1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng mỹ thuật trang phục

100 520 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 6,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người Ai Cập cổ đại: Vẻ đẹp lí tưởng của người phụ nữ cần phải đạt được là: các tỉ lệ phải cân đối, cao, nét trên khuôn mặt phải ngay ngắn, mảnh mai, khuôn mắt hình hạnh nhân.. Hình

Trang 1

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRANG PHỤC

1.1 Khái niệm, chức năng và phân loại trang phục

1.1.1 Khái niệm

Trang phục là tất cả những gì con người mang, khoác, đeo hay đội trên người Ví dụ:

những đồ để mặc như quần, áo, váy để đội như mũ, nón, khăn và để đi như giầy, dép,

ủng Ngoài ra, trang phục còn có thể thêm thắt lưng, găng tay, đồng hồ, trang sức…

Trang phục là tấm gương phản chiếu của đời sống xã hội, phản ánh tập quán ăn mặc

của cộng đồng trong một thời kỳ lịch sử Có nhà nghiên cứu đã nói “một cái nhìn thoáng

qua quần áo cũng có thể giúp chúng ta khám phá ra được cái mà nhà sử học gọi là niên đại

tương đối”

1.1.2 Chức năng của trang phục:

Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ cơ thể, con người đã biết sáng tạo ra trang phục Và ban

đầu họ mặc trang phục chỉ với mục đích đơn thuần là chống chọi với sự khắc nghiệt của

thiên nhiên Nhưng càng về sau thì chức năng của trang phục càng được nâng cao hơn

Trang phục không chỉ có riêng chức năng là bảo vệ cơ thể, chúng ta mặc trang phục vì rất

nhiều lý do

Phân tích các nhu cầu của con người, nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow

(1908- 1970) đã đưa ra tháp nhu cầu của con người được sắp xếp theo mức độ cấp tiến từ

thấp đến cao - Hình 1.1

H×nh 1.1 – Th¸p nhu cÇu cña Abraham Maslow

- Ở cấp độ 1 (nhu cầu tồn tại): Ăn, mặc luôn là nhu cầu cần được đáp ứng trước tiên

Cấp độ này chiếm diện tích lớn nhất trong tháp nhu cầu, phạm vi nhu cầu trải trên một diện

Trang 2

rộng Tất cả mọi người đều cần mặc trang phục và chúng ta mặc trang phục đơn thuần chỉ

với mục đích để bảo vệ cơ thể

- Ở cấp độ 2 (nhu cầu an toàn): Trang phục giúp chúng ta bảo vệ cơ thể tránh khỏi các

tác động trong môi trường làm việc, học tập, đi lại, du lịch,… cấp độ này nhu cầu của con

người đối với trang phục là cao hơn so với cấp độ 1 nhưng phạm vi sử dụng lại thu hẹp hơn

Tùy thuộc vào từng công việc, hoàn cảnh khác nhau mà người ta sử dụng các loại trang

phục bảo vệ cơ thể khác nhau

+ Trong các điều kiện khí hậu bất lợi, ta cần áo để che mưa, mũ- nón để che nắng

+ Khi xuất hiện các nguy cơ từ môi trường, ví dụ: các trang phục bảo hộ lao động cho

thợ hàn xì, công nhân môi trường, thợ mỏ, áo chống đạn, lính cứu hỏa,

+ Tránh thương tích, ví dụ: mũ bảo hiểm, kính, giầy, ủng, các miếng vá che khuỷu tay và

đầu gối

- Khi các nhu cầu ở cấp độ 1 và 2 được thỏa mãn thì con người nảy sinh nhu cầu ở cấp

độ cao hơn (cấp độ 3): nhu cầu giao tiếp xã hội Trang phục giúp chúng ta đáp ứng nhu cầu

tâm lý trong quá trình giao tiếp xã hội như:

+ Trang phục phù hợp với lứa tuổi;

+ Trang phục phù hợp với giới tính: làm tăng thêm sự hấp dẫn, lôi cuốn với người khác

giới;

+ Trang phục phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp (đám cưới, hội nghị, lễ hội, nghi lễ, tôn

giáo)

+ Trang phục là kênh chuyển tải thông tin về người mặc

Người khác thường đánh giá bạn dựa trên quần áo bạn mặc Ngạn ngữ Việt Nam có câu

”Hơn nhau tấm áo manh quần” Ấn tượng tâm lý đầu tiên cho trang phục của bạn tác động

tới người giao tiếp, ví dụ trong một buổi phỏng vấn xin việc trang phục bạn mặc có thể giúp

giám đốc nhân sự phán đoán xem bạn có phải là người thích hợp với công việc không

Ngoài ra, bất cứ lúc nào bạn mặc, trang phục của bạn cũng nói lên vài điều về bản thân bạn-

bạn đang giao tiếp

- Trong quá trình giao tiếp nảy sinh nhu cầu được kính trọng (cấp độ 4) Con người

đều muốn mặc để được chấp nhận, được đánh giá, được tôn trọng bởi vì:

+ Trang phục giúp người mặc khẳng định mình thuộc nhóm người nào, cộng đồng nào

trong xã hội

+ Trang phục thể hiện được địa vị trong xã hội

Trang 3

Trang phục chính là phương tiện hữu hiệu điễn đạt thân phận của mỗi người trong xã

hội, phong tục tập quán, tôn giáo, điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội (một diễn viên sẽ

thay rất nhiều trang phục khác nhau thể hiện khi làm một vị vua, khi làm hiệp sĩ hay là một

nhà buôn )

- Cấp độ 5, đây là cấp độ cao nhất trong tháp nhu cầu Nhưng phạm vi của nhu cầu chỉ

thu hẹp hơn, người ta mặc với mục đích tự thể hiện bản thân Thông qua nhu cầu này thể

hiện được chất lượng cuộc sống của con người Khi điều kiện sống cao sẽ phản ánh rõ nét

qua trang phục Đồng nghĩa với việc những bộ trang phục được quan tâm đặc biệt về chất

lượng và thẩm mỹ

+ Trang phục để tô điểm làm đẹp cho con người

+ Trang phục thể hiện khiếu thẩm mỹ riêng của người mặc

+ Trang phục thể hiện tiềm năng kinh tế, cá tính, nhân cách, năng lực và trình độ văn

hóa

+ Trang phục biểu lộ sự đồng tình tán thưởng hay sự phản bác một tư tưởng, một lối

sống nào đó trong xã hội

Qua tháp nhu cầu trên ta thấy, trang phục có vai trò đặc biệt quan trọng và nhu cầu của

con người đối với trang phục là rất lớn Càng lên bậc thang cao của tháp nhu cầu thì nhu

cầu của con người đối với trang phục càng nâng cao Họ đòi hỏi các sản phẩm may mặc có

tính thời trang cao hơn Vì vậy để đáp ứng được nhu cầu về mặc của con người thì các sản

phẩm thời trang sẽ phải ngày một thêm phong phú và đa dạng hơn Điều này ảnh hưởng rất

lớn tới sự phát triển của thời trang

Chính nhu cầu của con người đã tạo ra những bước đột phá về ý tưởng tạo ra các sản

phẩm thời trang

1.1.3 Phân loại trang phục:

a Phân loại theo giới tính và lứa tuổi:

- Phân loại theo giới tính: Trang phục cho nam và trang phục cho nữ

- Phân loại theo lứa tuổi: Trang phục cho trẻ em, thanh niên, trung niên và người già

b Phân loại theo mùa và khí hậu:

- Phân loại trang phục theo 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông Trang phục giao mùa: xuân - hè,

thu - đông, đông - xuân

c Phân loại theo chức năng sử dụng: Gồm 3 loại:

- Quần áo lót: Mặc trong và mặc sát cơ thể Chúng thường được làm từ loại vải mềm, tỷ

lệ % Cotton cao, có độ chun, co dãn, ôm khít cơ thể và đảm bảo vệ sinh

Trang 4

- Quần áo mặc ngoài: Là những trang phục mặc ngoài quần áo lót như: Áo sơ mi, quần

Jeans,

- Quần áo khoác: Là những trang phục làm ấm cơ thể hoặc tăng vẻ đẹp bên ngoài như:

Veston, Jacket,

d Phân loại theo mục đích sử dụng:

- Trang phục mặc thường ngày: Là những trang phục dùng thường xuyên trong sinh

hoạt, lao động sản xuất hàng ngày

- Trang phục lễ hội: So với quần áo mặc thường ngày, quần áo lễ hội có nhiều màu sắc

hơn được may từ những chất liệu đắt tiền hơn Kiểu cách may cầu kỳ hơn

- Trang phục lao động sản xuất: Thường là các bộ trang phục bảo hộ lao động hoặc

đồng phục nghề, được thiết kế phù hợp với điều kiện làm việc, đặc điểm nghề chuyên môn

- Trang phục thể thao: Tùy thuộc vào từng môn thể thao mà được thiết kế theo các kiểu

cách khác nhau Tuy nhiên phần lớn loại trang phục này được thiết kế ôm gọn, giúp thuận

tiện và thoải mái trong quá trình vận động

- Trang phục biểu diễn nghệ thuật: Là những bộ trang phục đặc biệt dành cho nghệ sỹ

biểu diễn Chúng thường được thiết kế phù hợp với từng loại hình nghệ thuật như: Cải

lương, chèo, ca nhạc nhẹ, kịch nói, xiếc, múa,…

- Đồng phục như: Đồng phục học sinh, sinh viên,…

- Quốc phục như: Quốc phục Việt Nam - áo dài, Hàn Quốc - Hanbok,…

- Quân phục, sắc phục

Việc lựa chọn quần áo phù hợp không những tạo cảm giác dễ chịu thoải mái mà còn

chứng tỏ người mặc có hiểu biết, có văn hóa và biết giữ gìn sức khỏe Vì vậy, tùy vào từng

lứa tuổi, hoàn cảnh,… mà chúng ta cần biết lựa chọn trang phục phù hợp với bản thân mình

