Điều đó không thể đi ngay từ lý thuyết sangthực hành đợc, bởi t duy của lứa tuổi các em học sinh lớp 6 còn là t duy cụ thể, cảm nhận cònđơn giản, vốn từ, vốn hiểu biết phần nhiều còn ngh
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ BIấN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 LÀM TỐT VĂN MIấU TẢ”
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chương trỡnh Trung học Cơ sở mụn Ngữ văn là một trong những mụn Khoa học Xó hội
cú vai trũ rất quan trọng Mụn học này tỏc động rất sõu sắc đến đời sống tỡnh cảm, tõm hồn củamỗi con người Nú hướng con người đến đỉnh cao của chõn, thiện, mỹ; đại thi hào văn Nga: Mắcxim Gocki từng viết: “Văn học giỳp con người hiểu được bản thõn mỡnh, nõng cao niềm tin vàobản thõn và làm nảy nở con người khỏt vọng hướng đến chõn lý” Văn học “chắp đụi cỏnh” đểcỏc em đến với mọi thời đại văn minh, để vươn tới tương lai với ước mơ, hoài bóo, lý tưởng caođẹp Nhưng từ lõu mụn Ngữ văn khiến học sinh cú suy nghĩ đú là mụn học khụng dễ đạt điểmcao, phần tiếng việt khụ khan, phần văn dài dũng nờn ngại học, ngại viết Vỡ thế đối với với mỗithầy cụ giỏo dạy mụn ngữ văn, THCS núi chung, và mụn ngữ văn 6 núi riờng, ngoài việc cungcấp kiến thức nội dung bài học theo SGK, chuẩn kiến thức kỹ năng, tài liệu học…cũn phải khụngngừng tỡm tũi, đổi mới sỏng tạo phương phỏp giảng dạy để tạo hứng thỳ cho cỏc em Song mộtnhiệm vụ cũng khụng kộm phần quan trọng nữa là giỏo viờn dạy ngữ văn ở THCS là: làm thếnào giỳp học sinh rốn luyện tốt kĩ năng làm văn nhất là văn miờu tả
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy mụn Ngữ văn 6 và qua thời gian bồi dưỡng học sinh giỏitại trường, tụi thấy học sinh giỏi mụn ngữ văn là chỉ cú thể đếm trờn đầu ngún tay Khi chấm bàitập làm văn đa số cỏc em biến bài văn miờu tả thành văn kể dài dũng, khụ khan, vốn từ nghốonàn Vậy làm thế nào để nõng cao chất lượng dạy học tập làm văn nhất là văn miờu tả cho họcsinh lớp 6? Để tỡm cõu trả lời cho cõu hỏi này là cả quỏ trỡnh Với vai trũ là một người giỏo viờnđứng lớp trực tiếp giảng dạy cỏc em, tụi đó tỡm tũi phõn tớch thực trạng và lựa chọn: “Một sốphương phỏp giỳp học sinh lớp 6 làm tốt văn tả”
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Đổi mới nội dung, phương phỏp dạy và học đó, đang và sẽ là một trong những yờu cầu cấpbỏch của sự nghiệp đổi mới do Đảng, Nhà nước và cỏc cấp ngành Giỏo dục đề ra Mục tiờu củacụng cuộc đổi mới phương phỏp dạy và học là nhằm đưa ra những yờu cầu đào tạo con ngườicho phự hợp với xu hướng chung của thời đại Mọi vật đều vận động theo xu hướng thay đổi vàkhụng ngừng phỏt triển Chớnh vỡ vậy, việc đổi mới cụng tỏc giỏo dục khụng chỉ dừng lại ở sựthay đổi cấu trỳc nội dung chương trỡnh SGK mà chỳng ta – những người thầy, người cụ phảithay đổi cả về hỡnh thức tổ chức, phương phỏp giảng dạy ở tất cả cỏc bộ mụn, phõn mụn nữa.Một trong những thay đổi đú là đũi hỏi mỗi chỳng ta phải thay đổi cả về phương phỏp giảng dạytrờn lớp, phương phỏp ụn tập cho phự hợp để đạt được hiệu quả giỏo dục cao hơn
Chương trỡnh Ngữ văn THCS núi chung và chương trỡnh phõn mụn Tập làm văn núi riờng làmột vũng trũn đồng tõm Trong đú chương trỡnh Ngữ văn 6 là điều kiện, tiền đề cho cỏc em họcsinh hỡnh thành hệ thống cỏc kiến thức cũng như cỏc kĩ năng, để cỏc em học tốt hơn ở cỏc lớptrờn.Nhất là phõn mụn tập làm văn luụn chiếm vị trớ quan trọng quyết định đến bài làm của cỏc
em học sinh cú thể đạt từ yếu lờn trung bỡnh, từ trung bỡnh lờn khỏ và từ khỏ lờn giỏi
Nhìn nhận vấn đề một cách cụ thể hơn chúng ta thấy rằng, chơng trình Ngữ văn lớp 6 là sựtiếp nối phỏt triển thể loại văn miờu tả mà cỏc em đó học trong chơng trình tiểu học (lớp 4: miờu
tả đồ vật, loài vật, cõy cối, phong cảnh; lớp 5: tả cảnh sinh hoạt), trong quan hệ tương ứng vớinhững gỡ đó được học về tự sự ở kỡ I và trong quan hệ nối tiếp với nội dung miờu tả lớp 9 sẽ
Trang 2được học sau này Tuy nhiờn chương trỡnh Ngữ văn lớp 6 đũi hỏi cỏc em phải cú cỏch viết trauchuốt hơn, già dặn và sinh động, hấp dẫn hơn Điều đó không thể đi ngay từ lý thuyết sangthực hành đợc, bởi t duy của lứa tuổi các em học sinh lớp 6 còn là t duy cụ thể, cảm nhận còn
đơn giản, vốn từ, vốn hiểu biết phần nhiều còn nghèo nàn…do vậy mà các em cha có nhiềuvốn từ, tính hình ảnh, sáng tạo nghệ thuật trong viết văn…Vỡ thế giỏo viờn dạy mụn ngữ văn ởcấp THCS cần hỡnh thành và cú biện phỏp tớch cực giỳp cỏc em làm tốt mụn tập làm văn nhất làvăn miờu tả
2 Thực trạng
