LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Khóa luận Biểu tượng lúa trong đời sống văn hóa và văn học dân gian Việt Nam là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có sự tham khảo ý kiến của những người đi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN THN HỒNG NHUNG
BIỂU TƯỢNG LÚA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
VÀ VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THN NGỌC LAN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, người đã
tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, các thầy cô trong khoa Ngữ Văn và cán bộ thư viện đã tạo điều kiện, giúp đỡ
em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Khóa luận Biểu tượng lúa trong đời sống văn hóa và văn học dân gian Việt Nam là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có sự tham khảo ý kiến của những người
đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học của TS.GVC Nguyễn Thị Ngọc Lan
Khóa luận không sao chép từ một tài liệu, công trình có sẵn nào
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc khóa luận 5
CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG LÚA 6
1.1 Giới thuyết về biểu tượng 6
1.2 Biểu tượng lúa 9
CHƯƠNG 2 BIỂU TƯỢNG LÚA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA 14
2.1 Biểu tượng lúa trong tín ngưỡng dân gian 14
2.1.1 Tín ngưỡng hồn lúa trong khu vực văn hóa Đông Nam Á 16
2.1.2 Tín ngưỡng hồn lúa trong đời sống văn hóa các dân tộc Việt Nam 19
2.2 Biểu tượng lúa trong nghệ thuật tạo hình dân gian 25
2.2.1 Lúa trong hội họa 26
2.2.2 Lúa trong điêu khắc 27
CHƯƠNG 3 BIỂU TƯỢNG LÚA TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN 30
3.1 Lúa trong truyện cổ dân gian 30
3.1.1 Lúa trong thần thoại 30
3.1.2 Lúa trong truyền thuyết 36
3.1.3 Lúa trong truyện ngụ ngôn 42
3.2 Lúa trong thơ ca dân gian 43
3.3 Sự diễn hóa của biểu tượng lúa từ cội nguồn văn hóa đến văn học dân gian 46
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa người Việt xuất phát từ nền văn hóa gốc nông nghiệp, nên những biểu tượng văn hóa xuất hiện từ sự gắn bó với các sự vật xung quanh cuộc sống sinh hoạt của con người như: biểu tượng nước, rồng, chim, rắn, hoa sen… hay các biểu tượng trong tín ngưỡng thờ cúng Cũng như vậy, biểu tượng lúa được phản ánh trong thế giới ý niệm của người Việt vô cùng phong phú, là biểu tượng cổ truyền từ
xa xưa
Cây lúa – một hình ảnh rất đỗi quen thuộc, dung dị, hiền hòa đã gắn bó với người dân Việt Nam bao đời nay Cánh đồng xanh ngát trải dài mênh mông tận chân trời, lấp lánh cánh cò trong nắng vàng, từ lâu đã trở thành một biểu tượng của thôn quê Việt Nam và rộng hơn nữa là đất nước, con người Việt Nam Cùng với thời gian, cây lúa ngày càng khẳng định được vị thế của nó trong đời sống sinh hoạt của con người và trong sự phát triển của đất nước Cây lúa, từ lúc là hạt giống cho đến lúc trĩu bông, chín vàng gắn liền với cuộc sống lam lũ “hai sương một nắng” của người nông dân và hình ảnh người nông dân miệt mài bên thửa ruộng, đã cho ta nhận ra một vẻ đẹp vô cũng bình dị, vẻ đẹp của sự cần cù, chân chất, yêu lao động
Là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc, lúa cũng là cây lương thực chính của người Việt Nam Không chỉ có giá trị về mặt kinh tế, cây lúa còn đượ đánh giá cao bởi những giá trị nhiều mặt như lịch sử, văn hóa… Có thể thấy, sự xuất hiện và phát triển của cây lúa đã hình thành nên một nền văn hóa lâu đời - văn hóa nông nghiệp, văn hóa lúa nước ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam
Từ hiện thực, cây lúa trở thành một biểu tượng văn hóa sống động trong đời sống sinh hoạt của người Việt Nam Mặt khác, sự có mặt của nó trong các thể loại văn học dân gian, cũng cho thấy một sự “đồ chiếu” hiện thực và “diễn hóa” nét
nghĩa biểu tượng vô cùng thú vị Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Biểu tượng lúa trong đời sống văn hóa và văn học dân gian Việt Nam làm đối tượng
Trang 6nghiên cứu, nhằm khám phá và “giải mã” nội dung và ý nghĩa biểu đạt của nó đồng
thời thấy được sự sáng tạo độc đáo của tác giả dân gian
2 Lịch sử vấn đề
Lúa không chỉ có vai trò quan trọng trong đời sống vật chất của con người
mà nó còn là một biểu tượng văn hóa Việt Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu về biểu tượng lúa như:
Tác giả Hoàng Bé trong bài viết đăng trên tạp chí Dân tộc học, số 4 (1987)
Những huyền thoại lúa nước và một số nét về kinh tế-xã hội truyền thống ở người Tày (1987), đã khái quát “nghề trồng lúa xuất hiện trong lịch sử là tiền đề vật chất quan trọng nhất dẫn đến sự tăng nhanh dân số và sự hình thành các đơn vị cư trú như làng, bản Với cuộc sống hái lượm và săn bắn trước đây, để có được đủ lương thực, con người phải phân tán thành từng nhóm nhỏ Nhưng khi nghề trồng lúa ra đời trong điều kiện công cụ còn thô sơ, yêu cầu của công việc sản xuất buộc các nhóm người xích lại với nhau, đó cũng là điều kiện hình thành các bản làng Đây là điều đã được nhiều nghiên cứu dân tộc học ghi nhận” [1] Ý kiến của nhà nghiên cứu đã đề cập đến vai trò quan trọng của nghề trồng lúa trong việc hình thành các bản làng và văn hóa bản làng
Cũng trên Tạp chí Dân tộc học, số 5 (2010) Phan Hữu Dật có bài viết Trở lại tín ngưỡng ma thuật và sự phân loại ma thuật, đã đề cập đến tín ngưỡng thờ hồn lúa của đồng bào các dân tộc thiểu số Theo đó, “Việc thờ hồn lúa thể hiện sâu sắc ma thuật trồng trọt Người dân rất coi trọng việc bảo vệ hồn lúa, chống lại các loại tà
ma Vai trò của nữ giới trong việc phát minh nghề trồng trọt nguyên thủy được thể hiện qua nhận thức của nhân dân về hồn lúa nhập vào bà chủ của gia đình, trở thành
mẹ lúa Mẹ lúa tượng trưng cho hồn lúa chủ trì việc gieo hạt cũng như gặt lúa Trong quá trình làm mẹ lúa, bà chủ phải câm như thóc và tuân thủ một số kiêng kỵ nhất định Ai xúc phạm đến mẹ lúa, sinh thực khí của mình sẽ bị đau đớn Đồng bào tin rằng trước khi ăn cơm mới, nếu cho thóc hoặc người lạ cùng ăn, hồn lúa sẽ đi mất” [2;tr.6-7] Tác giả bài viết đã mô tả khá kỹ lưỡng quá trình thực hiện nghi lễ hồn lúa trong tín ngưỡng của một số dân tộc thiểu số Việt Nam
Trang 7Nguyễn Thị Huế với bài viết Thần thoại về nguồn gốc cây lúa và sự phản ánh nét văn hóa nông nghiệp lúa nước các dân tộc Việt Nam [6] đăng trên Tạp chí
Văn hóa dân gian, số 1 (2011) bàn về nguồn gốc của cây lúa trong thần thoại các dân tộc Việt Nam Nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những nét văn hóa nông nghiệp như các tín ngưỡng, lễ hội nông nghiệp có liên quan đến biểu tượng lúa như tín ngưỡng hồn lúa, tín ngưỡng ăn cơm mới…
Nguyễn Thị Mai Quyên trong bài viết đăng trên Tạp chí Nhân lực Khoa học
xã hội, số 10 (2015) Không gian và xã hội nhìn từ dân tộc Tày [13] đã trình bày
khái quát một số thần thoại về biểu tượng lúa của người Tày và có sự liên hệ với thần thoại về lúa của các dân tộc khác như Mường, Thái Qua đó cũng nói lên vai trò quan trọng của cây lúa trong đời sống vật chất và tinh thần của người Tày nói riêng và Việt Nam nói chung
Biểu tượng lúa, không chỉ xuất hiện trong đời sống của người Việt Nam, mà
