1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong

49 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 113,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Mục đích của đề tài Đánh giá tình hình tiềm năng chăn nuôi ong của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các đàn ong mật tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.2.Nội dung chính của đề tàiĐiều tra đánh giá tiềm năng nguồn thức ăn của ong.Điều tra số lượng đàn ong.Điều tra tỷ lệ và quy mô các đàn ong được nuôi trong các hộ.Điều tra đánh giá năng lực quản lý các đàn ong và trình độ nuôi ong của các hộ.Điều tra đánh giá tình hình ong bị ngộ độc thuốc hóa học.Điều tra đánh giá tình hình bệnh gây hại với ấu trùng ong và biện pháp điều trị.Điều tra đánh giá sản lượng mật.Điều tra đánh giá hiệu quả từ nghề chăn nuôi ong. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các đàn ong mật.3. Kết quả nghiên cứu đã đạt được của đề tài Kết quả điều tra nguồn thức ăn của ong tại huyện Đồng hỷ cho thấy, tiềm năng nguồn thức ăn của ong trong toàn huyện Đồng Hỷ là rất phong phú. Đây là điều kiện quan trọng để phát triển nghề chăn nuôi ong. Diện tích cây nông nghiệp là khá lớn 9.115 ha, trong đó chủ yếu là cây Lúa 6.271 ha và cây ngô 2.094 ha. Diện tích cây ăn quả là 1.755 ha, trong đó chủ yếu là cây Vải có diện tích là 1.025 ha và cây Nhãn 544 ha. Kết quả điều tra số lượng đàn ong cho thấy, huyện Đồng Hỷ có số lượng đàn ong khá lớn và tăng dần qua các năm, cụ thể năm 2010 là 3.777 đàn và đến thời điểm tháng 05 năm 2012 đã là 4.982 đàn ong. Trong 4 xã điều tra thì xã Khe Mo luôn có số lượng đàn ong lớn nhất tính tới năm 2012 là 586 đàn và thấp nhất là xã Hoá Trung với 112 đàn ong năm 2012. Kết quả điều tra tỷ lệ và quy mô các đàn ong nuôi trong các hộ cho thấy, quy mô người nuôi từ 11 15 đàn là cao nhất 31,00% tiếp đến là quy mô 6 10 đàn (23,00%), quy mô 16 30 đàn (23,00%), quy mô 1 5 đàn (16,00%) và thấp nhất là quy mô trên 30 đàn (8,00%). Kết quả điều tra đánh giá năng lực quản lý các đàn ong và trình độ nuôi ong của các hộ cho thấy, 100,00% người nuôi ong biết quản lý đàn ong bằng những kỹ thuật đơn giản, 97,50% biết tạo chúa và nhân đàn, 90,74% phát hiện và điều trị được bệnh địch hại ong.Kết quả điều tra tình hình ong bị ngộ độc thuốc hóa học cho thấy, xã có số đàn nhiễm thuốc hóa học cao nhất là Khe Mo 66,00% tiếp đến là xã Hóa Trung 42,00%, xã Hòa bình 38,00%, thấp nhất là xã Linh Sơn 25,00% và tỷ lệ nhiễm trung bình là 42,75%.Kết quả điều tra tình hình bệnh gây hại với ấu trùng ong và biện pháp điều trị cho thấy, chủ yếu là mắc 2 loại: bệnh thối ấu trùng tuổi lớn tỷ lệ nhiễm 13,75% và thối ấu trùng tuổi nhỏ tỷ lệ nhiễm 18,75%. Điều trị bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ bằng biện pháp kỹ thuật kết hợp với kháng sinh tỷ lệ khỏi là 100%, nếu chỉ dùng thuốc kháng sinh hoặc biện pháp kỹ thuật không thì hiệu quả điều trị sẽ thấp tỷ lệ khỏi bệnh từ 64,75 93,75%.Kết quả điều tra đánh giá sản lượng mật cho thấy, xã có sản lượng mật cao nhất là Khe Mo 5.275kg tiếp đến là xã Hòa Bình 4.094kg, xã Linh Sơn 2.182kg và thấp nhất là xã Hóa Trung 895kg.Kết quả điều tra đánh giá hiệu quả từ nghề chăn nuôi ong cho thấy, xã có thu nhập cao nhất từ nghề chăn nuôi ong là Khe Mo 33,83 triệu đồngtrạinăm tiếp đến là xã Hòa Bình 27,60 triệu đồngtrạinăm, xã Linh Sơn 9,63 triệu đồngtrạinăm và thấp là xã Hóa Trung 5,43 triệu đồngtrạinăm.Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các đàn ong mật:+ Nhà nước phải có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho người chăn nuôi ong một cách hợp lý.+ Triển khai một số phương pháp cũng như kỹ thuật mới cho người chăn nuôi ong.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trang đầu tiên của khóa luận tốt nghiệp, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban chức năng, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y và toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và tận tình giúp đỡ

em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường

Đặc biệt cho em gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn

Th.S Phùng Đức Hoàn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em để em hoàn

thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Em xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đồng

Hỷ cùng toàn thể bà con nông dân các xã nơi mà em thực hiện đề tài

Qua đây em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè

và người thân đã tạo điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Cuối cùng em xin gửi tới tất cả các thầy cô giáo trong nhà trường, các vị trong Hội đồng giám khảo, gia đình bạn bè và đồng nghiệp lời cảm

ơn chân thành nhất, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày tháng năm 2012

Sinh viên Nông Văn Trung

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương châm “ Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế” Thực tậptốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, học hỏi thêm

về kiến thức, kinh nghiệm qua sản xuất, từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu thực tế, góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoaChăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn, cũng như sự tiếp nhận của cơ sở,

tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá tình hình chăn nuôi ong và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao các đàn ong mật tại huyện Đồng

Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”.

Bên cạnh những kết quả quả được, song do trình độ bản thân còn hạnchế, đề tài của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp

để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn !

Trang 4

PHẦN I PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1. Điều tra cơ bản

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1. Vị trí địa lý

Đồng Hỷ là huyện miền núi giáp ranh với thành phố Thái Nguyên.Huyện Đồng Hỷ có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: HóaThượng, Huống Thượng, Nam Hòa, Tân Lợi, Cây thị, Hợp tiến, Khe Mo,Văn Hán, Hóa Trung, Quang Sơn, Văn Lang, Tân Long, Hòa Bình, MinhLập, Linh Sơn, và 3 thị trấn: Chùa Hang (huyện lỵ), Trại Cau, Sông cầu.Đồng Hỷ giáp với:

- Phía bắc giáp huyên Chợ Mới tỉnh Bắc kạn

- Phía tây giáp huyện Phú Lương

- Phía nam giáp thành Phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình

- Phía đông giáp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang

Tổng diện tích tự nhiên của huyện Đồng Hỷ là 47.037,94 ha, mật độdân số 271 người/km2, có tọa độ từ 105016’ - 105046’ kinh độ Đông; 21032’– 21051’ vĩ độ Bắc

Huyện Đồng Hỷ có vị trí địa lý khá thuận lợi, nằm sát trung tâmthành phố Thái Nguyên và có các khu công nghiệp lớn của tỉnh, với hệthống giao thông đường bộ, đường thủy khá phát triển (có quốc lộ 1B, tỉnh

lộ 259, sông Cầu… nối huyện với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang…), tạođiều kiện thuận lợi cho Đồng Hỷ trong việc giao lưu phát triển kinh tế, vănhóa, xã hội cũng như việc tiếp cận các thành tựu khoa học, kỹ thuật và gópphần thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đóchính là động lực để Đồng Hỷ có thể phát triển kinh tế đa dạng với cácngành: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch vànông lâm nghiệp

