Để thực hiện giảng dạy có hiệu quả, phù hợp với đối tượng học viên và đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo. Bài giảng “ Phối giống nhân tạo lợn” được biên soạn với nhiều nội dung kiến thức, kỹ năng mới giúp người học áp dụng được vào thực tiễn sản xuất. Tài liệu bao gồm bảy bài: Bài 1. Mở đầu Bài 2. Khai thác tinh dịch Bài 3. Pha chế tinh dịch Bài 4. Bảo quản tinh dịch Bài 5. Chuẩn bị phối giống Bài 6. Dẫn tinh cho lợn Bài 7. Theo dõi lợn nái sau dẫn tinh
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ
-NÔNG VĂN TRUNG
BÀI GIẢNG
MÔ ĐUN: PHỐI GIỐNG NHÂN TẠO LỢN
(Tài liệu lưu hành nội bộ dùng cho trình độ trung cấp nghề
Chăn nuôi GSGC)
Phú Thọ, năm 2015
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho vật nuôi đã rất phát triển và phổ biếnrộng rãi trên toàn thế giới Đây là một bước tiến quan trọng trong khoa học kỹ thuậthiện đại nói chung và trong lĩnh vực chăn nuôi nói riêng Kỹ thuật thụ tinh nhân tạocho vật nuôi đã và đang mang lại những lợi ích kinh tế kỹ thuật to lớn mà phươngpháp giao phối tự nhiên không thể có được
Để thực hiện giảng dạy có hiệu quả, phù hợp với đối tượng học viên và đáp ứngyêu cầu của chương trình đào tạo Bài giảng “ Phối giống nhân tạo lợn” được biênsoạn với nhiều nội dung kiến thức, kỹ năng mới giúp người học áp dụng được vàothực tiễn sản xuất
Tài liệu bao gồm bảy bài:
Bài 1 Mở đầu
Bài 2 Khai thác tinh dịch
Bài 3 Pha chế tinh dịch
Bài 4 Bảo quản tinh dịch
Bài 5 Chuẩn bị phối giống
Bài 6 Dẫn tinh cho lợn
Bài 7 Theo dõi lợn nái sau dẫn tinh
Tài liệu do ông Nông Văn Trung chủ biên cùng sự tham gia đóng góp ý kiếncủa tập thể thầy (cô) Khoa Nông lâm - Ban giám hiệu nhà trường Biết rằng với hiểubiết có hạn nên bài giảng chắc chắn sẽ có nhiều sai sót, vì vậy rất mong nhận đượcgóp ý của đồng nghiệp và bạn đọc gần xa để bài giảng được hoàn thiện hơn
MỤC LỤC
Trang 3Bài 1 MỞ ĐẦU
1 Khái niệm về phối giống nhân tạo
Trong tự nhiên, chúng ta thường bắt gặp hiện tượng những con đực và concái gặp gỡ nhau, giao phối với nhau để đẻ ra động vật non Về hình thức đó, là biểuhiện sinh lý bình thường của động vật để duy trì nòi giống Hoạt động sinh dục đểtạo ra đời sau được thực hiện dựa trên các phản xạ sinh dục mang tính chất tự nhiên
và được di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Bản chất của hoạt động duy trì nòigiống đó là sự gặp gỡ và đồng hóa lẫn nhau giữa các giao tử đực và cái để tạo thànhhợp tử, hợp tử sẽ phát triển thành phôi, thai và trở thành động vật non
Phối giống nhân tạo là quá trình đưa tinh trùng đến gặp trứng ở vị trí và thờigian thích hợp bằng các dụng cụ đặc biệt, do con người thực hiện để xảy ra quátrình thụ tinh, hoặc là đưa trứng đã được thụ tinh từ cơ thể động vật cái này chuyểnsang cơ thể động vật cái khác mà làm cho trứng đó vẫn phát triển bình thường, cuốicùng sinh ra động vật non Quá trình này được thực hiện dựa trên các học thuyếtkhoa học về sinh lý sinh trướng, phát triển, sinh lý sinh sản, các học thuyết về gen,
di truyền của cơ thể con đực và con cái
Như vậy, phối giống nhân tạo là quá trình nhân giống động vật có sự can thiệpcủa con người vào một số công đoạn trong hoạt động sinh lý sinh sản của động vậtphối giống nhân tạo hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: Thụ tinh nhân tạo, cấy truyềnphôi, cắt phôi, thụ tinh trong ống nghiệm, nhân bản gen Các kỹ thuật này cho phépkhai thác tối đa khả năng sản xuất của những con đực và con cái ưu tú phục vụ lợiích của con người
2 Cơ sở khoa học của phối giống tạo
Truyền giống nhân tạo là một phương pháp nhân giống hữu tính động vật,
nó được dựa trên các lý thuyết khoa học khoa học sau:
2.1 Lý thuyết về thụ tinh
Bản chất của thụ tinh ở động vật là sự gặp gỡ, đồng hóa lẫn nhau giữa tinh
Trang 4trùng và trứng ở vị trí và thời điểm thích hợp để tạo thành hợp tử, hợp tử phát triểnthành phôi, thai và sau một khoảng thời gian nhất định thai được hoàn thiện để trởthành cơ thể động vật non.
Dựa vào bản chất của sự thụ tinh, người ta hoàn toàn có thể tạo ra động vật nonkhi cho tinh trùng và trứng gặp gỡ nhau ở điều kiện thích hợp mà không cần sựtham gia của con đực vào quá trình đưa tinh trùng đến gặp trứng Điều đó có nghĩa
là con người có thể làm thay một phần của con đực trong phản xạ giao phối
2.2 Lý thuyết về sự phát triển của phôi
Trứng sau khi được thụ tinh trở thành hợp tử, hợp tử phát triển thành phôi và dichuyển đến tử cung làm tổ Từ đây, quan hệ giữa cơ thể mẹ và phôi, thai đượcthiết lập: cơ thể mẹ cung cấp chất dinh dưỡng và đào thải những chất cặn bã làsản phẩm trao đổi chất của phôi, thai ra ngoài Ở giai đoạn này, cơ thể mẹ không
có ảnh hưởng gì đến đặc điểm di truyền của phôi
Dựa trên hiểu biết về sự phát triển của phôi, người ta hoàn toàn có thể lấy phôi
ra từ một cơ thể mẹ này, có thể nuôi dưỡng phôi trong môi trường có điều kiệntương tự như môi trường tử cung con mẹ đó và cấy truyền vào con cái khác có chu
kỳ động dục đồng pha với con cái cho phôi hoặc tuổi của phôi để sản sinh ra đời conmang toàn bộ đặc tính di truyền của con bố và con mẹ sinh ra phôi
3 Lợi ích và ý nghĩa của truyền giống nhân tạo
Trong thực tiễn, vì lợi ích của mình, con người luôn tìm các biện pháp kỹthuật tác động vào vật nuôi nhằm khai thác tối đa sức sản xuất của động vật, đápứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu phong phú và đa dạng của con người Phốigiống nhân tạo cũng không nằm ngoài mục đích đó Đến nay, người ta hoàn toànthừa nhận vai trò tích cực của truyền giống nhân tạo bởi vì, truyền giống nhân tạo
đã mang lại những lợi ích về kinh tế, kỹ thuật mà sinh sản tự nhiên không thể nào sosánh được Lợi ích của truyền giống nhân tạo được thể hiện trên các khía cạnh sau:
- Nhanh chóng nâng cao tiến bộ di truyền của con đực và con cái tốt cho đời sau, gópphần nâng cao phẩm giống vật nuôi một cách tết nhất, nhanh nhất, kinh tế nhất
Trang 5thông qua việc tăng nhanh số lượng và chất lượng đàn con sau mỗi lứa đẻ.