rất phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á Trong mục từ “Lúa gạo” của Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (tái bản năm 2015) – Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã viết: “Giống như lúa mì ở châu Âu, gạo là thức ăn chính ở châu Á, như vậy cũng có cùng một ý nghĩa tượng trưng và thuộc về nghi lễ” Nhà nghiên cứu còn chỉ ra:
“Lúa gạo có nguồn gốc thiêng liêng Không những người ta đã biết đến truyền thuyết về quả bầu nguyên thủy trong đó có cây lúa và các giống người nữa, mà cây lúa còn giống như thứ thức ăn trời cho trong sa mạc, mọc lên và làm đầy các vựa thóc một cách tự nhiên Tất cả các truyền thuyết Á Đông đều nói đến điều này” [28; tr.530]
Như vậy, có thể thấy biểu tượng lúa đã nhận được sự quan tâm của một số
nhà nghiên cứu song chưa có công trình nào xem Biểu tượng lúa trong đời sống văn hóa và văn học dân gian Việt Nam là một đối tượng nghiên cứu chuyên biệt Vì thế,
từ những gợi mở của người đi trước, chúng tôi sẽ tiếp cận và phân tích một cách hệ thống biểu tượng lúa trong đời sống văn hóa cũng như sự diễn hóa, biến đổi của nó trong văn học dân gian, từ đó hình dung rõ nhất về đời sống tinh thần của nhân dân
ta qua những biến thiên lịch sử
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Giới thuyết về biểu tượng, biểu tượng lúa
- Làm rõ ý nghĩa của biểu tượng lúa trong văn hóa dân gian: tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian (điêu khắc, hội họa…)
- Khám phá các nét nghĩa của biểu tượng lúa trong văn học dân gian Việt Nam qua một số thể loại tiêu biểu
- Phân tích diễn hóa của biểu tượng lúa từ cội nguồn văn hóa đến văn học dân gian Việt Nam
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Biểu tượng lúa trong văn hóa và văn học dân gian
Việt Nam
+ Phạm vi nghiên cứu:
- Tư liệu: Khảo sát trong văn hóa dân gian: tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian (điêu khắc, hội họa…) Khảo sát trong kho tàng văn học dân gian, qua các thể loại: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, ca dao… của người Việt Ngoài ra để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi có sử dụng các tài liệu văn hóa, văn học dân gian của Trung Quốc, Ấn Độ,…
- Nội dung: Chúng tôi đi từ những vấn đề chung nhất để thấy rằng: Biểu tượng lúa trong văn hóa dân gian của người Việt giữ vị trí quan trọng và thiêng liêng Đồng thời trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đặc biệt quan tâm đến sự diễn hóa của biểu tượng lúa trong các thể loại văn học dân gian
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn để nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
Trang 9- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
6 Đóng góp của khóa luận
- Thấy được sự diễn hóa của biểu tượng lúa từ đời sống văn hóa đến văn học dân gian một cách độc đáo, phù hợp với quan niệm và sự sáng tạo của tác giả dân gian Qua đó góp phần nâng cao ý thức giữ gìn vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung chính
của khóa luận gồm ba chương sau:
- Chương 1: Giới thuyết về biểu tượng, biểu tượng lúa
- Chương 2: Biểu tượng lúa trong đời sống văn hóa
- Chương 3: Biểu tượng lúa trong văn học dân gian
Trang 10Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG LÚA
Có thể nói, trong cuộc sống hàng ngày – bất luận là chúng ta có nhận ra hay không, song trong khi nghĩ suy, nói năng hay trò chuyện với người khác và thậm chí là cả trong các giấc mơ, mỗi người đều sử dụng các biểu tượng Biểu tượng, trước hết, là những hình ảnh của thế giới khách quan, ở bên ngoài con người Một màu cờ đỏ búa liềm, một bông hoa hé nở hay một cánh chim bay… tất cả đều là biểu tượng Thực tế cho thấy, không chỉ là chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng, mà còn một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta
1.1 Giới thuyết về biểu tượng
Trong bài “Mở đầu” của Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier
nhấn mạnh : “Thời đại không có biểu tượng là thời đại chết; xã hội thiếu biểu tượng
là xã hội chết Một nền văn minh không còn có biểu tượng là xã hội chết Một nền văn minh không còn có biểu tượng thì sẽ chết, nó chỉ còn thuộc về lịch sử”
[28;tr.XXXIII]
Vậy biểu tượng là gì? Trong Tiếng Anh biểu tượng được viết bằng chữ
“symbol” Thuật ngữ “symbol” được bắt nguồn từ Hi Lạp “Symbolon” có nghĩa là
ký hiệu, lời nói, dấu hiệu, triệu chứng… Cũng có thuyết cho rằng symbol bắt nguồn
từ động từ Hi Lạp “Symballo” có nghĩa là “ném vào một vị trí”, “liên kết”, “suy
nghĩ về”…
Trong tiếng Hán: “Biểu” có nghĩa là: “bày ra”, “trình bày”, “dấu hiệu”, để người ta dễ nhận biết một điều gì đó; “tượng” có nghĩa là “hình tượng” Biểu tượng
là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng
trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng
Không chỉ bó hẹp trong phạm vi của văn học – nghệ thuật, biểu tượng còn có vai trò quan trọng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống của con người và xã hội Ngược lại thủa uyên nguyên, khi con người còn sống ở trình độ thị tộc bộ lạc thì khởi nguyên của biểu tượng là một cái cây hay một con vật làm tôtem để thờ
Trang 11cúng và tôtem đã trở thành biểu tượng chung của họ Mặc dầu trong cuộc sống thường nhật cũng không thiếu những xích mích, va chạm riêng, song mỗi khi thờ cúng thì thần tôtem - tức biểu tượng chung lại nhắc nhở các thành viên rằng: chúng
ta là một Trong trường hợp cụ thể này, biểu tượng chung cùng với các nghi thức, nghi trượng, nghi vật, nghi trình… của việc cúng tế tạo thành một thiết chế xã hội mọi người phải tuân theo, qua đó có tác dụng điều hòa những mâu thuẫn trong nội
bộ để đi tới sự thống nhất của nhóm Trên tinh thần ấy, có người còn cho rằng sự ra đời của thế giới xã hội được bắt đầu từ các biểu tượng
Trên thực tế, khái niệm biểu tượng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi xin dẫn ra một số
khái niệm tiêu biểu như sau:
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình
ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt” [12]
Từ điển thuật ngữ văn học xác định: “Biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt”
[5;tr.23]
Biểu tượng là sản phNm đặc biệt trong thế giới con người Khi chưa có biểu tượng thì con người chỉ sống với thế giới thực tại nhưng khi đã hình thành nên hệ thống biểu tượng thì con người sống đồng thời với hai thế giới: thế giới thực tại và thế giới
biểu tượng Bàn về vấn đề này, tác giả của Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đã dẫn
chứng một cách sinh động: “Đọc một thần thoại cổ nhiều nghìn năm với cặp mắt của một nhà phân tích đương đại không phải là phản bội quá khứ, không phải là cấp cho nó nhiều ánh sáng hơn là nó vốn có, mà thậm chí có thể là lóa mắt vì một nguồn sáng nào
đó Nhưng lối đọc sinh động đó, linh hoạt trên ngọn lửa của biểu tượng là một phần cuộc sống của chính người đọc và nó khiến cuộc sống ấy vừa mãnh liệt vừa thực tế hơn” [28;tr.XLV]