1.1.1.2. Điều kiện về khí hậu

Điều kiện khí hậu, thời tiết

Huyện Đồng Hỷ nằm trong vùng có khí hậu mang tính đặc trưng củacác tỉnh miền núi và trung du phía Bắc, do đó từng vùng khác nhau có đặc điểm khí hậu khác nhau

Trang 5

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 270C

Độ ẩm không khí trung bình thay đổi từ 78 - 86%

Khí hậu huyện Đồng Hỷ về cơ bản là nóng và ẩm chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt, thuận lợi cho việc phát triển ngành nông nghiệp

Mùa hè từ khoảng tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình là 27 -

290C có lúc lên tới 30 - 310C Mùa này thường có mưa, mưa nhiều nhất vàotháng 7, tháng 8, trung bình lượng mưa trong những tháng này là 300 - 500

mm và chiếm tổng số 40 - 46% lượng mưa cả năm

Mùa đông khô hanh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình là 15 - 220C, có lúc xuống thấp dưới 150C Mùa này ít mưa thường hay bị hạn vào tháng 12, tháng 1 có những đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo thời tiết lạnh, đôi khi có sương muối kéo dài, rét đậm gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Nhìn chung điều kiện thời tiết khí hậu có những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây trồng vật nuôi Tuy nhiên khi xảy ra hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh gây ra rất nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp

Thủy văn

Sông suối của huyện đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc và Đông Bắc, mật độ sông suối bình quân 0,2km/km2 Huyện Đồng Hỷ có các sông suối lớn là:

- Sông Cầu là con sông lớn nhất chảy theo hướng Bắc Nam, chảy qua phía Tây của huyện dài khoảng 47km là nguồn nước chính cung cấp cho nông nghiệp Chế độ dòng chảy thất thường nhiều năm gây úng lụt, về mùa cạn nước sông xuống thấp gây hạn hán

- Sông Linh Nham bắt nguồn từ huyện Võ Nhai và chảy qua xã Văn Hán, Khe Mo, Hóa Thượng, Linh Sơn ra Sông Cầu, con sông này chảy qua huyện Đồng Hỷ có chiều dài là 28km

- Sông Ngòi Treo bắt nguồn từ xã Văn Hán chảy qua Nam Hòa dài 19km; suối Ngàn Khe bắt nguồn từ Cây Thị chảy qua thị trấn Trại Cau và Nam Hòa dài 21km Ngoài ra còn hàng chục con suối lớn nhỏ khác cộng với hàng chục hồ nước lớn nhỏ, phục vụ sản xuất và sinh hoạt

1.1.1.3. Đất đai

Trang 6

Diện tích đất tự nhiên là 47.037,94 ha, Đồng Hỷ là huyện có diện tích tự nhiên lớn thứ 3 của tỉnh (sau huyện Võ Nhai và Đại Từ) Cơ cấu diện tích các loại đất trong huyện được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đồng Hỷ ( năm 2011)

4. Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản 172,29 1,38

II. Đất lâm nghiệp có rừng 21.402,61 45,5

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ, năm 2011)

1.1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội

1.1.2.1 Tình hình xã hội

Trang 7

Huyện Đồng Hỷ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên Từ năm 1986 trở về trước, Đồng Hỷ là huyện thuần nông, nhưng từ năm 2000 huyện chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

và dịch vụ

Dân số toàn huyện năm 2008 là 127.279 người Mật độ dân số phân

bố không đều, nơi có mật độ dân số cao nhất là thị trấn Chùa Hang 3.124 người/km2 trong khi đó nơi có mật độ dân số thấp nhất là xã Văn Lăng 71 người/km2 Điều này ảnh hưởng đến quy hoạch đầu tư và phát triển kinh tế vùng

Huyện Đồng Hỷ có nhiều dân tộc anh em sinh sống, dân tộc Kinh chiếm chủ yếu 93,26%, dân tộc Nùng 2,44%, Sán Dìu 2,28%, Dao 0,84%, Tày 0,47%, Sán Chay 0,1%, H’Mông 0,23%, Hoa 0,05% và các dân tộc khác 0,44% Trình độ dân trí ở các vùng khác nhau, vùng sâu vùng xa trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng được đầu tư ít, kém phát triển, đời sống vẫn còn nghèo

1.1.2.2 Tình hình văn hóa - xã hội - y tế - giáo dục

Dân cư trong huyện có lối sống văn minh, lành mạnh Tuy nhiên, do Đồng hỷ là huyện có nhiều dân tộc cùng sinh sống nên ở một số dân tộc ít người ở vùng sâu vùng xa vẫn còn những hủ tục lạc hậu

Toàn huyện có 47 trường học, trong đó có 2 trường phổ thông trung học; 20 trường trung học cơ sở, tiểu học và toàn huyện có 22 trường mầm non Đến nay đã có 100% trường học được ngói hóa, đã xóa bỏ chế độ học

3 ca, các xã và thị trấn có phong học cao tầng

Toàn huyện có 1 bệnh viện Trung tâm y tế, 2 phòng khám khu vực,

20 trạm xá, đủ điều kiện chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho ngườidân trong huyện

1.1.2.3 Tình hình kinh tế

Năm 2011 sản xuất nông - lâm nghiệp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hỗ trợ giá giống và đưagiống mới vào sản xuất, tích cực phòng trừ sâu, dịch bệnh hại cây trồng, vật nuôi Vì vậy về diện tích, năng suất, sản lượng đều hoàn thành các chỉ tiêu

Tổng sản lượng lương thực năm 2009 đạt 40,160 tấn Đã thực hiện chăm bón, thâm canh 1.100 ha chè, cải tạo 50 ha trồng mới 120.55 ha, sản

Trang 8

lượng chè đạt 18.500 tấn (Báo cáo tình hình phát triển kinh tế năm 2011 của ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ).

Sản lượng cây ăn quả các loại đạt 5000 tấn

Trong chăn nuôi có một số con giống như: gà, bò, lợn, ong đã có hiệu quả trong tăng năng suất, có lợi cho nhà nông Hiện nay toàn huyện có: đàn trâu: 15.789 con, đàn bò: 5.375 con, đàn lợn: 53.869 con và tổng sốđàn gia cầm là 530.950 con

Về rừng đã trồng mới được 1,325 ha, ươm được 125 vạn hom cây giống tại vườn ươm chuẩn bị cho việc trồng rừng năm 2011

Công tác khuyến nông: Thực hiện chuyển giao kỹ thuật theo nhu cầucủa nông dân tại các xã và thị trấn được 185 lớp cho gần 7000 hộ nông dân

Tổ chức hội thảo tổng kết mô hình 15 cho gần 1000 người tham dự Các

mô hình đều thu được kết quả tốt Đó là các mô hình: nuôi giun quế tại CaoNgạn, nuôi ong tại xã Hòa Bình Chăn nuôi gà an toàn sinh học tại Khe

Mo Gieo cây giống lúa mới tại xã Minh Lập, Linh Sơn, Hóa Trung…

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại dịch vụ: Giá trị sản lượng năm 2011 ước tính đạt 410 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch năm

2011 Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa

phương ước tính đạt 248 tỷ đồng Hoạt động thương mại dịch vụ tăng trưởng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt

183 tỷ đồng, trong đó của các hộ cá nhân đạt 158 tỷ đồng, các doanh

nghiệp 25 tỷ đồng

Công tác giao thông: Duy tu bảo dưỡng trên 300km đường giao thông, nâng cấp 59 km, đổ bê tông 17,5 km

Mặc dù nền kinh tế của huyện Đồng Hỷ có những bước tăng trưởng

và phát triển đáng kể nhưng huyện vẫn là một huyện thuần nông, sản xuất mang tính tự cung tự cấp

1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp

1.1.3.1. Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Trồng trọt vẫn là ngành chính trong sản xuất nông nghiệp của huyện.Tuy nhiên, trồng trọt lại chịu tác động lớn nhất của thời tiết Do vậy, từ năm 2009 đến nay, tốc độ tăng trưởng của trồng trọt có xu hướng tăng giảmkhông đều, giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng bình quân khoảng 4%

Trang 9

năm, do thời tiết diễn biến thất thường đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và sản lượng cây trồng.

Cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần diện tíchcác loại cây có giá trị kinh tế như rau các loại, ngô và một số cây trồng khác, giảm dần diện tích gieo trồng các loại cây có giá trị kinh tế thấp như khoai, sắn…

Bảng 1.2 Cơ cấu diện tích gieo trồng hàng năm của huyện Đồng

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ, năm 2011)

1.1.3.2. Tình hình phát triển ngành chăn nuôi

Những năm gần đây, chăn nuôi trên địa bàn huyện phát triển khá mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đây là một trong những hướng mũi nhọn mà huyện Đồng Hỷ đã xác định nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp Từ năm 2009 đến năm 2011 huyện đã triển khai nhiều

dự án về cải tạo và phát triển đàn lợn, bò thịt và bò sữa Kết quả giai đoạn

2009 - 2011, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng 12%/năm Số lượng gia

Trang 10

súc gia cầm tăng khá: đàn lợn tăng bình quân 2,01%/năm, đàn gia cầm tăng25%/năm, đàn bò tăng 18%/năm, riêng đàn trâu giảm 6,5%/năm do việc áp dụng cơ giới hóa trong khâu làm đất tăng lên nhu cầu về sức kéo giảm Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống mới, thức ăn, thú y và các

phương thức chăn nuôi mới được áp dụng vào sản xuất Chất lượng đàn giacầm được nâng lên Nhiều giống gia súc, gia cầm mới có năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất trên địa bàn huyện

* Chăn nuôi lợn

Chăn nuôi lợn là thế mạnh của huyện Đồng Hỷ Từ năm 2009, trên địa bàn huyện đã triển khai một số dự án cải tạo giống và phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc, sản xuất giống và chăn nuôi lợn ngoại bước đầu thu được kết quả tốt, đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi công nghiệp với quy mô hàng trăm nái có thu nhập cao Tổng đàn lợn thịt năm 2011 đã đạt 51.951 con (tăng 7,6% so với năm 2009) Sản lượng thịt lợn xuất chuồng tăng mạnh, giai đoạn 2009 - 2011 có tốc độ bình quân 28,5%/năm, năm

2011 đạt 4.250 tấn, tăng gấp 2,7 lần so với năm 2009 Mỗi năm Đồng Hỷ cung cấp vài nghìn tấn thịt lợn cho các thị trường lân cận

* Chăn nuôi trâu, bò

Những năm gần đây, đàn trâu trên địa bàn huyện có xu hướng giảm dần do tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất tăng, nhu cầu sức kéo giảm và hiệu quả chăn nuôi không cao

Đàn bò cũng được xác định là một trong các con vật nuôi chủ lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đàn bò đã phát triển ở hầu hết các xã Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ở hầu hết các xã đã tăng lên đáng kể

* Chăn nuôi gia cầm

Chăn nuôi gia cầm của huyện nói chung khá phát triển Thời gian qua, nhiều giống gia cầm mới cho tăng năng suất chất lượng cao, phù hợp với điều kiện chăn nuôi đã được nuôi thích nghi, chọn lọc, khảo nghiệm đưa vào sản xuất như: vịt Super M, CV2000, ngan Pháp, vịt trứng Triết Giang; các giống gà thả vườn như Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir… Năm 2011

* Chăn nuôi ong

Trang 11

Hiện nay trong toàn huyện có 4.982 đàn ong Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi nguồn hoa phong phú, trong những năm qua đàn ong của toàn huyện không ngừng phát triển tăng nhanh cả về số lượng đàn ong và số lượng người nuôi ong.

Do điều kiện nguồn hoa không tập trung nên giống ong được nuôi hoàn toàn là ong nội có đặc tính cần cù, chịu khó, dễ thích nghi, cho năng suất mật bình quân ổn định

1.1.4 Đánh giá chung

1.1.4.1 Thuận lợi

Huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nông

nghiệp, đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau đặc biệt là chè

và cây ăn quả, nguồn hoa phong phú thích hợp với việc nuôi ong

Được sự quan tâm, tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ của các ngành, các cấp có liên quan như: Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm khuyến nông, Trạm thú y cho nên tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung cũng như ngành chăn nuôi nói riêng được áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và phục vụ sản xuất

Huyện có vị trí địa lý khá thuận lợi cách thành phố Thái Nguyên 3km về phía Đông - Bắc nên đường giao thông rất thuận lợi cho việc thông thương trao đổi cũng như tiếp thu các thông tin khoa học kỹ thuật mới

Người dân có truyền thống cách mạng lâu đời, chịu khó học hỏi kinhnghiệm và cần cù, sáng tạo trong sản xuất

1.1.4.2 Khó khăn

Ngoài những thuận lợi trên thì huyện cũng gặp không ít những khó khăn trong việc phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt là phát triển nông nghiệp

Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, chủ yếu theo hình thức hộ gia đình, số

mô hình trang trại sản xuất hàng hóa lớn còn chưa nhiều Chất lượng sản phẩm nông nghiệp còn thấp, sức mạnh cạnh tranh trên thị trường chưa cao

Do trong huyện vẫn còn nhiều vùng sâu, vùng xa nhiều đồng bào dântộc thiểu số sinh sống vẫn còn hạn chế về mặt nhận thức nên ở nhiều nơi công nghệ sản xuất còn lạc hậu, mức độ áp dụng kỹ thuật - công nghệ và cơgiới hóa, hiện đại hóa trong sản xuất còn hạn chế Việc ứng dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật còn chậm, các mô hình sản xuất có hiệu quả chưa được nhân rộng với các xã và thị trấn

Trang 12

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất

1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất

Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, trong quá trình thực tập tôi không chỉ hoàn thành bản khóa luận của mình mà còn tham gia công tác phục vụ sản xuất cùng bà con nông dântrong huyện, để học hỏi kinh nghiệm và nâng cao tay nghề Tôi đã đề ra một số nội dung công việc như sau:

- Tuyên truyền với nhân dân các xã trong huyện về lợi ích của nghề

nuôi ong và một số công tác phòng trị bệnh cho ong

- Tư vấn, hướng dẫn bà con áp dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến, phù

hợp với điều kiện kinh tế hộ gia đình nhằm đạt kết quả cao

- Tham gia công tác phòng bệnh trên đàn ong

- Góp phần nâng cao chất lượng cũng như số lượng đàn ong

1.2.2 Biện pháp thực hiện

Vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học áp dụng vào thực tiễn sản xuất một cách hợp lý Xác định động cơ làm đúng đắn, chịu khó việc học hỏi kinh nghiệm của người đi trước, không ngại khó, ngại khổ

- Đi sâu vào thực tế nắm bắt được tình hình chăn nuôi của người dân.

- Mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

- Chú ý lắng nghe ý kiến của người dân

Trong quá trình thực tập tôi luôn khiêm tốn, học hỏi, tham khảo tàiliệu để nâng cao trình độ chuyên môn Thường xuyên liên hệ với giáo viênhướng dẫn

1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất

Trong quá trình thực tập tại huyện Đồng Hỷ được sự giúp đỡ tận tìnhcủa các cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện, các hộ chăn nuôi ong và thầy giáo hướng dẫn thực tập, cùng với sự nỗ lực hết mình của bản thân tôi đã đạt được một số kết quả sau:

1.2.3.1 Công tác giống

- Cùng với người dân tham gia chọn lọc, đánh giá chất lượng ongchúa của từng đàn, kịp thời loại thải, thay thế chúa kém chất lượng, chúagià để đảm bảo sự phát triển bình thường của đàn ong, đồng thời lợi dụngchất lượng mũ chúa lúc chia đàn tự nhiên để thu hoạch mũ chúa bổ sungcho các đàn giao phối

Trang 13

- Đánh giá chất lượng đàn ong và tác động các biện pháp kỹ thuậtgiúp cho sự phát chăn nuôi ong của các xã đạt kết quả cao.

- Chọn lọc các đàn ong mạnh, có chất lượng tốt làm thành các đànchọn giống, tạo cá thể ong chúa có chất lượng tốt để dự trữ, cung cấp chongười dân xung quanh

1.2.3.2 Công tác vệ sinh phòng bệnh

Trong chăn nuôi ong dịch bệnh và thời tiết khắc nghiệt thường gây ranhững tổn thất lớn cho đàn ong vì vậy công tác vệ sinh, phòng trị bệnh ongkịp thời là hết sức quan trọng góp phần bảo đảm và phát triển bình thường

ổn định đàn ong Trong thời gian thực tập tôi đã cùng với người chăn nuôiong địa phương thường xuyên kiểm tra những biểu hiện bất thường của đànong và quan sát các triệu chứng bệnh trên đàn ong từ đó đề ra phương phápđiều trị đúng đắn

Mặc dù trình độ có hạn, thiếu kinh nghiệm thực tế song với lòngnhiệt tình chỉ bảo của các chủ hộ chăn nuôi ong cộng thêm sự vận dụngkiến thức đã học vào thực tế sản xuất cho nên trong thời gian thực tập tôi

đã gặp và điều trị thành công một số bệnh trên đàn ong của các hộ nôngdân như các bệnh: Thối ấu trùng châu Âu, bệnh lỵ, ngộ độc ong…

Ngoài việc kiểm tra và điều trị kịp thời các đàn ong bị bệnh tôi cònhướng dẫn cho một số hộ gia đình quy trình phòng ngộ độc hóa học chođàn ong

Khuyến cáo người dân nuôi ong xử lý rút bớt cầu để ong phủ kín cácbánh tổ đề phòng sâu ăn sáp phá hoại, đàn ong phát triển đều hơn

1.2.3.3 Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng đàn ong

Kiểm tra thường xuyên và định kỳ các đàn ong ở các hộ gia đình,hướng dẫn cho các hộ nuôi ong ở địa phương cách xử lý các biểu hiện bấtthường của đàn ong Hạn chế được rất nhiều tình trạng ong chia đàn, ongbốc bay tự nhiên

Khuyến khích người dân cho ong ăn kích thích để ong tích cực đilàm trong vụ hoa

Cho ong ăn bổ sung trong thời kỳ thiếu thức ăn với việc cho ong ănthuốc phòng bệnh

Tham gia khai thác mật tại cùng với người dân và giúp đỡ các hộmới nuôi ong kỹ thuật khai thác mật bằng thùng quay ly tâm

Trang 14

1.3 Kết luận và đề nghị

1.3.1 Kết luận

Qua 6 tháng thực tập tốt nghiệp được sự giúp đỡ của phòng nông nghiệp huyện Đồng Hỷ, các cô chú chăn nuôi ong trong huyện và sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi

đã đạt được một số kết quả nhất định trong công tác phục vụ sản xuất Mặc

dù thời gian hạn chế, kết quả thu được còn hạn chế song qua đó tôi rút ra được nhiều bài học cho bản thân để bổ sung vào cuộc sống sau này

Về chuyên môn

- Biết cách chẩn đoán và điều trị một số bệnh thông thường trên ong

- Nâng cao tay nghề và chuyên môn chăn nuôi ong

Tôi nhận thấy mình cần phải học hỏi thêm về trình độ chuyên môn của các đồng nghiệp đi trước và của các thầy cô giáo Đồng thời, phải tích cực nghiên cứu, tham khảo các tài liệu và kiến thức mới mẻ để cập nhật những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nghề nghiệp

Về công tác quần chúng

Qua thực tế điều tra tôi thấy tình hình chăn nuôi ong của các xã tronghuyện Đồng Hỷ phát triển khá mạnh, chủ yếu là áp dụng mô hình chăn nuôi ong tiên tiến hiện nay, đem lại hiệu quả kinh tế cao Trong quá trình thực tế xuống cơ sở tôi luôn tôn trọng quần chúng, gần gũi hòa mình với mọi người, không tách biệt tự cao, khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm quần chúng nhân dân để cho người dân tin yêu, và tạo ra được các mối quan hệ tốt, lâu dài và được quần chúng nhân dân ủng hộ đó là bí quyết hoàn thành công tác chuyên môn

1.3.2 Đề nghị

Sau một thời gian công tác tại cơ sở tôi nhận thấy còn nhiều vấn đề còn tồn tại và xin nêu ra một vài ý kiến đóng góp như sau:

+ Cần đẩy mạnh công tác khuyến nông, đưa nhanh tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất

+ Chú trọng công tác giống, đầu tư đa dạng hóa ngành trồng trọt đặc biệt chú trọng đến các loại cây có nguồn cung cấp mật, phấn lớn

Trang 15

+ Các cấp lãnh đạo chính quyền cần phải quan tâm chỉ đạo khuyến khích bà con phát triển, chăn nuôi ong như: đầu tư vốn vào sản xuất, tập huấn về kỹ thuật, hỗ trợ con giống.

+ Cần chú ý giảm lượng thuốc hóa học trong sản xuất nông nghiệp

để hạn chế việc ngộ độc cho đàn ong

PHẦN II CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Đề tài: “Đánh giá tình hình chăn nuôi ong và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao các đàn ong mật tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”

2.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước nhiệt đới có thảm thực vật, nguồn hoa phong phú, các sản phẩm ong được coi là chất bổ cho sức khỏe con người, là tiền

đề cho nghề nuôi ong

Ở nước ta nuôi ong nội (Apis cerana) đã có từ rất lâu, giống ong ngoại (Apis mellifera ligustica) được nhập vào Việt Nam từ đầu những năm

1960 Ong mật cho con người những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, keo ong, sáp ong… Các sản phẩm này được sử dụng làm thực phẩm, là thành phần không thể thiếu của nhiều loại thực phẩm, đồ uống, bài thuốc cổ truyền và là nguyên liệu của nhiều sản phẩm mỹ phẩm cao cấp và nhiều sản phẩm của các ngành công nghiệp khác Ngoài ra, ong mật còn là tác nhân thụ phấn hiệu quả cho các loại cây trồng, cây rừng góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường vàtăng năng suất, chất lượng cây trồng Theo S.K.Zhgenti (1984)[26] nếu thụ phấn nhờ ong thì quả hồng sẽ chín sớm hơn 30 - 40 ngày, có màu da cam, mùi hăng mất đi trước khi quả chín một thời gian dài, lượng sinh tố C và tiền sinh tố A tăng lên đáng kể

So với các ngành chăn nuôi khác, ngành nuôi ong vốn đầu tư nhỏ, ít tốn công nuôi dưỡng mà lại có giá trị kinh tế cao Qua đó chúng ta thấy được tầm quan trọng của loài ong mật đối với đời sống con người Bên

cạnh giống ong ngoại (Apis mellifera ligustica) có năng suất cao, giống ong nội (Apis cerana) có năng suất thấp hơn nhưng lại chịu khó làm việc, thích

hợp ở những nơi có nguồn hoa phân tán và hình thức nuôi ong gia đình

Trang 16

Qua nghiên cứu của Nguyễn Quang Tấn - Phạm Thanh Bình [25] trên 22 trại ong ngoại và 23 trại ong nội cho thấy trong điều kiện chăn nuôi ong không tập trung như ở Việt Nam thì hệ thống nuôi ong nội hiệu quả hơn nhiều so với ong ngoại Hơn nữa một người nuôi ong nội có thể bắt đầu nuôi bằng vài đàn ong thậm chí ở điều kiện đầu tư ít.