- Nâng cao sức sản xuất, tăng cường khả năng chống chịu của vật nuôi với điềukiện bất lợi
- Nâng cao hiệu quả kinh tế của chăn nuôi do giảm được một số lượng lớn đựcgiống phải nuôi
Ví dụ: Trong thụ tinh tự nhiên, 1 lợn đực giống chỉ đảm bảo phối giốngtối đa cho 50 lợn cái, nhưng với truyền giống nhân tạo, 1 lợn đực giống có thểđảm nhận được 500 lợn cái Như vậy, chi phí thức ăn nuôi lợn đực giống giảm 10lần, chi phí chuồng nuôi, công chăm sóc, vệ sinh thú y đều giảm dẫn đến giảmgiá thành sản phẩm chăn nuôi
- Tạo thuận lợi cho công tác lai tạo, nhất là khi cần lai tạo giữa con đực có khốilượng quá lớn so với con cái hoặc giữa các giống không có phản xạ sinh dục vớinhau
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển động vật giữa các vùng sinh tháikhác nhau
- Ngăn ngừa một số bệnh lây lan qua đường sinh dục
4 Sơ lược lịch sử phát triển của truyền giống nhân tạo
4.1 Lịch sử phát triển của thụ tinh nhân tạo
Thụ tinh nhân tạo ở động vật được người Ả Rập tiến hành từ năm 1332 Nhưngmãi đến năm 1779, sau khi nhà sinh lý học người Italia Lauro SpHnllazani tiến hànhđưa tinh dịch chó vào âm đạo một chó cái, sau 62 ngày sinh ra 3 chó con, người tamới coi đó là cái mốc lịch sử đầu tiên về sự phát.triển môn truyền giống nhân tạo.Hơn một thế kỷ sau , Sir Everett Millais (1884) và Abbrecht (1894) đã lặp lại nhiềulần thí nghiệm của Lauro SpHnllazani và cho kết quả tương tự
Năm 1890, Repiquet (Pháp) đã thụ tinh nhân tạo thành công trên ngựa, trong khi đó ở Đức, Hoffman đã mô tả chi tiết dụng cụ cần thiết và kỹ thuật thụ tinh nhântạo ở động vật
Năm 1912, Ivanop (Liên xô cũ) đã thụ tinh nhân tạo thành công cho 31/39
Trang 6ngựa cái và sau đó không lâu, ông đã tiến hành thụ tinh nhân tạo cho bò và cừu.Cũng trong thời gian này, cùng với Milovanop, Kuznetscova và Selivanova, Ivanop
đã bắt đầu sử dụng âm đạo giả để khai thác tinh dịch và công bố các nghiên cứu vềđặc điểm sinh lý tinh dịch
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho động vật từ sau năm 1930 được phát triển ởnhiều nước trên thế giới: ở Nga năm 1938, đã thụ tinh nhân tạo cho 120 nghìn ngựa,1,2 triệu con bò và 15 triệu con cừu ở.Dinạmarca năm 1936, Sorensen đã thành lậphợp tác xã thụ tinh nhân tạo Ngay sau năm' đầu tiên thành lập, hợp tác xã này đãthụ tinh nhân tạo cho 1.700 bò với kết quả thụ thai đạt được đạt tới 59% Nước Mỹ
áp dụng thụ tinh nhân tạo vào năm 1938, nhưng thụ tinh nhân tạo chỉ thật sự pháttriển sau đại chiến thế giới lần 2 và chủ yếu được áp dụng trên bò
Sau năm 1945, các nước trên thế giới đã áp dụng thụ tinh nhân tạo cho nhiềuloại gia súc khác nhau Những nước áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhiều trên lợn phải kểđến: Nhật Bản, Pháp, Na Uy, Thụy Sỹ, Bỉ Đồng thời với việc áp dụng rộng rãi
kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, nhiều nước đã triển khai xây dựng các phòng thí nghiệmnghiên cứu sâu về sinh lý sinh sản, thành phần và cấu tạo của môi trường pha loãng,bảo tồn tinh dịch
Từ năm 1960 trở lại đây, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về tính chấtvật lý, hóa học của tinh dịch các loài động vật; tuổi thành thục về tính và thờigian sử dụng; môi trường pha loãng và bảo tồn tinh dịch; bội số pha loãng, liềudẫn và số lượng tinh trùng cần thiết trong một liều dẫn; nghiên cứu các phươngpháp bảo tồn tinh dịch, đặc biệt là bảo tồn ở dạng đông lạnh
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thực sự được coi là biện pháp truyền giống tiên tiến
và áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước tư bản lớnnhư: Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, các nước Đông Âu và Liên Xô cũ Kỹ thuật thụ tinhnhân tạo cho bò đã đạt được nhiều thành công lớn cả trên lĩnh vực khoa học vàkinh tế Hiện nay, kỹ thuật này được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới Vớiphương pháp bảo tồn tinh dịch bò ở dạng đông lạnh, người ta có thể kéo dài thờigian sống của tinh trùng từ 1020 năm và có thể vận chuyển đi xa hàng vạn
Trang 7kilômét Nhờ sự tiến bộ của kỹ thuật bảo tồn tinh dịch, có nước đã thành lập cácngân hàng tinh dịch nhằm dự trữ và cung cấp các giống quý hiếm có sức sản xuấtcao.
