1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Toan 3 vang thphuongliet (1)

30 643 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 60,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình toánhọc ở lớp 3, mạch kiến thức về giải toán chiếm khoảng 9% tổng thời lượng củamôn học nhưng lại vô cùng quan trọng đối với học sinh bởi: bước đầu giúp họcsinh làm qu

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH

Trang 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH

Năm học: 2016 – 2017 MỤC LỤC

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong tình hình hiện nay, giáo dục là một vấn đề được cả xã hội quan tâm.Đảng và nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Bậc học tiểu học đượccoi là nền tảng của các bậc học Quá trình học ở tiểu học là nền móng cho họcsinh có vốn kiến thức để học tiếp lên các lớp trên Trong các môn học mà học sinhhọc ở bậc tiểu học, môn Toán là bộ môn rất quan trọng Đây là môn học chiếmtương đối nhiều thời gian học của học sinh trong suốt quá trình học phổ thông.Đây cũng là môn học có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống Cùng vớicác môn học khác, môn Toán góp phần hình thành nhân cách cho học sinh

Ở bậc tiểu học, môn Toán cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầumột cách tương đối có hệ thống về số tự nhiên, phân số, số thập phân, các đạilượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản; hình thành các

kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thựctrong đời sống; bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí vàdiễn đạt đúng cách phát hiện và cách giải quyết vấn đề đơn giản, gần gũi trongcuộc sống, kích thích trí tưởng tượng, chăm học và hứng thú học tập toán, hìnhthành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủđộng, linh hoạt, sáng tạo

Quá trình cung cấp kiến thức toán học cho học sinh trong dạy học ở tiểuhọc được chia thành hai giai đoạn thì nội dung toán học lớp 3 được coi là cầunối để học sinh học tiếp ở giai đoạn hai Ở lớp 3, các em tiếp tục hoàn thiệnnhững kiến thức kĩ năng của giai đoạn một và chuẩn bị cho sự phát triển cao hơn

về kiến thức kĩ năng của giai đoạn hai ở lớp 4 và lớp 5 Trong chương trình toánhọc ở lớp 3, mạch kiến thức về giải toán chiếm khoảng 9% tổng thời lượng củamôn học nhưng lại vô cùng quan trọng đối với học sinh bởi: bước đầu giúp họcsinh làm quen giải toán hợp, nội dung này còn được học kết hợp với nội dungdạy số học, hình học và bước đầu yêu cầu học sinh biết tư duy, tìm tòi, sáng tạokhi biết vận dụng các bài toán đơn đã học để giải toán Đặc biệt hơn, với họcsinh lớp 3, việc giải thành thạo các bài toán bằng hai phép tính là vô cùng cầnthiết bởi những kiến thức này chính là cơ sở để học sinh vận dụng học ở giaiđoạn hai khi giải những bài toán nhiều hơn hai phép tính, những dạng toán điển

hình Khả năng tư duy để tìm ra các bước giải bài toán bằng hai phép tính ở

lớp 3 tốt sẽ giúp các em dễ dàng hơn khi giải các bài toán về tìm số trung bình

Trang 4

cộng của các số, tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số, tìm hai số khi biếttổng số và tỉ số của hai số, tìm hai số khi biết hiệu số và tỉ số của hai số, tínhdiện tích hình bình hành, diện tích hình thoi ở lớp 4, giải toán về đại lượng tỉ lệthuận, tỉ lệ nghịch, một số bài toán có nội dung hình học ở lớp 5.

Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, không phải bất kì một vấn đề nào trongsách giáo khoa hay nội dung kiến thức cần cung cấp cho học sinh mà giáo viênđưa ra học sinh đều hiểu và vận dụng được ngay Trong quá trình dạy học, bằngtâm huyết nghề nghiệp và những kinh nghiệm đã đúc rút được cho từng môn học

ở mỗi khối lớp, cho từng mạch kiến thức hay từng bài dạy, người giáo viên cóthể có những biện pháp, những cách thức truyền đạt khác nhau sao cho học sinhhiểu bài, hiểu sâu, nhớ lâu và biết vận dụng bài học vào thực tế cuộc sống Đómới chính là cái đích cuối cùng của dạy học: học để biết, học để làm, học để tựkhẳng định mình