Từ năm 1985, nghề nuôi ong công nghiệp bắt đầu phát triển, số lượng đàn ong, sản lượng mật đã được tăng lên và đây là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu mật ong Mật ong là sản phẩm chăn nuôi duy nhất đượcxuất khẩu sang Cộng đồng châu Âu từ những năm 1987 và cấp chứng nhận

đủ điều kiện để xuất khẩu vào thị trường EU từ năm 2001 Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu mật ong hàng đầu trên thế giới Trong giai đoạn

1990 - 2009, mật ong xuất khẩu chiếm đa số với tỷ lệ trên 85% tổng sản lượng, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 7%/năm Từ năm 1984 đến 1997thị trường chủ yếu là các nước trong Cộng đồng châu Âu và Nhật Bản Thị trường chủ yếu hiện nay là Hoa Kỳ sau khi bị Cộng đồng châu Âu ra lệnh tạm ngừng từ 6/2007, mặc dù vậy năm 2008 Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khoảng 16.800 tấn mật ong kim ngạch đạt khoảng 35triệu USD Trong số các nước xuất khẩu mật vào Hoa Kỳ, năm 2008 Việt Nam đứng vị trí thứ 1 và năm 2009 đứng vị trí thứ 2 chỉ sau Brazil

Việt Nam có tiềm năng khai thác khoảng 40.000 tấn mật ong/năm, nhờvào sự phát triển diện tích của các vùng cây công nghiệp, cây ăn quả, rừng trồng và tự nhiên Tuy nhiên hiện nay chưa có số liệu thống kê cụ thể về số lượng đàn ong, số người nuôi ong, quy mô sản xuất cũng như trữ lượng mậtcủa từng vùng nhất là ở những vùng nuôi ong trọng điểm có nguồn hoa phongphú như Đắc Lắc, Gia Lai, Tiền Giang, Đồng Nai, Bắc Giang, Nam Định, Hưng Yên, Sơn La, Thái Nguyên… Do thiếu các dữ liệu về trữ lượng

nguồn hoa đã gây ra mất cân đối giữa lượng nguồn thức ăn tự nhiên cho ong trên hoa với số lượng đàn ong Ở một số vùng có thời điểm tới hàng ngàn đàn ong đặt trên 1 diện tích rất nhỏ với nguồn hoa rải rác trong khi đó ở những vùng khác nguồn hoa rất dồi dào thì lại chỉ lác đác vài trại ong Hậuquả là, người nuôi ong hoặc để lãng phí khả năng khai thác của đàn ong khi mật độ ong quá cao hoặc là phát sinh lan truyền dịch bệnh giữa trại này với trại khác trong khi để phí nhiều nguồn mật tự nhiên không khai thác Nhiều trại ong trong cả nước và đa số người nuôi ong thiếu kiến thức cơ bản vì

Trang 17

không qua đào tạo nên trình độ quản lý ong, phòng trừ dịch bệnh kém và sai,khai thác khi mật chưa chín nên hiệu quả kinh tế vừa thấp, sản phẩm ong vừa

có dư lượng kháng sinh, chất lượng lại không ổn định Kết quả là sản phẩm không xuẩt khẩu được do không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

và chất lượng để tiêu dùng và xuất khẩu Ngoài ra, sự suy thoái về chất lượng giống ong do việc làm giống của người nuôi ong là tự phát, không cókiểm soát làm cho năng suất cũng như khả năng kháng bệnh của đàn ong giảm sút Người nuôi ong gặp nhiều rủi ro và phụ thuộc vào sự biến động thất thường của thời tiết, sự lan tràn dịch bệnh, thị trường tiêu thụ sản phẩm

do thiếu thông tin khoa học cũng như kết quả dự báo về trữ lượng cây

nguồn hoa, diễn biến tình hình dịch hại… Xuất phát từ yêu cầu thực tế

đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá tình hình chăn nuôi ong và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao các đàn ong mật tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”.

2.1.1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1.1.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả điều tra sơ bộ đánh giá được tình hình chăn nuôi ong của huyện Đồng Hỷ

- Là cơ sở để đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nghề chăn nuôi ong hiệu quả bền vững

2.1.2 Mục tiêu

2.1.2.1 Mục tiêu cụ thể

Đánh giá tình hình tiềm năng nuôi ong của huyện: thời tiết, khí hậu; nguồn thức ăn; phương thức và kỹ thuật nuôi ong của nhân dân; khả năng tiêu thụ sản phẩm của ong…

2.1.2.2 Mục tiêu lâu dài

Điều tra thu thập dự liệu làm cơ sở để đánh giá hiện trạng và tiềm năng sản xuất ngành ong và đề xuất các giải pháp, qui hoạch và định hướng phát triển tổng thể ngành ong cả nước nhằm phát triển hiệu quả bền

Trang 18

vững

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học

Sơ lược về ong mật (theo tài liệu của Ngô Đắc Thắng (1996) [22]

2.2.1.1 Phân loại ong mật

Trong thế giới động vật, ong mật thuộc ngành chân đốt (A.thropoda)lớp côn trùng (Insecta) bộ cánh màng (Hymenoptera) họ ong mật (Apisdae)giống ong mật (Apis) Trên thế giới có 7 loại ong cho mật, ở nước ta có 4 loạichính:

1. Apis mellifera (ong ngoại)

2. Apis cerana (ong nội)

3. Apis dorsata (ong khoái hoặc ong gác kèo)

4. Apis florea (ong muỗi)

2.2.1.2. Cấu tạo ong mật

Cơ thể ong mật gồm 3 phần là: đầu, ngực, bụng và được bao bọc bởilớp vỏ kitin

- Phần đầu ong: có cấu tạo hình hộp Trên đầu ong có 2 mắt kép, đỉnhđầu có 3 mắt đơn phân bố dạng hình tam giác

Đỉnh đầu có một đôi râu đây là cơ quan cảm giác rất nhạy bén

Miệng và vòi ong có đặc điểm (với chức năng cắn, nghiền, hút) khácvới nhiều loại côn trùng khác Ong dùng hàm trên để cắn các vật cứng khi mởrộng cửa tổ, cắn nắp lỗ tổ chứa mật, vít nắp, nghiền phấn hoa

Vòi hút của ong đặc trưng cho từng giống ong dùng để hút mật hoa,nước, sirô Mỗi giống ong khác nhau có chiều dài vòi khác nhau

- Phần ngực ong: Ngực ong gồm 3 đốt: Đốt ngực trước, đốt ngực giữa,đốt ngực sau, trong đó đốt ngực giữa đóng vai trò quan trọng nhất, phần ngựcong mang cơ quan vận động là cánh (2 đôi cánh) và chân ong (3 đôi chân)

- Phần bụng ong: Bụng ong có 6 đốt nối với phần ngực qua đốt chuyểntiếp Mỗi đốt gồm hai phần: phần lưng và phần bụng, các đốt bụng nối vớinhau bằng màng kitin mỏng, đàn hồi Nhờ vậy ong có thể tích bụng, ở phầnbụng của 4 đốt bụng cuối cùng có các cơ quan tiết sáp, cuối bụng có ngòi đốt,riêng ong đực không có ngòi đốt, ong chúa trưởng thành thì bộ phận ngòi đốtchỉ để dùng chiến đấu với ong chúa khác

Giữa đốt bụng thứ 5 và thứ 6 của ong mật có tuyến Naxônốp tiết ra vị

Trang 19

đặc trưng cho đàn ong Ở ong chúa, tuyến Naxônốp phát triển và tiết ra mùiđặc trưng gọi là chất chúa Chất chúa điều khiển đàn ong hoạt động bìnhthường.