Trang 12Có thể nói, nghiên cứu biểu tượng và những ý nghĩa biểu đạt của nó, từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Theo cái nhìn chung, biểu tượng (symbol) là một thành tố không thể thiếu trong mỗi nền văn hoá Trong khi đi tìm một định nghĩa cho văn hoá, các nhà nghiên cứu đã thừa nhận rằng, xét về một phương diện nào đó, văn hoá là một hệ biểu tượng Khi chúng ta đề cập đến vấn đề đặc trưng tư duy của dân tộc hay tâm thức Việt qua vốn từ vựng nói chung và qua biểu tượng “lúa” trong tín ngưỡng, văn hóa hay thần thoại và truyền thuyết nói riêng là muốn đặt vấn đề này trong mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy, hay ngôn ngữ và văn hoá; trong đó ngôn ngữ được xem là “hiện thực trực tiếp của tư tưởng”, và biểu tượng là “sự phóng chiếu” văn hoá dân tộc
Trước khi tìm hiểu một cách kỹ càng hơn về biểu tượng “lúa”, chúng tôi quan niệm biểu tượng là những hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể hiện quan niệm thNm mĩ, tư tưởng của từng tác giả, từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú Theo định nghĩa giản dị của K.G.Jung “biểu tượng là một cái gì, ngoài ý nghĩa vốn có của nó, còn hàm chứa một ý nghĩa khác, tức ngoài nghĩa đen còn có nghĩa bóng” [Dẫn theo 28] Để tạo nên các biểu tượng, nghĩa đen, nghĩa biểu vật của các từ ngữ, các kí hiệu sẽ không được khai thác, ở đây, chủ yếu nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm của ngôn ngữ, của kí hiệu được phát huy tác dụng Nếu như “Lúa”
là biểu tượng văn hoá Việt Nam; “chú gà trống” là biểu tượng của văn hoá Pháp thì
từ ngữ “lúa”, “gà trống” biểu hiện cho biểu tượng trống đồng và gà trống đã mất đi cái nghĩa biểu vật mà thay vào đó là lớp nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng Như vậy, biểu tượng là những sự vật, hình ảnh, hiện tượng, có giá trị biểu trưng Nghĩa là lấy một sự vật hiện tượng nào đó để biểu hiện có tính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó mang tính trừu tượng Khi một sự vật hiện tượng có giá trị biểu trưng thì
nó sẽ gợi lên trong ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững Chẳng hạn,
“rồng” là biểu tượng văn hoá của các nước châu Á; “màu trắng” biểu trưng cho lòng thanh sạch, trinh khiết ở một số nước châu Âu… Sự liên tưởng như thế lại không xảy ra trong tư duy của những quốc gia khác Đối với văn hoá Âu châu, “rồng” không phải là con vật thiêng, mà chỉ là con quỷ dữ luôn gây hại cho loài người
Trang 13trong các truyện cổ tích; “màu trắng”, trái lại, trong văn hoá Á Đông, nó lại liên tưởng đến sự tang tóc, chết chóc Rõ ràng, biểu tượng là tấm gương phản chiếu văn hoá dân tộc, và dĩ nhiên nó là thành tố không thể thiếu cấu thành bản sắc văn hoá dân tộc Nhưng theo Jean Chevalier “biểu tượng không được nhận thức theo tư duy khoa học mà thường qua kênh tư duy khác, “tư duy biểu tượng” Nghĩa là, nghĩa biểu tượng, nghĩa biểu trưng không tồn tại trong văn bản, mà nằm ở liên văn bản, ngoài văn bản, được lí giải, được liên hệ với những đặc tính văn hoá và lịch sử của
dân tộc Hay nói cách khác, nó được phản ánh, được phóng chiếu qua văn hoá
Từ những đặc trưng trên của biểu tượng, chúng tôi vận dụng vào việc phân tích biểu tượng “lúa” trong tâm thức người Việt Qua đó chỉ ra những Nn ngữ văn
hoá và lối tư duy đặc trưng của người Việt trong đời sống
1.2 Biểu tượng lúa
Việt Nam, quốc gia có nền văn hoá bản địa Đông Nam Á, nơi đó, nhiệt đới gió mùa, nông nghiệp lúa nước, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, là những đặc trưng hình thành “văn hoá lúa nước”, “văn hoá trọng tĩnh” để khu biệt với các nền văn hoá du mục, “văn hoá lửa”, “văn hoá trọng động” như các nước phương Tây Sự khu biệt này phần lớn dựa trên hệ thống biểu tượng văn hoá được xem là những
“mẫu gốc” của một nền văn hoá bản địa Và nếu “trống đồng” được xem là biểu tượng văn hoá của các nền văn hoá Đông Nam Á thì đi theo hệ thống biểu tượng đó, biểu tượng “lúa” “rồng”, biểu tượng “chim lạc”, cũng thường xuyên xuất hiện trên các trống đồng quốc bảo của các quốc gia, trong đó có Việt Nam Điều này lí giải tại sao khi lúa được xem là hình ảnh biểu tượng của một nền văn hoá nông nghiệp
và được xuất hiện trên trống đồng Đông Sơn Việt Nam Biểu tượng lúa luôn là hình ảnh gần gũi, thân thương và vô cùng ý nghĩa “Lúa” là một phần của tâm hồn người Việt Bởi trong đời sống văn hoá dân gian, tục ngữ, thành ngữ thường liên tưởng đến “lúa”, ca dao dân ca cũng xuất hiện biểu tượng “lúa” (Thân em như chẽn lúa
đòng đòng /Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai) rồi đến câu chuyện trong thần thoại hay truyền thuyết cũng có xuất hiện hình ảnh lúa Đối với một nền nông
nghiệp lúa nước như Việt Nam thì “lúa” là biểu tượng gần gũi quen thuộc nhất
Trang 14Người Việt Nam cách đây hàng vạn năm đã biết thuần dưỡng cây lúa dại thành cây lúa nước; chuyển từ săn bắn, hái lượm sang nền văn minh nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa
nước Truyện cổ dân gian Cây lúa của dân tộc Kinh, truyện Bó khâu quang của dân
tộc Tày đều có nội dung giống nhau, nói về quá trình thuần dưỡng cây lúa Một cô
bé đi cắt lúa, gặt xong khóm này, tiến lên gặt khóm khác thì gốc lúa ở khóm gặt rồi lại nảy sinh ra khóm mới Gặt mãi không xong, cô ngồi khóc và cầu cứu đến Bụt Bụt hiện lên và bày cho cách làm lúa đã gặt xong không trổ bông nữa Đó là quá
trình chọn lọc nhân tạo và trồng tỉa của con người qua nhiều năm
Đối với cư dân nông nghiệp Đông Nam Á, cây lúa là tất cả cuộc sống của họ Thần Lúa vì vậy là vị thần thiêng liêng nhất Người dân Đông Nam Á có niềm tin mãnh liệt vào hồn lúa Họ cho rằng nếu hồn lúa bay đi thì sẽ mất mùa Trong con mắt người dân Đông Nam Á, hồn lúa rất đẹp Với người Malaysia, hồn lúa được gọi
âu yếm là “chú bé chín tháng”, “công chúa mặt trời” hoặc “công chúa pha lê” Người ta luôn cầu khấn để hồn lúa ở lại với cây lúa, ở lại với xóm làng của họ Còn
ở Java (Indonesia) thì cây lúa được coi là hiện thân của nữ thần Dewi Sri, do đó nó thuộc đẳng cấp cao hơn hẳn các cây lương thực khác Ở Thái Lan, thần Lúa được
rước vào các nhà kho và giữ “ngài” ở đó cho đến tận mùa sau
Thần thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh là thiên anh hùng ca của dân tộc ngợi ca tổ
tiên ta đã thắng lũ lụt, giành lấy những vùng đất màu mỡ ven sông để trồng lúa Người Việt cổ sùng bái tự nhiên: trời, đất, thần mưa, thần sấm, thần gió Họ cũng sùng bái cây lúa Nhiều dân tộc miền núi có tập quán thờ ông bà Lúa, như dân tộc Kà
Tu ở Thừa Thiên - Huế dành chỗ đẹp nhất trong bếp làm nơi thờ lúa Một số đồng bào Tây Nguyên khi phát nương làm rẫy cũng tuân thủ nhiều điều kiêng kỵ Già làng làm lễ cúng Giàng rồi mới ra chỉ nương cho phát Nếu thấy hiện tượng dây leo không
bình thường là điềm “Ông Lúa, bà Lúa không cho ăn nên tìm nương khác”
Có những tín ngưỡng liên quan đến cây lúa Người ta thờ thần lúa, gọi vía lúa, rước mạ, rước lúa Người Khơme kể rằng, xưa kia khi lúa chín thóc bay về kho, người không mất công gặt nữa Nhưng một ngày kia, có hai vợ chồng sống cạnh
Trang 15kho thóc, cãi nhau gây ra tiếng ồn khó chịu, làm phiền thần Lúa Thần Lúa bỏ đi Phải nhiều lần mời mọc khó khăn thần Lúa mới chịu về Nhưng trong thời gian đó,
nạn đói xảy ra ở vùng ấy Và từ đó về sau, người phải mất công gặt hái mang về
Có nhiều lễ “Rước mẹ Lúa xuống đồng” ở các dân tộc Khấn vái buổi lễ này,
Hỏi: lúa làng nào?