Chính vì những lí do trên mà tôi đã chọn cho mình đề tài nghiên cứu về

"Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính" trong

chương trình Toán 3 Việc chọn đề tài này giúp tôi hiểu sâu hơn về nội dung dạyhọc giải toán ở lớp 3, các phương pháp và hình thức tổ chức giờ dạy về giải toán

ở lớp 3, các hướng phát triển cho một bài toán về giải toán ở lớp 3 Từ đó, tôi sẽvận dụng tốt hơn vào thực tiễn giảng dạy của mình

Trang 5

Việc xây dựng các bài tập về giải các bài toán giải bằng hai phép tính dựavào các kiến thức về giải toán có lời văn mà học sinh đã có khi học toán 1 , 2 vàcác dạng toán đơn mà các em được học trong chương trình môn Toán ở lớp 3.Với lứa tuổi của học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh học lớp 3, các emthường bắt chước hoặc ghi nhớ một cách máy móc Việc học tập giúp các emhình thành và phát triển ghi nhớ có ý nghĩa, biết lập luận để tìm ra sự liên quangiữa dữ kiện bài toán cho biết và yêu cầu của bài Những kiến thức các em cóđược qua học tập môn Toán và được gắn liền với thực tiễn đời sống sẽ được các

em nhớ lâu, kích thích ở các em sự liên tưởng, tìm tòi, khám phá và sáng tạo.Nhờ đó ghi nhớ của trẻ có ý nghĩa và chất lượng hơn Những khác biệt về nhậnthức về khả năng tư duy của trẻ thường được biểu hiện rõ nét trong việc suy luận

và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế Ngày nay, nhà trường hiện đại lấy họctrò là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, học trò mới là chủ thể của quátrình học Trẻ em ngày nay rất thông minh, nhanh nhẹn trong việc nắm bắt cáimới, biết vận dụng kiến thức học trong nhà trường vào thực tiễn đời sống rấtnhanh Bởi thế giáo dục cần trang bị cho trẻ những kiến thức kĩ năng phù hợpvới nhận thức của các em

Trang 6

Nói tóm lại: Quan điểm về xây dựng chương trình môn Toán phù hợp với

đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 3 là cơ sở khoa học cho việc soạn thảochương trình môn Toán 3 với các mạch nội dung về Số học, Đại lượng và đo đạilượng, Yếu tố hình học, Giải toán Trong đó, mạch kiến thức về giải toán có nộidung giải bài toán bằng hai phép tính

2 Cơ sở thực tiễn

Trong thực tế, học sinh được tiếp xúc với giải toán có lời văn từ khi bắt đầuhình thành phép cộng, phép trừ trong môn Toán ở lớp 1 qua những bài tập cóyêu cầu viết phép tính thích hợp dựa vào những hình ảnh cụ thể như: bên trái có

1 quả bóng bay, bên phải có hai quả bóng bay hoặc trên cành có 3 con chim đậu

có 1 con chim nữa đang bay đến, … với yêu cầu ngày một tăng dần như cho biếthình ảnh và viết sẵn các chữ số, yêu cầu học sinh điền thêm dấu phép tính thíchhợp; hoặc cho biết hình ảnh, yêu cầu học sinh tự viết thành phép tính thích hợp.Khi học sinh lớp 1 đã thành thạo cộng, trừ các số trong phạm vi 10, các em đượchọc về "Bài toán có lời văn" với các dạng toán về "gộp", "thêm", "bớt" và một

số bài toán giải bằng phép tính trừ mà thực chất đó chính là dạng toán "Tìm sốhạng trong một tổng" Ở lớp 2, cùng với việc củng cố các bài toán có lời văn đãhọc ở lớp 1, các em đã được làm quen và được luyện tập rất nhiều về giải cácbài toán đơn thuộc các dạng toán điển hình: Bài toán về nhiều hơn; Bài toán về

ít hơn; So sánh hai số hơn (kém) nhau bao nhiêu đơn vị; Các bài toán về “gộpcác nhóm bằng nhau”; Các bài toán về chia đều; Các bài toán về tìm thành phầntrong phép tính khi được học về tìm số hạng trong một tổng, tìm số bị trừ, tìm sốtrừ,… Lên đến lớp 3, bên cạnh việc ôn tập, củng cố các dạng toán đã được học ởlớp 2, học sinh được học thêm một số dạng toán đơn về gấp một số lên nhiều lầngiảm đi một số lần, tìm một trong các phần bằng nhau của một số, các bài toánliên quan đến hình học như tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông Đặcbiệt, các em được học "Bài toán giải bằng hai phép tính" mà mỗi phép tính giảitrong những bài toán này chính là phép tính để giải một trong những bài toánđơn đã học Việc học các bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3 có vai trò rấtquan trọng đối với việc học tập môn Toán bởi những bài toán giải bằng hai phéptính là cơ sở để học sinh vận dụng, suy luận khi các em học tập ở giai đoạn hai