- Các cơ quan tiêu hóa: ong mật thuộc vào các côn trùng dinh dưỡngchuyên tính Cơ quan tiêu hóa của ong còn là nơi dự trữ tạm thời mật hoa khithu nhận và vận chuyển về tổ, đồng thời thích hợp với việc dự trữ dinh dưỡngkhi qua đông ở xứ lạnh

- Cơ quan hô hấp: bao gồm các lỗ thở (9 đôi lỗ thở), hệ thống khí quảnphân nhiều nhánh, các túi khí và hệ thống mao quản trao đổi khí với các tếbào, các mô trong cơ thể

+ Cơ quan tuần hoàn: hệ thống tuần hoàn của ong là hệ thống hở, timgồm 2 ngăn, 2 bên sườn mỗi ngăn có các cửa để máu từ ngoài vào

+ Cơ quan thần kinh: cơ quan thần kinh của ong phát triển rất cao đảmbảo mối liên hệ của đàn ong với môi trường xung quanh, đồng thời điều khiểnmọi hoạt động thống nhất của ong, cơ quan thần kinh chia làm 3 phần: thầnkinh trung ương, thần kinh ngoại biên và thần kinh thực vật

+ Cơ quan sinh dục: ong mật thuộc nhóm động vật phân tính Cơ quansinh dục của ong chúa gồm 2 buồng trứng hình quả kê, mỗi buồng trứng có rấtnhiều ống trứng nằm song song với nhau

Cơ quan sinh dục của ong thợ về cơ bản giống ong chúa nhưng khôngđược phát triển hoàn chỉnh, hai buồng trứng có dạng hình dải

Cơ quan sinh dục của ong đực gồm đôi dịch hoàn, ống dẫn tinh, tuyếnphụ và bộ phận giao phối

Ong chúa là ong cái duy nhất có cơ quan sinh dục phát triển hoàn chỉnh

để giao phối với ong đực Nhiệm vụ chủ yếu của ong chúa là đẻ trứng duy trìnòi giống Giống ong Apis mellifera mỗi ngày đẻ khoảng 1.000 - 3.000 trứng,ong Apis cerana mỗi ngày đẻ khoảng 800 trứng, ong chúa chỉ đẻ cao nhấttrong năm đầu

Ong chúa cai quản hoạt động của đàn ong thông qua các chất feromon

Trang 20

do nó tiết ra, có 3 loại feromon:

+ Feromon dẫn dụ: có tác dụng hấp dẫn ong đực trong thời gian ongchúa bay đi giao phối

+ Feromon biến tính sinh dục (thành phần chính) có tác dụng hấp dẫnong thợ, kìm hãm sự hình thành trứng và ngăn chặn bản năng xây mũ chúachia đàn của ong thợ

+ Feromon ổn định: có tác dụng ổn định ong thợ trong khi chia đàn, ongchúa càng già chất feromon càng giảm

Theo Eva crane - OBS.DSC [9] ong chúa sau khi nở 3 - 5 ngày thì bay

đi giao phối, một ong chúa giao phối với 10 - 20 ong đực trên không trung,tinh trùng được dự trữ ở túi chứa tinh Một ong chúa có thể sống từ 3 - 5 năm

* Ong đực

Ong đực phát dục từ 1 trứng không thụ tinh và có bộ phận sinh dục pháttriển hoàn chỉnh, ong đực có nhiệm vụ duy nhất là giao phối với ong chúa.Tuổi giao phối thích hợp nhất từ 10 - 15 ngày tuổi sau khi nở, ong đực đen và

to hơn ong thợ, ong đực có thể sống từ 8 - 10 tháng chúng chỉ hiện diện trongđàn nhiều vào mùa mật, khi khan hiếm mật ong đực sẽ bị giết hoặc bị đuổi rakhỏi tổ

* Ong thợ

Là ong cái, phát dục từ trứng thụ tinh có cơ quan sinh dục phát triểnkhông hoàn chỉnh, ong thợ có kích thước nhỏ nhất trong đàn, tuổi thọ từ 30 -

60 ngày và suốt đời gánh vác công việc tùy theo lứa tuổi

Theo Hoàng Đức Nhuận - Nguyễn Đức Khảm (1980) [18] và Ngô ĐắcThắng (1996) [22] thì trong đời sống của ong thợ, chúng phải làm các công táckhác nhau như sau:

- Giai đoạn 1 - 2 ngày tuổi: Vệ sinh lỗ tổ, nghỉ ngơi để hoàn thiện

- Giai đoạn 3 - 6 ngày tuổi: Bón cho ấu trùng lớn ăn

- Giai đoạn 6 - 12 ngày tuổi: Tuyến sữa phát triển bắt đầu tiết sữa nuôi

ấu trùng ong chúa, ong chúa, ấu trùng ong thợ, ong đực và sau đó tập bay rangoài cửa tổ

- Giai đoạn 12 - 18 ngày tuổi: Tuyến sáp phát triển làm nhiệm vụ cơinới bánh tổ và xây tầng mới

- Giai đoạn từ 19 - 45 ngày tuổi: Hệ cơ phát triển làm nhiệm vụ lấy mật,phấn và nước

Trang 21

- Giai đoạn từ 45 - 60 ngày tuổi: Ong không còn đủ sức để tham gia lấymật hoa, phấn hoa, thường xuyên chỉ làm những nhiệm vụ như lấy nước, bảo

vệ tổ, quạt gió

2.2.1.4 Sự phát dục

Ong là loài côn trùng thuộc loại biến thái hoàn toàn, quá trình phát dụccủa mỗi con ong thợ phải trải qua làm 4 giai đoạn từ trứng → ấu trùng →nhộng → ong trưởng thành

THỜI GIAN PHÁT DỤC CỦA ONG MẬT Các loại

hình ong

Trứng (ngày)

Ấu trùng (ngày)

Nhộng (ngày)

Tổng số ngày

* Thức ăn cho ong đầy đủ

Thức ăn chính của ong là mật và phấn hoa do đó cần bố trí đàn ong ở những nơi có nguồn mật, phấn phong phú Trong trường hợp thiếu nguồn hoa

tự nhiên, người nuôi ong phải cho ăn bổ sung đường, vitamin…

* Vệ sinh phòng bệnh cho ong

Ong sống rất sạch thích thoáng mát, không ưa mùi hôi thối, ẩm thấp Người nuôi ong phải tìm chỗ thích hợp đảm bảo các yêu cầu vệ sinh để đặt tổ ong, có biện pháp phòng bệnh thường xuyên cho ong

2.2.1.6 Những yếu tố đảm bảo sự cân đối và ổn định đàn ong

Theo Brenin N.L và Kotosa G.N (1985) [3] thì đàn ong phát triển cần đạt được sự cân đối thường xuyên nếu không sẽ nảy sinh những trường hợp xấu như: ong bốc bay, chia đàn tự nhiên, sâu bệnh phát triển, năng suất hiệu quả kém Để đảm bảo sự cân đối và ổn định của đàn ong thì cần có những điềukiện sau:

- Số lượng ong tương đương với số cầu

Lượng ong quá đông hoặc quá thưa đều không tốt, nếu ong quá đông sẽ

Trang 22

gây chật chội, nóng bức mất nhiều năng lượng để điều tiết nhiệt độ, ẩm độ và ong sẽ chia đàn tự nhiên Ong quá thưa sẽ không chống được sâu, địch hại phátổ.