Năm học (2014 – 2015), tụi được phõn cụng giảng dạy mụn Ngữ văn lớp 6A với 30 học sinh.Hầu hết 30 học sinh của lớp 6A tụi phụ trỏch cũn rất nhiều nhược điểm khi làm bài Tập làm vănnhất là văn miờu tả Bài viết của cỏc em cũn mắc nhiều lỗi chớnh tả, chưa xỏc định được trọngtõm đề bài, cú những em thường liệt kờ, kể lể dài dũng, diễn đạt vụng về, lủng củng Nhiều emchưa biết dừng lại để tả kĩ một vài chi tiết cụ thể nổi bật.Thậm chớ cũn xảy ra tỡnh trạng bịa đặttrong bài làm khiến hỡnh ảnh miờu tả thiếu chõn thực và hết sức vụ lớ, chẳng hạn như “Đờm cuốithỏng cả bầu trời vằng vặc ỏnh trăng, chi chớt muụn ngàn sao lấp lỏnh”(“Đờm cuối thỏng” thỡ làm
gỡ cú trăng) Thực trạng học sinh cũn nhiều suy nghĩ sai lạc như vậy, đó làm cho tiết Tập làm văntrở thành một gỏnh nặng, một thỏch thức đối với giỏo viờn THCS
Từ những cơ sở trên,tôi thiết nghĩ: Quá trình rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 6 làmột việc làm thiết thực Vỡ vậy với vai trũ, nhiệm vụ của một giỏo viờn đang đứng trờn bục giảng,tụi mạnh dạn đề ra và vận dụng một số biện phỏp để giỳp học sinh học tốt văn miờu tả như sau:
3 Cỏc biện phỏp tiến hành để giải quyết vấn đề
Xuất phỏt từ nhận thức vấn đề như trờn, trong quỏ trỡnh giảng dạy phõn mụn tập làm văn lớp 6 ởtrường THCS tụi đó tiến hành như sau:
Dạy tốt cỏc giờ tập làm văn theo kế hoạch giảng dạy bộ mụn dó được ban giỏm hiệu kớduyệt
Khi dạy ụn tập làm văn miờu tả tụi chia theo từng dạng bài, nhúm bài và phõn mảng nộidung kiến thức cụ thể
Rốn cỏc phương phỏp, kĩ năng làm văn miờu tả cho học sinh
– Sau dõy là một số biện phỏp giỳp cỏc em học sinh lớp 6 làm tốt văn miờu tả
3.1 Giỏo viờn phải nắm vững nội dung, chương trỡnh và phương phỏp dạy Tập làm văn:
Dạy như thế nào để học sinh học tốt và nắm vững phương phỏp làm văn miờu tả, viết đượcnhững bài văn hay, hấp dẫn sinh động?Đũi hỏi giỏo viờn giảng dạy mụn Ngữ văn phải nắm vữngnội dung chương trỡnh, đồng thời biết chọn và vận dụng phương phỏp phự hợp để truyền thụkiến thức cho học sinh Biết được học sinh cần gỡ, chưa biết những gỡ để xỏc định đỳng mục tiờubài dạy, xỏc lập được mối quan hệ giữa kiến thức bài dạy với kiến thức cũ và kiến thức sẽ cungcấp tiếp theo Cụ thể, giỏo viờn cần nắm vững những vấn đề sau :
1 Nội dung chương trỡnh Tập làm văn lớp 6: Cỏc em bắt đầu làm văn miờu tả từ học kỡ
II với số tiết Tập làm văn miờu tả 16 tiết Mục tiờu là trang bị kiến thức và rốn luyện kĩnăng làm văn, gúp phần cựng với cỏc mụn học khỏc làm giàu vốn sống, rốn luyện tưduy, bồi dưỡng tõm hồn, cảm xỳc thẩm mĩ, hỡnh thành nhõn cỏch cho học sinh
2 Biện phỏp dạy học từng kiểu bài:
Trang 3Trong phần dạy bài mới, giáo viên phải nắm vững trình tự dạy đối với hai loại bài Tập làm
văn: loại bài dạy lý thuyết và loại bài dạy thực hành.
Với bài dạy lý thuyết
Các bài học về văn miêu tả trong sách giáo khoa đều được tiến hành theo mô hình chung là: Tìmngữ liệu mẫu -> rút ra kết luận ->Khắc sâu kiến thức luyện tập củng cố
Các ngữ liệu mẫu thường được lấy từ các văn bản miêu tả được học đồng thời ở phần văn Vìthế khi dạy từng loại bài, giáo viên cần chú ý đến các đối tượng học sinh của lớp: có nội dungcho học sinh khá, giỏi; có nội dung cho học sinh trung bình, yếu,…
Với loại bài thực hành
Phần thực hành về văn miêu tả gồm viết và trả bài văn miêu tả; luyện nói về quan sát,tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
Với văn miêu tả tôi hướng dẫn các em thực hành tạo lập ba kiểu bài cơ bản sau:
– Tả cảnh ( Tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh sinh hoạt)
– Tả người (Tả chân dung, tả người trong tư thế hoạt động)
– Miêu tả sáng tạo
Ví dụ:
Muốn dạy học sinh làm văn miêu tả đạt yêu cầu thì giáo viên cần biết thế nào là văn miêu tả,đặc điểm thể loại văn miêu tả, biết yếu tố nào là quan trọng và cần thiết để giúp học sinh làmđược bài văn miêu tả sinh động thông qua quan sát đối tượng miêu tả (Nội dung này nằm trongbước chuẩn bị bài mới của giáo viên)
Đề bài: “Em hãy tả lại quang cảnh sân trường em trước giờ vào lớp
Gv phải hình thành các bước tìm hiểu đề cho học sinh theo thứ tự lần lượt: Mét lµ thÓ lo¹i; hai lµnéi dung cÇn lµm lµ g× ?; ba lµ ph¹m vi đề bài
+Thể loại: Miêu tả
+ Nội dung: Cảnh sân trường em trước giờ vào lớp
+ Phạm vi: Trước giờ vào lớp
Trang 4Giỏo viờn phải chỉ cho học sinh thấy được đõy là một đề văn tổng hợp: Vậy thế nào là cảnhtổng hợp? – Giáo viên chỉ rõ cho học sinh thấy xác định cảnh tổng hợp nhờ những từ ngữ nào.