để giải được những bài toán nhiều hơn hai phép tính và vận dụng nó trong đờisống thực tế hàng ngày

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Trang 7

Trong thực tế giảng dạy có những nội dung kiến thức mà giáo viên đưa ranhiều học sinh không hiểu được bản chất của nội dung đó mà chỉ áp dụng mộtcách máy móc Chính vì vậy nên khi có một nội dung nào đó có yêu cầu caohơn, đòi hỏi các em phải suy luận các em sẽ lúng túng, không biết suy luận đểtìm ra cách giải Nội dung dạy giải bài toán bằng hai phép tính cũng vậy, đây lànội dung mới mẻ và rất khó đối với học sinh Đối với học sinh lớp 3, khả năngsuy luận của các em còn hạn chế, lần đầu tiên các em phải giải nhũng bài toánđòi hỏi phải tư duy, suy luận nhiều Khi giải các bài toán đơn, việc tìm câu lờigiải cho phép tính, đa số các em đều dựa vào câu hỏi của bài toán nên khi giảinhững bài toán bằng hai phép tính, việc tìm câu lời giải cho phép tính thứ nhấtnhiều em còn hạn chế Nhiều em còn sai khi ghi danh số của các phép tính, đặcbiệt là những bài toán mà danh số của hai phép tính không giống nhau Ở lớp 3,các bài toán giải bằng hai phép tính rất nhiều dạng mà hầu như chẳng thể xếpnhững bài toán ấy thành dạng điển hình nào nên việc giải các bài toán đó lại

càng khó khăn với các em.

Còn đối với giáo viên, dạy học sinh giải bài toán bằng hai phép tính đôi khicũng còn những hạn chế như chưa khắc sâu cho học sinh mỗi phép tính giảitrong bài chính là dạng toán đơn nào các em đã học, chưa hướng dẫn học sinhmối quan hệ giữa các phép tính trong bài toán, câu hỏi để gợi ý học sinh tìmbước giải còn chưa sát, chưa khái quát được những dạng toán giải bằng hai phéptính, … Trong quá trình giảng dạy, giáo viên có thể chỉ hướng dẫn học sinh giảinhững bài toán bằng hai phép tính trong sách giáo khoa mà chưa chú trọng đếnviệc khắc sâu dạng toán, chưa đưa ra được những hình thức dạy học toán nhằmphát triển tư duy năng lực của học sinh, chưa đòi hỏi ở các em sự tập trung suynghĩ, tìm tòi, khám phá, nên nội dung dạy học còn đơn điệu, tẻ nhạt Chính vìvậy mà hiệu quả của việc giải toán còn có những hạn chế nhất định

III CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ

1 Hướng dẫn học sinh nắm chắc cách giải các bài toán đơn

Các bài toán đơn học sinh được học bao gồm các bài toán giải bằng mộttrong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia Đây là các bài toán các em được họctrong chương trình môn Toán của các lớp 1, 3 và nửa đầu học kì 1 ở lớp 3.Ngoài ra, các em còn được học khi giải các bài toán liên quan đến tính chu vi,diện tích của hình chữ nhật, hình vuông Các bài toán đơn mà học sinh đã họcđều là các bài toán thuộc các dạng toán điển hình Có thể chia các bài toán đơnthành các dạng như sau:

Trang 8

1.1 Các bài toán đơn giải bằng phép tính cộng

Đây là các bài toán thuộc các dạng toán:

- Bài toán về gộp hai số;

- Bài toán về thêm một số đơn vị;

- Bài toán về nhiều hơn;

Bài toán về tìm số bị trừ

1.2 Các bài toán đơn giải bằng phép tính trừ

Đây là các bài toán thuộc các dạng toán:

- Bài toán về bớt;

- Bài toán về ít hơn;

- Bài toán về so sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị;

- Bài toán về tìm số hạng trong một tổng;

