm đáng giá hoạt lực của tinh trùng
- Chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng phải được tiến hành kiểm tra ngay sau khi lấy tinh 15 phút
và ở nhiệt độ xấp xỉ nhiệt độ cơ thể Nếu tinh dịch được bảo tồn ở nhiệt độ thấp hoặckhai thác trong điều kiện khí hậu lạnh (mùa đông) thì trước khi kiểm tra phải đưa nhiệt
độ tinh dịch lên 37oC sau đó mới tiến hành kiểm tra
- Tinh dịch được coi là có chất lượng tốt phải có ít nhất 65 - 75% số tinh trùng vận
Trang 31động tiến thẳng Khi các lần phóng tinh liên tiếp, vận động của tinh trùng ở lần phóngtinh thứ 2 thường tết hơn lần phóng tinh thứ nhất.
* Chuẩn bị dụng cụ, thiết bị, tinh dịch
- Tinh dịch: Tinh dịch mới khai thác được sau khi đã lọc bỏ keo phèn
- Kính hiển vi: Sử dụng kính hiễn vi quang học có độ phóng đại 200 - 600 lần
Hình 2.2 Kính hiển vi và tinh dịch
- Lam kính, phiến kính
Hình 2.3 Lam kính
Trang 32Hình 2.4 Phiến kính
- Đũa thủy tinh
Hình 2.5 Đũa thủy tinh
* Phương pháp làm tiêu bản
Dùng đũa thủy tinh sạch, lấy một giọt tinh nhỏ lên một phiến kính sạch,dùng la men khô sạch đậy lên giọt tinh sao cho giọt tinh dàn mỏng, đều Đặt tiêubản lên kính hiển vi và xem ở độ phóng đại 160-600 lần Trong khi kiểm tra, tiêubản được sưởi ấm ở nhiệt độ 40-410C (ta có thể dùng máy ổn nhiệt để nâng nhiệtđộ)
Hình 2.6 Làm tiêu bản
* Nguyên tắc đếm
- Dựa vào số tinh trùng tiến thẳng để đếm, chỉ đếm những tinh trùng có trong vùngqui định
Trang 33- Cách đếm: Chúng ta cần đếm tinh trùng tiến thẳng trong 03 vùng đại diện trên vitrường, kết quả được bao nhiêu tinh trùng tiến thẳng ta ghi nhận.
- Không đếm lặp lại, không bỏ sót số tinh trùng tiến thẳng được xác định trong từngvùng
Hình 2.7 Tinh trùng trên vi trường
b Nồng độ tinh trùng (C)
Nồng độ tinh trùng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá phẩm chất tinh dịch Đốivới đực giống trong cùng một giống, tinh dịch của cá thể nào có nồng độ tinh trùngcao thì phẩm chất tinh dịch tốt và ngược lại
- Có nhiều phương pháp xác định nồng độ tinh trùng, trong đó phổ biến nhất làphương pháp: sử dụng buồng đếm hồng, bạch cầu
* Chuẩn bị dụng cụ
- Tinh dịch: Tinh dịch mới khai thác được sau khi đã lọc bỏ keo phèn
- Kính hiển vi: Sử dụng kính hiễn vi quang học có độ phóng đại 200 - 600 lần
- Buồng đếm: Dùng buồng đếm bạch cầu để xác định nồng độ tinh dịch:
Có nhiều kiểu buồng đếm bạch cầu nhưng về hình thể thì tương tự nhau, có cấutạo cơ bản giống nhau ở chỗ diện tích mỗi ô bé nhất của buồng đếm là:
S = 1/20 x 1/20mm ( S = 1/400 mm2)
Độ sâu của buồng đếm là h = 1/10mm
Trang 34Như vậy chúng ta đếm số tinh trùng ở 80 ô con, đó cũng chính là số tinh trùng
có trong 1/50 mm3 tinh dịch Từ đó ta có thể suy ra số tinh trùng có trong 1ml
Hình 2.8 Cấu tạo buồng đếm bạch cầu
- Ống pha loãng hồng bạch cầu
Hình 2.9 Ống pha loãng hồng bạch cầu
* Pha loãng và giết chết tinh trùng
- Dùng dung dịch NaCl 3% tinh khiết để pha loãng và giết chết tinh trùng
- Ống pha loãng hồng hoặc bạch cầu đã được vô trùng khô
- Lamelle kính mỏng để đậy lên mặt buồng đếm