Gv giải thớch cho học sinh đề tả cảnh tổng hợp nghĩa là: cảnh gồm nhiều cảnh nhỏ, cảnh lẻ.Những cảnh nhỏ, của quê hơng,miền quờ, hay trường học thờng là cánh đồng, dòng sông, con đ-ờng làng,sõn trường…sau đó giúp học sinh hình dung đợc cụ thể về cảnh miêu tả ở thời giannào (mùa nào) ở không gian nào ( cảnh đó nh thế nào) … Việc xác định đợc đúng yêu cầu của
đề nh ở ví dụ trên sẽ giúp các em rất nhiều trong việc định hình đợc đối tợng miêu tả
3.3 Rốn kĩ năng quan sỏt, tưởng tượng, so sỏnh và nhận xột trong văn miờu tả
1 a Rốn luyện kĩ năng quan sỏt cho học sinh
– Đối tượng của bài văn miờu tả là sự vật, thiờn nhiờn, là con người, cuộc sống con người Cúthể coi đú là một thế giới phong phỳ và đa dạng phức tạp đang diễn rất hay đổi theo từng ngàytừng giờ Tuy vậy khụng phải tự nhiờn mà ta hiểu ngay và nắm vững đặc điểm của từng sự vật ,
sự việc, con người để miờu tả đỳng bản chất của nú Chớnh vỡ thế mỗi giỏo viờn dạy mụn Ngữvăn cần phải hỡnh thành ngay từ đầu kĩ năng quan sỏt và ghi chộp
– Đối với cỏc em học sinh, khi làm văn miờu tả kĩ năng quan sỏt và ghi chộp cũng rất cầnthiết,tuy nhiờn cỏc em khụng thể cú được cỏc kĩ năng đú và sử dung thành thạo được, tất cả mớichỉ là tập dượt: tập quan sỏt , tập ghi chộp, tập phỏt hiện ra đặc điểm nổi bật của cỏc sự vật, hiệntượng Từ đú cú vốn sống phong phỳ để làm tốt bài văn miờu tả
– Miờu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người để giỳp người nghe,người đọc hỡnh dung được cỏc đối tượng ấy, tức là lấy cõu văn để biểu hiện cỏc đặc tớnh, bảnchất của sự vật, giỳp người đọc như được chứng kiến tận mắt sự vật miờu tả Nờn khi dạy vănmiờu tả, tụi hướng dẫn học sinh quan sỏt và miờu tả theo cỏc trỡnh tự hợp lý như sau:
*Tả theo trỡnh tự khụng gian:
Quan sỏt toàn bộ trước rồi đến quan sỏt từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từtrỏi qua phải,… (hoặc ngược lại)
Vớ dụ 1: Trong văn bản“ Sụng nước Cà Mau”- Ngữ văn 6 tập II, nhà văn Đoàn Giỏi miờu tả toàn
cảnh Cà Mau theo trỡnh tự từ xa đến gần:
“Càng đổ gần về hướng mũi Cà Mau thỡ sụng ngũi, kờnh rạch càng bủa giăng chi chớt như
mạng nhện Trờn thỡ trời xanh dưới thỡ nước xanh, chung quanh mỡnh cũng chỉ toàn một sắcxanh cõy lỏ Tiếng rỡ rào bất tận của những khu rừng xanh bốn mựa, cựng tiếng súng rỡ rào từbiển Đụng và vịnh Thỏi Lan ngày đờm khụng ngớt vọng về trong hơi giú muối -thứ õm thanh đơnđiệu triền miờn ấy ru ngủ thớnh giỏc, càng làm mũn mỏi và đuối dần đi tỏc dụng phõn biệt của thịgiỏc con người trước cỏi quang cảnh chỉ lặng lẽ một màu xanh đơn điệu”
Vớ dụ 2: Cũng trong văn bản “ Sụng nước Cà Mau”- Ngữ văn 6 tập II, nhà văn Đoàn Giỏi đó
miờu tả cảnh dũng sụng và rừng đước Năm Căn theo trỡnh tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong,
từ khỏi quỏt đến cụ thể:
“Thuyền chỳng tụi chốo thoỏt qua kờnh Bọ Mắt, đổ ra con sụng Cửa Lớn, xuụi về Năm Căn.
Dũng sụng Năm Căn mờnh mụng, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đờm như thỏc, cỏ nước bơihàng đàn đen trũi nhụ lờn hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu súng trắng.Thuyền xuụigiữa dũng con sụng rộng hơn ngàn thước, trụng hai bờn bờ, rừng được dựng lờn cao ngất nhưhai dóy trường thành vụ tận Cõy đước mọc dài theo bói, theo từng lứa trỏi rụng, ngọn bằng tăm
Trang 5tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu,màu xanh chai lọ… lòa nhòa ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai”.