- Bài toán về tìm số trừ

1.3 Các bài toán đơn giải bằng phép tính nhân

Đây là các bài toán thuộc các dạng toán:

- Bài toán về gộp các nhóm bằng nhau;

- Bài toán về gấp một số lên nhiều lần;

- Bài toán về tìm số bị chia;

- Bài toán về tính chu vi, diện tích của hình chữ nhật, hình vuông khi đãbiết đầy đủ chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật hoặc biết độ dài cạnh củahình vuông

1.4 Các bài toán đơn giải bằng phép tính chia

Đây là các bài toán thuộc các dạng toán:

- Bài toán về chia đều;

- Bài toán về chia thành các nhóm bằng nhau;

- Bài toán về giảm đi một số lần;

- Bài toán về tìm một trong các phần bằng nhau của một số;

- Bài toán về so sánh hai số gấp, kém nhau một số lần;

- Bài toán về tìm thừa số trong phép nhân;

- Bài toán về tìm số chia

Khi dạy học Toán có nội dung chứa bài toán có lời văn mà học sinh đãđược học ở các lớp 1, lớp 2, tôi luôn hướng dẫn các em tìm ra mối quan hệ giữacác dữ kiện đã cho và yêu cầu cần tìm để các em nhớ lại xem bài toán đó thuộcdạng toán nào đã học, để giải được bài toán đó thì cần sử dụng phép tính nào, có

Trang 9

những cách đặt câu lời giải cho phép tính đó như thế nào,… Ở lớp 3, học sinh

được ôn lại một số dạng toán đơn đã học như bài toán về nhiều hơn, bài toán về

ít hơn, bài toán về tìm số hạng trong một tổng, bài toán về gộp hai số; bài toán

về so sánh hai số hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị Đặc biệt, ở lớp 3, khi các emđược học bảng nhân 6, bảng nhân 7, bảng nhân 8, bảng nhân 9, các bảng chia 6,bảng chia 7, bảng chia 8, bảng chia 9 thì các em đều được giải các bài toán đơn

về gộp các nhóm bằng nhau, chia đều, chia thành các nhóm bằng nhau Cácdạng toán này còn được củng cố khi học về nhân số có 2; 3; 4; 5 chữ số với số

có 1 chữ số và chia số có 2; 3; 4; 5 chữ số cho số có 1 chữ số Vì vậy, khi gặpcác bài toán này, tôi đã vận dụng những hiểu biết đã có của học sinh để các em

tự tìm ra dạng toán và cách giải bài toán Chính từ việc gợi ý của giáo viên đểcủng cố, khắc sâu dạng toán mà các em luôn có tâm thế phải suy nghĩ phải tìmtòi, phải đưa ra được cách giải cho bài toán, từ đó các em sẽ nhớ lâu dạng toán

đã học Việc dạy học bằng phương pháp gợi mở như trên, tôi đã giúp học sinhđược rèn luyện, củng cố kiến thức đồng thời cũng đã giúp các em lấy việc giảicác bài toán có lời văn làm phương tiện để phát triển tư duy

Còn khi dạy các dạng toán đơn mới ở lớp 3 như dạng toán về gấp một sốlên nhiều lần, tìm một trong các phần bằng nhau của một số, so sánh hai số gấphoặc kém nhau bao nhiêu lần, giảm đi một số lần, tôi đều hình thành kiến thứcmới cho các em từ những kiến thức đã học

Chẳng hạn như khi dạy bài "Gấp một số lên nhiều lần", tôi đã hình thành

quy tắc từ kiến thức đã được học Học sinh tự vẽ đoạn thẳng AB dài 2cm, tìmcách vẽ đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần đoạn thẳng AB, tìm cách tính độ dài củađoạn thẳng CD Từ những việc làm trên của học sinh, chính các em đã tự tìm racách gấp 2cm lên 3 lần, tự lấy được ví dụ về gấp một số nào đó lên một số lầnrồi tìm ra quy tắc gấp một số lên nhiều lần

Sau mỗi dạng toán mà học sinh mới được học, tôi đều cho học sinh luyệntập củng cố kiến thức qua các bài luyện tập trong sách giáo khoa và trong cáctiết dạy ở buổi hai Ngoài ra, tôi còn cho học sinh củng cố mỗi dạng toán bằngnhững bài toán ngược để các em tránh bị nhầm lẫn

Ví dụ: Để củng cố dạng toán "Gấp một số lên nhiều lần" ngoài các bài toán

để củng cố kiến thức đơn thuần, tôi cho học sinh làm thêm những bài toán như:

Trang 10

Mảnh vải hoa dài 15m và dài bằng mảnh vải xanh Hỏi mảnh vải xanh dài baonhiêu mét?