Thì nói: lúa làng ta nhé
Lại có những lời cầu nguyện vừa thiêng liêng, vừa có thoáng chút nụ cười:
Hú ông Lúa, bà Lúa
Cỏ lên cỏ úa Lúa lên lúa xanh Tốt hơn láng giềng Cao lên bằng cổ Trổ lên bằng đầu Bông như đuôi trâu Bông như đuôi nghé Bông nào be bé Thì bằng đuôi voi Bông nào loi thoi Cũng bằng đuôi ngựa Hạt nào rụng rựa Cũng bằng bình vôi
Ba con gà lôi Không khiêng nổi một hạt thóc
Trang 16Tín ngưỡng cây lúa còn thấy ở lễ hội đền Hùng, ở dấu tích trên trống đồng, trong dân gian và cả trong triều đình, được xem như công việc của Nhà Nước Theo
sử cũ thì hằng năm, vào ngày mùng bốn tháng Giêng âm lịch, sau khi tế thần Tiên Nông, nhà vua đích thân cày một luống cày trên ruộng tịch điền Lê Đại Hành là ông vua đầu tiên tổ chức lễ cày ruộng tịch điền Lễ này, sau một thời gian dài bị mai một
đã được khôi phục
Một sứ thần Pháp ở triều đình An Nam (Huế) đã mô tả lại lễ tịch điền ở Huế như sau: Hoàng đế với cả triều đình đi cày ruộng tịch điền một cách long trọng Cày được sơn son thếp vàng, do một con bò được phủ vải vàng kéo Trước ông vua, hai quan đại thần dắt bò trong áo đại lễ thêu kim tuyến và đội mũ cánh chuồn Ngày ấy,
những người An Nam ở gần đó đều đến dự lễ và rất lấy làm phấn khởi
Chúng ta đã biết đến chuyện Lang Liêu dâng bánh chưng bánh giầy lên vua cha, bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên Đó là sản phNm của lúa nếp Chúng ta còn nghe đến cốm làng Vòng (Hà Nội) nổi tiếng Cốm Vòng có màu xanh, thơm dẻo Khi giã cốm, người ta giã kèm một ít lá mạ để nhuốm màu xanh Và lúa nếp phải được gặt đúng lúc để cốm không khô Cốm là món quà quí để những chàng trai chưa vợ
mang đi chạm ngõ, ăn hỏi với ý nghĩa “hồng cốm tốt đôi”
Chúng ta lại nhớ đến hương lúa trong cưới xin:
Giúp em một thúng xôi vò Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Văn minh lúa nước cũng tạo nên một nền văn học dân gian phát triển Đây là
câu đối đáp của trai gái làng:
Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Cô gái đã trả lời:
Ánh trăng em chả thiếu gì Anh có thóc giống em thì đổi cho
Cũng từ cây lúa, chàng trai “phàn nàn” về mối tình không được đáp lại:
Ngày đi lúa chửa chia vè
Trang 17Ngày về, lúa đã đỏ hoe đầy đồng Ngày đi em chửa có chồng Ngày về, em đã con bồng con mang
Lại có chàng trai đi sát chủ đề không chút do dự:
Nồi cơm kẽo với nồi canh Quả bí trên giàn kẽo với tôm he Kẹo lạc kẽo với nước chè
Cô em cò kè kẽo với anh đây
Cây lúa và những chế phNm từ lúa (thóc, xôi, cơm, bánh…) có mặt ở khắp nơi trong đời sống thực tại và được phản ánh trong những sáng tác nghệ thuật ngôn
từ dân gian, với những nét nghĩa biểu đạt khác nhau
Tiểu kết: Với việc xác định nội hàm khái niệm “biểu tượng”, chúng tôi tiến
hành tìm hiểu biểu tượng lúa trong văn hóa, văn học dân gian Việt Nam Bước đầu khảo sát, có thể thấy, từ một loại cây lương thực có tác dụng nuôi sống con người, cây lúa đã trở thành một biểu tượng văn hóa đặc trưng của người Việt Nam Cây lúa với những thuộc tính cơ bản của nó, tượng trưng cho hồn cốt con người Việt Nam Không phải ngẫu nhiên, người ta thấy biểu tượng này hiện diện một cách đa dạng trong đời sống văn hóa, văn học của người Việt Nam từ xưa đến nay
Trang 18Chương 2 BIỂU TƯỢNG LÚA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Văn minh lúa nước là một nền văn minh cổ đại xuất hiện từ cách đây khoảng 10.000 năm tại vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa Nền văn minh này đã đạt đến trình độ đủ cao về các kỹ thuật canh tác lúa nước, thuỷ lợi, phát triển các công
cụ và vật nuôi chuyên dụng Chính sự phát triển của nền văn minh lúa nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những nền văn hoá đương thời như Văn hóa Hemudu, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Hòa Bình… Cũng có những ý kiến cho rằng, chính nền văn minh lúa nước là chiếc nôi để hình thành cộng đồng cư dân có lối sống định cư định canh và các giá trị văn hoá phi vật thể kèm theo, đó chính là văn hóa làng xã Nền văn minh lúa nước cũng ảnh hưởng rất sâu sắc đến tín ngưỡng, phong tục tập quán và nghệ thuật tạo hình của các nước nông nghiệp Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng
2.1 Biểu tượng lúa trong tín ngưỡng dân gian
Cây lúa trong đời sống tâm linh của người Việt Nam có một ý nghĩa vô cùng đặc biệt Lòng tôn sùng của con người đối với tự nhiên, đối với cây lúa, một loại cây lương thực quan trọng đã hình thành nên tín ngưỡng thờ lúa, thờ hồn lúa
Là cư dân của những quốc gia nông nghiệp, người Đông Nam Á mang đậm nét văn hóa nông nghiệp lúa nước Từ xa xưa, họ đã có quan niệm: mọi vật bao giờ cũng có hai phần, phần xác và phần hồn Mỗi cây lúa cũng vậy, đều có hồn lúa trú ngụ Hồn sẽ mang lại sinh khí, giúp cho cây lúa tươi tốt, đâm bông, trổ hạt Giống như con người, cây lúa sẽ chết nếu phần hồn rời bỏ nó Và theo đó, nghi lễ giữ hồn cho cây lúa đã xuất hiện rất tự nhiên như bao tín ngưỡng khác của cư dân nông nghiệp nơi đây Mỗi nơi, cách gọi về hồn lúa có thể khác nhau như: thần lúa, nữ thần lúa, mẹ lúa, hoặc công chúa mặt trời… nhưng đều thể hiện lòng tôn trọng của con người đối với vai trò và vị thế của người phụ nữ
Là tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng giữ hồn cây lúa cũng có rất nhiều truyền thuyết giải thích về sự ra đời của nó Nói về khái niệm hồn ta có: “Từ hồn gợi ý
Trang 19niệm về một quyền năng vô hình: một bản thể khác biệt, phần riêng trong một sinh thể, hoặc đơn thuần về một hiện tượng sống: vật chất hay phi vật chất; phải chết hay bất tử; một bản nguyên của sự sống, của tổ chức, của hành động; ngoại trừ những biểu hiện thoáng qua, bao giờ cũng vô hình và chỉ tự biểu lộ qua hành vi Nhờ khả năng huyền bí của mình, nó gợi ý tưởng về một sức mạnh siêu nhiên, về thần linh,
về một trung tâm năng lượng” [28,tr.448] Các dân tộc trồng lúa, theo tín ngưỡng vật linh, quan niệm rằng lúa cũng có hồn Hồn lúa giữ sinh mệnh của lúa; chi phối của cây lúa và cả mùa trồng trọt Sau mỗi vụ thu hoạch, khi đã phơi khô thóc rồi, người ta chuyển toàn bộ vào kho, làm lễ “đóng kho” với nội dung tạ ơn và cầu hồn lúa giữ gìn tốt kho lúa Đến mùa sản xuất, thầy cúng làm lễ “mở kho” đánh thức hồn lúa dậy, mang lúa giống đi gieo trồng Vì vậy hồn lúa cũng được gọi là mẹ lúa Các lễ nghi nông nghiệp hay tín ngưỡng thờ thần nông là các hình thái tôn giáo của công xã nông nghiệp hay công xã nông thôn Trong công xã nông thôn có