1.2 Sơ lƣợc về lịch sử trang phục thế giới

1.2.1 Trang phục cổ đại:

1.2.1.1 Trang phục Ai Cập cổ đại:

a Đặc điểm tự nhiên - xã hội:

Nền văn minh Ai Cập cổ đại đã trải qua hơn 3000 năm hình thành và phát triển được trị

vì bởi 31 triều đại các vua Pharaoh và chia làm 5 giai đoạn:

- Thời kỳ Tảo vương quốc (khoảng 3200 - 3000 TCN)

- Thời kỳ Cổ vương quốc (khoảng 3000 - 2200 TCN)

- Thời kỳ Trung vương quốc (khoảng 2200 - 1570 TCN)

- Thời kỳ Tân vương quốc (khoảng 1570 - 1100 TCN)

Trang 5

- Ai Cập từ thế kỷ X - I TCN

Có thể nói rằng 31 triều đại vua Pharaoh là 31 triều đại phát triển rực rỡ Trong 3000

năm hình thành và tồn tại, xã hội Ai Cập luôn có được sự ổn định và ít biến động Do đó,

nền văn hóa và phong tục của triều đại này cũng mang những nét chung nhất xuyên suốt cả

triều đại

Nằm trên lưu vực con sông Nin phì nhiêu, màu mỡ nền văn minh Ai Cập sớm được định

hình trong một nền văn minh nông nghiệp

Lao động chính của người Ai Cập cổ là nghề nông và nghề thủ công như: Gốm, làm đồ

trang sức, dệt vải và sản xuất kính

Xã hội chia làm hai giai cấp rõ rệt: Giai cấp trị vì (Pharaon và hoàng tộc), giai cấp nô lệ,

thường dân

Đẳng cấp xã hội gồm các ông chủ nô lệ, thị dân, nông dân tự do và nô lệ

Cơ chế chính trị của quốc gia là một chỉnh thể quân chủ độc tài do nhà độc tài Pharaon

và giai cấp quý tộc cai trị Trong suy nghĩ của người Ai Cập cổ thì nhà độc tài Pharaon là

viên toàn quyền thay mặt đấng tối cao trị vì trên trần gian

Người dân Ai Cập cổ tin vào thần linh, thờ phụng vật linh Họ thờ những vật linh thiêng

như mặt trời, mặt trăng và coi đó là đấng tối cao Họ tín ngưỡng hoa sen coi đó là biểu đạt

cho sự phì nhiêu, màu mỡ Họ tôn thờ loài rắn và chim diều hâu bởi đối với họ đó là quyền

lực

Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật cũng như trong thẩm mỹ của người

dân Ai Cập

b Quan điểm thẩm mỹ về vẻ đẹp của con người:

Xuất phát từ quan niệm sống, quan niệm thẩm mỹ của người Ai

Cập cổ cũng mang những giá trị rất đặc biệt Vẻ đẹp của một con

người lí tưởng phải là một vẻ đẹp hoàn thiện cả về thể chất và tâm

hồn Đó là cơ thể với vóc dáng cao lớn, vai rộng, eo và hông hẹp,

các nét trên khuôn mặt phải to và thoáng - hình 1.2 Đồng thời phải

luôn mang tâm hồn cao thượng, tin và trung thành vào đấng tối

cao Hình 1.2 Con người Ai Cập cổ đại:

Vẻ đẹp lí tưởng của người phụ nữ cần phải đạt được là: các tỉ lệ phải cân đối, cao, nét

trên khuôn mặt phải ngay ngắn, mảnh mai, khuôn mắt hình hạnh nhân Điều này tương đồng

với một số tiêu chuẩn về vẻ đẹp trong xã hội ngày nay

Trang 6

c Vải và màu sắc:

Nền văn minh sụng Nin hỡnh thành đó mang lại cho người Ai Cập cổ những điều kiện

sống nhất định Trong đú, ngành thủ cụng sản xuất vải lanh (vải phớp) được hỡnh thành sớm

và trở thành một trong những đặc quyền của người Ai Cập cổ đại

Nghệ thuật sản xuất vải phớp rất phỏt triển, họ cú thể cho ra đời những tấm vải phớp

mỏng khú cú thể phõn biệt bằng mắt thường, nú gần giống với tơ tằm hiện đại Họ trồng cõy

lanh tới mựa thu hoạch thỡ búc ngay trờn đồng và đem về se và dệt sợi Đặc điểm của vải

phớp cho người mặc cảm giỏc thoải mỏi trong mọi hoàn cảnh

Hình 1.3 - Xơ lanh và khung cửi dệt vải của ng-ời Ai Cập cổ đại

Vẻ ngoài của vải được trang trớ rất đặc biệt sang trọng và xa xỉ, nhất là vào thời kỳ Tõn

vương quốc được thờu bằng những đường chỉ vàng, hạt cườm lúng lỏnh, …

Mụ tớp trang trớ kiểu hỡnh học trải trờn toàn mặt vải hay diềm viền xung quanh

Vải nhuộm bằng cõy cỏ cỏc màu: Đỏ, xanh da trời, xanh lỏ cõy Muộn hơn xuất hiện

màu vàng, nõu, xanh lam cỏc sắc độ

Ngoài vải phớp họ cũn dệt vải bụng, may trang phục từ da và lụng thỳ

d Trang phục:

Trang phục nam: lỳc đầu đàn ụng để trần phần trờn, phần dưới

quấn vải quanh hụng, mang chức năng “tạp dề” từ vải phớp hay da thỳ,

đớnh lại ở thắt lưng gọi là Skhenti - hỡnh 1.4

Hỡnh 1.4 Trang phục nam Ai Cập cổ

đại

- Trang phục của giới quý tộc: Đàn ụng quý tộc trang trớ thờm một miếng vải xếp nếp

tỳm lại thành những nếp gấp, cú thắt lưng khỏc màu, biểu thị sự khỏc biệt với dõn thường

Trang 7

Trang phục nam của giới quớ tộc gồm 5 kiểu chớnh - hỡnh 1.5:

Hỡnh 1.5 – Trang phục nam giới quý tộc Ai Cập

Thời trung cổ, hỡnh dỏng quần ỏo nam phức tạp hơn do cựng một lỳc mặc một vài lớp

Kiểu dỏng rộng dần về phớa dưới tạo thành hỡnh tam giỏc và cú nhiều nếp gấp được sử dụng

rộng rói Đàn ụng mặc cựng một lỳc vài Skhenti chồng lờn nhau Vỏy cuốn trang trớ bằng

cỏc họa tiết hỡnh học, màu trắng của nú tương phản với màu nõu đỏ của làn da đàn ụng

Khỏc với đàn ụng, đàn bà và nụ lệ cú làn da màu vàng

 Trang phục nữ:

Trang phục nữ thời kỡ này hoàn toàn

mang tớnh chức năng, loại vỏy này được

gọi là Futliar, được làm bằng vải Phớp, bú

sỏt cơ thể gồm hai phần vỏy và Dilờ

 Vỏy là một miếng vải được quấn từ

ngực đến chõn, quấn sỏt cơ thể, phỏc họa

hỡnh tượng của người phụ nữ gấu vỏy rất

hẹp khụng cho phộp bước đi dài, như vậy

dỏng điệu bước đi đó được quy định

 Dilờ gồm hải dải băng dài và rộng

như hai cỏi quai để giữ vỏy khỏi tuột đớnh

ở vai, ngực để trần - hỡnh 1.6

Hình 1.6 – Trang phục nữ Ai Cập cổ đại

Trang 8

Ở giai đoạn Tõn vương quốc cú sự

thay đổi mạnh mẽ: sự hoành trỏng trong

trang phục, lộng lẫy, màu sắc sang trọng

và đa dạng hơn Giờ đõy sự duyờn dỏng,

hấp dẫn, sự khả ỏi trở thành cần thiết và

là nguyờn tắc quy định cho một người

đàn bà đẹp Chiếc ỏo khoỏc ngoài giống

như chiếc khăn xếp nếp mềm, mang tớnh

thẩm mỹ cao mà thời kỡ trước chưa cú,

được khoỏc ra ngoài, bờn trong là chiếc

ỏo Dilờ qua hai vai tạo thành hai tay

ngắn Thể thức kết cấu mới là hỡnh tam

giỏc, đú là tay ỏo và đằng trước ỏo là cỏi

hỡnh chuụng - hỡnh 1.7

Hình 1.7 –Trang phục nữ giai đoạn Tân

v-ơng quốc

- Trang phục của người giàu: Đàn ụng và phụ nữ thường mặc ỏo choàng xuyờn qua và

thường được xếp nếp Khỏ hơn một chỳt thỡ mặc quần ỏo rộng và cú màu trắng Những

người giàu thường đeo nhiều trang sức hoặc quần ỏo sang trọng để cho mọi người thấy được

sự giàu cú của họ Trang sức được làm bằng vàng và những loại đỏ trong suốt nhất - hỡnh

1.8

- Trang phục của người lao động: đơn giản hơn rất nhiều Thường chỉ là một miếng vải

được quấn quanh thõn buộc lại ở ngang bụng - hỡnh 1.9

Hình 1.8 - Trang phục ng-ời giàu Hình 1.9 - Trang phục ng-ời lao

động

Trang 9

Các chi tiết của trang phục Ai Cập rất lộng lẫy Trang phục của cả nam và nữ đều được

giải quyết theo cách thức đơn giản về cả màu sắc và cả chất liệu

Trang phục của cả nam và nữ trên cơ thể để trần nổi lên những dải dây màu lục thành hình

những chiếc cổ áo tròn, trang trí rất sang trọng được đính bởi những hạt thủy tinh và những

viên đá quý

Trên những bộ trang phục kiều diễm đó được trang điểm bằng những viên đá quý Khi

nói đến Ai Cập là nói đến vẻ đẹp thẩm mỹ của đá Kĩ nghệ đồ trang sức của Ai Cập đặt nền

tảng cho nghệ thuật đồ trang sức của thời đại chúng ta

 Đồ phụ trang:

Thời kì này có

mũ của vua là biểu

tượng của quyền lực

Trang 10

Dộp: Người dõn Ai Cập

thường đi đất, chỉ Pharaon

và người trong hoàng tộc

mới đi dộp Dộp thường

được làm từ cõy cọ và dần

được chế từ da cú mu, mũi,

khụng bịt gút và được thắt

dõy trờn mu bàn chõn và

ngày càng được trang trớ đẹp

và vừa vặn hơn - hỡnh 1.12 Hình 1.12 - Dép Ai Cập cổ đại

Trang sức: được làm

bằng vàng hoặc những loại

đỏ trong suốt Chỉ người giàu

mới cú điều kiện đeo trang

a Điều kiện tự nhiờn – xó hội:

Đất nước Hy Lạp cổ đại được bao quanh bởi biển

AEGENT

Mỗi thành phố của Ai Cập là một chế độ với người

cai trị riờng, chớnh phủ riờng, quõn đội riờng, thậm chớ là

cú chỳa cổ của riờng mỡnh

Chỉ những lần cú tai họa đe dọa (như khi bị Nam Tư tấn cụng) thỡ cỏc thành phố đú mới

hợp lại cựng nhau Nhưng khi tai họa qua đi họ lại trở lại sự độc lập, tỏch biệt nhau như ban

đầu

Trang 11

Nền văn minh đầu tiên của Hy Lạp được tìm thấy trên hòn đảo của Crete Đây là nền văn

hóa Minoan - sự tôn sùng con bò Họ rất tôn kính con bò và thường thờ bò trong miếu của

họ - hình 1.15

Hình 1.15 - Sự tôn sùng con bò của người Minoan

Minoan nằm ở phía nam đất liền của Hy Lạp, ở giữa lục địa, là hòn đảo của Crete

Người đứng đầu cai trị là Minos Thủ đô là Knossos

Năm 1550 TCN, Knoss - thủ đô của Minoan đã bị phá hủy do một cuộc động đất lớn

Văn minh Minoan bị phá hủy và chưa bao giờ được mọc lại lên một lần nữa Những người

Mycenaen đã xâm chiếm Crete vào năm 1400 TCN và thiết lập văn minh của riêng mình

Đến khoảng thế kỷ VII - I TCN, tại miền nam bán đảo Bal - Căng đã phát triển rực rỡ

nền văn hóa Hy Lạp cổ

Bộ máy cai trị của người Hy Lạp dựa trên nền tảng chế độ dân chủ và chế độ nô lệ, rất

khác các chính thể chuyên chế phương Đông của thế giới cổ đại

Cuộc sống và nghề nghiệp người Hy Lạp cổ phát triển ổn định nhờ khí hậu thuận lợi, ấm

áp của biển cả, đồng bằng phì nhiêu, núi phủ đầy cỏ, đất đai giầu khoáng sản

Văn hóa Hy Lạp đặt nền móng cho văn hóa phương Tây

Nghệ thuật Hy Lạp mang tính hiện thực Đặc điểm cơ bản của nó là sự ý thức về giá trị

và về cái đẹp của mỗi bản thể con người, niềm tin vào khả năng sáng tạo vô bờ bến của con

người, sự đơn giản và rõ ràng trong ngôn ngữ nghệ thuật, sự miêu tả trung thực thực tế Lối

sống của người Hy Lạp mang tính cộng đồng xã hội

Trang 12

b Quan niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp của con người:

Cũng như nghệ thuật Hy Lạp, quan niệm về hình

tượng một người đẹp của người Hy Lạp cổ cho đến ngày

nay hầu như vẫn là mẫu mực Lần đầu tiên trong lịch sử

loài người, nền tảng quan điểm thẩm mỹ về cái đẹp con

người là sự hòa đồng giữa tâm hồn (tri thức, đạo đức) và

thể xác (một cơ thể rắn chắc với tỉ lệ cân đối hài hòa)

Mặc dù chế độ hạn chế quyền lợi của người phụ nữ

trong xã hội, nhưng hình tượng người phụ nữ trong nghệ

thuật phản ánh sự phát triển toàn diện về sức khỏe giá trị

bản thể Tượng nữ thần tình yêu Aphrôđit, vẻ đẹp khuôn

mặt nữ thần thể hiện các đường nét ngay ngắn, thẳng thắn

của cái mũi, cái cằm và vầng trán cao được đóng khung

bằng những búp tóc xoăn ngắn và ngôi thẳng, mắt to và

lồi, đôi lông mày cong - hình 1.16 Về màu sắc người Hy

Lạp cổ ưa các màu sáng: mắt xanh, da mầu sáng

Hình 1.16

Tượng nữ thần tình yêu Aphrôđit

c Vải và màu sắc:

Người Hy Lạp cổ sử dụng chủ yếu là vải Phíp và len đàn hồi có khổ rộng tới 2 mét, có

khả năng tạo nếp rủ để may quần áo, họ không biết tới vải bông

Sự quan tâm của người Hy Lạp không ở kết cấu quần áo mà là tính thẩm mỹ, mềm mại

của trang phục

Các kiểu mô típ trang trí đặc trưng trên trang phục

Hy Lạp (hình 1.17)

- Dạng các hình chìa khóa của người Hy Lạp

- Lá và quả màu ô - liu

Trang 13

Vào thế kỷ V - IV TCN, loại vải có hình vẽ phổ biến đã bị thay thế bởi các tấm vải trơn

mầu xanh nước biển, đỏ, đỏ thắm, lục, vàng, nâu, đặc biệt là vải trắng, trên đó có thêu các họa

tiết hoặc bằng cách nhuộm mầu Các họa tiết hình học đặc trưng của họ gắn liền với thiên

nhiên, cây cỏ

d Trang phục:

Nền văn minh đầu tiên của Hy Lạp là văn minh Minoan Trước tiên ta xét về trang phục

của nền văn minh này

 Trang phục của Người Minoan:

Trang phục nữ: Phụ nữ Minoan mặc

váy có kiểu dáng thẳng từ hông xuống

tới gấu, gấu váy rộng Loại váy này có

thể được thiết kế có khung đỡ tròn tạo

Đặc trưng của Hy Lạp cổ là kiểu xếp nếp tựa rèm che thể hiện sự đơn giản, tư thế chuẩn

mực cao thượng, hình dáng khỏe khoắn, tỷ lệ cơ thể hài hòa, tính năng động và thoải mái, tự

do trong chuyển động Nhịp điệu, sự phân bố và hình thái các sóng gấp rủ quán triệt hình

Trang phục nam: Đàn ông Minioan để trần phần

trên, phần dưới được quấn quanh hông bằng một

miếng vải và được buộc chặt lại ở phần thắt lưng

và có thêm một miếng trang trí bằng da ở phía

trước được gọi là Loin - hình 1.19

Trang 14

thái kiến trúc của thời đại Đó là các cột lớn, các nếp rủ làm mềm đi, làm sống cái chất liệu

chết của vải

Hình ảnh con người được xem như một tấm gương phản ánh sự thống nhất và hoàn thiện

của thế giới nói chung và thế giới của con người nói riêng, thể hiện qua 5 đặc thù cơ bản:

Tính quy luật, tính tổ chức, tính tỷ lệ, tính đăng đối và tính hợp lý Điểm nổi bật của trang

phục Hy Lạp cổ đại cũng chính là 5 đặc tính này:

- Tính quy luật: được quy định bởi chiều rộng của khung dệt vải may trang phục Vật liệu

may không cắt mà cũng không khâu, chúng được gom xếp thành những ly dọc giống như

những chiếc cột của Hy - Lạp cổ đại

- Tính tổ chức: thể hiện sự tuân thủ một mặt vật liệu may trong trang phục, mặt khác là kiểu

trang phục của giai đoạn này Theo quy định quần áo giai đoạn này không được cắt

- Tính tỷ lệ: Thể hiện ở sự hài hòa trong trang phục, mọi thứ đều phải có chừng mực, không

thể phá vỡ tỷ lệ và sự hài hòa trong trang phục

- Tính đăng đối: Thể hiện ở sự tuân thủ các đường nét và tôn vinh vẻ đẹp của con người

- Tính hợp lý: Được thể hiện rõ nhất trong trang phục Hy Lạp Sự sắp đặt, lựa chọn y phục

và giày dép rất hợp lý và phù hợp với nhu cầu sử dụng

Người Hy Lạp có áo mặc trong

- Chiton Đây loại áo chính của

người Hy Lạp, là miếng vải hình

chữ nhật làm từ vải lanh, mặc

trực tiếp trên cơ thể, buộc túm

lại ở vai và thắt lại nơi eo - hình

1.20

Một phụ kiện người Hy Lạp

thường sử dụng trong trang phục

có tên là Fibula Nó là tên gọi

của một loại móc và có vai trò

như là chốt an toàn - hình 2.20

Hình 1.20 - áo Chiton Hình 1.21 - Fibula

Trang 15

Loại áo này giành cho công nhân, các chiến binh và giới trẻ, cũng kiểu áo như vậy

nhưng dài hơn thì dành cho phụ nữ, người già, các viên chức nhà nước và các nhà quý tộc -

hình 1.24

H×nh 1.24 - Ionic Chiton giµnh cho chiÕn binh

Loại áo Chiton được túm lại

ở hai bên vai bằng Fibula được

gọi là Doric Chiton Doric

Chiton là loại áo gồm nhiều lớp

xếp chồng từ phần eo trở xuống

- hình 1.22

Hình 1.22 - Doric Chiton

Khi sử dụng cùng một lúc

nhiều Fibula để đính phần vai áo

lại thì loại áo này được gọi là

Ionic Chiton - hình 1.23

Hình 1.23 - Ionic Chiton

Trang 16

Trong trang phục họ thường sử dụng những dải đai quấn quanh vòng eo Có thể dùng

một hay nhiều dải đai đó trên cùng một sản phẩm Khi mà có một dây đai thì được gọi là