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho bò kỹ thuật thụ tinhnhân tạo ở lợn cũng có những bước phát triển nhanh Nhiều nước trên thế giới đã ápdụng khá phổ biến kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trên lợn Ở Cộng hòa dân chủ Đứctrước đây, có tới 70% số lợn nái được phối giống bằng thụ tinh nhân tạo; ở Nhật cótới 80% lợn nái được thụ tinh nhân tạo
Ngoài ra, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cũng được áp dụng trên nhiều loài động vật
khác nhau như: trâu, ngựa, dê, cừu, thỏ, gia cầm, cá
Ở Việt nam, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo được áp dụng từ năm 1958, chủ yếu làđối với lợn Từ năm 1960, do yêu cầu của sản xuất và được sự giúp đỡ của chuyên giaLiên xô (cũ), công tác thụ tinh nhân tạo được nghiên cứu có hệ thống và phát triểnmạnh mẽ hơn Các cơ sở thụ tinh nhân tạo đã được thành lập ở một số vùng: GiaLâm, Văn Điển, Thụy Phương Cho đến nay, xuất phát từ thực tế sản xuất và tiếpthu các thành tựu khoa học trên thế giới, công tác thụ tinh nhân tạo ở Việt nam đãđạt được một số kết quả nhất định:
- Đối với lợn: Đã nghiên cứu quá trình hình thành khả năng thụ thai của tinh trùnglợn đực thời gian bắt đầu sử dụng, niên hạn và chế độ sử dụng, chế độ nuôi dưỡng,chăm sóc, phương pháp lấy tinh, kiểm tra phẩm chất tinh dịch, môi trường phaloãng và bảo tồn tinh dịch; phát hiện động dục ở lợn cái, xác định thời điểm phốigiống thích hợp, liều phối và số lượng tinh trùng trong một liều phối, các dụng cụdẫn tinh
- Đối với trâu, bò: Đã tiến hành thụ tinh nhân tạo cho trâu, bò; nghiên cứu các đặcđiểm sinh hóa học của tinh dịch trâu, bò; các môi trường pha loãng, bảo tồn tinhdịch và phương pháp bảo tồn tinh dịch ở dạng đông lạnh Ngoài ra, công tác thụtinh nhân cho các loài gia súc, gia cầm khác cũng được đẩy mạnh
4.2 Lịch sử phát triển của cấy truyền phôi
Trang 8Cấy truyền phôi được coi như kỹ thuật thụ tinh nhân tạo đối với động vậtcái Thật vậy, cấy truyền phôi cho phép khai thác tối đa khả năng sinh sản của concái ưu tú và nâng cao tiến bộ di truyền của con mẹ trong đàn giống như thụ tinhnhân tạo đã cho phép khai thác tối đa sức sản xuất và tính trạng tốt của con đực Tuy
kỹ thuật cấy truyền phôi được hình thành sau kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, nhưng nócũng đóng góp đáng kể vào công tác truyền giống nhân tạo
Vào năm 1890, trong một thông báo ở Hội Hoàng gia Anh, lán dầu tiên Heape
đã công bố sự thành công việc cấy truyền trứng thỏ đã được thụ tinh ở giai đoạn2-4 tế bào Các trứng này sau khi được cấy truyền đã phát triển bình thường vàkhông bị ảnh hưởng bởi các tính trạng di truyền của con cái nhận trứng Vào năm
1897, chính tác giả của thí nghiệm trên đã lặp lại thí nghiệm này và đã thu được cáckết quả tương tự
Vào thời kỳ này, thông tin về cấy truyền phôi không mang lại một ý nghĩa gìđặc biệt và bị lãng quên trong một thời gian dài
Đến năm 1929, ở Cambride, Pincus, Hammond và Walton đã xem xét lại vấn
đề này, sau đó Nicolas đã tiến hành nghiên cứu cấy truyền phôi trên chuột cái và đãnhấn mạnh sự cần thiết để đảm bảo kết quả cấy truyền là sự đồng pha về chu kỳđộng dục giữa con cái cho và con cái nhận phôi Vấn đề đồng pha về chu kỳ độngdục đã được xem xét một cách chuyên biệt trong nghiên cứu của Chang
Những thử nghiệm đầu tiên về cấy truyền phôi trong chăn nuôi có từ năm1932.Warwick và Berry đã tiến hành cấy truyền phôi trên dê Tuy nhiên, cần phảichờ đợi đến cuối đại chiến thế giới lần 2 (1940 - 1945 ), vấn đề cấy truyền phôi mớiđược nhắc lại và được nghiên cứu một cách hệ thống cả ở động vật trong phòng thínghiệm và cả trong chăn nuôi
Yếu tố quan trọng kích thích nghiên cứu này là sự tranh luận về khả nănggây siêu bài ngàn dưới sự kích thích của các hormon sinh dục: FSH và PMSG
Những kiến thức đầu tiên về cấy truyền phôi bò đã thu được ở Wisconsin
vào năm 1951 Trên cơ sở đó, dưới dự hướng dẫn và xúc tiến của Hammond, rồi
Trang 9đến Rowson tổ chức sinh sản động vật Cambride có ý tưởng thực sự nghiên cứu vềcấy truyền phôi trong chăn nuôi Ngày nay, cấy truyền phôi đã đạt được một cáchhiệu quả không chỉ ở các động vật trong phòng thí nghiệm mà còn ở nhiều loài độngvật khác: bò, cừu, dê, ngựa, lợn, chó Và trong những thập niên gần đây, kỹ thuậtnày đã trở thành lĩnh vực thương mại ở nhiều nước Chỉ riêng ở Mỹ, năm 1978 đã
có 10.000 con bê được sinh ra bằng kỹ thuật cấy truyền phôi
Phương pháp cấy truyền phôi cũng được áp dụng trong nhân y Trứng đượcđược thụ tinh ngoài cơ thể, sau đó được cấy vào cơ quan sinh dục của một phụ nữvừa kết thúc quá trình động dục, phôi được cấy vào hoàn chỉnh quá trình phát triểncủa nó trên cơ thể của một phụ nữ khác
Ngày nay, người ta khẳng định một cách chắc chắn là cấy truyền phôi khôngnhững chỉ mang lại lợi ích to lớn trên phương diện khoa học mà còn có tầm quantrọng đặc biệt trong thực tiễn Về mặt lý thuyết, cấy truyền phôi ở con cái cũnggiống như thụ tinh nhân tạo ở con đực,cho phép khai thác tối đa các đặc tính ditruyền tốt ở cả con bố và con mẹ Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng việc triểnkhai kỹ thuật cấy truyền phôi còn có nhiều khó khăn, hạn chế Về phương diện kỹthuật, kỹ thuật cấy truyền phôi cho phép phân tích một cách sâu sắc hơn nhữngvấn đề về sinh lý sinh hóa, di truyền sinh sản Các vi xử lý phôi cho phép đánh giátốt hơn những hiện tượng thành thục và thụ tinh của trứng, phân biệt sớm giới tínhcũng như làm thuận lợi cho sự sinh đẻ giới tính theo ý muốn bằng hệ thống sinh sản
vô tính và sinh đôi cùng trứng
Trên phương diện chăn nuôi, cấy truyền phôi góp phần sử dụng tối đa nhữngcon cái giống ưu tú cũng như là sự thụ tinh nhân tạo đã cho phép khai thác và sửdụng tối đa tinh dịch của của con đực giống tốt Số tế bào sinh dục cái là rất nhiềunhưng ít được sử dụng Cấy truyền phôi là một biện pháp hiệu quả để phổ biến nhữngtiến bộ di truyền của con mẹ trong quần thể, làm tăng cường mức độ chọn lọc của cáccon mẹ với con bố do làm tăng số lượng đời con sinh ra của một gia súc mẹ Nhữngtiến bộ kỹ thuật hiện hữu và đặc biệt sự sử dụng những phôi đông lạnh là cách đơngiản để nhập khẩu những giống ngoại vào một đất nước Kỹ thuật này cho phép làm
Trang 10giảm khó khăn về sự thích ứng của động vật sống khi vận chuyển trong những vùng'sinh thái khác nhau Nó cũng có thể được sử dụng cho sản xuất những con bê thịttrong đàn bò sữa, đồng thời cho phép sử dụng trứng của những con cái chất lượng tốtnhưng bị loại thải vì những lý do khác nhau Những triển vọng khác nhau này phảiđược xem xét một cách thực tế, nó sẽ chỉ được khẳng định dần dần khi kỹ thuật (chủyếu là kỹ thuật làm đông lạnh) được thiết lập một cách chắc chắn và giá trị sản phẩmcao hơn chi phí sản xuất.