*Tả theo trình tự thời gian
Ví dụ : “Biển đẹp”- Vũ Tú Nam
“Buổi sớm nắng sáng Những cánh buồm nâu trên biển được nắng chiếu vào hồng rực lên nhưđàn bướm múa lượn giữa trời xanh Lại đến một buổi chiều gió mùa đông bắc vừa dừng Biểnlặng, đỏ, đầy như mâm bánh đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai đem rắclên trên.Rồi một ngày mưa rào Mưa dăng dăng bốn phía Có quãng nắng xuyên xuống biển óngánh đủ màu:xanh lá mạ,tím phớt,hồng xanh biếc…Có quãng thâm sì, nặng trịch Những cánhbuồm ra khỏi cơn mưa, ướt đẫm, thẫm lại, khỏe nhẹ bồi hồi, như ngực áo bác nông dân càyxong ruộng về bị ướt”
* Tả theo trình tự tâm lí:
Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây cảm xúc mạnh nhất đếnbản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tả sau Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tảngười nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ nên tả những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tảđầy đủ chi tiết như nhau của đối tượng
Ví dụ : Nhà văn Đoàn Giỏi miêu tả chợ Năm Căn theo mạch cảm xúc riêng của mình, qua đó thể
hiện niềm tự hào của tác giả về vùng đất trù phú, giàu có nơi tận cùng phía Nam Tổ quốc:
“Nhưng Năm Căn còn có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phôphang sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc Những bến vận hà nhộn nhịp dọcdài theo sông; những lò than hầm gỗ đước sản xuất loại than củi nổi tiếng nhất của miền Nam;những ngôi nhà bè ban đêm ánh đèn măng-sông chiếu rực trên mặt nước như những khu phốnổi, và nơi đây người ta có thể cập thuyền lại, bước sang gọi một món xào, món nấu Trung Quốchoặc một đĩa thịt rừng nướng ướp kiểu địa phương kèm theo vài cút rượu, ngoài ra còn có thểmua từ cây kim cuộn chỉ, những vật dụng cần thiết, một bộ quần áo may sẵn hay một món nữtrang đắt giá chẳng hạn, mà không cần phải bước ra khỏi thuyền Những người con gái Hoa kiềubán hàng xởi lởi, những người Chà Châu Giang bán vải, những bà cụ già người Miên bán rượu,với đủ các giọng nói líu lô, đủ kiểu ăn vận sặc sỡ, đã điểm tô cho Năm Căn một màu sắc độcđáo, hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau”
* Ngoài các trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử
dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,…) để quan sát, cảm nhận sự vật, hiệntượng miêu tả
1 Kĩ năng tưởng tượng
Tưởng tượng có vai trò rất lớn trong văn miêu tả.Nó không chỉ là yếu tố tạo nên sự phong phútrong cho các hình ảnh trong bức tranh miêu tả mà con giúp cho người làm văn tả tìm đượcnhững từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật phù hợp để bài văn hay hơn, sinh động hơn
* Ví dụ : Trong văn bản “ Cỏ non” của Hồ Phương, Văn học 6 tập 1
“Con Nâu đứng lại Cả đàn dừng theo Tiếng gặm cỏ bắt đầu trào lên nhưng một nong tằm ăn
rỗi khổng lồ Con Ba Bớp vẫn phàm ăn tục uống nhất, cứ thúc mãi mõm xuống, ủi cả đất lên màgặm Bọt mép nó trào ra, nom đến là ngon lành Con Hoa ở gần đó cũng hùng hục ăn khôngkém, mặc dù ả có bộ mã tiểu thư rất yểu điệu “cái rá cắn làm đôi” Gã công tử bột vẫn sán ở bên
Trang 6cạnh ả, mồm vừa gau gáu gặm cỏ, mắt vừa liếc sang lem lém.Mẹ con chị Vàng ăn ở riêng mộtchỗ cùng con Cún Cu Tũn dở hơi chốc chốc lại chạy tới ăn tranh cỏ của mẹ Chị Vàng lại dịu
dàng nhường cho nó và đi kiếm một búi khác.”