sự quá độ lịch sử giữa hình thái xã hội không có giai cấp và xã hội có giai cấp Do vậy, trong cơ cấu kinh tế của công xã nông thôn có tính chất hai mặt đặc biệt – sự kết hợp giữa quyền sở hữu tập thể và cá thể Ở hình thức nguyên thủy của công xã nông thôn, tính cộng đồng tập thể biểu hiện rất rõ nét Nó nảy sinh từ cơ sở sản xuất của công xã, từ kinh tế nông nghiệp với kỹ thuật thô sơ và sự phát triển thấp của sức sản xuất Do đó mà có sự hạn chế quan hệ của con người trong quá trình sản xuất vật chất, có nghĩa hạn chế tất cả các mối quan hệ của người với người và giữa người với
tự nhiên Hạn chế đó được phản ánh vào các hình thức của lễ nghi nông nghiệp gắn liền với việc thờ thần nông Nguồn gốc của các lễ nghi nông nghiệp chính là ở sự bất lực của người làm nông nguyên thủy trước thiên nhiên Các cây trồng không phải bao giờ cũng thu được kết quả như ý muốn: mùa màng bị phụ thuộc vào những điều kiện
mà người làm nông không thể khắc phục được Con người phải viện đến sự phù hộ, giúp đỡ của các lực lượng siêu nhiên Từ đó ra đời các nghi lễ ma thuật…
Việc tạo ra các hình ảnh vật linh – sự nhân cách hóa cây cối, đất đai và sự phì nhiêu là những hiện tượng phổ biến, mà điển hình là “tín ngưỡng lúa”, tín ngưỡng hồn lúa, tín ngưỡng “Mẹ lúa” Những người nông dân canh tác lúa đối xử
Trang 20với cây lúa như là đối xử với một linh vật Trước khi cấy lúa họ làm lễ cầu được mùa, khi thu hoạch họ cũng phải tiến hành các nghi lễ nhất định Ví như trước khi gieo lúa họ chọn lấy những hạt giống tốt nhất – được để dành từ vụ mùa trước, trịnh trọng đem trồng ở thửa ruộng tốt nhất; những hạt thóc này sẽ là “mẹ lúa” mà người
ta cầu nguyện Khi gặt lúa họ lại chọn những bông to nhất đã nhắm trước để gặt, đó cũng là hiện tượng “mẹ lúa” Và hiện tượng “mẹ lúa” sau này được chuyển sang người đàn bà chủ nhà của mỗi gia đình bằng tập tục trước khi gieo trồng hay gặt hái
bà chủ là người gieo các hạt giống hay cấy những cây mạ đầu tiên, và cũng là người gặt những bông lúa đầu tiên Các hội hè, tế lễ, các hội làng, hội xuân gắn với hoạt đồng nông nghiệp thường tiến hành vào những ngày quan trọng trong nông lịch: ngày đầu vụ, ngày nghe tiếng sấm đầu tiên, ngày bắt đầu của mùa mưa, ngày đuổi súc vật ra đồng cỏ,… Còn sự sùng bái các thần có liên quan đến nghề nông gồm có: thần núi rừng, thần sinh sản, thần sấm, thần thổ địa, thần cỏ cây, những địa điểm thiêng,…
Đối với các dân tộc làm nương rẫy, lễ nghi nông nghiệp giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong đời sống tín ngưỡng Lúa là cây lương thực chính và quan trọng bậc nhất trong các các loại cây lương thực Lúa được coi là linh hồn trong lao động sản xuất và sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt Có thể nói chính nghề nông trồng lúa nước đã nảy sinh ra hầu hết các lễ hội cổ truyền ở Việt Nam, trong đó có lễ hội giữ hồn lúa Tín ngưỡng hồn lúa rất phổ biến ở một số dân tộc thiểu số Việt Nam như người Nam Đảo và Môn – Khơ Me ở Trường Sơn – Tây Nguyên, người La Chí ở Hà Giang, Lào Cai; người Ê – Đê, người Dao Đỏ,… và ở mỗi nơi tín ngưỡng thờ hồn lúa
mang đặc trưng và những nét đẹp văn hóa khác nhau
2.1.1 Tín ngưỡng hồn lúa trong khu vực văn hóa Đông Nam Á
Với quan niệm: mọi vật được tạo nên bởi hai phần (phần vỏ và phần hồn), cư dân ở vùng Đông Nam Á luôn cho rằng trong mỗi cây lúa đều có hồn lúa trú ngụ ở trong đó Hồn làm cây lúa tốt tươi, đâm bông trổ hạt Hồn chính là sự sống của lúa Cây lúa sẽ chết nếu hồn rời khỏi nó Tín ngưỡng hồn lúa được phản ánh trong nhiều huyền thoại, thần thoại, truyện cổ tích,… rất phổ biến trên toàn khu vực Đông Nam
Trang 21Á Nhưng chỉ ở các lễ hội nông nghiệp chúng mới được thực hành Việc thực hành tín ngưỡng hồn lúa thông qua các lễ hội nông nghiệp diễn ra vào đầu mùa gặt hoặc đầu mùa gieo hạt, thời điểm mà theo quan niệm của các cư dân ở đây, hồn lúa rất dễ bay đi do phải thay đổi chỗ ở Đây cũng là lúc người nông dân nhàn rỗi nên có điều kiện tổ chức lễ hội, mặt khác đó cũng là những lúc cần “xả hơi” sau một thời gian lao động vất vả
Những lễ hội gắn với cây lúa và vòng đời của cây lúa hay qui trình trồng cây lúa thể hiện ở ba giai đoạn chính: giai đoạn xuống đồng, giai đoạn lúa chửa và giai đoạn thu hoạch Đây chính là một trong những nét tương đồng của các lễ hội trong vùng: lịch lễ hội phụ thuộc vào lịch nông nghiệp, tức phụ thuộc vào vòng đời của cây lúa Vào mùa gặt, để giữ hồn cho cây lúa, các cư dân Đông Nam Á thường tiến hành những nghi lễ đón hồn lúa trên các thửa ruộng thiêng Ruộng thiêng là thửa ruộng được gieo trồng đầu tiên và được gặt sau cùng Đây là nơi mà trong lúc gặt, người nông dân đã cNn thận dồn tất cả các hồn lúa vào đó Để hồn lúa có chỗ “tạm trú”, tránh những ám hại của ma quỷ Mặt khác để tỏ lòng kính trọng hồn lúa, trên các thửa ruộng thiêng, người nông dân dựng những chiếc lều nhỏ bằng tre có dán giấy trang kim rất đẹp Sau những nghi lễ cầu khấn để mời hồn lúa ở lại với cây lúa,
ở lại với cộng đồng, những nhánh lúa đầu tiên trên thửa ruộng thiêng được nhẹ nhàng cắt bằng những chiếc liềm rất nhỏ (chỉ bằng lòng bàn tay người) Việc làm này hàm ý bày tỏ sự trân trọng của người nông dân với hồn lúa – sự sống của họ Theo họ, chỉ cần một sơ ý nhỏ làm tổn thương đến hồn lúa thì hồn lúa sẽ phật
ý bay đi, và năm sau họ sẽ bị mất mùa Hồn của vạn vật là cái gì đó rất mơ hồ Hình dạng hồn của mỗi vật được nhận thức một cách khác nhau do hoàn cảnh sống, do cảm nhận của giác quan Với người dân nông nghiệp Đông Nam Á, hồn lúa mang hình ảnh của người phụ nữ Có nhiều cách lý giải về điều này Có ý kiến cho rằng, kinh tế cơ bản của cư dân nơi đây là trồng trọt, người phụ nữ đã đóng vai trò quan trọng ở buổi ban đầu trong cuộc sống hái lượm và trồng trọt Với công việc đó, người phụ nữ đảm nhận vai trò to lớn, được trân trọng với sự hình thành chế độ mẫu
hệ Có lẽ thế nên hồn lúa, sinh khí sự sống của cây lúa, đã hóa thân vào họ Tuy
Trang 22nhiên, nhiều nghiên cứu về văn hóa Đông Nam Á lại có kiến giải khác: chức năng người phụ nữ là sinh sản, duy trì nòi giống Điều đó cũng có ở cây lúa Và như thế, người phụ nữ chính là biểu tượng thiêng liêng của hồn lúa… Hay nói một cách khác, tục thờ nữ thần có nguồn gốc sâu xa trong đời sống kinh tế và xã hội Nền kinh tế của người Việt và người Đông Nam Á cổ là kinh tế nông nghiệp với phương thức chính là trồng lúa nước Từ đời sống đó hình thành những tín ngưỡng và lễ thức liên quan đến Đất, Nước và cây Lúa Những yếu tố này được người xưa coi như thần linh Do ảnh hưởng quan niệm triết lý Âm - Dương, việc tôn thờ thần Đất, Nước, Lúa đều đồng nhất với yếu tố Âm và được nhân hóa thành nữ thần Vì gắn với thuộc tính sinh sản ra thóc gạo để nuôi sống, bảo toàn nòi giống, sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người (như: trời, đất, sông nước, rừng núi ) cho nên các vị thần ấy mang tư cách Mẹ