Bài 2 KHAI THÁC TINH DỊCH
Mục tiêu: Học xong bài này người học có khả năng:
- Chuẩn bị được dụng cụ, hoá chất liên quan đến việc khai thác tinh dịch.
- Thực hiện được việc khai thác tinh dịch theo yêu cầu kỹ thuật.
Hình 2.1 Giá nhảy
- Găng tay: Sử dụng găng tay cao su
Trang 11Hình 2.2 Găng tay cao su
- Lọ hứng tinh: Sử dụng cốc thủy tinh có chia vạch ml, dung tích 250 ml
Hình 2.3 Cốc hứng tinh
- Giấy lọc: Dùng giấy lọc tinh hoặc vải màn
Trang 12Hình 2.4 Giấy hoặc vải màn lọc tinh
- Lợn đực giống: Đã huấn luyện thành thục nhảy giá xuất tinh
Hình 2.5 Lợn đực giống
1.2 Chuẩn bị hoá chất
- Sử dụng dung dịch sát trùng để diệt vi sinh vật
Trang 13- Vệ sinh hóa học: Sử dụng dung dịch sát trùng để diệt vi sinh vật.
b Vệ sinh giá nhảy
- Vệ sinh cơ học: Làm sạch phân, đất, cát trên giá nhảy
- Vệ sinh hóa học: Sử dụng dung dịch sát trùng để diệt vi sinh vật
2 Cho đực giống nhảy giá
2.1 Tiếp cận đực giống
- Tiếp cận đực giống từ từ, nhẹ nhàng, hạn chế stress ở mức thấp nhất cho đực giống
- Cần có những cử chỉ động viên đực giống trước khi đưa đi khai thác tinh
- Không nên hoặc hạn chế thay đổi người tiếp cận và khai thác tinh đực giống
Trang 14- Hạn chế thay đổi màu sắc quần áo ở các buổi khai thác tinh khác nhau.
2.2 Bố trí cho đực giống nhảy giá
- Không cho lợn ăn no trước khi phối giống
- Cho đực làm quen với nơi huấn luyện và giá nhảy
- Cho lợn tiếp xúc với giá nhảy
- Tạo phản xạ và kích thích tính hăng cho lợn bằng những kích thích như tiếng động,xoa bóp Nếu thuận tiện và cần thiết thì có thể dùng một lợn cái để làm mồi để kíchthích lợn đực
- Khi lợn đực đã có phản ứng ham muốn đưa con cái lên trên giá nhảy hoặc nhốt phíadưới giá và tiếp tục làm những động tác hay tạo những âm thanh kích thích tính hammuốn nhảy lên giá của con đực Sau khi lợn đực đã nhảy giá và chúng ta lấy được tinhdựa vào lợn cái mồi thì những lần sau cố gắng hạn chế dùng lợn cái mồi
- Giá nhảy có thể tẩm những chất kích thích tính dục của con đực như: nước tiểu, chấttiết của lợn cái động dục hay tinh dịch của con lợn đực khác hoặc các chất kích thíchtổng hợp
- Khi lợn đực đã đi quanh giá nhảy, người huấn luyện hãy làm những động tác hay tạonhững âm thanh kích thích tính ham muốn nhảy lên giá của con đực
Hình 2.8 Bố trí cho đực giống nhảy giá
3 Thực hiện lấy tinh đực giống
Trang 153.1 Các yêu cầu cơ bản khi khai thác tinh dịch
Có nhiều phương pháp và kỹ thuật khai thác tinh dịch lợn khác nhau tuy nhiêncần chú ý những yêu cầu cơ bản sau:
- Phải khai thác hết tinh dịch của con đực trong 1 lần khai thác
- Nếu không khai thác hết nó sẽ gây ra 2 hiện tượng:
+ Lãng phí tinh dịch
+ Phản xạ tính dục của con đực bị ảnh hưởng, làm mất khoái cảm sinh dục, dẫnđến làm mất phản xạ có điều kiện đã được tạo nên
- Đảm bảo phẩm chất của tinh dịch
+ Để đạt được về số lượng và chất lượng thì phải đảm bảo các điều kiệnsống, sinh lý, chế độ khai thác con đực Sau khi khai thác xong thì phải đảm bảođiều kiện sống cho tinh trùng khi ra ngoài cơ thể đặc biệt là không được có các tạpkhuẩn, các chất sinh học gây ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng Phải tránh lâylan các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng thông qua khai thác tinh dịch
- Có những chú ý sau về khâu vệ sinh trong quá trình khai thác tinh dịch:
+ Dụng cụ khai thác tuyệt đối vô trùng
+ Không được khai thác tinh dịch của gia súc ốm, bị bệnh
+ Phải tắm rửa con đực trước mỗi lần khai thác tinh dịch
+ Vệ sinh sạch sẽ giá nhảy, phòng lấy tinh
+ Nhân viên lấy tinh dịch phải cố định và không mắc các bệnh truyền nhiễm
- Không được gây ảnh hưởng thô bạo đến cơ quan sinh đực
- Dụng cụ an toàn cho cơ quan sinh dục gia súc, dễ thao tác, dễ kiếm và giá thànhhạ
3.2 Thực hiện lấy tinh
a Kích thích dương vật
Dùng tay kích thích vào bao dương vật để lợn đực hưng phấn, nhảy lên ômgiá nhảy Khi dương vật của lợn đực bắt đầu thò ra, dùng lòng bàn tay nắm nhẹ vàođầu dương vật (đoạn xoắn mũi khoan) và lái cho qui đầu lệch ra ngoài giá nhảy.Lúc này dương vật của lợn đực sẽ giao cấu trong lòng bàn tay Bàn tay của người
Trang 16khai thác tinh cần nắm nhẹ dương vật (giữ nguyên tư thế, vị trí của lòng bàn tay),các ngón tay hơi cử động nhẹ để gây kích thích
- Khi hứng tinh phải để cho tinh dịch chảy nhẹ vào thành lọ
Hình 2.9 Khai thác tinh dịch lợn
Ưu điểm khai thác tinh bằng tay:
- Không cần nhiều trang thiết bị, dụng cụ
Trang 17- Người khai thác tinh dịch có thểquan sát trực tiếp được các pha trong quá trìnhxuất tinh, từ đó đưa ra quyết định hứng tinh ở"pha" nào là tết nhất, đặc biệt trongquá trình khai thác tinh dịch lợn.