=> Tác giả đã kết hợp một cách tài tình giữa hình ảnh tả thực với hình ảnh sáng tạo nhờ trítưởng tượng.Chính vì trí tưởng tượng phong phú đã giúp nhà văn khi nghe tiếng đàn bò gặm cỏ
đã liên tưởng đến “một nong tằm ăn rỗi khổng lồ”.Và cũng nhờ trí tưởng tượng phong phú mà tácgiả đã phát hiện ra tính cách của con bò qua cách gặm cỏ của chúng: Con ba bớp thì “ngổngáo”, “phàm ăn tục uống”; con Hoa vốn “tiểu thư yểu điệu”, cu Tũn như một chú bé dở hơi,tinhnghịch ,nũng nịu ; chị Vàng đúng là người mẹ dịu hiền, nhường nhịn…Nghệ thuật so sánh kếthợp với nhân hóa đã làm cho hình ảnh đàn bò gặm cỏ hiện lên thật sống động
1 Kĩ năng so sánh
So sánh là hệ quả của quá trình liên tưởng và tưởng tượng Khi quan sát một đối tượng nào đó,hình ảnh của đối tượng ấy (từ màu sắc tới hình dáng, từ kích thước tới trạng thái) thường gợicho người quan sát nghĩ đến hình ảnh tương đồng nào đó Chính sự so sánh liên tưởng này giúpcho trang văn miêu tả của các em hay hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn
Vì vậy, tôi đã hướng dẫn cho các em một số cách so sánh như sau:
– Có thể so sánh người với người: “Với ngương mặt phúc hậu và mái tóc bạc trắng, trông bà hệtnhư bà tiên trong truyện cổ tích”; “Nhìn nó chăm chỉ làm việc giúp bà, ai cũng tấm tắc: Hệt như
cô Tấm trong chuyện cổ tích xưa”…
– Có thể so sánh người với các con vật (hình dáng, tính cách): “Lão ta quá ranh mãnh, xảoquyệt, y như một con cáo già”; “Trông anh ta như một con gấu”; “cậu ấy nhanh như một consóc”…
– Có thể so sánh người với cây cối: “Chấm cứ như một cây xương rồng” (cái sân gạch – ĐàoVũ); “Cô bé cứ như một cây lúa non, lặng lẽ lớn lên từ bùn đất”…
– Có thể so sánh người với các hiện tượng thiên nhiên: “Giọng lão ta lúc nào cũng gầm vangnhư sấm” “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”…
– Có thể so sánh vật với vật, cảnh với cảnh: “cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạomới”( Vũ Tú Nam); “Vầng trăng non giữa bầu trời đầy sao hệt như một cái liềm vào ai bỏ quêngiưa cánh đồng lúa chín” (Theo Vích – to Huy gô); “ Măng chồi lên nhon hoắt như một mũi gaikhổng lồ xuyên qua đất lũy mà trỗi dậy” (Ngô Văn Phú)…
– Có thể so sánh vật với con người: Cây bàng già sừng sững, uy nghi như một người lính gáccanh giữ cho khu vườn được bình yên”; “ cây bưởi như một người mẹ đang cần mẫn cõng trênmình lũ con đầu tròn trọc lóc”; “Chim già đãy, đầu hói như những ông thầy tu mặc áo xám” (ĐoànGiỏi)
Nếu xét về cách thức so sánh thì có những hiện tượng so sánh sau:
– So sánh theo hướng thu nhỏ lại: “ Trái đất như một giọt nước màu xanh lơ lửng giữa khôngtrung” ; “xa xa, những cánh buồm nâu như những cánh bướm rập rờn trên mặt biển”…
– So sánh theo hướng phóng đại lên: “Rệp bò lổm ngổm hư xe cóc – muỗi lượn nghênh ngangtụa máy bay” (Hồ chí Minh) ; “chiếc lá tre thả xuống dòng nước, chòng chành, xoay xoay, rồi trôi
đi như một con thuyền, chở theo ước mơ của chúng tôi”…
Trang 7– So sánh theo hướng cụ thể hóa: “ Từ sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi” (truyềnthuyết Thánh Gióng); “Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết Tròn trĩnh phúc hậu như long
đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn” (Nguyễn Tuân)
– So sánh theo hướng trừu tượng hóa: “ Nước biển chiều nay xanh như một trang sử của loàingười, lúc con người phải viết vào than tre” (Nguyễn Tuân)…
Tuy nhiên khi sử dụng kĩ năng so sánh, cần lưu lưu ý là phải biết sáng tạo, biết tìm điểm mới,điểm riêng Không nên lặp đi lặp lại những hình ảnh so sánh đã quá cũ, quá sáo mòn theo kiểu:
“Miệng cười tươi như hoa”, “Những hạt sương long lanh như những hạt ngọc đính trên cành hoahồng” ; “ Cánh đồng lúa chin trông như tấm thảm vàng trải rộng đến chân trời”
1 Kĩ năng nhận xét trong văn miêu tả
Viết văn miêu tả, bao giờ người viết cũng để lại dấu ấn chủ quan của mình
Dấu ấn chủ quan ấy chính là sự cảm nhận riêng của mỗi người, là cách biều lộ thái độ, tình cảmriêng của mỗi người đối với đối tượng được miêu tả Một nhà văn Pháp viết: “ Một trăm cây bạchdương giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửa giống nhau cả trăm Mới nhìn tưởng thế, nhưngnhìn kĩ thì chân cây bạch dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác nhau Trong đời
ta gặp bao nhiêu người, phải thấy ra mỗi người mỗi khác nhau, không ai giống ai” (Dẫn theo Tô
Hoài – Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả).