Bằng phương pháp dạy học gợi mở, phương pháp kiến tạo và luyện tập vớinhiều hình thức tổ chức khác nhau như trên, tôi đã giúp học sinh hình thành,khắc sâu các dạng toán đơn đã học, các em biết lấy giải toán làm điểm xuất phát

để tạo động cơ hình thành kiến thức mới, làm phương tiện để củng cố kiến thức

và phát triển năng lực tư duy Đây cũng chính là những vấn đề rất cần thiết trong

việc dạy- học "Bài toán giải bằng hai phép tính" sau này.

2 Hướng dẫn học sinh giải những bài toán có hai lần đáp số

Các bài toán có hai lần đáp số thực chất là những bài toán mà có hai câu

hỏi, trong đó bao giờ câu hỏi thứ hai cũng có liên quan đến câu hỏi thứ nhất, đó

là muốn giải được bài toán theo câu hỏi thứ hai thì phải làm được bài toán theocâu hỏi thứ nhất

Ví dụ: Dạy về cộng, trừ các số có ba chữ số (không nhớ) có bài toán:

Khối lớp Một có 245 học sinh, khối lớp Hai có ít hơn khối lớp Một 32 họcsinh Hỏi khối lớp Hai có bao nhiêu học sinh? (Bài tập 3- Trang 4- SGK Toán 3).Với yêu cầu trên của đề bài mới chỉ củng cố được cách trừ hai số có ba chữ

số trường hợp không nhớ nhưng muốn củng cố được cả cách cộng hai số có bachữ số, tôi yêu cầu học sinh đặt thêm cho bài toán một câu hỏi nữa, có thể gợi ý

rõ hơn là để giải bài toán theo câu hỏi của em thì em phải làm đúng bài toán theoyêu cầu của câu hỏi đã có Vì vậy, học sinh đã chuyển bài toán trên thành bàitoán như sau:

Khối lớp Một có 245 học sinh, khối lớp Hai có ít hơn khối lớp Một 32 họcsinh Hỏi:

a) Khối lớp Hai có bao nhiêu học sinh?

b) Cả hai khối lớp có bao nhiêu học sinh?

Hoặc khi củng cố dạng toán về "Tìm một trong các phần bằng nhau củamột số", học sinh luyện tập bài toán:

Một cửa hàng có 40m vải xanh và đã bán được số vải đó Hỏi cửa hàng đãbán được mấy mét vải xanh? ( Bài tập 2 - Trang 26 - SGK Toán 3)

Cũng với cách làm như trên, tôi đã hướng dẫn học sinh đặt thêm cho bàitoán câu hỏi:

Một cửa hàng có 40m vải xanh và đã bán được số vải đó Hỏi:

a) Cửa hàng đã bán được mấy mét vải xanh?

Trang 11

b) Cửa hàng còn lại bao nhiêu mét vải xanh?

Hoặc khi củng cố dạng toán "Gấp một số lên nhiều lần" có bài tập:

Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số cam của con Hỏi mẹhái được bao nhiêu quả cam? ( Bài tập 2 - Trang 33 - SGK Toán 3)

Học sinh của tôi đã tự đặt thêm cho bài toán một câu hỏi nữa để bài toán cóhai câu hỏi như sau:

Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số cam của con Hỏi:

a) Mẹ hái được bao nhiêu quả cam?

b) Cả hai mẹ con hái được bao nhiêu quả cam?