Nhược điểm khai thác tinh bằng tay:
- Cần có sự luyện tập và thích ứng của động vật
- Dễ bị nhiễm bẩn cơ quan sinh dục hoặc lây truyền bệnh cho người khai thác tinhdịch nếu không vô trùng tết hoặc các dụng cụbảo hộ không đảm bảo an toàn vệsinh
- Kích thích không gây khoái cảm cho con đực dễ gây ức chế khó xuất tinh và tinhdịch thu được có số lượng và chất lượng tinh trùng thấp
4 Kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật tinh dịch
4.1 Kiểm tra màu sắc và độ pH
Trang 18Hình 2.11 Găng tay
- Giấy quỳ và bảng so màu: Khi nhúng mảnh giấy quỳ vào dung dịch, nếu màu giấyquỳ giữ nguyên màu tím thì dung dịch đó trung tính, nếu ngả sang màu xanh thì dungdịch đó mang tính kiềm, nếu chuyển sang màu đỏ thì dung dịch đó mang tính axit
Hình 2.12 Giấy quỳ tím
b Xác định màu sắc
* Phương pháp dùng giấy quỳ và hệ thống bảng so màu
Chuẩn bị giấy quỳ sau đó dùng đũa thủy tinh nhỏ một giọt tinh nguyên lêngiấy quỳ, màu của giấy quỳ sẽ thay đổi, ta so sánh với màu chuẩn trên bảng so mau
ta sẽ có kết quả (chú ý kết quả chỉ đọc trong vòng 2-3 giây nếu để lâu, kết quả sẽkhông chính xác)
- Màu sắc tinh dịch: Màu sắc tinh dịch quyết định bởi nồng độ của tinh trùng và
các hạt lipoit có trong tinh dịch Xác định được màu của tinh dịch ta có thể sơ bộbiết được phẩm chất của tinh dịch, màu sắc càng đậm thì nồng độ tinh trùng càngcao
- Màu bình thường: Tinh dịch lợn có màu trắng xám
Trang 19- Màu khác thường:
Màu đỏ: có thể là do lẫn máu (khi ta lấy tinh làm dương vật bị xây xát) Màu xanh lam: thường do lẫn mủ, nó thường xảy ra trong các trường hợp giasúc bị viêm nhiễm đường sinh dục
Màu vàng: thường do lẫn nước tiểu
Màu đen: thường do lẫn phân hoặc các chất bẩn
Chúng ta chỉ được phép sử dụng những mẫu tinh có màu bình thường, còntất cả các mẫu tinh có màu khác thường thì không được sử dụng
c Xác định độ pH
- Độ pH của tinh dịch: Độ pH của một chất lỏng được xác định bằng nồng độ ion
H+ có trong đó Số lượng ion H+ càng tăng thì chất lỏng đó càng toan và ngược lạithì kiềm tính Tinh dịch bình thường phải có pH bình thường, nếu pH quá cao hoặcquá thấp đều ảnh hưởng đến chất lượng của tinh dịch Tinh dịch lợn có độ pH từ6,8 - 7,8
* Phương pháp xác định pH bằng máy đo pH.
Đưa cực của máy đo pH vào dung dịch chuẩn và điều chỉnh kim đồng hồ để
pH chỉ đúng pH của dung dịch chuẩn Lấy cực của máy ra khỏi dung dịch chuẩn,rửa sạch bằng nước cất Sau đó nhúng cực của máy vào cốc tinh dịch, máy sẽ báo
pH của tinh dịch trên đồng hồ
4.2 Kiểm tra thể tích tinh dịch (V)/1 lần xuất tinh
a Chuẩn bị dụng cụ, thiết bị
- Tinh dịch: Tinh dịch mới khai thác được
- Cốc chia định mức
Trang 20Hình 2.13 Tinh dịch lợn và cốc chia định mức
- Găng tay: Sử dụng găng tay cao su
- Giấy lọc: Dùng giấy lọc hoặc vải màn
b Lọc tinh
- Khái niệm về thể tích tinh dịch (V): Thể tích tinh dịch là lượng tinh dịch thu đượctrong một lần xuất tinh sau khi đã lọc bỏ keo phèn
- Đặc điểm của tinh dịch:
+ Đối với tinh dịch lợn sau khi khai thác có một lượng khá nhiều chất keophèn hay còn gọi keo nhầy (chiếm 5-25%) thể tích tinh dịch nguyên chưa lọc
+ Vì vậy, sau khi lấy tinh xong cần lọc bỏ ngay chất keo phèn này, nếukhông chỉ cần sau 30 phút đến 1 giờ, lượng tinh dịch sẽ giảm còn khoảng 50% vànồng độ tinh trùng còn khoảng 30%
- Kỹ thuật lọc tinh:
+ Chuẩn bị cốc thủy tinh có chia định mức
+ Vô trùng cốc bằng nước sôi: sau đó để cốc nguội
+ Bịt giấy lọc lên miệng cốc
+ Rót nhẹ tinh dịch từ lọ hứng tinh vào cốc chia độ qua giấy lọc
+ Loại bỏ phần trên giấy lọc
c Xác định thể tích (V)
- Phương pháp xác định thể tích tinh dịch:
Trang 21Khi xác định thể tích tinh dịch cần đặt lọ đựng tinh có vạch chia độ trên mộtmặt phẳng nằm ngang và đọc kết quả ở vạch cong dưới của mặt tinh dịch để xácđịnh lượng xuất tinh.
- Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng xuất tinh:
+ Giống gia súc: Các giống gia súc khác nhau thì cũng cho thể tích tinh dịchkhác nhau
Ở lợn ngoại: 12 tháng tuổi có V = 100 - 150 ml
24 tháng tuổi có V = 200 - 300 ml
36 tháng tuổi có V = 250 - 350 ml+ Cá thể gia súc: Ngay trong cùng một giống, cùng một lứa tuổi nhưng từng
cá thể khác nhau thì cũng cho lượng xuất tinh khác nhau
+ Kỹ thuật lấy tinh: Khi lấy tinh nếu điều kiện cần và đủ cho gia súc xuấttinh đảm bảo, gia súc xuất tinh thoải mái thì tinh dịch sẽ thu được nhiều và ngượclại
Khi theo dõi về khoảng cách lấy tinh lợn, kết quả thu được như sau:
4-5 ngày lấy tinh một lần: V = 150 - 200 ml2-3 ngày lấy tinh một lần: V = 60 - 100 mlHàng ngày lấy tinh: V = 50 - 60 ml
1 ngày lấy tinh 2 lần: V = 20 - 50 ml
4.2 Kiểm tra nồng độ tinh trùng (C)
Nồng độ tinh trùng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá phẩm chất tinh dịch Đốivới đực giống trong cùng một giống, tinh dịch của cá thể nào có nồng độ tinh trùng
Trang 22cao thì phẩm chất tinh dịch tốt và ngược lại
- Có nhiều phương pháp xác định nồng độ tinh trùng, trong đó phổ biến nhất làphương pháp: sử dụng buồng đếm hồng, bạch cầu
a Chuẩn bị dụng cụ
- Tinh dịch: Tinh dịch mới khai thác được sau khi đã lọc bỏ keo phèn
- Kính hiển vi: Sử dụng kính hiễn vi quang học có độ phóng đại 200 - 600 lần
- Buồng đếm: Dùng buồng đếm bạch cầu để xác định nồng độ tinh dịch:
Có nhiều kiểu buồng đếm bạch cầu nhưng về hình thể thì tương tự nhau, có cấutạo cơ bản giống nhau ở chỗ diện tích mỗi ô bé nhất của buồng đếm là:
S = 1/20 x 1/20mm ( S = 1/400 mm2)
Độ sâu của buồng đếm là h = 1/10mm
Như vậy chúng ta đếm số tinh trùng ở 80 ô con, đó cũng chính là số tinh trùng
có trong 1/50 mm3 tinh dịch Từ đó ta có thể suy ra số tinh trùng có trong 1ml
Hình 2.14 Cấu tạo buồng đếm bạch cầu
- Ống pha loãng hồng bạch cầu
Trang 23Hình 2.15 Ống pha loãng hồng bạch cầu
b Pha loãng và giết chết tinh trùng
- Dùng dung dịch NaCl 3% tinh khiết để pha loãng và giết chết tinh trùng
- Ống pha loãng hồng hoặc bạch cầu đã được vô trùng khô
- Lamelle kính mỏng để đậy lên mặt buồng đếm
Tùy theo loài gia súc: Đối với lợn ta dùng buồng đếm bạch cầu (màu xanh), đối với trâu bò ta dùng ống hồng cầu (màu đỏ) Đây là phương phá khá chính xác
và được sử dụng khá phổ biến hiện nay
- Thao tác pha loãng:
+ Lắp lamelle kính đã được làm sạch, khô lên mặt buồng đếm
+ Dùng ống pha loãng bạch cầu hút tinh dịch đến vạch 0,5 (hoặc vạch l,0), sau
đó hút tiếp dung dịch NaCl 3% đến vạch 11
Chú ý: không được để có bọt khí trong ống pha loãng hồng, bạch cầu trong quátrình hút Nếu có bọt khí phải súc rửa sạch ống pha loãng và làm lại Bịt hai đầu ốngpha loãng bằng ngón tay cái và ngón giữa, lắc nhẹ từ 5-6 lần cho tinh dịch trộn đềuvới dung dịch NaCl 3%
+ Nếu hút tinh dịch đến vạch 0,5 thì mức độ pha loãng là 20 lần, nếu hút tinhdịch đến vạch 1,0 thì mức độ pha loãng 10 lần
c Làm tiêu bản
- Trước hết cần bỏ đi vài giọt dung dịch ở phần ống dẫn phía dưới của ống pha loãnghồng bạch cầu (khoảng 4-5 giọt dung dịch NaCl 3% không có tinh trùng),
Trang 24- Làm tiêu bản: Nhỏ hỗn hợp này vào trong buồng đếm (thực tế người ta chỉ cần kềmiệng của ống pha loãng bạch cầu vào cạnh lamelle kính thì tự nhiên dung dịch đượchút đầy vào các ô của buồng đếm).
- Đưa lên kính hiển vi có độ phóng đại từ 200 - 600 lần để đếm
d Đếm số tinh trùng
- Nguyên tắc đếm
+ Dựa vào đầu tinh trùng để đếm, chỉ đếm những tinh trùng có một trong các ôqui định
+ Không đếm lặp lại, không bỏ sót
+ Số tinh trùng được xác định trong từng ô bé là số tinh trùng có đầu nằm trongtrong từng ô đó và có đầu nằm bên cạnh bên phía bên trái và cạnh trên Số tinh trùngtrong từng ô lớn được đếm theo theo thứ tự từ trên xuống theo hình zic-zac
bé (tương đương 1150 mm3) là n, thì số tinh trùng có trong lần tinh dịch pha loãng làn.50.l03 và nồng độ tinh trùng trong lần tinh nguyên là:
Trang 25C = n.50.l03.20 = n.106 hay C = n 106.