Không phải chỉ các nhà văn, mà ngay cả học sinh khi làm văn miêu tả cũng nên ý thức rõ điềunày Giáo viên còn phải mở rộng thêm nữa, rằng thiên nhiên con người xung quanh chúng taluôn trong trạng thái vận động và thay đổi không ngừng- thật vô cùng thú vị và hấp dẫn Đâu phảichỉ có ngọn lửa này ngọn lửa khác ngọn lửa kia, thân cây bạch dương này khác thân cây bạchdương kia mà ngay cùng một sự vật, hiện tượng ấy cũng từng phút, từng giờ thay đổi liên tục.Cũng một con đường từ nhà đến trường , nhưng sáng hôm nay ta thấy nó như thế này, sángmai đã có thể đổi khác Cũng một cây bàng , chiều hôm trước còn trơ trụi lá cành, mà chỉ saumấy hôm đã đâm trồi nảy lộc, tràn đầy sức sống Cũng một môt bãi biển , nhưng khi ta buồn sẽ
ta sẽ cảm nhậc nó khác khi ta đang vui… Có thể nói rằng , đối tượng miêu tả sẽ xuất hiện và đivào bài văn tùy thuộc vào điểm nhìn, thái độ, tâm trạng tình huống giao tiếp của người viết Đâychính là cơ sở tạo nên dấu ấn chủ quan của người viết.Nó đòi hỏi người viết trong bài viết củamình có những lời nhận xét, những suy nghĩ, những cảm nhận riêng về đối tượng Vần đề làphải dùng cách nhận xét như thế nào để tạo sự hấp dẫn cho bài văn miêu tả ? Trước hết có thểnhận xét trực tiếp bằng những lời bình, những câu cảm thán, những hình ảnh so sánh: “Chà! chà
!Béo ơi là béo !”, “Gớm !Béo đâu có béo lạ béo lùng thế !”( Nguyễn Công Hoan ); “ Những bônghoa rơi từ trên cao , đài hoa nặng chúi xuống những cánh hoa đỏ rực quay tít như chong chóng ,nom thật đẹp (Vũ Tú Nam ); “ A cháng đẹp người thật … Nhưng phải nhìn Hạng A Cháng càymới thấy vẻ đẹp của anh “ (Ma Văn Kháng)…
Và cũng có thể bộc lộ một cách kín đáo qua việc lựa chọn hình ảnh miêu tả Đây là thái độ mỉamai, giễu cợt của nhà văn Nguyễn Công Hoan khi miêu tả hình ảnh một “bà chủ “ :” Vậy thì bànằm đó Như thoạt trông , đố ai dám bảo là một người Nếu người ta chư nom rõ cái măt phị ,cái cổ rụt , cái nung núc và bốn chân tay ngắn chùn chùn , thì phải bảo là một đống hai ba cáichăn bông cuôn lại với nhau , sắp đem cất đi “ Còn đây là thái độ ngạc nhiên thích thú của nhàvăn Vũ Tú Nam khi quan sát và miêu tả hình ảnh những trái mướp lớn nhanh như thổi : “ Rồi quảthi nhau chòi ra… bằng ngón tay … bằng con chuột Rồi bằng con cá chuối to”…
* Ví dụ : Trong văn bản “Cô Tô” –SGK ngữ văn 6 ,nhà văn Nguyễn Tuân khi miêu tả vẻ đẹp
trong sáng,tràn đầy sức sống toàn cảnh Cô Tô một ngày sau bão,đã thể hiện được cảm nhận riêng của mình về một vùng đất ông từng qua:
Trang 8“Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa Từ khi có vịnh Bắc Bộ và từkhi quần đảo Cô Tô mang lấy dấu hiệu sự sống con người thì , sau mỗi lần dông bão , bao giờbầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt , nước biển lạilam biếc đặm đà hơn hết cả mọi khi ,và cát lại vàng giòn hơn nữa Và nếu cá có vắng tăm biệttích trong ngày động bão thì nay lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi Chúng tôi leo dốc lên đồn
Cô Tô hỏi thăm sức khỏe anh em bộ binh và hải quân cùng đóng sát nhau trong cái đồn khốxanh cũ ấy
Trèo lên nóc đồn, nhìn ra bao la Thái Bình Dương bốn phương tám hướng , quay gót 180 độ màngắm cả toàn cảnh Cô Tô Nhìn rõ cả Tô Bắc, Tô Trung, Tô Nam, mà càng thấy yêu mến hòn
đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây”.
3.4.
Giúp học sinh nắm đặc điểm của từng kiểu bài miêu tả:
Giáo viên giúp học sinh biết dùng lời văn cùng trí tưởng tượng phong phú hợp với yêu cầu về nộidung và thể loại cho trước, khi luyện tập Giáo viên cũng cần lưu ý nhắc nhở các em nắm vữngcác đặc điểm của mỗi thể loại, mỗi dạng bài và xác định đối tượng miêu tả Trong mỗi bài vănphải thể hiện cái mới cái hay, cái riêng và cảm xúc của mình
a.Kiểu văn tả đồ vật, loài vật, cây cối.
Đối tượng ở kiểu bài này rất cụ thể và thường là những vật quen thuộc trong cuộc sống hàngngày của chúng ta Nhưng kiểu bài này lại khó ở chỗ đối tượng miêu tả , nhiều khi cấu tạo lạiđơn giản nên khó phát triển ý, bài viết ngắn cụt lủn, hời hợt Vì thế ,mỗi giáo viên khi dạy dạngbài này cần lưu ý cho các em học sinh những yêu cầu sau để bài làm tốt hơn
– Thứ nhất: Khi làm kiểu bài này cần miêu tả từ bao quát đến cụ thể, từ giới thiệu chung đếnmiêu tả chi tiết Riêng tả loài vật cây cối có thể theo quá trình trưởng thành của đối tượng với cácgiai đoạn cụ thể
– Thứ hai: Đối tượng miêu tả của bài này là những đồ dùng, vật dụng, những hình ảnh quenthuộc trong đời sống hàng ngày Do đó khi miêu tả phải chú ý đến ý nghĩa công dụng của chúngvới con người Đặc biệt trong quá trình miêu tả có thể xen kẽ một vài kỉ niệm thể hiện sự gắn bógiữa người tả với đối tượng được tả
– Thứ ba: Cần biết điều chỉnh một cách hợp lý giữa các hình ảnh tả thực với liên tưởng Nếu tảthực quá nhiều thì hình ảnh miêu tả trở nên trần trụi Còn nếu liên tưởng quá nhiều thì tính chânthực sẽ giảm đi Riêng với đồ dùng vật dụng không phải lúc nào cũng tả cái mới.Có thể tảnhững đồ dùng cũ đan xen các kỉ niệm thì bài viết sẽ sâu sắc hơn
Ví dụ: Tả lại một loài cây mà em yêu quý nhất trong sân trường.