Bằng cách hướng dẫn học sinh đặt thêm câu hỏi cho bài toán, ngoài việccủng cố kiến thức mới học, tôi đã hướng dẫn các em củng cố thêm được nhữngkiến thức khác, đồng thời đã giúp học sinh phát huy tính sáng tạo, phát triểnnăng lực tư duy Biện pháp này tôi thường tiến hành song song, đồng thời vớibiện pháp thứ nhất, tôi thấy hiệu quả rất rõ rệt, học sinh nắm chắc hơn các dạngtoán đơn

Việc cho học sinh làm quen với những bài toán có hai câu hỏi như trên thực

tế là tôi đã cho học sinh làm quen với những bài toán giải bằng hai phép tính.Đây chính là những bài toán làm bước chuẩn bị cho học sinh học giải toán bằnghai phép tính sau này

Nói tóm lại: Cả hai biện pháp tôi đã thực hiện như trên đều là những bước

chuẩn bị cần thiết để hình thành và hướng dẫn học sinh tìm hướng giải chonhững bài toán giải bằng hai phép tính

3 Hướng dẫn học sinh hiểu thế nào là bài toán giải bằng hai phép tính

Tôi đã tiến hành giúp học sinh hiểu về bài toán giải bằng hai phép tính quacác tiết dạy bài mới về "Bài toán giải bằng hai phép tính" (tiết 50 và tiết 51)

3.1.Bài "Bài toán giải bằng hai phép tính" (Tiết 50 - Trang 50-SGK Toán 3)

Để học sinh hiểu thế nào là một bài toán giải bằng hai phép tính, tôi đãhướng dẫn học sinh tự hình thành bài toán và các bước giải trên cơ sở từ hai bàitoán đơn đã học Tiết dạy được mô tả như sau:

* Xác định kiến thức kĩ năng của bài:

Học sinh làm quen với bài toán giải bằng hai phép tính; bước đầu biết tìmcách giải và trình bày bài giải cho bài toán; biết tìm lời giải cho mỗi phép tínhmột cách hợp lí, có thể nêu được câu lời giải cho mỗi phép tính bằng những cáchkhác nhau

Trang 12

*Tổ chức các hoạt động dạy học:

a Kiểm tra bài cũ

Giải bài toán sau:

Hàng trên có 3 cái kèn, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 cái kèn Hỏihàng dưới có mấy cái kèn?

- 1 HS lên bảng tóm tắt và trình bày bài giải, HS dưới lớp làm bài vào vở nháp

- GV hướng dẫn HS nhận xét bài của HS

b Hướng dẫn học sinh hình thành và tìm hướng giải bài toán bằng hai phép tính

- Từ bài toán trong phần kiểm tra bài cũ trên, tôi yêu cầu HS đặt thêm mộtcâu hỏi nữa cho bài toán và trình bày cách giải của câu hỏi đó Chắc chắn HS sẽđặt câu hỏi như sau: Hỏi cả hai hàng có bao nhiêu cái kèn? (bởi việc làm này tôi

đã tiến hành thường xuyên như tôi đã trình bày ở biện pháp thứ hai) Lúc đó bàitoán như sau:

Hàng trên có 3 cái kèn, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 cái kèn Hỏi:a) Hàng dưới có mấy cái kèn?

b) Cả hai hàng có bao nhiêu cái kèn?

- Từ bài toán có hai câu hỏi này mà HS đã trình bày được cách giải, tôi nêuvấn đề: Bỏ câu hỏi thứ nhất đi, bài toán chỉ còn một câu hỏi 2

HS đọc bài toán như sau:

Hàng trên có 3 cái kèn, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 cái kèn Hỏi cảhai hàng có bao nhiêu cái kèn?

Tôi hướng dẫn HS dựa vào bài toán có hai câu hỏi ở trên (chính là bài toán

có 2 lần đáp số), nêu cách giải bài toán mới này Cụ thể, tôi hướng dẫn HS bằngmột số câu hỏi:

Câu hỏi 1 : Muốn tìm số kèn ở cả hai hàng, các em cần biết thêm số kèn có

ở hàng nào?

- GV kết hợp ghi:

Tìm số cái kèn ở hàng dưới : ? cái

Tìm số cái kèn ở cả hai hàng: ? cái

Câu hỏi 2: Tìm số kèn ở hàng dưới, em đã làm như thế nào?

Câu hỏi 3: Tìm số kèn có ở cả hai hàng em đã làm như thế nào?