Ở Malaysia và Singapor, hồn lúa được gọi là công chúa mặt trời Sau các nghi lễ long trọng ở ngoài đồng, công chúa mặt trời được rước về nhà trong một khung cảnh lộng lẫy Trong lễ hội này, người ta tuyển chọn một cô gái đẹp, cho mặc xiêm y màu vàng (biểu tượng cho hạt lúa chín), bố trí ngồi trên chiếc xe dán giấy trang kim sặc sỡ, xung quanh cô là rất nhiều bó lúa được xếp như là những đóa hoa Chiếc xe chở cô gái, biểu tượng của công chúa mặt trời, được đi đầu đoàn xe chở lúa Trên tay cô gái là một bó lúa được gặt từ thửa ruộng thiêng Khi về đến sân đập, cô gái sẽ chia bó lúa (thường là bảy nhánh) cho các bà mẹ trong làng Những người phụ nữ này mang các nhánh lúa được chia, bọc trong một chiếc khăn sạch và
bỏ vào giỏ riêng Giỏ được coi như một chiếc nôi để hồn lúa nằm Sau đó, họ cNn thận đặt chiếc giỏ ấy vào kho thóc của gia đình
Tại Thái Lan, vào khoảng tháng chín âm lịch, khi mà cây lúa bắt đầu ngậm đòng kết hạt, người Thái bắt đầu chọn ngày làm lễ cầu nữ thần lúa Lễ hội diễn ra rất tưng bừng, náo nhiệt, được tổ chức khá công phu ở ngoài đồng Người ta lấy rơm, kết lại thành hình một người phụ nữ rồi đặt ở ngoài đồng cùng lụa là, các lễ vật khác: bánh chuối, trứng và một nắm cơm; còn có thêm cả phấn, nước hoa và lược Họ quan niệm, nữ thần lúa cần trang điểm, chải chuốt bộ tóc mượt mà Cũng
Trang 23có nơi, họ mặc thêm bộ quần áo mới may cho người rơm Họ cầu mong nữ thần lúa
sinh sản nhiều lúa, sao cho thóc đầy vựa, cơm đầy nồi
Tín ngưỡng hồn lúa chính là tín ngưỡng cội nguồn của các tín ngưỡng nói chung và của các lễ hội cổ truyền nói riêng Đó đồng thời cũng là cội nguồn tạo ra những sắc thái tương đồng cho các lễ hội cổ truyện trong toàn vùng Đông Nam Á nói chung và trong vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên nói riêng Có thể liệt
kê một số tín ngưỡng liên quan như: tín ngưỡng thờ nước, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thần mặt trời, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
2.1.2 Tín ngưỡng hồn lúa trong đời sống văn hóa các dân tộc Việt Nam
Nằm trong cái nôi văn hóa Đông Nam Á, đương nhiên Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về tín ngưỡng hồn lúa, đặc biệt là ở các dân tộc ở Trường Sơn -
Tây Nguyên, khi mà nếp sống nương rẫy, nếp sống chủ đạo, bao trùm lên toàn bộ
các tộc người trong vùng Về kinh tế, đó là truyền thống canh tác nương rẫy trên vùng đất khô của sơn nguyên, một phương thức canh tác bắt con người hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên, thích ứng nhạy bén với những thay đổi điều kiện
tự nhiên và khí hậu Kinh tế nương rẫy là nền kinh tế ở trình độ thấp, đời sống con người thường thiếu thốn và bấp bênh Nếp sống nương rẫy khiến con người gắn bó với môi trường rừng núi, nơi sinh tồn của mỗi con người, mỗi làng buôn, tác động đến đời sống vật chất, cũng như thế giới tinh thần của con người Có thể nói toàn bộ đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên, từ tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, nghi lễ, đời sống tình cảm của con người đều gắn bó với rừng núi và nương rẫy, khiến ta có thể nói rằng văn hóa của đồng
bào là văn hóa rừng, văn hóa nương rẫy Thay đổi nếp sống nương rẫy là thay đổi
tận gốc đời sống của con người nơi đây
Tín ngưỡng hồn lúa chính là tín ngưỡng cội nguồn của các tín ngưỡng nói chung và của các lễ hội cổ truyền nói riêng Đó đồng thời cũng là cội nguồn tạo ra những sắc thái tương đồng cho các lễ hội cổ truyền trong toàn vùng Các giá trị văn hóa - văn nghệ cổ truyền các tộc người Trường Sơn - Tây thể hiện những nguyện vọng, mong ước của con người trong cơ cấu xã hội công xã nông thôn với nhiều tàn
dư của chế độ công xã thị tộc nguyên thủy Việc độc canh cây lúa bằng một trình độ
Trang 24canh tác nương rẫy rất thấp dẫn đến vai trò độc tôn của hạt lúa đã được huyền thoại hóa Để có được hạt lúa, con người sùng bái các lực lượng thiên nhiên liên quan đến mưa, được biểu tượng hóa thành các vị thần có hình hài khác nhau Chẳng hạn
người Ba Na T’Lô ở An Khê biết thờ thần Sấm (Book Glaih), thần Gió (Zạ Kial),
tiên (Mi dak măt Atau) với lời giải thích rằng ở Trường Sơn - Tây Nguyên mùa khô
là mùa nghỉ ngơi, khi mưa xuống mới làm rẫy, tổ tiên sợ con cháu mải vui chơi nên khóc làm mưa nước mắt để nhắc mùa làm ăn đã đến
Còn về sự sùng bái hồn lúa, tinh lúa trong văn hóa các tộc người Trường Sơn
- Tây Nguyên, thường rất phổ biến là câu chuyện truyền thuyết về một thời xa xưa, khi hạt lúa còn to bằng quả bưởi đến mùa lúa chín chúng tự lăn về nhà Sau, do lỗi con người, hạt lúa mới nhỏ như ngày nay, nó “giận” con người nên không tự lăn về nhà nữa, con người phải đi tuốt lúa đem về Người Ba Na còn tin rằng hồn lúa nằm trong thân lúa nên họ thu hoạch bằng tuốt lúa chứ không dùng liềm gặt vì như vậy
sẽ cắt ngang thân hồn lúa và hồn lúa sẽ chết Do tin có hồn lúa (Zang Sri) nên ngoài
lễ cơm mới, người Ba Na còn làm lễ đóng cửa kho lúa (Teng Ămăng) để mời hồn
lúa về ngủ đông với lúa trong kho chờ mùa sau Lại do dùng ống tre nứa đựng hạt
giống nên trong ống cũng có hồn lúa vì thế, trong nguyên gốc, nhạc cụ Kloong Pút chỉ được đánh ngoài rẫy khi trỉa hạt để mời hồn lúa ra rẫy cùng với hạt lúa, lần
thứ hai đánh khi đóng cửa kho lúa để mời hồn lúa vào kho
Cũng cần phải nói đến một lễ được làm trước mùa gặt, đó là lễ ăn cốm mà ý
nghĩa nguyên thủy là ăn sữa của mẹ Lúa, người Ba Na gọi là Xa mơk, tổ chức với
quy mô lớn không kém gì lễ cơm mới… Vì lúa và các loại ngũ cốc là nhu cầu lương thực thiết yếu hàng ngày của các tộc người Trường Sơn - Tây Nguyên cho nên việc thiêng hóa những đối tượng sản phNm từ tự nhiên do con người hái lượm được, sản xuất được là điều luôn được cộng đồng quan tâm nâng lên hàng thần thánh, chi phối cuộc sống thường ngày của cộng đồng Ví như, người Ê Đê có các thần linh liên quan đến cây lúa và các loại ngũ cốc như: thần bảo vệ nương lúa Aê Mghăn, hai vợ chồng thần Mlik Leik và Hbia Bao giúp trồng kê đỏ, thần mưa Aê Yut giúp cho
Trang 25Tây Nguyên có thói quen cầu xin, van vái thần linh giúp đỡ trong làm ăn, hôn nhân với những sự hứa hẹn về lễ vật trả ơn nếu được toại nguyện Dĩ nhiên, họ cũng tin rằng, những điều không may mắn xảy ra như dịch bệnh chết chóc, mất mùa đói kém, gia cảnh sa sút… nhiều khi là do sự trừng phạt của thần linh vì sự thất hứa nào