Các ong thợ kế tiếp nhau phải có độ tuổi thích hợp, có trứng, ấu trùng, nhộng theo tỷ lệ nhất định và thức ăn đầy đủ thì đàn ong mới phát triển tốt Chỉ cần ong chúa ngừng đẻ vài ngày là không có các lớp ấu trùng, nhộng kế tiếp dẫn đến không có ong trưởng thành làm đàn ong giảm sút nghiêm trọng

- Đàn ong được phòng chống sâu bệnh tốt

Sâu bệnh ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển đàn ong, nhiều bệnh nguyhiểm làm đàn ong bị diệt vong nên việc phòng bệnh cho đàn ong là hết sức quan trọng

Điều kiện khí hậu trong tổ thích hợp với đàn ong phải đảm bảo nhiệt độ

360C và ẩm độ 70 - 80% Để giúp đàn ong điều tiết tốt khí hậu trong tổ, người nuôi ong phải chú ý chống nóng, nắng, lạnh và khô hanh hoặc ẩm ướt

2.2.1.7 Sơ lược về một số bệnh phổ biến của ong

* Bệnh thối ấu trùng châu âu

- Bệnh này có nhiều tên gọi khác nhau như: thối ấu trùng tuổi nhỏ, thối

ấu trùng chua, thối ấu trùng lành tính, thối ấu trùng nhẹ

- Với Alpred Brchert (1980) [2] cho rằng: bệnh gây ra do nhiều loại vi khuẩn nhưng chủ yếu là các loại Bacilus Alcei, Streptococcus pluton,

Streptococcus Apis Ấu trùng mắc bệnh từ 3 - 5 ngày tuổi nhưng trên thực tế

ấu trùng tuổi nhỏ và lớn đều bị nhiễm các vi khuẩn này

- Ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ phát ra quanh năm, lúc lẻ tẻ, lúc ồ ạt có khi hầu như im lặng (bệnh ở thể ẩn) nhìn chung trong cả năm bệnh phát ra nhiều vào đầu mùa xuân và đầu thu, tức trước mùa lấy mật và sau khi quay vòng mật cuối cùng Theo Trần Đức Hà và Phùng Hữu Chính (1995) [12] thì ở Việt Nam bệnh chủ yếu là do vi khuẩn Streptococcus pluton gây ra vào đầu vụ xuân và thấy thêm vi khuẩn

Streptococcus Apis, Bacillus pluton vào vụ thu

* Bệnh thối ấu trùng châu Mỹ

- Bệnh thối ấu trùng châu Mỹ hay bệnh thối ấu trùng ác tính là bệnh truyền nhiễm lây lan rất mạnh gây thiệt hại nghiêm trọng Ở nhiều nước ôn đới, bệnh không nguy hiểm lắm nhưng ở các nước nhiệt đới bệnh trở thành một nguy cơ lớn đối với đàn ong

Trang 23

- Bệnh do Beccillus larvac gây nên, thường tập trung ở ấu trùng từ 5 - 7 ngày tuổi cũng có khi gây bệnh cho ấu trùng ở các giai đoạn (tuổi nhỏ, lớn và nhộng)

* Bệnh ấu trùng túi

- Là bệnh do virut gây ra ở ấu trùng tuổi lớn, thiệt hại rất nghiêm trọng

có thể hủy diệt từ 70 - 90% trên số đàn ong bị bệnh

- Do virut Morator actatulae Holmes sống trong tuyến nước bọt của ongthợ khi mớm thức ăn cho ấu trùng, virut sẽ theo thức ăn vào cơ thế ấu trùng và phát triển mạnh làm ấu trùng chết trong một thời gian ngắn Ngoài ra virut cònsống trong tuyến nước bọt và tuyến sinh dục của ong chúa, đây là nguyên nhân căn bản của sự truyền bệnh

- Bệnh do một loài nguyên sinh động vật tên là Nosema apis gây ra Theo số liệu điều tra của trung tâm nghiên cứu ong, bệnh ỉa chảy xuất hiện nhiều trên các đàn ong vào tháng 8 - 11, tỷ lệ nhiễm từ 87 - 90%, mức độ nhiễm từ trung bình đến nặng

* Bệnh ngộ độc ong

- Ong có thể trúng độc hóa học, trúng độc phấn hoa và mật hoa

- Một đàn ong bị trúng độc bao giờ cũng bị chết nhiều, xác rơi xuống đáy tổ, cửa tổ ong chết, vòi ruỗi thẳng

- Khi ong bị nhiễm độc phải nhanh chóng chuyển ong đến nơi khác Rũ bớt các cầu bánh tổ có mật hoa, phấn hoa nhiễm độc ong mới lấy về

- Nếu ong chết nhiều có thể hạn chế thiệt hại cho ong non bằng cách cho dung dịch đường 3 - 4 ngày, nhập các đàn thưa quân, chết chúa lại với nhau

2.2.1.8 Vài nét về lịch sử bệnh của ong ở nước ta

- Ở nước ta năm 1969 bệnh thối ấu trùng nhỏ xuất hiện kéo dài đến năm

1973 gây thiệt hại khá lớn Năm 1974 do nhập thêm 30 đàn ong từ Bắc Kinh

từ đó dịch bệnh đối với ấu trùng tuổi lớn đã phát triển lan ra khắp miền Bắc

Trang 24

gây thiệt hại nặng cho ngành ong nước ta.

- Riêng bệnh ấu trùng dạng túi chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây gây thiệt hại rất nặng (có thể tới 90% số đàn ong bệnh bị tiêu diệt) Theo Vincent Micllden (1987) [17] cho biết ở châu Á có một số loạivirut gây bệnh ấu trùng dạng túi Thái Lan (Thai Sacbrood virut) có tính hủy diệt đối với giống ong Apis cerena Năm 1978 dịch bệnh phát ra ở miền Bắc Thái Lan sau đó lan truyền sang Ấn Độ, Miến Điện (1981) Neepan (1982)

2.2.1.9 Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự hình thành dịch

- Do địa điểm đặt đàn ong không thuận lợi, mùa nắng nóng, mùa mưa lạnh có nhiều gió lùa và nguồn mật ở bên ngoài khan hiếm Những yếu tố bất lợi này làm đàn ong khó phát triển sức đề kháng bệnh kém dễ phát sinh (theo Huỳnh Thị Lân (1975) [14] Còn Mai Anh và Chu Văn Đang (1984) [1] cho rằng dịch bệnh được hình thành là do các nguyên nhân sau:

+ Có thể do hiện tượng giao phối cận huyết làm cho giống ong ngày càng thoái hóa, ong thợ ngày càng nhỏ đi Thời gian làm việc ngày càng ngắn lại, tính trật tự đàn kém, vòng đẻ trứng của ong chúa hẹp lại dần, sức đề kháng bệnh giảm đi

+ Do sự hiểu biết về kỹ thuật còn hạn chế, nhiều nơi không chú ý đến chất lượng đàn nên chia đàn quá mỏng làm thế đàn suy yếu, sức kháng bệnh kém đi