- GV kết hợp ghi:

Tìm số cái kèn ở hàng dưới : ? cái 3 + 2 = 5 (cái kèn)

Tìm số cái ken ở cả hai hàng: ? cái 3 + 5 : g (cái kèn)

Trang 13

Như vậy, cùng với việc đặt các câu hỏi của GV, HS nêu ý kiến trả lời, tôi đãthiết lập cho HS việc đi tìm các bước giải của bài toán bằng sơ đồ phân tích đilên Từ sơ đồ phân tích đi lên ở trên, HS dựa vào đó có thể nhận ra các bước giải

và phép tính giải bài toán

- Từ các bước giải của bài toán đã được thiết lập như trên, tôi giới thiệu cho

HS biết đây là bài toán giải bằng hai phép tính và đặc điểm của bài toán giảibằng hai phép tính: chỉ có 1 đáp số là kết quả của phép tính thứ hai

Từ sơ đồ phân tích đi lên này, tôi gợi ý để HS nhận ra muốn giải được bàitoán, cần đặt cho mình câu hỏi phụ:

+ Để tìm được đáp số của bài toán cần tìm thêm gì? (hoặc biết thêm gì?) + Để trả lời được câu hỏi mà mình vừa đặt ra cần vận dụng kiến thức nào

đã học (dạng toán đơn nào đã học) Trả lời được câu hỏi này là bước giải thứ

nhất của bài

+ Để trả lời được câu hỏi của bài toán cần vận dụng kiến thức nào đã học

(dạng toán đơn nào đã học) Đây là bước giải thứ hai của bài toán

Với mỗi phép tính trên, tôi đều yêu cầu HS diễn đạt câu lời giải mỗi phéptính bằng một vài cách khác nhau

c Hướng dẫn HS vận dụng để giải bài toán tương tự

- Tôi cho HS vận dụng các bước giải bài toán mới được lập từ các dữ kiệncủa bài toán 1 trong SGK để từ phân tích, thiết lập để tìm các nước giải của bàitoán 2 trong SGK

d Hướng dẫn HS luyện tập

Nội dung luyện tập của tiết học này gồm 3 bài tập Với bài tập 1 và bài tập

2, tôi đều cho HS phân tích đề bài, tự đặt câu hỏi phụ để tìm bước giải thứ nhất,tìm câu trả lời cho câu hỏi phụ mà mình tự đặt và câu hỏi của bài toán cần vậndụng những dạng toán nào đã học Riêng bài tập số 3, với những HS chậm, tôiđưa thêm một số bài toán cho HS chọn bài toán thích hợp với tóm tắt đã cho.Bài 1: Bao gạo nặng 27 kg, bao ngô nặng hơn bao gạo 5 kg Hỏi cả hai baonặng bao nhiêu ki-lô-gam?

Bài 2: Bao gạo nặng 27 kg, bao ngô nặng hơn bao gạo 5 kg Hỏi bao ngônặng bao nhiêu ki-lô-gam?

Bài 3.: Bao gạo nặng 27 kg, bao ngô nhẹ hơn bao gạo 5 kg Hỏi cả hai baonặng bao nhiêu ki-lô-gam?

Trang 14

Khi học sinh đưa ra cách chọn bài toán phù hợp với tóm tắt, tôi đều phântích cho học sinh hiểu cách chọn nào đúng, cách chọn nào sai và tại sao lại đúng,hoặc tại sao lại là sai? Khi đã chọn được đúng bài toán, học sinh sẽ giải được bàitoán theo hướng phân tích đi lên để tìm cách giải như tôi đã hướng dẫn ở trên.

e Củng cố

Khi học sinh đã nắm được thế nào là bài toán giải bằng hai phép tính, cáchđặt câu hỏi phụ để tìm bước giải thứ nhất, xác định dạng toán cho từng bướcgiải, cuối tiết học tôi cho học sinh nhận xét các phép tính dùng để giải những bàitoán bằng hai phép tính vừa học ở trên Khi đó, tôi khắc sâu cho học sinh hiểuđây là những bài toán giải bằng hai phép tính cộng, hoặc phép tính trừ và phéptính cộng Mục đích của việc làm này là hình thành các dạng toán giải bằng haiphép tính mà các em sẽ được học tiếp trong chương trình môn toán lớp 3

3.2 Bài "Bài toán giải bằng hai phép tính" (Tiết 51-Trang 51-SGK Toán 3)

Với tiết dạy này, tôi tiến hành như sau:

* Xác định kiến thức kĩ năng của bài:

HS biết giải và trình bày bài giải của các bài toán giải bằng hai phép tính;rèn kĩ năng giải bài toán bằng hai phép tính