đó của con người trong việc dâng biếu lễ vật Tuy phải luôn kính trọng và cầu mong được thần linh che chở, giúp đỡ, song cũng có lúc con người tỏ ra bất bình với thần linh, nếu đã cầu xin mà không có kết quả Thậm chí họ còn có hình thức đánh lừa
và trêu chọc, làm cho thần tức giận mà giáng họa vào vật vô tri, còn mình né tránh nên không gặp điều xúi quNy, hoặc làm thần linh tức giận mà mưa xuống, v.v
Ở một phương diện khác, do mưu sinh luôn bấp bênh, các tộc người Trường Sơn - Tây Nguyên, cậy nhờ vào các hành động ma thuật Bronislaw Malinowski cho rằng: “Ma thuật được sử dụng trong hoạt động mưu sinh khi kết quả đạt được là bấp bênh có may có rủi, có khó khăn và có thuận lợi, có thành công và có thất bại,
có vui mừng và có sợ hãi, có hi vọng và có thất vọng Và như vậy khi hoạt động kiếm sống trong điều kiện được bảo đảm, tổ chức lao động hợp lý, kết quả đạt được
là chắc chắn thì khi đó không cần đến ma thuật” [2; tr.4] Nghề trồng trọt của con người vốn bắt nguồn từ hoạt động hái lượm, thừa hưởng của cải sẵn có trong tự nhiên Hái lượm trong xã hội nguyên thủy là công việc của nữ giới, trong khi săn bắn là hoạt động của nam giới Vì hái lượm theo phân công lao động tự nhiên nằm trong tay phụ nữ, nên nghề trồng trọt sơ khai là sáng tạo của nữ giới Vì vậy có thể
nói ma thuật trồng trọt gắn trước hết và chặt chẽ với nữ giới Dưới xã hội nguyên
thủy nghề trồng trọt sơ khai mang lại kết quả bấp bênh nên người ta phải cần đến sự
hỗ trợ của sức mạnh siêu nhiên, tác động đến cây trồng, cho thật nhiều của cải để nuôi sống con người Nghề trồng trọt nguyên thủy là nghề trồng trọt bằng tay, ở các miền nhiệt đới, loại hình kinh tế là nương rẫy Ma thuật trồng trọt hiện diện ở tất cả các khâu của quá trình làm rẫy, từ khâu tìm và chuNn bị đất canh tác, gieo hạt, bảo
vệ hoa màu, thu hoạch và ăn cơm mới [2;tr.4]
Trong trồng trọt yếu tố cần hàng đầu là nước Nếu hạn hán, mùa màng thất
bát, có khi mất sạch Cho nên ma thuật cầu mưa phổ biến rộng rãi trên khắp các lục
Trang 26địa Ma thuật bắt chước trong cầu mưa được nhiều dân tộc áp dụng Ví như nếu trời không mưa, người Ba Na xưa lấy nồi đất ở nhà mồ ném xuống nước; nếu vẫn không mưa, họ lấy các cây trong cột nêu (gơl) đập xuống nước hay lấy một con cá nhỏ nhét vào miệng con cá lớn hoặc buộc một con thạch sùng vào đuôi con cá rồi vứt xuống nước Hoặc ở tộc người Khơ Mú, cách cầu mưa không chỉ là các hình thức
ma thuật bắt chước diễn lại hiện tượng mưa rơi (vẫy nước, tuốt lá bắt chước tiếng mưa rơi) mà còn là làm các điều “xúi quNy” để chọc tức trời hay ma hạn hán (tức) bực mình đổ nước xuống Tìm hiểu ma thuật trồng trọt ta thấy nổi bật và rất độc đáo
là sự gắn bó với tập tục thờ sinh thực khí của cư dân nông nghiệp
Ở một số dân tộc, đồng bào tin rằng lúa muốn được sinh sôi nảy nở phải được tiếp sức bằng tinh linh của hoa màu đã có mặt trên nương rẫy trước lúa như khoai sọ hoặc bầu bí Người ta quan niệm khoai sọ là bạn tình hay nhân ngãi của lúa Lúa là yếu tố cái, khoai sọ là yếu tố đực Theo tập quán, bao giờ người ta cũng trồng vài khóm khoai sọ ở nương lúa Khi rước hồn lúa về bao giờ cũng phải cúng rước khoai sọ, bí Trong lễ hoa màu, người Khơ Mú bôi bí, bầu, khoai sọ vào người nhau, lấy xôi ném vào nhau, ngụ ý muốn bầu, bí, khoai sọ gắn kết với lúa, và tinh linh của khoai sọ, bầu bí làm tăng thêm tinh lực cho lúa, làm cho mùa màng bội thu Việc thờ hồn lúa thể hiện sâu sắc ma thuật trồng trọt Người dân rất coi trọng việc bảo vệ hồn lúa, chống lại các loại tà ma Vai trò của nữ giới trong việc phát minh nghề trồng trọt nguyên thủy được thể hiện qua nhận thức của nhân dân về hồn lúa nhập vào bà chủ của gia đình, trở thành mẹ lúa Mẹ lúa tượng trưng cho hồn lúa chủ trì việc gieo hạt cũng như gặt lúa Trong quá trình làm mẹ lúa, bà chủ phải câm như thóc và tuân thủ một số kiêng kỵ nhất định Ai xúc phạm đến mẹ lúa, sinh thực khí của mình sẽ bị đau đớn Đồng bào tin rằng trước khi ăn cơm mới, nếu cho thóc hoặc người lạ cùng ăn, hồn lúa sẽ đi mất [2;tr.6-7]
Ngoài một số dân tộc tiêu biểu ở vùng Trường Sơn Tây Nguyên thì ở hầu hết các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam cũng có tín ngưỡng hồn lúa như người La Chí
ở Hà Giang Theo tập quán canh tác của người La Chí, sau khi gia đình làm đất xong, trước khi cấy, gia đình phải làm lễ cúng gọi hồn lúa về nhập vào hạt giống,
Trang 27giúp cho cây trồng phát triển tươi tốt, gia đình có vụ mùa bội thu Người La Chí quan niệm rằng, sau khi mùa vụ thu hoạch xong là một khoảng thời gian dài nhàn rỗi, hồn của cây lúa thường ngủ quên chưa tỉnh giấc hoặc "đi chơi" lang thang, do vậy, gia đình phải nhờ thầy cúng gọi hồn lúa về thì cây lúa mới phát triển tươi tốt, gia đình mới có mùa vụ bội thu Hay như Người Dao đỏ quan niệm rằng cây lúa cũng có những phần hồn và phần xác như con người Trải qua những ngày tháng sinh trưởng trên những thửa ruộng, đến khi về đến bồ thóc của mỗi gia đình, một vài bộ phận của cây lúa hoặc những hạt thóc có thể bị chim chóc, chuột bọ, các loài thú phá hoại, hoặc một vài hạt lúa bị rơi vãi trong quá trình thu hoạch nên không về được đến nhà mà lang thang bất định trong vũ trụ bao la Vì vậy, muốn mùa màng tươi tốt bội thu, thì hàng năm họ phải tổ chức cúng tế để gọi những phần hồn của cây lúa, lá lúa và hạt lúa để chúng cùng rủ nhau về với gia chủ, sinh trưởng khỏe mạnh, chống chọi được sâu bệnh và làm nên một mùa vàng tươi tốt
Người Xơ Đăng (Quảng Nam) họ cho rằng thần lúa đóng vai trò quan trọng nhất trong đời sống Họ cho rằng: Mỗi mùa rẫy, việc sản xuất thuận lợi lúa, bắp đầy kho đều do Thần lúa ban tặng hoặc gặp phải thất thu cây lúa, cây bắp cho ít hạt là
do Thần lúa giận hờn hay trách vì dân làng có những lời xấu đối với Thần Sơri Nên vào mùa lúa trĩu hạt, đồng bào Xơ Đăng nơi đây có tục ăn mừng lúa mới với nghi thức rước hồn lúa diễn ra khá long trọng
Ngoài tín ngưỡng hồn lúa, còn có lễ cúng cơm mới Lễ mừng lúa mới hay còn gọi là Tết cơm mới hay Tết Hạ Nguyên là một trong những lễ hội quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội của Việt Nam Đặc biệt lễ mừng lúa mới của người dân tộc thiểu số cũng quan trọng như dịp Tết của người Kinh Lễ cúng thường được tổ chức sau khi kết thúc vụ mùa vào ngày mùng mười tháng mười âm lịch, với mục đích mừng mùa màng thuận lợi và để cúng tạ các vị thần đã giúp dân làng được mùa Tùy theo từng dân tộc sẽ có cách tổ chức và hiến tế khác nhau Như dân tộc Mường, trong khi thu hoạch họ chọn ba cây lúa nương trĩu bông, hạt mNy Họ đào
cả gốc đem về treo cạnh bếp để giữ vía lúa Ở Gia Lai, Kon Tum, dân tộc Ba Na có
lễ hội mừng lúa mới Lễ hội được tổ chức đầu mùa thu hoạch, cầu mong ruộng