+ Do việc sử dụng bừa bãi một số loại thuốc kháng sinh và chăm sóc kém, sức kháng bệnh giảm

+ Do kiểm dịch không chặt chẽ và ý thức phòng bệnh kém nên mầm bệnh càng dễ dàn lây lan theo

+ Do nhập một số giống ong mới từ nước ngoài vào không có biện pháp cách ly

+ Khi đàn ong mới phát bệnh, không xử lý kịp thời và thích hợp, từ đó mầm bệnh có điều kiện tồn tại và lây lan ra

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

* Cơ sở của nghề nuôi ong

Nghề nuôi ong trên thế giới đã có từ rất lâu đời, cho đến nay không aicòn có thể phủ nhận được những lợi ích mà con ong mang đến cho con người.Việc nghiên cứu về nguồn gốc con ong nhằm bổ sung thêm nhiều kiến thức và

Ngày đăng: 27/11/2014, 08:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Anh - Chu Văn Đang (1984), “Bệnh thối ấu trùng ong mật tại Việt Nam”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh thối ấu trùng ong mật tại Việt Nam”
Tác giả: Mai Anh - Chu Văn Đang
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1984
2. Alpred Brchert (1980), “Bệnh và ký sinh trùng ong mật”, NXB Nông nghiệp (Trịnh Văn Thịnh dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh và ký sinh trùng ong mật”
Tác giả: Alpred Brchert
Nhà XB: NXB Nông nghiệp (Trịnh Văn Thịnh dịch)
Năm: 1980
3. Brenin N.L và Kotosa G.N (1985), “Sổ tay nuôi ong”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sổ tay nuôi ong”
Tác giả: Brenin N.L và Kotosa G.N
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1985
4. Bukin V.N (1987), “Vitamin và ý nghĩa của Vitamin với sức khỏe con người” NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vitamin và ý nghĩa của Vitamin với sức khỏe con người”
Tác giả: Bukin V.N
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1987
5. Dloirs A.P (1991), “Ong và sức khỏe”, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ong và sức khỏe”
Tác giả: Dloirs A.P
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1991
6. Eva Crane (1990), “Con ong và nghề nuôi ong. Cơ sở khoa học, thực tiễn và những nguồn tài nguyên thế giới”, NXB Heinmam Newes - Oxford London (Trần Công Tá, Phùng Hữu Chính dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Con ong và nghề nuôi ong. Cơ sở khoa học, thực tiễn và những nguồn tài nguyên thế giới”
Tác giả: Eva Crane
Nhà XB: NXB Heinmam Newes - OxfordLondon (Trần Công Tá
Năm: 1990
7. Trần Đức Hà (1991) “Bảo vệ ong mật khỏi tác hại của hóa chất độc hại dùng trong nông nghiệp”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo vệ ong mật khỏi tác hại của hóa chất độc hại dùng trong nông nghiệp”
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
8. Trần Đức Hà và Phùng Hữu Chính (1995), “Phòng trừ sâu bệnh hại ong”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phòng trừ sâu bệnh hại ong”
Tác giả: Trần Đức Hà và Phùng Hữu Chính
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
9. Đặng Hanh Khôi (1984), “Sơ chế và bảo quản sản phẩm của ong”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sơ chế và bảo quản sản phẩm của ong”
Tác giả: Đặng Hanh Khôi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1984
10. Huỳnh Thi Lân (1975), “Hỏi đáp về phương pháp nuôi ong mật”, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hỏi đáp về phương pháp nuôi ong mật”
Tác giả: Huỳnh Thi Lân
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1975
11. Leiris N.P (1983), “Con ong dược sỹ có cánh”, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Con ong dược sỹ có cánh”
Tác giả: Leiris N.P
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1983
12. Vincent Micllden (1987), “Kỹ thuật nuôi ong và bảo quản sơ chế các sản phẩm của ong”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ thuật nuôi ong và bảo quản sơ chế các sản phẩm của ong”
Tác giả: Vincent Micllden
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1987
13. Hoàng Minh Nhuận và Nguyễn Đức Khảm (1980), “Đời sống ong, kiến, mối”, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đời sống ong, kiến, mối”
Tác giả: Hoàng Minh Nhuận và Nguyễn Đức Khảm
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1980
14. Nutdin A.V và Vinogradoop V.P (1982), “Cơ sở của nghề nuôi ong mật”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở của nghề nuôi ong mật”
Tác giả: Nutdin A.V và Vinogradoop V.P
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1982
15. Ruttner (1988), “Con ong bác sỹ vạn năng” NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Con ong bác sỹ vạn năng”
Tác giả: Ruttner
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1988
16. Ngô Đắc Thắng (1996), “Kỹ thuật nuôi ong nội địa”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ thuật nuôi ong nội địa”
Tác giả: Ngô Đắc Thắng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
17. Phùng Đức Hoàn (2000), “Bài giảng kỹ thuật nuôi ong nội địa”, Bộ môn ong và động vật quý hiếm - Trường ĐHNL Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bài giảng kỹ thuật nuôi ong nội địa”
Tác giả: Phùng Đức Hoàn
Năm: 2000
18. Nguyễn Quang Tấn và Phạm Thanh Bình (1992) “Sổ tay nuôi ong cho mọi nhà”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sổ tay nuôi ong cho mọi nhà”
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
19. S.K Zbgentis (1984), “Con ong người bạn thân thiết với nghề nông”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Con ong người bạn thân thiết với nghề nông”
Tác giả: S.K Zbgentis
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1984
20. Koeniges và cộng sự – “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cho sản phẩm của ong mật”, NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cho sản phẩm của ong mật
Tác giả: Koeniges, cộng sự
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Cơ cấu diện tích gieo trồng hàng năm của huyện Đồng - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 1.2. Cơ cấu diện tích gieo trồng hàng năm của huyện Đồng (Trang 9)
Bảng 2.4.2. Số lượng đàn ong mật của các xã điều tra và cả huyện - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.2. Số lượng đàn ong mật của các xã điều tra và cả huyện (Trang 31)
Bảng 2.4.3. Tỷ lệ và quy mô các đàn ong được nuôi trong các hộ - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.3. Tỷ lệ và quy mô các đàn ong được nuôi trong các hộ (Trang 32)
Bảng 2.4.4. Năng lực quản lý các đàn ong và trình độ nuôi ong - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.4. Năng lực quản lý các đàn ong và trình độ nuôi ong (Trang 33)
Bảng 2.4.5. Tình hình ong chết  do ngộ độc thuốc hóa học, thuốc bảo vệ - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.5. Tình hình ong chết do ngộ độc thuốc hóa học, thuốc bảo vệ (Trang 34)
Bảng 2.4.6.2. Tình hình nhiễm bệnh ấu trùng tuổi nhỏ - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.6.2. Tình hình nhiễm bệnh ấu trùng tuổi nhỏ (Trang 36)
Bảng 2.4.6.3. Các biện pháp điều trị bệnh Ấu trùng tuổi nhỏ - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.6.3. Các biện pháp điều trị bệnh Ấu trùng tuổi nhỏ (Trang 36)
Bảng 2.4.7. Tình hình đàn ong bị các loại côn trùng khác phá hoại (chủ - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.7. Tình hình đàn ong bị các loại côn trùng khác phá hoại (chủ (Trang 38)
Bảng 2.4.8. Sản lượng mật ong của cả huyện và các xã điều tra trong - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.8. Sản lượng mật ong của cả huyện và các xã điều tra trong (Trang 39)
Bảng 2.4.9. Lợi nhuận thu được từ nuôi ong - Đề tài đánh giá tình hình chăn nuôi ong
Bảng 2.4.9. Lợi nhuận thu được từ nuôi ong (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w