+Thể loại: Miêu tả
+ Nội dung: Tả lại một loài cây mà em yêu quý nhất
+ Phạm vi: Trong sân trường
Ví dụ:
Ngôi trường thân yêu của tôi có rất nhiều loại cây cho bóng mát Nhưng có lẽ không cây nào
có bóng che rợp mát bằng cây bàng Nó đứng sừng sững giữa sân trường này không biết từ baogiờ chỉ biết từ khi tôi đặt chân đến trường đã thấy bàng rồi
Trang 9Cây bàng đứng sừng sững giữa sân trường này không biết từ bao giờ chỉ biết từ khi tôi đặtchân đến trường đã thấy bàng rồi.Nhìn từ xa, cây bàng như một chiếc ô khổng lồ nhiều tầng xoètán chùm bóng mát cả một khoảng sân trường rộng cho chúng tôi vui chơi giải trí sau mỗi giờhọc căng thẳng Lại gần cây bàng tròn, thẳng mầu nâu sẫm như dãi giầu qua nhiều năm tháng.Cây bàng là một loại cây rất nhậy cảm với sự thay đổi của bốn mùa Nhìn lá bàng người ta cóthể nhận biết chính xác các mùa trong năm.Vào mùa thu, khi tiết trời se lạnh những chiếc lá bàng
to như hai bàn tay người lớn vốn mầu xanh đâm chuyển sang mầu vàng gạch quăn dần mép lárồi vồng lên như hình mo cau Lúc này nó đó biến sang mầu đỏ tía và khi những chị gió thu tinhnghịch thổi đến nó vội vã bứt ra khỏi cành chao liệng giữa không trung y hệt những cánh tay vẫychào tạm biệt nơi đã sinh ra mình Nhìn những chiếc lá bàng nằm trải dài trên sân trường trôngmới tuyệt làm sao!Cứ thế, những chiếc lá bàng chuyển dần mầu sắc cho đến khi những cơn giólạnh buốt từ phương Bắc tràn về thì cây bàng không còn một chiếc lá nào nữa Còn lại nhữngcành trơ trụi trông có vẻ khẳng khiu gông mình chịu đựng cái rét lạnh buốt của mùa đông nhưngtrong những cành khẳng khiu ấy vẫn trần trề nhựa sống.Rồi tiết trời như ấm lại, xuân đã về Chỉmột tuần thôi thì những trồi non xanh li ti đã điểm hết những cành to, cành nhỏ Thoáng cái đãthấy mầu xanh non bao phủ lấy toàn thân cây và chuyển dần sang mầu xanh đậm Những chiếc
lá của tầng thấp, tầng cao phát triển nhanh đến kì lạ Từ bé bằng bàn tay trẻ nhỏ mà nay đã phèphè như cái quạt mo.Cho đến khi mùa hạ về, lá vàng rợp mát cả một khoảng sân và đây là thờiđiểm mà tụi nhỏ chúng tôi tụm năm tụm bẩy vui đùa nhảy nhót hết sức thỏa mái vào những giờchơi dưới gốc bàng mát rượi thân yêu này Bàng còn là nơi gọi chim về tụ hội ca hát nhảy múatrong vòm lá Càng tô điểm cho cây vẻ đẹp mĩ miều.Tụi nhỏ chúng tôi yêu cây bàng này lắm bởi
nó đã gắn bó với ngôi trường tôi Nó còn là nơi chứng kiến bao kỉ niệm vui buồn của chúng tôi
Dù mai này có phải xa mái trường, xa cây bàng yêu dấu này thì hình ảnh về cây bàng mãi mãi
in đậm trong tâm trí tôi
1 Kiểu văn tả cảnh
Đối tượng miêu tả bao gồm cảnh thiên nhiên và cảnh sing hoạt Có thể coi đây là những bứctranh bằng ngôn ngữ, dừng lại một khung cảnh nào đó, một hoạt động nào đó, một hoạt độngnào đó của thiên nhiên của con người (Một phiên chợ tết, một bến đò hoặc ga tàu đông khách,một cuộc thi thả diều, một cánh rừng,một dòng sông, một làng quê,yên tĩnh,…) Nội dung củakiểu bài này không nghèo nàn, thậm chí rất phong phú nhưng do kinh nghiệm quan sát của họcsinh còn yếu, kiến thức nghèo nàn, trình độ sắp xếp ý còn hạn chế nên bài làm thường có bố cụclộn xộn, thiếu cân đối
Khi làm kiểu bài này giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau
– Đối với văn tả cảnh thiên nhiên, người viết có thể chọn một trong số các trình tự tả : theotrình tự thời gian, không gian, số lượng cảnh,…Bức tranh thiên nhiên không bao giờ ở dạng tĩnh
mà luôn có sự thay đổi, vì vậy khi tả phải làm nổi bật được sự thay đổi này (Mùa này khác mùakia, buổi này khác buổi kia, thời điểm này khác thời điểm kia…)
– Ngoài việc tả bao quát toàn cảnh, người tả cần tìm được một số hình ảnh tiêu biểu để tậptrung tả chi tiết, cụ thể Đặc biệt là khi tả cảnh thiên thiên nào thì cũng phải đặt nó trong mộtkhông gian, thời gian cụ thể, và phải có mối quan hệ mật thiết với các hiện tượng tự nhiên,nhưgió, nắng… Các biện pháp nghệ thuật, so sánh, nhân hóa nên được vận dụng nhiều để góp phầnlàm cho bài văn tả sinh động hơn
– Đối với văn tả cảnh sinh hoạt thì cần chú trọng chọn tả theo trình tự thời gian và trình tựhoạt động của các đối tượng Ngoài việc tả chung, nhìn bao quát toàn cảnh và liệt kê các hoạtđộng, người viết phải tập trung vào một số cảnh chính, tiêu biểu ưu tiên dùng nhiều những từ láytượng hình,tượng thanh, nghệ thuật so dài, câu đặc biệt hay câu bình thường, câu đảo ngữ haycâu đảo lược… Đặc biệt cần chú ý làm nổi bật mối quan hệ tình cảm giữa các đối tượng xuất
Trang 10hiện trong bức tranh này Nếu cần thiết vẫn có thể đưa một số mẩu đối thoại, một số câu văn tự
sự, một số câu văn nêu nhận xét cảm nghĩ vào văn tả cảnh sinh hoạt
Ví dụ : Một số câu trong bài văn tả cảnh: “Chiều tối” của Phạm Đức:
“Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây cao, rồi nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.”