Trang 28nương được nhiều thóc lúa Hay tết cơm mới của dân tộc Pa Kô ở miền tây Quảng Trị Sau một năm quần quật trên nương rẫy, tháng mười hai hàng năm khi những bông lúa cuối cùng được gặt, phơi khô được tích trữ trong nhà là lúc người Pa Kô tổ chức lễ mừng cơm mới Tết cơm mới không theo lịch cố định, tùy theo mùa vụ mỗi năm Để ấn định ngày tổ chức những người đứng đầu các họ tộc trong thôn xóm họp rồi chọn ngày đẹp nhất để làm lễ Phong tục từ xưa đến nay, lễ mừng cơm mới của họ chỉ được tổ chức trong buổi sáng khi khí trời được coi là thịnh vượng nhất, cúng thần lúa, thần đất, thần nước… đã ban cho một năm mùa màng tươi tốt, gia súc khỏe mạnh, con người sống hài hòa với nhau và với thiên nhiên Lễ vật là lúa mới gặt về từ rẫy được nấu thành xôi và cơm lam, cùng với thịt gà, heo, bò dê, chuột rừng… do người dân chăn nuôi, săn bắt được trong năm Ngoài ra, còn có một bát nước để cầu cho năm sau mưa thuận gió hòa, đầy đủ nước cho cây trồng sinh trưởng Đặc biệt không thể thiếu chén rượu cần được làm từ những hạt lúa ngon nhất từ vụ mùa vừa qua Trong mâm lễ còn có những cành hoa tre, tượng trưng cho bông lúa trĩu hạt, những tám thổ cNm được dệt bởi người phụ nữ tài hoa
Trong ngày lễ nông nghiệp, nhiều trò chơi dân gian được tổ chức Trò tung cầu, cướp cầu được tái hiện ở nhiều nơi Quả cầu gồm hai trái: trái chiêm và trái mùa to bằng sọ dừa, làm bằng gỗ và được sơn son thiếp vàng Người ta tin rằng quả cầu tung lên mà lọt vào hố phía tây (lúa mùa) thì năm ấy được mùa lúa tháng chín, còn lọt vào hố phía đông (lúa chiêm) thì được mùa lúa tháng năm Trò đúc tượng thấy ở nhiều nơi, trong đó tiêu biểu ở làng Phù Diễn, Tam Nông, Phú Thọ Ngày hội, một số trai tráng khỏe mạnh, cởi trần, đóng khố, trát bùn lên người rồi được đón về ngồi giữa sân đình Mỗi người được choàng một mảnh chiếu và đặt lên đầu một bó mạ Những người được đóng vai trong các nghề khác nhau cầm dụng cụ biểu diễn nghề nghiệp của mình Cây lúa khổng lồ được tạo nên bởi bó mạ thực, cùng sinh lực và ý chí con người (đóng thành tượng) Biểu tượng về vị phúc thần
ấy, theo các nhà nghiên cứu văn hóa, vừa trở nên cụ thể (gần hiện thực cuộc sống) nhưng lại mang ý nghĩa tượng trưng cầu phúc thần mùa màng…
Trang 29Bên cạnh những tín ngưỡng lễ nghi, trò chơi nông nghiệp cầu cho mùa màng bội thu thì lúa gạo trong văn hóa tín ngưỡng Nm thực của người Việt cũng rất đa dạng, đặc sắc Tiêu biểu nhất trong dịp lễ tết Nguyên Đán, có bánh chưng bánh giầy nguyên liệu chính được làm từ gạo là hai thứ bánh không thể thiếu Theo dân gian, bánh chưng hình vuông, có góc cạnh, hình khối cụ thể thuộc âm, tượng trưng cho đất Bánh dày hình tròn không có góc cạnh, hình khối cụ thể thuộc dương tượng trưng cho trời nên phải màu trắng, không nhân vị Do đó hai loại bánh này là hai món không thể thiếu để cúng dâng lên tổ tiên vào dịp lễ tết Ngoài bánh chưng, bánh giầy thì vào các ngày lễ khác như ngày lễ Hàn Thực vào ngày mùng ba tháng
ba âm lịch có bánh trôi nước, được làm nguyên liệu chính từ gạo nếp Gạo nếp được ngâm nước rồi được mang nghiền thành bột, rồi lấy bột nặn thành những viên tròn bên trong có nhân đường đỏ Đây cũng là một món ăn đặc sắc, hấp dẫn được làm từ lúa gạo Bên cạnh đó còn có món xôi được làm từ gạo nếp, được các bà các mẹ thường làm vào những dịp lễ tết, hôm rằm, mùng một để đem cúng dâng lên tổ tiên Hay bánh đúc cũng được làm từ lúa gạo để mừng lễ đầy tháng cho các em bé khi vừa tròn một tháng tuổi,… Như vậy, văn hóa Nm thực trong nền văn minh lúa nước luôn phong phú và đa dạng thể hiện được bản sắc văn hóa của dân tộc Việt
Có thể thấy, từ ngàn xưa, người Việt đã tôn thờ thần lúa, coi vị thần này là linh hồn của mọi sinh hoạt trong cuộc sống Các nhà nghiên cứu văn hóa đều thống nhất cho rằng: vòng đời của cây lúa đã làm nảy sinh hầu hết những lễ hội nông nghiệp của người Việt Mỗi một dân tộc trên đất Việt đều có lễ hội thờ thần lúa với những nét độc đáo riêng, tạo nên sự thống nhất trong tính đa sắc màu của tín ngưỡng nông nghiệp ở Việt Nam
2.2 Biểu tượng lúa trong nghệ thuật tạo hình dân gian
Theo góc độ văn học nghệ thuật, biểu tượng được hiểu là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những biểu tượng cụ thể sinh động, điển hình, nhận thức bằng cảm tính Việt Nam là một đất nước nông nghiệp trồng lúa nước, cây lúa là cây lương thực chính của người Việt Do đó lúa
Trang 30rất được coi trọng, chính vì vậy trong nghệ thuật tạo hình lúa cũng được chú ý và được thể hiện một cách tinh tế và giàu ý nghĩa
2.2.1 Lúa trong hội họa
Nghệ thuật hội họa Việt Nam bộc lộ rõ tính linh hoạt của văn hóa nông
nghiệp Nhờ thủ pháp biểu trưng ước lệ mà nghệ thuật hội họa Việt Nam có thể diễn
tả bất cứ cái gì từ cái nhìn xuyên vật thể đến sự tổng hợp của các góc nhìn, của không gian và thời gian Tiêu biểu sự đặc sắc của biểu tượng lúa trong hội họa có
bức tranh Đồng Hồ mang tên Sinh hoạt nhà nông [hình 1, Phụ lục] Là bức tranh mô
tả các công đoạn trong việc trồng cây lúa Nghệ nhân đã mô tả rất khéo câu ca dao:
Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
Bằng một bức tranh mang tính tổng hợp: làm đất gieo mạ, nhổ mạ cấy lúa, thu hoạch phơi phóng và xay giã nấu thành cơm Cuối cùng là cảnh sống sung túc: sân nhà lợn gà, có cả chuồng chim bồ câu Trên trời cao đôi chim én đang bay lượn,
bên dưới là bà cháu quấn quýt, khung cảnh thanh bình Bức tranh Sinh hoạt nhà
cấy lúa, gặt đập phơi phóng xay giã và trên cùng là không gian gia đình, đều là những không gian khác nhau được đưa lên cùng mặt phẳng) Tác phNm đã đưa cả thời gian một vụ lúa khoảng bốn tháng trời vào trong một tranh Thời gian và không gian được nghệ nhân đưa lên một mặt phẳng, một thế giới rộng lớn Bên cạnh tác phNm hội họa dân gian, trong hội họa hiện đại biểu tượng lúa cũng rất được chú ý, đặc biệt là sau năm 1954 hiệp định Giơnevơ được kí kết Đất nước ta bị chia cắt làm hai miền: Miền Bắc bắt đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa Miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế quốc Mỹ Cùng với quân dân cả nước, các họa sĩ cũng tích cực tham gia vào mặt trận sản xuất và chiến đấu Tranh về cây lúa thời kì này gồm hai loại: tranh cổ động sản xuất (áp phích) [hình 2, Phụ lục] và tranh nghệ thuật (tranh sơn mài của các họa sĩ) Tranh cổ động, những tấm áp phích thường được in với diện tích lớn, được thiết kế đa dạng về màu sắc, ngôn ngữ tạo hình, phong phú về hình thức bố cục và có hình ảnh của người nông dân cầm bó lúa nặng trĩu hạt hay cảnh lao động sản xuất của