PEPLOS GIRDLE - hình 1.25a, còn nhiều dây đai gọi là KOLPOS GIRDLE - hình 1.25b

H×nh 1.25a - Peplos Girdle H×nh 1.25b - Kolpos Girdle

Màu trắng ấn định cho tầng lớp quý tộc, màu lục, ghi, thường là màu của nông dân

Người quý tộc Hy Lạp cổ mặc ra ngoài áo khoác Khiton là chiếc áo khoác chảy Faros từ vải

phíp Ai Cập - hình 1.26a Vào thời gian muộn hơn chiếc áo Faros được kéo dài ra hơn và

gọi áo Himation là loại áo khoác dài với rất nhiều sóng gấp - hình 1.26b

Hình 1.26a - Faros Hình 1.26b - Himation

Trang 17

Người già và người cao tuổi khoác Himation che cổ và vai, thanh niên mặc Himation

ngắn hơn và thường chỉ vắt qua một bên vai, đàn bà khi nắng thì trùm lên đầu Thị dân và

nô lệ thường chỉ mặc áo Chiton bên dưới bằng vải len thô hay chỉ có chiếc khố cuốn quanh

phụ nữ nghèo cũng mặc quần áo theo giới quý tộc nhưng nhỏ gọn hơn từ loại vải rẻ tiền và

không có trang sức, nữ nô lệ mặc quần áo của dân tộc mình

Cấu trúc áo đặc trưng của người Hy Lạp cổ là kiểu áo được túm hai điểm trên vai tạo

thành những nếp rủ đổ xuống ngực Đây là một trong những ý tưởng cho chiếc áo cổ đổ

số loại mũ bảo vệ khác nữa như: Attic,

Corinthian, Inonic, Doric

Phụ nữ ít khi đội mũ, họ thường để

đầu trần, vào lúc thời tiết xấu họ kéo lên

đầu viền trên của áo khoác để che Hình 1.27 - Các kiểu mũ Hy Lạp

Tóc: Từ thế kỷ V TCN phần lớn đàn

ông Hy Lạp để tóc ngắn, râu cằm và ria

miệng tròn Phụ nữ Hy Lạp mang những

kiểu tóc rất nữ tính, thông thường họ để

tóc xoăn, cuộn lại trên đầu bằng dây ruy

băng, lưới trùm đan bằng dây vàng Tóc

màu sáng được coi là đẹp nhất.- hình

1.28

Hình 1.28 - Các kiểu tóc Hy Lạp

Trang 18

Giày, dép: Người dân Hy Lạp

thường đi chân đất hoặc dùng những dải

băng quấn quanh bắp chân, bàn chân gọi

là PATTIS Loại dép đầu tiên là sandal

có tên gọi là SOLEA - hình 1.29

Chỉ nam nữ quý tộc mới mang sandal

theo hình bàn chân (SOLEA), làm từ da

màu sáng chói, điểm trang bằng kim loại

vàng bạc và đính ngọc trai - hình 1.30

Hình 1.29 – PATTIS Hình 1.30 - SOLEA

Ngoài ra còn có loại ủng cao đến giữa

bắp chân được gọi là BUSKIN BOOT -

hình 1.31

Sandal quân đội của người Hy Lạp rất

cường tráng với tên gọi là KREPIS –

a Điều kiện tự nhiên - xã hội:

Một chính thể quân sự và dựa trên chế độ nô lệ đã biến quốc gia La Mã thành một cường

quốc hùng mạnh trong vài thế kỷ Nằm dưới quyền lực của quốc gia này gồm Châu Âu ngày

nay, Tiểu Á và Ai Cập

Nền nghệ thuật La Mã có thể chia làm 2 giai đoạn liên quan đến chế độ chính trị và

chính quyền nhà nước La Mã cổ:

- Nghệ thuật giai đoạn Cộng hòa La Mã (Thế kỷ IV - I TCN)

- Nghệ thuật giai đoạn Đế quốc La Mã (Thế kỷ I - V SCN)

Trang 19

La Mã đã chinh phục Hy Lạp vào thế kỷ II TCN và từ giai đoạn này nền văn hóa và

nghệ thuật La Mã chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và nghệ thuật Hy Lạp

b Quan niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp của con người:

Khác với người Hy Lạp, người La Mã chú trọng vào tính nghiêm khắc, cứng rắn, dũng

cảm chiến đấu, sự thích nghi với mọi điều kiện, sự nghiêm túc và đơn giản

Vào thời Đế quốc La Mã quan niệm về vẻ đẹp hình thể người phụ nữ đã thay đổi, dáng

hình nảy nở, cân đối được thay thế bằng hình dáng dẹt

Trong tư tưởng của người La Mã thể hiện sự vĩ đại, trì trệ và một sự tĩnh tại nào đó ở

đây người đàn ông được hưởng nhiều quyền lực và sự kính trọng hơn nhiều so với phụ nữ

c Vải và màu sắc:

Màu sắc lý tưởng thời kỳ này là màu sáng

Trang phục La Mã cũng chịu ảnh hưởng của truyền thống Hy Lạp, thể hiện ở các nhịp

điệu trong y phục Họ mặc cùng một lúc 2 - 3 lớp quần áo từ cùng một loại vải cùng một

màu Tuy nhiên vào giai đoạn đế quốc La Mã trang phục cũng khác nhiều với Hy Lạp La

Mã cũng dùng vải dệt thủ công từ len cừu và vải phíp

Trong giai đoạn Đế quốc La Mã, những loại vải lụa tơ tằm mỏng, nhẹ trong suốt quý giá

và đẹp đẽ được đưa đến từ các nước phương đông Ngoài ra còn loại vải dạ, dày và nặng

cũng mỗi năm một thêm thịnh hành

d Trang phục:

Đặc điểm của trang phục La Mã cổ là giữ lại được những nguyên tắc trong y phục Hy

Lạp (5 quy tắc), đồng thời tạo nên dáng vẻ nhẹ nhàng yểu điệu, kiều diễm trong y phục nữ

và sự sang trọng trong y phục nam

Cả đàn ông và đàn bà mặc áo Tunica intima

biến thể từ chiếc Chiton của Hy Lạp Khác với áo

cuốn rủ quanh người, áo Tunica là loại áo mặc

chui đầu qua lỗ, thân và tay áo rộng hẹp khác

nhau, thân hẹp thì tay cũng hẹp và ngược lại

Hình 1.34 - Tunica intama

Áo Tunica có chức năng như chiếc sơ mi dài mặc nhà hay mặc lót bên trong với màu sắc

thể hiện tâm trạng và tính cách của chủ nhân Tầng lớp càng cao, càng giầu thì áo của họ

trang trí càng nhiều và trang trí còn biểu thị nghề nghiệp, vị thế xã hội của chủ nhân Áo

Tunica của các ngài thượng nghị sĩ thì có thêm những sọc rộng màu đỏ thẫm trên ngực và

Trang 20

lưng áo của các kỵ sĩ khác nhau về số lượng và độ rộng của sọc, sọc trang trí trên áo kỵ sĩ

hẹp hơn

 Trang phục nam:

Đàn ông khoác ra ngoài áo Tunica là áo Toga nặng nề tiếp tục cải biến từ áo Himation

của Hy Lạp đưa lại một ấn tượng thật trang trọng - hình 1.35

Khác với Himation của Hy Lạp thoải mái tự do vắt qua vai tạo các nếp sóng mềm mại

khi chuyển động, Toga của người La Mã cho một hình tượng khác hẳn do hình dáng phức

tạp, kích cỡ lớn với các nếp rủ phức tạp (theo một quy luật nhất định) hình vòng cung từ

sườn xuống gối rồi qua vai Toga trở thành chiếc áo truyền thống của người La Mã Nó

không những mang công năng sử dụng mà còn mang tính biểu tượng sâu sắc, biểu thị cho

sự thành đạt của con người cũng như sự phụ thuộc của chủ nhân vào đế chế La Mã Kẻ nô

lệ, người ngoại lai, kẻ bị trục xuất không được quyền mặc Toga Toga được may từ mảnh

vải hình elip hay hình bán nguyệt có diện tích khoảng gần 10m2

Hình 1.35 - áo Toga La Mã

Giai đoạn sau, thay thế những chiếc Toga nặng nề bằng những chiếc áo khoác nhẹ

nhàng từ loại vải quý dệt đan xen chỉ vàng bạc Áo khoác Pallium dành cho hoàng đế và

giới quý tộc, mặc choàng qua lưng và gài bên vai phải Toga và tunica tồn tại mãi tới tận

thời gian phục hưng

Trang 21

 Trang phục nữ:

Nếp gấp rủ vẫn là điểm chủ

đạo cho đến thế kỷ thứ III - IV,

lụa mỏng mềm của Hy Lạp và

của Atxyri chưa bị thay thế bởi

những tấm vải phương Đông

Cấu trúc Tunica nữ không khác

gì của nam giới, may từ vải len

và có tay dài rộng khác nhau -

hình 1.36

Hình 1.36 - Trang phục nữ La Mã

Phụ nữ danh giá khoác

thêm Stola ra ngoài chiếc

Tunica Stola giống như áo

Chiton của Hy Lạp may từ vải

Phíp - hình 1.37

Hình 1.37 - áo Stola

Người tự do được phép

mặc chiếc áo Palla là áo khoác

giống như áo Toga của đàn

ông Trong những nghi lễ

trọng thể phụ nữ kéo áo Palla

che đầu hoặc kẹp gài lại nơi

thắt lưng - hình 1.38

Hình 1.38 - áo Palla

Phụ nữ Hy Lạp mặc áo trong vải mỏng áo ngoài vải dày, thì phụ nữ La Mã mặc áo trong

vải dày áo ngoài vải mỏng trong suốt, nếu áo trong có tay thì áo ngoài không có tay và

ngược lại

Trang 22

 Phụ trang:

Tóc: Kiểu tóc của phụ nữ giai đoạn

này cũng rất phức tạp, cầu kỳ Kiểu tóc

điển hình của phụ nữ là tóc quăn thành

từng búp nhỏ trước trán Sau này dưới

sự ảnh hưởng của Cơ đốc giáo kiểu tóc

mới trở lại sự đơn giản và tự nhiên

Đàn ông thì thì để tóc ngắn và

thẳng đơn giản, cạo ria và dâu cằm -

- Giày, dép: Nếu như ở Hy Lạp cả người giầu và người nghèo đều chấp nhận đi chân đất

thì ở La Mã qua giầy dép người ta biết được vị thế xã hội của chủ nhân Sandal bịt gót, giày

lửng buộc dây nơi mắt cá, giày cao cổ là dấu hiệu phân chia địa vị trong xã hội Điển hình là

giày cao cổ cuốn dây của các chiến binh La Mã

Pedila, Carbatina & Krepis Crepidav & Calceus

Hình 1.40 – Các kiểu giày, dép nam và nữ La Mã

Trang 23

- Trang sức: Hầu như cả nam nữ đều mang dây chuyền, thắt lưng, vòng tay, nhẫn

Hình 1.41 - Trang sức La Mã

1.2.1.4 Trang phục Ả Rập phương Đông:

a Điều kiện tự nhiên – xã hội:

Ả Rập là một bán đảo lớn nhất thế giới, nằm ở bán đảo Tây Á với diện tích lớn hơn cả

Châu Âu Tuy vậy, trên cả bán đảo chỉ có vùng Yemen ở phía Tây Nam có nguồn nước

phong phú, đất đai có thể trồng trọt được Là con đường buôn bán giữa Tây Á và Bắc Phi

nên Yemen có điều kiện phát triển về thương nghiệp Vì vậy vào thế kỉ X - VI TCN, ở đây

thành lập nhiều nhà nước cổ đại

Ngoài Yêmen, vùng Hegiadơ (Hejaz) nằm dọc bên bờ biển Đỏ ở phía Tây bán đảo cũng

tương đối phát triển Vùng này vốn từ xưa là cái cầu nối giữa Địa Trung Hải và Phương

Đông

Nhà nước Ai Cập mãi đến thế kỷ thứ VII mới thành lập lấy tên là Mekk Nằm dưới

quyền lực của Ả Rập bao gồm: Ai Cập, Siri, Palestin, Su - đăng, Ma - rốc, Tây Ban Nha,

Thổ Nhĩ Kì Quá trình nhà nước Ả Rập gắn liền với quá trình thành lập đạo hồi do Môhamet

(Muhamet) truyền bá Môhamet xuất thân từ bộ lạc có quyền thế ở Mecca, phương thức hồi

giáo tồn tại như vậy đến khoảng thế kỉ IX - X

Ở giai đoạn này nền văn hóa của vương quốc phát triển rực rỡ thâu tóm được ưu việt của

các quốc gia thành phần

Trong các loại hình nghệ thuật phải kể đến các loại hình phát triển nhất đó là kiến trúc và

các ngành thủ công vũ nghệ như: nghề gốm, chạm khắc gỗ, dệt và sản xuất vải vóc

b Quan niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp của con người:

Trang 24

Vào thời cổ xưa hình ảnh con người được miêu tả trên các tranh chạm nổi ở Ai Cập -

Atxiry

Do ảnh hưởng của giáo lý đạo Hồi, hình ảnh con người cấm đưa vào các tranh và các tác

phẩm nghệ thuật Câu chuyện “Nghìn lẻ một đêm” nó đã trở thành từ điển thẩm mỹ hiện đại

của người Ả Rập Thể hiện người phụ nữ với dáng vẻ yểu điệu, duyên dáng khuôn mặt trắng

trẻo, mịn màng (như trăng đêm 14), được tô điểm nốt ruồi trên má, đôi mắt đen lung linh,

dưới đôi lông mày đen mịn dài

c Vải và màu sắc:

Thời cổ đại, thảm thực vật của vùng bán đảo Ả Rập thật nghèo nàn vì vậy họ may quần

áo chủ yếu từ chất liệu nguồn gốc động vật như: Da, lông, len chế từ lông con cừu và lạc đà

Chỉ vùng ven biển miền Nam mới có thể trồng bông, người dân mới dệt vải từ bông thực

vật

Thời trung cổ, công nghệ sản xuất vải rất phát triển Các loại lụa cao cấp, len, phíp, vải

bông được sử dụng rộng rãi Sự độc đáo và đặc sắc của thủ công Ả Rập đã trở nên nổi tiếng

nhờ giữ vững nghệ thuật cổ xưa của mình

Vào thời kỳ đầu, trên vải thường thể hiện họa tiết hình tượng chim muông, động vật Sau

đó ảnh hưởng của tôn giáo các họa tiết trang trí thay đổi dần, xuất hiện các họa tiết hình học,

hoa lá tinh tế ở các sọc hẹp trang trí cùng với kiểu chữ Ả Rập Loại vải trơn cũng phong phú

màu sắc như: Đỏ, ánh vàng, xanh da trời, xanh lá cây, xanh lam, đen, trắng

d Trang phục:

 Trang phục nam: Thời cổ đại áo lót của người Ả Rập du mục là chiếc áo rộng, dài

đến bụng chân hoặc đến mắt cá, có hoặc không có tay, đó là chiếc áo khâu từ hai mảnh theo

đường vai để mở hai bên sườn, thắt lưng bằng dây gai, dây thừng hay dây vải áo khoác

ngoài Abbas của họ làm từ len cừu thô, len lạc đà thô, thường có sọc màu đen - vàng hay

vàng - xanh da trời

Theo cấu trúc của áo Abbas là một cái túi rộng rỗng đáy, mở phía trước, có lỗ để chui

tay Đàn ông và đàn bà ả rập từ xa xưa đều mang khăn trùm - một mảnh vải hình chữ nhật

mầu trắng hay mầu xanh có dây băng cuốn quanh và giữ lại trên trán, rủ dài che phủ lưng và

vai, khi cần thiết kéo khăn che phủ toàn thân

Có điểm chung duy nhất cho mọi người dân Ả Rập ở Châu Á và ở Ai Cập là chiếc quần

Họ mặc chiếc quần với áo có tay dài rộng mầu trắng từ vải phíp, lụa hay vải bông Người Ả

Rập có chiếc áo dài cổ kín “Kaftan” rất nổi tiếng Áo Kaftan có tay dài rộng, trang trí hoa

Trang 25

văn, thắt lưng bằng dải khăn nhiều mầu Áo khoác ngoài xòe rộng dưới đáy, vạt khép, thắt

eo bằng dải vải

 Trang phục nữ: Gồm áo sơ mi lót dài rộng, khăn đội kiểu vành tròn, áo khoác

ngoài, thắt lưng tròn, trang điểm thật phong phú

Y phục nữ Ả Rập đẹp như một bức họa Những nếp lụa hay vải bông thật mỏng với các

màu trắng, vàng, xanh Áo sơ mi trong dài đến gối, bên ngoài mặc Kaftan kín cổ, xòe rộng,

bó sát eo và ngực, mở bên sườn, eo thắt khăn Áo khoác ngoài của nữ cũng giống như của

nam Khăn choàng của nữ rất đẹp đủ các mầu: hồng, đen trang trí bằng các hình thêu chỉ

vàng lóng lánh chói chang Tóc tết thành nhiều bím buộc dây lụa

Thời nay, trang phục dân tộc Ả Rập phương Đông còn giữ lại rất nhiều sắc thái trang

phục lịch sử

 Phụ trang: Đàn ông Ả Rập thường đội mũ hình nón cụt từ vành khăn xếp và mang

một lúc từ 2 - 3 đôi giầy da dê thuộc các mầu đỏ, vàng v.v với phần mũi giầy nhọn và

cong lên Họ đeo các loại trang sức như: khuyên mũi, khuyên tai, vòng tay và vòng chân

Người giàu mang đồ trang sức có khảm cẩn, vũ khí nhỏ như dao có khảm khắc

Khăn choàng của nữ rất đẹp đủ các màu: Hồng, đen trang trí bằng các hình thêu chỉ vàng

lóng lánh chói chang Tóc tết thành nhiều bím buộc dây lụa

Hình 1.42 - Một số bộ trang phục Ả Rập phương Đông tiêu biểu

Trang 26

1.2.1.5 Trang phục Ấn Độ cổ đại:

a Điều kiện tự nhiên - xã hội:

Ấn Độ là một bán đảo thuộc Nam Á, là một quốc gia cổ đại của thế giới, nằm từ

Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, có khí hậu nhiệt đới với mặt trời đỏ rực, bầu trời

trong xanh, bờ biển xanh thẳm và thảm thực vật phì nhiêu Miền Bắc Ấn Độ có hai con sông

lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) Cả hai dòng sông này đã bồi đắp thành hai

đồng bằng màu mỡ ở miền Bắc Ấn Độ, vì vậy nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn minh

của đất nước này

Lịch sử Ấn Độ có thể chia thành 4 thời kì lớn sau đây:

- Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN)

- Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)

- Ấn Độ từ thế kỉ VI TCN đến XII

- Ấn Độ từ thế kỉ XIII - XIX:

+ Thời kì Xuntan Đêli (1206 - 1526)

+ Thời kì Môgôn (1526 - 1857)

Nền tảng cơ cấu xã hội Ấn Độ ngay từ thời xa xưa đã là chế độ công xã với sự phân chia

lao động trong xã hội Công xã bao gồm cả những thợ thủ công: Thợ gốm, thợ dệt vải, thợ

may, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và đó chính là nguyên nhân đỉnh cao

của nghệ thuật thủ công của Ấn Độ, trong đó có sản xuất vải, đồ trang sức và đồ gốm

b Quan niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp con người:

Các bức tranh khắc và các bích họa hoành tráng

của các ngôi đền thờ phật cổ dù rằng mục đích là

thể hiện, miêu tả các chủ đề tôn giáo, nhưng thực

tế cho phép ta nhận thấy cách nghĩ của người ấn

Ngay từ thế kỷ thứ II TCN, người Ấn Độ đã sản xuất ra vải bông trong suốt, chế xuất từ vỏ

cây dừa, được nhuộm màu bền chắc từ các lá cây màu rực rỡ, vàng, đỏ, màu chàm Ấn Độ

Trang 27

được coi là quê hương của vải bông, vải và nghệ thuật in vải hoa cũng ra đời đầu tiên tại nơi

đây Nhiều loại vải được gọi gắn với cái tên của thành phố hay làng mạc nơi đã sinh ra nó

đầu tiên: Madras, Magapol, Colenkor Vải in hoa của Ấn Độ đã nổi tiếng trên toàn thế giới

Thời trung cổ, ảnh hưởng của Ả Rập tại Ấn Độ đã bắt đầu sản xuất tơ lụa có kén sợi

vàng, bạc và đất đá quí

Vào thế kỷ XVII - XII, ở Châu Âu đánh giá cao chiếc khăn Shal ca-sơ-mia len của người

ấn Độ với các loại họa tiết, chim muông rực rỡ Loại vải này được dệt từ lông dê

d Trang phục:

Nghệ thuật Ấn Độ chịu ảnh hưởng của Ba Tư, Ai Cập, La Mã, Ả Rập Điều này cũng thể

hiện trong trang phục Ấn Độ ở sự đa dạng về thể loại, về cách sử dụng chất liệu vải và cách

thức mặc Họ mặc ghép hai kiểu: cuốn rủ ly xếp quanh người với áo ráp bó cơ thể

 Trang phục nam:

Thời cổ đàn ông để trần phần trên, phần dưới

cuốn khăn “Đkhô-ti”, thắt lại quanh hông và có

thắt lưng cuốn ra ngoài Phần còn lại của y phục

nam là “Chalma” và áo khoác “Rupan” Cả hai

loại này đều là miếng vải hình chữ nhật được

gấp thành nhiều lớp và cuốn quanh đầu, vắt qua

hai hay một bên vai ra phía sau Đàn ông trang

điểm thêm một chuỗi hạt lớn và các vòng xoắn

đeo tay và chân - hình 1.44

Hình 1.44 – Trang phục nam ấn Độ

Do ảnh hưởng trang phục Iran, y phục của đàn ông du nhập thêm loại quần áo ráp, đó là

chiếc quần ống hẹp và chiếc yếm bó sát

Đàn ông Ấn Độ đi sandal và giày từ vỏ cây, bã mía hay từ da Bốt ủng là loại giày chủ

yếu của người Ấn Độ

Áo “Đkhô-ti” nam Ấn Độ hiện đại theo truyền thống là miếng vải cuốn rủ dài tới 5 mét

đóng vai trò là chiếc chân váy, bên trong mặc áo trắng dài đến gối và lớp ngoài nữa là chiếc

áo khoác ngắn có tay hoặc không có tay Chalma cuốn đầu màu sắc rực rỡ (xanh da trời,

vàng, đỏ), thắt lưng trang trí bằng khăn, áo choàng rủ vắt qua vai

 Trang phục nữ: Cũng như nam trang phục nữ là sự kết hợp giữa kiểu quần áo cuốn

rủ với kiểu quần áo may cắt gài nẹp cúc

Trang 28

Ở thời cổ đại, y phục nữ gồm khố cuốn quanh

hông và tấm vải khoác rủ Một trong những kiểu

xếp nếp rủ điển hình là “Sa-ry” Sa-ry được trang

trí rất phong phú, có thể là vải lụa hay vải bông

trơn hoặc vải in hoa nhỏ, viền rộng có hoa văn

Màu ưa chuộng của Sa-ry là: xanh lá cây, màu giữa

lục và xanh da trời, giữa vàng và vàng óng, màu đỏ

thắm Phần bên trên mặc áo “khô-li” may cắt bó

sát, tay áo hẹp và dài tới khuỷu, phía sau đính lại

bằng dây, có màu rực rỡ tương phản với Sa-ry

khoác ngoài - hình 1.45 Hình 1.45 – Trang phục nữ ấn Độ

Phụ trang còn có thắt lưng trang trí bằng dải khăn và các mỹ phẩm phục sức khác Giầy

và sandal cho phụ nữ làm từ các loại vỏ cây và và gỗ thẫm mầu, thảm trang trí xương voi và

kim loại

Sa-ry cuốn là loại áo không thể thiếu trong thường phục cũng như quốc phục ấn và nó

tồn tại mãi cho tới tận ngày nay

1.2.1.6 Trang phục Trung Quốc cổ đại:

a Điều kiện tự nhiên – xã hội:

Trung Quốc cổ xưa luôn dẫn dụ chúng ta liên tưởng đến khái niệm “con đường tơ lụa”

lừng lẫy một thời Đã từ thế kỷ thứ II TCN, hàng đàn lạc đà nối đuôi nhau chuyên chở tơ lụa

đắt giá của Trung Quốc đổi ngang 1 funt vàng

Nghề nông là nghề lao động căn bản của người Trung Quốc cổ xưa và cũng từ xưa nền

mỹ thuật và nghệ thuật thủ công nơi đây đã phát triển rực rỡ

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đất nước Trung Hoa rộng lớn được liên kết lại thành

một quốc gia hùng mạnh, dưới sự trị vì của nhiều triều đại hoàng đế kế tiếp

Quốc gia to lớn này phân chia làm nhiều nước nhỏ nằm dưới sự cai trị của các vua nhỏ

(lãnh chúa) và luôn bị nước ngoài xâm lược

Dưới ảnh hưởng của sự đổi thay liên tục và tác nhân qua lại giữa các nền văn hóa khác

nhau của các dân tộc Trung Hoa trong quá trình chung sống và các cuộc cải cách khi bị

nước ngoài xâm lăng, nền nghệ thuật và trang phục của dân tộc cũng luôn thay đổi Tuy

nhiên, những yếu tố đặc thù về sự phát triển kinh tế, xã hội, về triết học, về thiên nhiên đã

Trang 29

tạo nên những nét cơ bản sống mãi với thời gian, biểu hiện ở biểu tượng về hình dáng diện

mạo, họa tiết hoa văn cũng như màu sắc trong trang phục Trung Hoa

b Quan niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp của con người:

Người Trung Hoa thuộc nhóm người Đông Á (nhóm Mông Cổ), có tầm vóc không cao,

khuôn mặt tương đối đầy đặn, vầng trán cao, da bồ quân, khuôn mắt hẹp nhỏ, tóc đen thẳng

và bóng, đôi mày điển hình là đôi mày cao thường được cách điệu hoá trong nghệ thuật

cùng với đôi mắt xếch thành cặp mắt bay vút

Hình ảnh người đàn ông được đánh giá cao vẫn là hình tượng ẩn giấu tiềm tàng, với cử

chỉ tao nhã thanh lịch, trí tuệ sắc bén Đó là người có giáo dục, có học vấn và sự tinh tế

trong tri giác

Quan niệm về vẻ đẹp ở người phụ nữ lại thay đổi thường xuyên Vào triều đại nhà Tần

(thế kỷ VIII) hình tượng người đàn bà đẹp trước hết phải đẫy đà và khuôn mặt tròn Vào

thời kỳ muộn hơn thì ngược lại: Dáng mạo uyển chuyển duyên dáng đầy nữ tính, tay và

chân nhỏ

Mặc dù màu da bánh mật là mầu tự nhiên của người Trung Quốc, nhưng họ lại đề cao

cặp má trắng và má đào Vì vậy, màu trắng và màu đào được sử dụng rộng rãi trong mỹ

phẩm của người phụ nữ Trung quốc Tuy nhiên nhiều cô gái có sở trường lại phô trương vẻ

đẹp tự nhiên của mình

Thời trung cổ, ở Trung Quốc vẻ đẹp của phụ nữ được đánh giá rất cao Khi chọn vợ cho

hoàng đế thì vẻ đẹp của cô gái được đánh giá, cân nhắc như đối với từng carra kim cương

c Vải và màu sắc:

Nói tới Trung Quốc cổ xưa chúng ta liên tưởng tới khái niệm “con đường tơ lụa” lững

lẫy một thời

 Lịch sử phát triển của tơ lụa Trung Quốc:

Tơ lụa Trung Quốc đã tồn tại từ rất lâu đời Tương truyền rằng, hoàng hậu Si Lin Chi vợ

của hoàng đế Huang Ti triều đại Tần khi đang uống trà dưới cây dâu tằm thì có một kén tằm

đã rơi vào trong tách trà của bà Khi kén tằm rơi trong tách nước nóng đó, chúng bắt đầu

nhả tơ Bà nhìn thấy một sợi tơ và cầm kéo nó ra Và thật kì lạ sợi tơ ấy khi kéo cứ tiếp tục

dài ra Và tơ lụa bắt đầu hình thành từ đó

Tơ lụa Trung Quốc rất phát triển Họ sản xuất ra nhiều loại tơ lụa khác nhau và đến tận

ngày nay những loại tơ lụa mới vẫn tiếp tục được tạo ra ngày một nhiều

Trang 30

Một số loại tơ lụa của Trung Quốc như: Bombazine, Brocade, Chiffon, Crepe de Chine,

Damask, Georgette or Crepe Georgette, Organdy or Organza, Shantung, Tulle, Velvet,

Voile

 Mô típ trên trang phục của Trung Quốc:

Người Trung Quốc sử dụng nhiều loại mô-típ khác nhau trên các sản phẩm may của họ

Đặc biệt là kiểu mô-típ hình con rồng “Dragon” Nó là kiểu mô-típ rất được ưa chuộng bởi

những người giàu Họ mặc áo choàng có trang trí các hình Dragon với nhiều màu sắc khác

nhau và được gọi là "Dragon Robes"

Màu sắc: Vào các triều đại khác nhau thì có các thị hiếu về màu sắc khác nhau Màu đen

được xem như là của phẩm giá và sự giàu có ở triều đại Tần nhưng đến triều đại Hán nó lại

được thay thế bằng màu vàng Màu sắc trở thành tượng trưng của bốn phương: Màu xanh -

phương Đông, màu đỏ - phương Nam Màu trắng - phương Tây, màu đen - phương Bắc

Ở một số triều đại, màu sắc chỉ được dùng để thiết kế riêng cho vua và quan trong triều

Màu vàng là màu trang phục của các hoàng đế ở một số triều đại

d Trang phục:

Từ cổ xưa, y phục nam và nữ Trung Hoa đã bao gồm quần dài và áo thụng thẳng, áo

khoác khép vạt từ trái qua phải, thắt lưng nút bướm bằng ruy-băng Quần thắt tại eo bằng

dây lưng vải, áo sơ-mi và áo khoác có tay hình ống hẹp dần phía gấu, kết thúc bằng miếng

măng-séc trang trí

Phụ nữ đứng tuổi và danh giá mặc phủ ra ngoài chiếc quần là chiếc áo “plakhta” dài,

khép vạt Từ loại thường phục đơn giản này đã phát triển lên kiểu trang phục nghi lễ trịnh

trọng với sự khác biệt về các chi tiết bộ phận, mũ đội phức tạp, khác biệt về trang sức, màu

sắc, nhưng tựu trung vẫn trên cùng một cấu trúc, cách cắt may căn bản Màu sắc, hoa văn,

hình dáng trang phục nghi lễ mang nặng tính tượng trưng Chẳng hạn, áo sơ-mi của hoàng

đế có biểu tượng của bầu trời với các màu đỏ, đen, các họa tiết hình mặt trời, mặt trăng, các

vì sao, núi non; áo khoác plakhta màu vàng và đỏ là biểu tượng của đất với hoa văn hình

bông lúa mì; mũ đội đầu là hình tượng của sự kết hợp giữa bầu trời - hình tròn và quả đất -

hình vuông với các sắc màu đen và đỏ, những chuỗi hạt ngọc thạch hình cầu xinh xắn là

biểu tượng cho những tia nước mưa chảy

Ngoài ra, thêm vào bộ y phục còn có chiếc áo yếm kiểu tạp dề được phục sức quí giá gài

tại thắt lưng phía trước, lưới bện bằng dây đủ màu sắc cùng các vòng ngọc thạch

Vào thời Trung cổ, áo sơ mi dài và áo khoác thường phục của đàn ông được thay thế bằng

chiếc áo khoác dài (thường thì xẻ tà bên cạnh) Lâu dần loại áo này thay thế hẳn hai loại trên

Trang 31

và ở y phục nghi lễ vai trò của màu sắc, của phục sức, hoa văn trang trí được đề cao trong

việc phân định đẳng cấp xã hội Đã có sắc lệnh của nhà nước ban hành để phân định rõ ràng

về hình dáng, màu sắc, chất liệu vải cho y phục hoàng đế và dân tộc, cho 9 bậc quan lại của

triều đình

Đặc trưng của áo khoác nghi lễ thời Trung cổ là: cổ kín, đường khoét cổ tròn, tay áo rộng

hẹp khác nhau Cấu trúc của áo sơ-mi dài và áo khoác không thay đổi, chỉ có nẹp áo cải biến

đôi chút, có thể một hoặc hai hàng cúc, đóng kín không đăng đối hoặc xiên chéo đi qua

ngực

Y phục nữ thời Trung cổ gồm áo sơ-mi dài và áo khoác plakhta Tới thế kỷ VIII - IX phụ

nữ mặc thêm chân váy cùng hai loại áo trên và trở thành y phục truyền thống căn bản Khác

với trang phục nam, trong trang phục nữ phối hợp nhiều màu sắc và phục sức phong phú

Vào thế kỷ XVII, Mãn Châu đánh chiếm Trung Quốc và lập nên triều đại Mãn Thanh

Trong giai đoạn này, đã có hàng loạt các cuộc cải cách làm thay đổi mạnh mẽ đến đặc thù

trang phục dân tộc Trung Hoa Áo choàng nam trở nên hẹp hơn, đặc biệt là tay áo Đối với

trang phục nghi lễ thì gấu tay áo có măng séc hình mỏng Bên ngoài áo khoác mặc thêm áo

ngắn hơn kiểu sơ - mi, nẹp một hàng cúc, tay áo ngắn và rộng may từ lụa màu xanh, tím hay

đen Trên ngực và lưng có miếng thêu hình vuông gọi là “Bufana” có các hoa văn tượng

trưng cho địa vị xã hội của chủ nhân

Trang phục nữ còn giữ được nhiều các sắc thái dân tộc trước đây Áo sơ-mi lót trong hai

hàng cúc, ống tay rộng áo mặc ngoài plakhta có các mảng trang trí hình chữ nhật trên thân

trước và thân sau áo, bên sườn áo xếp nếp rủ - hỡnh.2.13 Ở triều đại Mãn Thanh, trong các

dịp đại lễ đàn ông cũng như đàn bà khoác thêm chiếc áo choàng ngắn chùm vai tráng lệ,

trang trí lộng lẫy

 Phụ trang:

* Giày, dép: Các kiểu giày Trung Quốc đặc trưng là loại giày nhẹ, may bằng vải sợi gai

hay rơm rạ, đế giày được đệm lót nhiều lớp giày bồi hay nhiều lớp vải Qua từng giai đoạn

đã có những loại giày cao cổ làm bằng dạ hay bằng vải có hình dáng mềm mại như những

đôi bít tất Ở triều đại Mãn thanh, giày nghi lễ đã thay đổi: giày cứng và cao hơn nhiều, đế

màu trắng, phần mũi vát lên

*Mũ: Mũ thời Cổ là cả một công trình cầu kỳ, nó được làm từ vải, nhúng nước hồ vải trên

một khung sắt Loại mũ nghi lễ trịnh trọng nhất có rèm bằng các chuỗi hạt ngọc thạch, dây

và các dải băng buông thõng dài đôi khi tới cả đất Thời Trung cổ, mũ trở lên đơn giản hơn,

nó được cuốn từ vải sa, sau đó cũng được ngâm hồ

Trang 32

*Kiểu đầu tóc: Đàn ông để tóc dài búi trên đỉnh đầu được ghim bằng trâm Trong giai

đoạn Mãn Thanh cai trị, kẻ đô hộ Mãn Thanh buộc người Trung Quốc phải cạo trọc phần

trước đầu Phần tóc còn lại sau gáy bện lại thành đuôi sam Phụ nữ chủ yếu là búi tóc Tùy

từng giai đoạn lịch sử, khi thì họ búi ngược trên đỉnh đầu, lúc thì ở sau gáy và ghim bằng

kẹp tóc Vào thế kỷ X - XII, trên thái dương, trán và má phụ nữ còn dán những nốt ruồi giả

màu xanh lá cây, xanh lam hay đen, bên trên đính những viên đá quí Ở triều đại nhà Minh

(thế kỷ XIV - XVII) búi tóc để trên đỉnh đầu Tại thái dương tóc được cắt thành hình góc

vuông trên trán cắt thẳng, tô cho thẫm thêm bằng mực tàu

Kiểu tóc thường được trang sức công phu cầu kỳ bằng những viên ngọc, kim cương, ngọc

thạch, đôi khi bằng những trâm lược có hình con chim phượng hoàng mỏ ngậm những tua

dài đeo mặt dây chuyền

Hình 1.46 - Một số bộ trang phục Trung Quốc tiêu biểu

1.2.2 Trang phục thời Trung cổ:

Thời trung cổ kéo dài từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIV Chế độ nô lệ sụp đổ, các quốc gia

phong kiến châu Á ra đời sớm, sau đó là các chế độ phong kiến tập quyền ở Anh, Pháp, Tây

Ban Nha

Thủ công nghiệp phát triển, trong đó có nghề dệt Nghề cắt may xuất hiện Trang phục

phát triển Cái đẹp của các bộ quần áo thể hiện trong đường nét cắt, tỷ lệ cân đối… Quần áo

thời kỳ này vẫn tiếp tục kiểu dáng tương tự quần áo thời Cổ đại là rộng lụng thụng Nhưng

nếu thời cổ đại chủ yếu mặc bằng phương pháp quấn vải thì quần áo thời Trung cổ, nhà thờ

thống trị cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần Quan điểm đạo đức nghiêm ngặt và khắt khe

Người ta không thể chấp nhận được để “mắt trần” chiêm ngưỡng cơ thể tự nhiên của con

Trang 33

người Vì thế quần áo thời kỳ này có vẻ kín đáo, nặng nề làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên của cơ

thể con người

Màu sắc chủ đạo là đen và các màu tối sẫm

Đến cuối thời trung cổ, trang phục có một bước tiến rõ nét về kỹ thuật cắt may Giai

đoạn này thủ đô của trang phục thế giới là Byzantium (hiện nay là thủ đô Istabul của Thổ

Nhĩ Kỳ) của đế quốc Đông Rôma Ta đi tìm hiểu về trang phục của Byzantium:

 Trang phục:

- Trang phục nữ Byzantium: (Hình 1.47)

Hình 1.47 -Trang phục nữ Byzantium

Phụ nữ có áo mặc trong là Camisia Bên ngoài mặc áo

Stolla hoặc áo Dalmatic (là kiểu

áo trang trí) Stolla thường được làm từ vải lanh hoặc tơ tằm

Những phụ nữ danh giá thì mặc Dalmatic dưới áo choàng với chiếc cổ lớn được trang trí bằng kim cương, đá quý

- Trang phục nam Byzantium: (Hình 1.48)

Hình 1.48 -Trang phục nam Byzantium

Trang 34

Các loại quần áo phương Đông như khăn xếp, quần dài và những đồ trang sức tinh xảo

đã hấp dẫn giới quý tộc phương Tây Vào khoảng thế kỷ XII, quần áo thông dụng gồm có

một áo dài thắt ngang lưng, may sát vào cơ thể và với các vạt chéo tạo ra bề rộng ở phần

váy Trang phục này được cả phụ nữ và nam giới mặc Phân biệt về giới trong trang phục

chỉ thể hiện rất ít ở chiều dài: Áo váy phủ dài toàn thân đối với nữ, dài đến gối hay ngang

bắp chân đối với nam

Sang thế kỷ 14, nước Pháp trở thành 1 nước dẫn đầu về chính trị và văn hoá Pháp có

một ảnh hưởng lớn đến thiết kế trang phục thế giới Trang phục thời kỳ này đã trở nên tinh

xảo, khoa trương và rất đắt tiền

Chi tiết thời trang của nhiều bộ trang phục là một vòng cổ chữ V khoét sâu với một cổ

áo tạo dáng khá rộng phủ trùm qua 2 vai Một thắt lưng được thắt thấp và váy có các xếp

nếp sâu Một số áo váy có thêm đuôi dài - hình 1.49a

Phần trên của cả áo nam và áo nữ đều được tạo hình và ôm khít với người mặc, đây là

kiểu chưa từng có từ trước tới thời kỳ này

Phụ nữ mang mũ hennin, một loại mũ cao, tạo hình nón đội về phía sau đầu và có một

khăn trùm vắt trên đỉnh mũ Mũ càng cao càng thể hiện địa vị của người mặc Có một số mũ

loại này cao tới 90 cm Mũ hennin phổ biến trong gần 100 năm (Hình 1.49b)

Hình 1.49 a - Kiểu váy đặc trưng thời trung cổ

b - Mũ Hennim thời trung cổ

Đàn ông thường mặc kép 2 áo Áo trong gọi là Gippôn có ống tay bó sát và thẳng Áo

ngoài thiết kế tương tự nhưng có thắt lưng to gọi là Cotehardie, cúc áo kèm dây chằng và

ống tay rộng Giới quý tộc đi những đôi giày mũi cong, tạo dáng cầu kỳ Có những đôi giày

mũi cong, tổng chiều dài đến 60cm

Trang 35

Từ năm 1380 đàn ông và đàn bà đều mặc áo choàng dài tới mắt cá chân, được gọi là

Houppelande Houppelande thường được làm từ chất liệu dày, tay áo viền lông thú… làm

cho người mặc trông rất to lớn oai vệ

Hình 1.50 – Áo choàng Houppelande

1.2.3 Trang phục thời kì Phục Hƣng:

Sau thời gian dài dưới chế độ phong kiến hà khắc, đến thời phục hưng kéo dài từ thế kỷ

(XV- XVI) con người được mở mang về trí tuệ Những tư tưởng xã hội mới xuất hiện Thời

kỳ này đã nảy sinh nhiều học giả và văn nghệ sĩ thiên tài như danh họa Italia -

LeonardoVanci, nhà thiên văn học BaLan Copernic, nhà văn Pháp Rabelais, nhà soạn kịch

Anh Shakespeare

Thời kỳ này con người được tự do vươn tới cái đẹp Vẻ đẹp hình thể của cơ thể con

người được tôn vinh

Quan niệm về cái đẹp đàn ông là khoẻ mạnh, cường tráng nên có 2 kiểu ăn mặc chính:

+ Quần lửng: Ống quần phồng túm dưới gấu, trang trí nhiều màu sắc, để chân trần từ ngang

đùi trở xuống Phía trên khoác thêm áo ngoài vừa đủ che hết quần lửng - hình 1.51a

+ Quần bó sát: Để lộ mọi đường nét của đùi và mông, mỗi ống quần có thể một màu, trang

trí táo bạo, vải sặc sỡ - hình 1.51b

Trang 36

Hình 1.51a - Kiểu quần lửng Hình 1.51b - Kiểu quần bó sát

Đối với phụ nữ thì vẻ đẹp tâm hồn được được đánh giá cao Do đó, trọng tâm quần áo nữ

là phần ngực và phần cổ nhằm hướng sự chú ý lên khuôn mặt Phụ nữ thời phục hưng mặc

trong cùng váy ôm eo, bó sát cơ thể, cổ khoét rộng đến gần ngực Áo khoác ngoài khoét

nách hoặc không có tay để thuận tiện trong sử dụng Để trang trí, thường hay dùng nếp gấp

của vải, hoặc cắt vải thành các chi tiết trang trí Màu sắc trang phục thời kỳ này khá phong

phú - hình 1.52

Hình 1.52 - Trang phục nữ thời kì Phục Hưng

Trang 37

Nhìn chung trang phục mang tính cường tráng khoẻ mạnh, phong cách thư thái thể

hiện sự điềm tĩnh, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp

Thế kỷ XVI bắt đầu thời kỳ Phục Hưng ở Italia Đồng thời quần áo quý tộc phát triển

đến đỉnh điểm của sự xa hoa lộng lẫy, trang trí cầu kỳ, mang phong cách Ba-ro-cô:

+ Nhấn mạnh cái tôi

+ Tôn trọng sự vĩ đại

+ Tôn sùng sự sang trọng, quý phái

Bởi vậy quần áo rất đắt tiền và lộng lẫy Váy khổng lồ tương phản với vóc dáng mảnh

mai của người phụ nữ

Trong suốt thời gian dài áo ngực (áo lót) được ưa chuộng Trang phục của cả nam và

nữ đều có hình dáng bó sát vào cơ thể

Vào khoảng giữa thế kỷ XVI nhẫn đeo tay đã xuất hiện

Cổ áo xếp nếp là đặc điểm thời trang nổi bật, thu hút sự chú ý của mọi người Cả đàn

ông và đàn bà đều mặc kiểu cổ như thế Từ năm 1550 về trước, cổ áo ban đầu chỉ với một

diềm đăng ten nhỏ trên trang phục nam hay váy nữ Sau năm 1550 diềm trang trí này dần

trở nên rộng hơn, to hơn và xếp nếp dày hơn Sự phát triển của loại cổ áo xếp này đã phát

triển tới mức mọi người đều học cách gấp đăng ten như thế nào cho việc trang trí cổ áo của

họ - hình 1.53

Hình 1.53 - Kiểu cổ áo xếp nếp thời Phục Hưng

Ở Đức, đàn ông bắt đầu mặc quần ống túm

Với sự khám phá ra Châu Mỹ, kiểu cách trang phục phương Tây bắt đầu thêm nhiều chi

tiết mới: Xuất hiện chất liệu da, lông thú trên các bộ trang phục

Trang 38

Đến cuối thế kỷ XVI, kiểu áo jacket chẽn mặc ngoài bằng da chỉ để may cho những

người giàu, được vua Henrry VIII của Anh mặc đã trở thành kiểu trang phục thời thượng

Hình 1.54 - Trang phục vua Henrry VIII

Nhìn chung đặc điểm trang phục giai đoạn này là cầu kỳ, lộng lẫy và xa hoa Chính điều

này làm lu mờ vẻ đẹp tự nhiên của con người

1.2.4 Trang phục thế kỷ XVII - XVIII:

Bắt đầu từ Cách mạng tư sản Anh 1660, kết thúc bằng cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789

- 1794

Xã hội có sự phân hoá giữa người giàu và người nghèo Trang phục phát triển, phong

phú, trở thành dấu hiệu phân biệt giai cấp, tầng lớp, vị trí xã hội

Trang phục giới quý tộc cầu kỳ, trang phục người lao động thì đơn giản

Quần áo là dấu hiệu phân biệt giai cấp, tầng lớp, vị trí xã hội của mỗi người Và các buổi

dạ hội hay hội họp là nơi tầng lớp quý tộc trình diễn những bộ quần áo mới của họ Nếu một

bộ nào đó được ưa thích, sẽ lan rộng trong giới quý tộc, sau đó chuyển dần xuống những

tầng lớp dưới Và nếu một mốt nào đó đến được tầng lớp bình dân thì cũng không phải do

họ lựa chọn

Quan niệm thẩm mỹ, trình độ cắt may thể hiện trên trang phục củagiới quý tộc Thiết kế

trang phục thời kỳ này phân hoá thành 2 dòng chính:

+ Đạt đến đỉnh điểm của sự cầu kỳ phức tạp

+ Đơn giản tiện lợi hơn: “tỉ lệ vàng” của cơ thể được chú ý

Thiết kế trang phục thời kỳ này rất chú ý tới quan hệ tỷ lệ của cơ thể và quan hệ đối lập

Trang phục của nữ thường phần cổ được khoét rộng, ngực bó sát và nâng cao Eo cao và

càng nhỏ càng tốt Để tạo dáng cho phần váy người ta thiết kế khung đỡ làm bằng vật liệu

cứng nhẹ, bên ngoài váy được xếp nếp cầu kỳ để tạo dáng

Trang 39

Thời kỳ này màu sắc tươi mới rực rỡ đối lập với những màu sắc đen tối của nhiều thế kỷ

trước

Trang phục nam thường là ủng cao, quần bò, áo đuôi tôm có hai khuy cài sau lưng để

vén đuôi áo lên khi cần thiết Trang phục nam bị ảnh hưởng của trang phục nữ nên những

chiếc bành tô (Palto: một loại áo khoác dài) bó sát người và có nhiều lớp cổ

Hình 1.55- Trang phục thế kỉ XVII – XVIII

Trang 40

 Phụ trang:

Hình 1.56 – Kiểu tóc thế kỉ XVII - XVIII

Hình 1.57 - Kiểu mũ thế kỉ XVII - XVIII

Hình 1.58 - Kiểu giày, dép thế kỷ XVII - XVIII

Cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) đã tạo sự thay đổi mạnh mẽ trong giới thời

trang Sau cuộc cách mạng, Pháp bấy giờ là một nước cộng hoà và người Pháp thận trọng

hơn trong cách ăn mặc Những kiểu tóc, kiểu mũ trở nên đơn giản, sống áo bớt trang trí cầu

Ngày đăng: 24/10/2017, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w