=>Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà lẫn” với “ánh sángtrắng nhợt”
Tác giả cũng đã dùng thị giác để quan sát sự biến đổi của ánh sáng và bóng tối, đã dùng thínhgiác để nghe tiếng dế và dùng khứu giác để cảm nhận hương vườn và cũng đã sử dụng nghệthuật nhân hoá làm cho câu văn sinh động một cách rất tinh tế, khi viết:
“Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen phủ dần lên mọi vật.”
“Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.”
“ Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung tăng trong ngọn giónhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.”
1 Kiểu văn tả người
Khi miêu tả người, yếu tố quan sát lại càng quan trọng Nhìn chung, mọi người đều có nhữngđặc điểm giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau ở những đặc điểm riêng, chỉ người đó mới
có Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng dẫn học sinh “miêu tả người” là giúp cho các em thấy rằngphải miêu tả ngắn gọn mà chân thực, sinh động về hình ảnh và hoạt động của người mình tả
Ví dụ: Trong bài “Vượt thác” (sách giáo khoa ngữ văn 6 tập II) nhà văn Võ Quảng đã miêu tả
về Dượng Hương Thư như sau:
“ Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn
chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào như một hiệp sĩ của Trường Sơnhùng vĩ Dượng Hương Thư vượt thác khác hẳn dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẻ,tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ.”
=>Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnh Dượng Hương Thưkhi vượt thác rất khéo léo, dũng cảm và dạn dày kinh nghiệm Về cơ bản, để làm được bài văn tảngười thành công, giáo viên cần giúp học sinh đảm bảo các yêu cầu sau các yêu cầu sau:
– Xác định đối tượng cần miêu tả: Thầy cô giáo, bạn bè hay người thân,… tả chân dung hay tảngười trong tư thế hoạt động
– Quan sát đối tượng miêu tả và lựa chọn các chi tiết tiêu biểu: Chân dung nhân vật(khuôn mặt,mái tóc, nước da,…); tính cách nhân vật(qua ngôn ngữ , tính cách, hành động, cử chỉ của nhânvật)
– Trình bày các chi tiết đã lựa chọn theo một trình tự hợp lý sao cho phù hợp với mục đích miêu
tả và làm nổi bật được đối tượng miêu tả
– Cảm nhận của người viết về nhân vật mà mình miêu tả
Trang 11(Lưu ý khi ra đề tả người cần chú ý đến đối tượng tả có trong vốn sống của các em và nên ra
những dạng đề mở Bên cạnh những cụ thể như: hãy tả lại bà ngoại, ông nội của em, nên có những đề bài mở hơn tự do hơn như:tả lại một người mà em yêu thương nhất trong gia đình) Sự
lựa chọn này sẽ giúp các em bày tỏ cảm xúc tình cảm một cách chân thực nhất
3.5 Rèn luyện về cách diễn đặt trong văn miêu tả
Vì thế khi dạy văn miêu tả cần rèn luyện cho các em cách sử dụng từ ngữ, lựa chọn hình ảnhsao cho phù hợp
Ví như:
– Tả cảnh sóng biển có nhiều từ ngữ gợi hình, gợi thanh : cuồn cuộn, nhấp nhô , lăn lăn , rì rầm ,
rì rào , lô nhô , ì oạp …Nhưng không phải tả sóng lúc nào cũng dùng được các từ ấy.Ta phỉ xácđịnh các từ ngữ phù hợp trong tưmngf hoàn cảnh Ví dụ như sóng biển lúc trời động thì phảidùng từ cuồn cuộn; tả tiếng song biển vỗ vào bờ đá thì phải dùng từ ì oạp; tả tiếng song biểnvọng lại trong đêm mà nghe xa thì phải dùng tù từ rì rầm…
– Tả cây cối cũng có nhiều từ ngữ chỉ màu xanh khác nhau: xanh um, xanh rì, xanh non, xanh
mơn mởn; xanh tươi, xanh tốt, xanh rờn… nhưng khi đi vào thực tế, mỗi loại cây đều có một màuxanh riêng, không thể lẫn lộn: cây rau cải trong vường hay cây lúa đang thì con gái thì phải làxanh mơn mởn, xanh rờn; cây cối trong rừng rậm rạp thì phải là xanh rì,xanh tốt, xanh um…
– Ngay cả âm thanh tiếng mưa rào cũng có sự phân biệt rất rõ: mưa giáo đầu thì lẹt đẹt, mưa
trên mái tôn thì rào rào, mưa đạp vào phên lứa thì đồm độ; mưa đập vào tàu lá chuối thì lungbùng; mưa từ mái tranh giọt đổ xuống sân thì ồ ồ…
– Còn từ ngữ tả dáng đi của con người cũng vô cùng phong phú, đa dạng: em bé tập đi thì lẫm
chẫm, cậu bé tinh nghịch thì có dáng đi nhún nhảy, vừa đi vừa nhảy chân sáo; cụ già thì lomkhom; người đang đau chân thì đi khập khà khập khiễng; có cô gái trẻ thì yểu điệu thướt tha;người vất vả thì dáng đi hấp tấp,lật đật, sấp ngửa, chân nam đá chân xiêu…
– Bên cạnh việc lựa chọn từ ngữ, vấn đề tạo hình ảnh trong văn miêu tả cũng không kém phần quan trọng: Có thể thấy câu văn miêu tả giàu hình ảnh bao nhiêu thì sức gợi cảm của nó sẽ lớn
bấy nhiêu Việc tạo hình ảnh cho câu văn miêu tả có thể thực hiện bằng nhiều cách: hoặc bằng
từ ngữ tượng hình, tượng thanh (gấu bố, gấu mẹ, gấu con cùng béo núc ních, bước đi lặc lè, lặclè); hoặc bằng nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, nhân hóa (“Lá mía sắc như lưỡi gươm, xanh đậm”, “lũ