Trang 35Tùy theo loài gia súc: Đối với lợn ta dùng buồng đếm bạch cầu (màu xanh), đối với trâu bò ta dùng ống hồng cầu (màu đỏ) Đây là phương phá khá chính xác
và được sử dụng khá phổ biến hiện nay
- Thao tác pha loãng:
+ Lắp lamelle kính đã được làm sạch, khô lên mặt buồng đếm
+ Dùng ống pha loãng bạch cầu hút tinh dịch đến vạch 0,5 (hoặc vạch l,0), sau
đó hút tiếp dung dịch NaCl 3% đến vạch 11
Chú ý: không được để có bọt khí trong ống pha loãng hồng, bạch cầu trong quátrình hút Nếu có bọt khí phải súc rửa sạch ống pha loãng và làm lại Bịt hai đầu ốngpha loãng bằng ngón tay cái và ngón giữa, lắc nhẹ từ 5-6 lần cho tinh dịch trộn đềuvới dung dịch NaCl 3%
+ Nếu hút tinh dịch đến vạch 0,5 thì mức độ pha loãng là 20 lần, nếu hút tinhdịch đến vạch 1,0 thì mức độ pha loãng 10 lần
- Đưa lên kính hiển vi có độ phóng đại từ 200 - 600 lần để đếm
* Đếm số tinh trùng
- Nguyên tắc đếm
+ Dựa vào đầu tinh trùng để đếm, chỉ đếm những tinh trùng có một trong các ôqui định
+ Không đếm lặp lại, không bỏ sót
+ Số tinh trùng được xác định trong từng ô bé là số tinh trùng có đầu nằm trongtrong từng ô đó và có đầu nằm bên cạnh bên phía bên trái và cạnh trên Số tinh trùng
Trang 36trong từng ô lớn được đếm theo theo thứ tự từ trên xuống theo hình zic-zac
bé (tương đương 1150 mm3) là n, thì số tinh trùng có trong lần tinh dịch pha loãng làn.50.l03 và nồng độ tinh trùng trong lần tinh nguyên là:
C = n.50.l03.20 = n.106 hay C = n 106
Như vậy, mỗi tinh trùng đếm được trong buồng đếm đại diện cho một triệu tinhtrùng trong 1ml tinh dịch
Đối với tinh dịch lợn người ta thường sử dụng ống pha loãng hồng cầu:
- Nếu hút tinh dịch đến vạch 0,5 sau đó hút dung dịch NaCl 3% đến vạch 11 thì
mức độ pha loãng tinh dịch là 200 lần
Công thức tính nồng độ tinh trùng là: C = n.50.200.l03= n.l07
Như vậy, mỗi tinh trùng đếm được sẽ đại diện cho 10 triệu tinh trùng trong 1 mltinh dịch
Trang 37- Nếu hút tinh dịch đến vạch 1,0 rồi sau đó hút dung dịch NaCl 3 % đến vạch 11 thì mức độ pha loãng là 100 lần.
Công thức tính nồng độ tinh trùng: C = n.50.100.l03= n.5.l06 và mỗi tinh trùngđếm được đại diện cho 5 triệu tinh trùng trong 1 ml tinh dịch
c Tỷ lệ kỳ hình (K%)
- Tinh trùng kỳ hình là những tinh trùng có hình thái không bình thường
Ví dụ: Tinh trùng bị cụt đầu, cụt đuôi, bẹp đầu, hai đầu
- Những tinh trùng kỳ hình không có khả năng thụ thai
Có nhiều nguyên nhân gây ra kỳ hình của tinh trùng và hiện tượng kỳ hình củatinh trùng chủ yếu xuất hiện ở hai giai đoạn sau:
- Giai đoạn sinh sản: Chủ yếu do các tác nhân bệnh lý hoặc do yếu tố dinh dưỡng(Thiếu protein, các axit quan thiết yếu, vitamin ), khí hậu (mùa vụ, nhiệt độ), thờigian ngừng hoạt động sinh dục kéo dài, một số tác động của di truyền, những rối loạn
về sinh sản, thiếu kích tố tuyến giáp và chăm sóc, quản lý kém
- Giai đoạn xuất tinh: Chủ yếu do các tác nhân ngoại cảnh, như là các tác nhân cơ, lý,hóa học, kỹ thuật khai thác và bảo tồn tinh dịch (bảo tồn ở nhiệt độ cao 46oC), sự thayđổi pH và sự biến động của áp suất thẩm thấu trong thời gian bảo tồn