Như vậy, mỗi tinh trùng đếm được trong buồng đếm đại diện cho một triệu tinhtrùng trong 1ml tinh dịch
Đối với tinh dịch lợn người ta thường sử dụng ống pha loãng hồng cầu:
- Nếu hút tinh dịch đến vạch 0,5 sau đó hút dung dịch NaCl 3% đến vạch 11 thì
mức độ pha loãng tinh dịch là 200 lần
4.3 Kiểm tra hoạt lực tinh trùng (A)
Hoạt lực của tinh trùng là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá phẩm chất tinhdịch Chỉ tiêu này nói lên sức sống và khả năng vận động của tinh trùng sau khi rakhỏi cơ thể
Hoạt lực của tinh trùng được tính bằng tổng số tinh trùng còn khả năng vậnđộng tiến thẳng so với tổng số tinh trùng có trong tinh dịch Vận động tiến thẳng củatinh bao gồm: chuyển động tiến về phía trước, chuyển động xoay quanh trục thân tạothành véc tơ hướng tới phía trước
Để đánh giá chỉ tiêu hoạt lực của tinh trùng, người ta thường sử dụng kính hiển
vi có độ phóng đại từ 400-600 lần Nhiều nước đã sử dụng kính hiển vi đặc biệt có lắp
hệ thống phóng hình lên màn ảnh để quan sát Phương pháp này cho độ chính xác caohơn
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá hoạt lực của tinh trùng
Hoạt lực
Trang 26Tỷ lệ tinh
trùng tiến
thẳng (%)
95-100
85-95
75-85
65-75
55-65
45-55
35-45
25-35
15-25
5-15
- Tinh dịch có phẩm chất tốt là tinh dịch có hoạt lực tinh trùng cao hay nói cách khác
là tinh dịch có tỷ lệ tinh trùng tiến thẳng cao
- Chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng phải được tiến hành kiểm tra ngay sau khi lấy tinh 15phút và ở nhiệt độ xấp xỉ nhiệt độ cơ thể Nếu tinh dịch được bảo tồn ở nhiệt độ thấphoặc khai thác trong điều kiện khí hậu lạnh (mùa đông) thì trước khi kiểm tra phảiđưa nhiệt độ tinh dịch lên 37oc sau đó mới tiến hành kiểm tra
- Đối với tinh dịch một số loài gia súc có nồng độ tinh trùng cao như trâu, bò, dê khitiến hành kiểm tra hoạt lực tinh trùng người ta có thể pha loãng tinh dịch.trong nướcmuối sinh lý, rồi tiến hành kiểm tra hoặc người ta chỉ căn cứ vào mức độ rung động(chuyển động của tinh trùng trong tinh dịch tạo thành sóng) của vi trường để đánh giá.Nếu bề mặt tinh dịch rung động nhiều chứng tỏ tinh trùng hoạt động tốt, ngược lại nếu
bề mặt ít rung động chứng tỏ tinh trùng hoạt động yếu
- Tinh dịch được coi là có chất lượng tốt phải có ít nhất 65-75% số tinh trùng vậnđộng tiến thẳng Khi các lần phóng tinh liên tiếp, vận động của tinh trùng ở lần phóngtinh thứ 2 thường tốt hơn lần phóng tinh thứ nhất
4.4 Kiểm tra sức kháng tinh trùng (R)
Sức kháng là sức đề kháng của tinh trùng trong một dung dịch không đẳngtrương Người ta thường dùng nước muối 1% để kiểm tra và đánh giá lượng dungdịch cần thiết pha loãng 1 đơn vị tinh dịch đến khi toàn bộ tinh trùng ngừng hoạt độngtiến thẳng
* Phương pháp kiểm tra
- Đối với lợn nội:
+ Dùng 2 lọ thủy tinh có dung tích 10 ml Rót 5ml dung dịch NaCl 1% (t0 =
350C) vào lọ thứ nhất, rót 0,5ml dung dịch NaCl 1% vào lọ thứ hai, dùng ống hút vilượng lấy 0,01ml tinh dịch nguyên vào lọ thứ nhất, khẽ lắc cho tinh dịch hòa đềutrong lọ Tinh dịch này được pha loãng 500 lần Dùng ống hút 1-2ml, hút 0,5ml hỗn
Trang 27hợp ở lọ thứ nhất cho sang lọ thứ hai, khẽ lắc; ở lọ thứ 2 tinh dịch được pha loãng
1000 lần
+ Dùng đũa thủy tinh lấy một giọt hỗn hợp trong lọ thứ 2, kiểm tra trên kínhhiển vi Nếu thấy tinh trùng cò tiến thẳng thì thêm 0,1ml dung dịch NaCl 1% vào lọthứ 2 (độ pha loãng lúc này là 1100) và kiểm tra lại Công việc cứ tiếp tục như thế chođến khi tinh trùng ngừng tiến thẳng
- Đối với lợn ngoại:
+ Dùng 3 lọ thủy tinh có dung tích 10ml Cho dung dịch NaCl 1% vào các lọ:5ml vào lọ thứ nhất, 1ml vào lọ thứ hai và 0,5ml vào lọ thứ 3
+ Cho 0,01ml dung dịch nguyên vào lọ thứ nhất lắc đều (tinh dịch được phaloãng 500lần)
+ Lấy 1ml hỗn hợp ở lọ thứ nhất cho sang lọ thứ 2 (ở lọ thứ 2 tinh dịch đượcpha loãng 1000 lần
+ Lấy 0,5ml hỗn hợp ở lọ thứ 2 cho sang lọ thứ 3,lắc đều ( độ pha loãng là
2000 lần)
+ Kiểm tra dưới kính hiển vi, nếu thấy tinh trùng còn tiến thẳng thì thêm 0,1mldung dịch NaCl 1% vào lọ thứ 3 (độ pha loãng là 2200) và kiểm tra Tiếp tục làm nhưvậy đến khi nào kiểm tra thấy tinh trùng ngừng tiến thẳng
* Công thức tổng quát để tính sức kháng tinh trùng:
R = R0 + r n
- Trong đó: R: là sức kháng của tinh trùng
R0: là số lần pha loãng khi bắt đầu kiểm tra mẫu
+ Ở lợn nội là 1000+ Ở lợn ngoại là 2000 r: Mức độ pha loãng mỗi lần 0,1ml NaCl 1%
+ Ở lợn nội là 100+ Ở lợn ngoại là 200n: Số lần thêm 0,1ml dung dich NaCl 1%
* Chú ý:
Trang 28- Phải thực hiện hoàn toàn mẫu kiểm tra trong vòng 10 phút sau khi lấy tinh.
- Tiêu bản kiểm tra ở nhiệt độ 400C
4.4 Kiểm tra tỷ lệ kỳ hình (K)
- Tinh trùng kỳ hình là những tinh trùng có hình thái không bình thường
Ví dụ: Tinh trùng bị cụt đầu, cụt đuôi, bẹp đầu, hai đầu
- Những tinh trùng kỳ hình không có khả năng thụ thai
Có nhiều nguyên nhân gây ra kỳ hình của tinh trùng và hiện tượng kỳ hình củatinh trùng chủ yếu xuất hiện ở hai giai đoạn sau:
- Giai đoạn sinh sản: Chủ yếu do các tác nhân bệnh lý hoặc do yếu tố dinh dưỡng(Thiếu protein, các axit quan thiết yếu, vitamin ), khí hậu (mùa vụ, nhiệt độ), thờigian ngừng hoạt động sinh dục kéo dài, một số tác động của di truyền, những rối loạn
về sinh sản, thiếu kích tố tuyến giáp và chăm sóc, quản lý kém
- Giai đoạn xuất tinh: Chủ yếu do các tác nhân ngoại cảnh, như là các tác nhân cơ, lý,hóa học, kỹ thuật khai thác và bảo tồn tinh dịch (bảo tồn ở nhiệt độ cao 46oC), sự thayđổi pH và sự biến động của áp suất thẩm thấu trong thời gian bảo tồn
- Tỷ lệ kỳ hình là một chỉ tiêu đánh giá phẩm chất của tinh dịch Chỉ những tinh trùngcòn nguyên hình thái mới có khả năng thụ thai Thông qua việc xác định chỉ tiêu này
có thể cho phép đánh giá về tình trạng bệnh lý, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý,chế độ sử dụng và kỹ thuật khai thác
* Một số dạng kỳ hình thường thấy ở tinh trùng
- Kỳ hình đầu: Thường thấy ở dạng cụt, bẹp, méo hoặc có hai đầu, đầu to không bìnhthường, vị trí hoặc cấu trúc của thể acrosome bị thay đổi
- Kỳ hình cổ: Thường thấy ở dạng vẹo cổ, gãy cổ hoặc có hai cổ, cổ to quá hoặc bị thungắn lại
- Kỳ hình đuôi: Thường thấy ở dạng cong, xoắn, ôm lấy nhau hoặc có hai đuôi
* Phương pháp xác định tỷ lệ kỳ hình
- Nhỏ một giọt tinh dịch lên phiến kính sạch, khô (nếu tinh dịch có nồng độ đậm đặcthì pha thêm vài giọt dung dịch NaCl 0,85% hoặc dung dịch Natri xitrat 2,9%) - Trộnđều hỗn hợp này bằng đũa thủy tinh, dùng cạnh của một phiến kính khác phiết nhẹ và
Trang 29dàn mỏng giọt tinh dịch (lưu ý thao tác phải nhẹ nhàng, đều tay, tránh chà xát nhiềulần)
- Để cho lớp tinh dịch khô trong không khí (tuyệt đối không được làm khô bằng hìnhthức hơ nóng trên ngọn lửa), sau đó hơ qua phiến kính trên ngọn lửa đèn cồn để cốđịnh tiêu bản
- Nhuộm tiêu bản bằng thuốc nhuộm xanh methylen (có thể đỏ fuchsine, gíemsa hoặctím violet)
- Đợi vài phút cho thuốc nhuộm thấm vào tinh trùng (mùa hè: 5-7 phút; mùa đông: 10
- 15 phút), rồi đem rửa tiêu bản bằng nước sạch
* Chú ý:
- Khi rửa nên dùng ống hút hút nước và nhỏ từng giọt vào tiêu bản, tránh giội mạnh
- Không được rửa trắng hết tiêu bản, rửa đến khi thấy tiêu bản còn màu nhạt của thuốcnhuộm thì dừng lại
- Đợi tiêu bản khô, đem quan sát trên kính hiển vi có độ phóng đại 400-600 lần
- Để đánh giá về tỷ lệ kỳ hình, người ta phân vi trường thành ô để đếm và tính tỷ lệ kỳhình ít nhất trên 500 tinh trùng đếm được
Trang 30Hình 2.17 Một số dạng kỳ hình của tinh trùng
4.6 Kiểm tra tổng tinh trùng tiến thẳng trong 1 lần xuất tinh (V.A.C)
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát chất lượng tinh dịch và năng lực sảnxuất tinh trùng của một đực giống Chỉ tiêu này là tích số của V.A.C VAC càng caothì sức sản xuất tinh trùng và chất lượng tinh dịch càng tốt
- Đối với lợn đực giống thì VAC đảm bảo từ 30 tỷ trở lên
Bài 3 PHA CHẾ TINH DỊCH
Mục tiêu: Học xong bài này người học có khả năng:
- Chuẩn bị được dụng cụ, hoá chất liên quan đến việc pha chế tinh dịch.
- Thực hiện được việc pha chế tinh dịch theo yêu cầu kỹ thuật.
1 Các nguyên tắc của môi trường pha chế, bảo quản tinh dịch
Trang 31Sau khi nghiên cứu đặc điểm của tinh dịch và các thành phần trong tinh dịch,Ivanop I.K (1890) đã khẳng định Tinh thanh chỉ là môi trường giúp cho tinhtrùng hoạt động, nó không cần thiết cho quá trình thụ thai và có thể sử dụng tinhtrùng đã được pha loãng trong các dung dịch nhân tạo để dẫn tinh cho các súc vậtcái mà vẫn sinh ra đời con một cách bình thường.
Về mặt hoá học và sinh học có thể coi môi trường pha loãng, bảo tồn tinh dịch
là những môi trường hoá học thoả mãn đến mức tối đa các điều kiện sống của tinhtrùng
Để đạt được các yêu cầu trên và có thể áp dụng trong sản xuất, theo viện sĩMilovanop, môi trường pha loãng, bảo tồn tinh dịch phải thỏa mãn sáu nguyên tắc
cơ bản dưới đây:
1.1 Áp lực thẩm thấu
Áp lực thẩm thấu của môi trường phải tương đương áp lực thẩm thấu của tinhdịch Áp lực thẩm thấu là áp suất cần thiết trong dung dịch tác động lên màng tế bàolàm ngừng hiện tượng thẩm thấu
Đây là nguyên tắc cao nhất, vì chỉ trong điều kiện cân bằng về áp lực thẩm thấutinh trùng mới giữa nguyên được hình thái và quá trình trao đổi chất Thật vậy, môitrường ưu trương hay nhược trương đều có thể giết chết tinh trùng, bởi vì trongcác môi trường này tinh trùng sẽ bị teo đi hay trương phồng lên dẫn tới cấu trúc bịthay đổi tinh trùng bị chết một cách nhanh chóng
1.2 Độ pH
Môi trường phải có độ pH tương đương độ pH của tinh dịch hoặc hơi toan mộtchút Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, độ pH của môi trường từ 6,4-6,7 là tốtnhất Ở độ pH này, tinh trùng trao đổi chất ở cường độ thấp, nên thời gian sốngcủa tinh trùng lâu hơn
1.3 Năng lực đệm của môi trường
Bảo tồn tinh dịch là giữ cho tinh trùng sống Sự sống luôn được gắn liền vớiquá trình trao đổi chất mà bản chất quá trình trao đổi chất của tinh trùng trong