* Tổ chức các hoạt động dạy học:

a Kiểm tra bài cũ

Nội dung kiểm tra bài cũ là yêu cầu giải 1 hoặc 2 bài toán giải bằng hai phéptính thuộc dạng toán giải bằng hai phép tính mà học sinh đã được học ở tiết 50

b Hướng dẫn bài toán mẫu

Tôi không đưa ngay bài toán mẫu như SGK mà đưa một số dữ kiện như sau:Một cửa hàng ngày thứ nhất bán được 7 xe đạp, ngày thứ hai bán được số

xe đạp gấp đôi ngày thứ nhất

Tôi yêu cầu học sinh tự đặt câu hỏi để các dữ kiện đã cho trên trở thànhmột bài toán giải bằng hai phép tính Khi học sinh đã đặt đúng câu hỏi, tôi lạitiến hành hướng dẫn học sinh tìm hướng giải cho bài toán bằng đặt câu hỏi phụkết hợp với thiết lập sơ đồ phân tích đi lên, đưa bài toán thành hai bài toán đơn

đã học để giải bài toán

Số xe đạp bán ngày thứ hai: ? xe 7 x 2 = 14 (xe đạp)

Số xe đạp bán trong hai ngày: ? xe 7 + 14 = 21 (xe đạp)

Cuối cùng, tôi yêu cầu học sinh xác định xem bài toán trên được giải bằngnhững phép tính nào, mỗi phép tính để giải bài toán liên quan đến những dạngtoán đơn nào

Trang 15

c Luyện tập

Nội dung luyện tập trong tiết này cũng gồm 3 bài tập Với các bài tập 1 vàbài tập 2, tôi tổ chức cho học sinh tự tìm các bước giải và giải bài toán rồi xácđịnh từng bước giải của mỗi bài toán thuộc dạng toán nào đã học Còn bài tập số

3 chỉ là bài toán về số học nhằm giúp củng cố học sinh kiến thức về gấp một số

lên nhiều lần, thêm một số đơn vị, bớt một số đơn vị, … nhưng để giúp học sinh

củng cố kiến thức về giải bài toán bằng hai phép tính, tôi đã đưa ra một số bàitoán yêu cầu học sinh chọn bài toán phù hợp với sơ đồ có trong bài, nêu cáchgiải mỗi bài toán đó

Bài toán 1: Lan gấp được 6 cái thuyền, số thuyền của Nga gấp được gấpđôi số thuyền của Lan, Bình gấp được ít hơn Nga 2 cái thuyền Hỏi Bình gấpđược bao nhiêu cái thuyền?

Bài toán 2: An có 56 viên bi Sau khi chia cho các bạn, số bi của An bịgiảm đi 7 lần Tùng lại cho An thêm 7 viên bi nữa Hỏi lúc này An có bao nhiêuviên bi?

d Củng cố

Cuối tiết học, tôi yêu cầu HS nhắc lại các bài toán giải bằng hai phép tính

đã học được giải bằng những phép tính nào, liên quan đến những dạng toán đơnnào đã học để khắc sâu kiến thức cho các em

Như vậy bằng phương pháp dạy học kiến tạo, bằng hệ thống câu hỏi gợi

mở, tôi đã hướng dẫn HS vận dụng kiến thức đã học để hình thành bài toán giảibằng hai phép tính từ việc gộp bài toán có 2 lần đáp số, biết cách phân tích đểtiện hướng giải của bài toán giải bằng hai phép tính là tìm ra mối quan hệ giữacác dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm, đưa chúng về hai bài toán đơn đã học vàvận dụng kiến thức đã học để giải quyết từng bài toán đơn đó

Nói tóm lại: Nếu học sinh lớp 3 không thấy được mối quan hệ giữa các dữ

kiện trong bài toán thì việc tìm câu trả lời cho câu hỏi phụ sẽ rất khó khăn Nếuhọc sinh lớp 3 không nắm chắc các dạng toán giải bằng một phép tính thì việctiến hành các bước giải cho bài toán cũng khó mà thành công Còn nếu kĩ năngtính toán của học sinh lớp 3 còn hạn chế thì việc giải các bài toán bằng hai phéptính sẽ rất chậm chạp và có thể đáp số của bài toán sẽ không chính xác

Điều này càng chứng tỏ rằng giải toán bằng hai phép tính là bài toán kiểmtra tổng hợp nhiều kiến thức toán học của học sinh

4 Hướng dẫn học sinh nắm chắc một số dạng toán giải bằng hai phép tính qua luyện tập

Ngày đăng: 27/10/2017, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w