- Tỷ lệ kỳ hình là một chỉ tiêu đánh giá phẩm chất của tinh dịch Chỉ những tinh trùngcòn nguyên hình thái mới có khả năng thụ thai Thông qua việc xác định chỉ tiêu này
có thể cho phép đánh giá về tình trạng bệnh lý, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý,chế độ sử dụng và kỹ thuật khai thác
* Một số dạng kỳ hình thường thấy ở tinh trùng
- Kỳ hình đầu: Thường thấy ở dạng cụt, bẹp, méo hoặc có hai đầu, đầu to không bìnhthường, vị trí hoặc cấu trúc của thể acrosome bị thay đổi
- Kỳ hình cổ: Thường thấy ở dạng vẹo cổ, gãy cổ hoặc có hai cổ, cổ to quá hoặc bị thungắn lại
Trang 38Hình 2.11 Một số dạng kỳ hình của tinh trùn
* Phương pháp xác định tỷ lệ kỳ hình
- Nhỏ một giọt tinh dịch lên phiến kính sạch, khô (nếu tinh dịch có nồng độ đậm đặcthì pha thêm vài giọt dung dịch NaCl 0,85% hoặc dung dịch Natri xitrat 2,9%) - Trộnđều hỗn hợp này bằng đũa thủy tinh, dùng cạnh của một phiến kính khác phiết nhẹ vàdàn mỏng giọt tinh dịch (lưu ý thao tác phải nhẹ nhàng, đều tay, tránh chà xát nhiềulần)
- Để cho lớp tinh dịch khô trong không khí (tuyệt đối không được làm khô bằng hìnhthức hơ nóng trên ngọn lửa), sau đó hơ qua phiến kính trên ngọn lửa đèn cồn để cốđịnh tiêu bản
- Nhuộm tiêu bản bằng thuốc nhuộm xanh methylen (có thể đỏ fuchsine, gíemsa hoặctím violet)
- Đợi vài phút cho thuốc nhuộm thấm vào tinh trùng (mùa hè: 5-7 phút; mùa đông: 10
- 15 phút), rồi đem rửa tiêu bản bằng nước sạch
* Chú ý:
- Khi rửa nên dùng ống hút hút nước và nhỏ từng giọt vào tiêu bản, tránh giội mạnh
- Không được rửa trắng hết tiêu bản, rửa đến khi thấy tiêu bản còn màu nhạt của thuốcnhuộm thì dừng lại
- Đợi tiêu bản khô, đem quan sát trên kính hiển vi có độ phóng đại 400-600 lần
Trang 39- Để đánh giá về tỷ lệ kỳ hình, người ta phân vi trường thành ô để đếm và tính tỷ lệ kỳhình ít nhất trên 500 tinh trùng đếm được.
- Tiêu chuẩn về tỷ lệ tinh trùng kỳ hình cho phép ở lợn là: K < 10%
d Kiểm tra sức kháng tinh trùng (R)
Sức kháng là sức đề kháng của tinh trùng trong một dung dịch không đẳng trương.
Người ta thường dùng nước muối 1% để kiểm tra và đánh giá lượng dung dịch cầnthiết pha loãng 1 đơn vị tinh dịch đến khi toàn bộ tinh trùng ngừng hoạt động tiếnthẳng
* Phương pháp kiểm tra
- Đối với lợn nội:
+ Dùng 2 lọ thủy tinh có dung tích 10 ml Rót 5ml dung dịch NaCl 1% (t0 =
350C) vào lọ thứ nhất, rót 0,5ml dung dịch NaCl 1% vào lọ thứ hai, dùng ống hút vilượng lấy 0,01ml tinh dịch nguyên vào lọ thứ nhất, khẽ lắc cho tinh dịch hòa đềutrong lọ Tinh dịch này được pha loãng 500 lần Dùng ống hút 1-2ml, hút 0,5ml hỗnhợp ở lọ thứ nhất cho sang lọ thứ hai, khẽ lắc; ở lọ thứ 2 tinh dịch được pha loãng
1000 lần
+ Dùng đũa thủy tinh lấy một giọt hỗn hợp trong lọ thứ 2, kiểm tra trên kínhhiển vi Nếu thấy tinh trùng cò tiến thẳng thì thêm 0,1ml dung dịch NaCl 1% vào lọthứ 2 (độ pha loãng lúc này là 1100) và kiểm tra lại Công việc cứ tiếp tục như thế chođến khi tinh trùng ngừng tiến thẳng
- Đối với lợn ngoại: