1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng mỹ thuật

69 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều loại “đường”: đường thẳng, đường cong, đường gấp khúc, đường tròn, đường xoáy ốc...Trong nghệ thuật hội hoạ có thể sử dụng một đường cụ thể như đường trục của hình tượng người c

Trang 1

Mục lục

1.1.1 Nguồn gốc ra đời và sự phát triển Mỹ thuật 2

1.2.2 Tỷ lệ nam toàn thân 21

1.2.4 So sánh sự khác nhau giữa tỷ lệ người nam và nữ 23

1.2.5 Vẽ hình xây dựng tỷ lệ người nam, nữ trưởng thành 23

1.3.10 Hình lập phương ở các vị trí khác nhau trong không gian

2.1.3 Những điểm cần lưu ý khi quan sát và vẽ theo mẫu 29

2.1.5 Bài tập: Vẽ các đồ vật và hoa quả 30

2.1.6 Bài tập: Vẽ tượng người 30

2.2.3 Tính hiện đại và tính dân tộc trong trang trí 32

2.2.5 Màu sắc trong trang trí 34

2.2.6.Bài tập: vẽ bảng màu gốc, màu tương phản, màu nóng, màu lạnh,

đậm nhạt của màu sắc

37

Trang 2

2.2.7 Các nguyên tắc cơ bản của trang trí 37

2.2.9 Trang trí báo tường, hội trường, lớp học 39

2.2.10 Phương pháp trang trí báo tường, trang trí hội trường, lớp học

CHƯƠNG 3: VẼ TRANH VÀ NẶN TẠO D NG

41

3.1.3 Phương pháp tiến hành bài vẽ bố cục tranh 48

3.2.2 Vai trò của tập nặn đối với thiếu nhi và trong sáng tạo nghệ thuật 21

4.2.3 Phương pháp tiến hành bài tập nặn tạo dáng 52

4.2.4 Thực hành: Nặn tạo dáng các đồ vật, con vật, cảnh vật, người tạo

nên (đề tài tự chọn)

CHƯƠNG 4:T M HIỂU T C PH M M THU T

52

Trang 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MỸ THUẬT

Mỹ thuật được hiểu là "nghệ thuật của cái đẹp" ("mỹ", theo tiếng Hỏn-Việt, nghĩa là "đẹp") Đây là từ dùng để chỉ các loại nghệ thuật tạo hình chủ yếu là hội hoạ,

đồ hoạ, điêu khắc, kiến trúc

Theo cách nhìn khác, từ "mỹ thuật" (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhỡn thấy được Vì lý do này người ta cũng dùng từ "nghệ thuật thị giác" để nói về mỹ thuật Ví dụ: vẻ đẹp của một bức tranh, giá trị mỹ thuật của một công trình kiến trúc

Có nhiều cấp độ thưởng thức cái đẹp, phụ thuộc vào sự hiểu biết, khiếu thẩm

mỹ và ý thớch của riờng từng người Do đó, quan niệm về mỹ thuật cũng chưa nhất quán theo một chuẩn mực nào

Tuy nhiên, một tác phẩm được đánh giá là có phần mĩ thuật biểu hiện tốt thỡ

ớt nhiều tỏc phẩm đó phải có âm vang về tính kinh viện, hàn lõm

Theo từ điển từ vựng mỹ học của Étienne Souriau - 1990, tiêu chuẩn mỹ thuật mang tính kinh viện gồm có: nhạy cảm, mang tới cho người thưởng thức nhiều cảm xúc; diễn đạt tốt khụng gian trong tranh, thời gian; mức độ diễn tả đạt tới một trong các loại hỡnh mỹ học Ví dụ: thụng qua ngụn ngữ tạo hỡnh, tỏc giả diễn đạt thành công một tác phẩm mang tính triết lý sâu sắc, cho dự cỏc hỡnh tượng trong tranh mang tính trừu tượng hoặc tượng trưng

Mỹ thuật là môn nghệ thuật có ngôn ngữ riêng, muốn học hay hiểu đúng về môn này cần phải hiểu ngôn ngữ của nó Trên thế giới, và ở cả Việt Nam, những người hoạt động trong ngành thường chỉ thừa nhận khái niệm mỹ thuật theo nghĩa hàn lâm và có sự phân biệt rừ rệt giữa mỹ thuật với thủ cụng mỹ nghệ và mỹ thuật ứng dụng Hiểu rộng ra, cái gì thuộc nghệ thuật thị giác thì cũng được coi là thuộc

mỹ thuật Đặc biệt những xu hướng mỹ thuật đương đại xuất hiện từ khoảng thập niờn 1960 bao gồm nhiều loại hình như:

-Nghệ thuật Sắp đặt (Installation art)

-Nghệ thuật Biểu diễn (Performance art)

-Nghệ thuật Hình thể (Body art)

-Nghệ thuật Đại chúng (Popart)

1.1 Nguồn gốc và sự phát triển

Có thể nói Mỹ thuật ra đời từ rất sớm, từ xa xưa khi xã hội loài người là nguyên thuỷ thì đã có những biểu hiện về đời sống nghệ thuật nói chung và mỹ thuật nói riêng Từ những di chỉ còn để lại trong các hang động đã cho nhân loại thấy được phần nào về cuộc sống, sinh hoạt tinh thần của loài người lúc bấy giờ Từ khi cuộc sống con người đang ở một trình độ xã hội lạc hậu nguyên thuỷ thì loài người đã có những nhu cầu thẩm mỹ nhất định Có thể nói, nghệ thuật trang trí xuất hiện sớm nhất so với các lĩnh vực khác, bằng chứng cho thấy từ những đồ vật, công cụ lao động bằng đá thô sơ đã có những thể hiện trang trí phong phú theo ý thức thẩm mỹ của họ lúc bấy giờ

Trang 4

Ngày nay, nghệ thuật phát triển đạt đến trình độ văn minh hiện đại thì chúng ta vẫn cảm nhận được các yếu tố mỹ thuật từ cách đây vài nghìn năm nhưng vẫn không mấy thay đổi về nguyên tắc trang trí Di sản văn hoá đồ đồng của Việt Nam đã để lại các loại trống đồng đặc sắc với sự thể hiện những sinh hoạt, tập tục văn hoá tinh thần của người Việt cổ

Trên thế giới, các di chỉ để lại như các hình vẽ trong các hang động ở Tây Ban Nha, ở Pháp v.v đã cho nhân loại thấy được cuốc sống xã hội của con người phương Tây Nhiều chuẩn mực về cái đẹp cho đến ngày nay con người vẫn còn áp dụng phù hợp Chẳng hạn chuẩn mực về vẻ đẹp của cơ thể con người như Tượng

thần Vệ Nữ thành Milo (Venus de Milo) là một bức tượng Hy Lạp cổ đại và là một

tỏc phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại nổi tiếng nhất.Tượng được điêu khắc trên chất liệu cẩm thạch, hơi lớn hơn người thật với chiều cao 2,03 m Đây là một tỷ lệ mà nhân loại cho là tỷ lệ „„Vàng‟‟ để dánh giá vẻ dẹp cơ thể người phụ nữ trong mọi thời đại

Tượng David của Michelangelo (1504)

1.2 Vai trò của Mỹ thuật đối với cuộc sống

Mỹ thuật là một lĩnh vực lớn của nghệ thuật, là một hình thái đặc biệt của ý thức

xã hội Nó nhận thức, phản ánh thế giới đồng thời nó cũng góp phần tái tạo thế giới khách quan Lịch sử mỹ thuật thế giới cũng như lịch sử mỹ thuật Việt Nam đã cho thấy một điều rất rõ Mọi loại hình nghệ thuật như âm nhạc, hội hoạ, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh đều phản ánh hiện thực cuộc sống và con người Tuy vậy mỗi loại hình nghệ thuật lại có một cách phản ánh khác nhau, có một ngôn ngữ tiếng nói riêng và tác động đến

Trang 5

giác quan khác nhau của con người Có khá nhiều những loại hình nghệ thuật cùng

chung một “cửa ngõ tâm hồn” để đến với nội tâm, tình cảm con người Qua “cửa

ngõ” thị giác như: kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, nhiếp ảnh, múa nghệ thuật âm nhạc

lại tác động hoàn toàn đến thính giác nghệ thuật điện ảnh khác hội hoạ, điêu khắc ở chỗ nó làm cho hình tượng chuyển động và có tiếng nói đi kèm Múa là loại hình nghệ thuật được xây dựng bằng những động tác liên tục và biểu hiện tình cảm nội tâm bằng chính cơ thể con người Hoặc ở nghệ thuật kịch cũng có nhiều điều liên quan đến hội hoạ hoặc điêu khắc Ngoài các hình tượng nhân vật hoạt động theo lời nói, xung đột, mâu thuẫn, kịch tính của kịch bản thì phần trang trí sân khấu, đạo cụ, hoá trang, trang phục cũng rất cần sự góp sức của hội hoạ, đồ hoạ hoặc điêu khắc Những nghệ thuật này đóng góp một phần không nhỏ trong sự hình thành phát triển thành công của vở kịch Như vậy ta thấy rằng mọi loại hình thị giác đều có liên quan tới hội hoạ và điêu khắc ở mọi lúc, mọi nơi đều có sự xuất hiện và cần thiết của vai trò của mĩ thuật để phục vụ và đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người

Như vậy có thể nói, mĩ thuật có đóng góp rất lớn cho các ngành nghệ thuật nói chung và cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của con người nói riêng, nó góp phần cải tạo, nâng cao đời sống của xã hội

Parthenon ( Hy Lạp) là một ngụi đền của Athen, được xây dựng vào thế kỷ 5 trước Cụng nguyờn ở Acropolis Đây là cụng trỡnh xõy dựng nổi tiếng nhất cũn lại của Hy Lạp cổ đại, và đó được ca ngợi như là thành tựu của kiến trúc Hy Lạp Các tác phẩm điêu khắc trang trí của ngôi đền bằng từ đá cẩm thạch trắng, được coi như là đỉnh cao của nghệ thuật Ai Cập cổ đại Đền Parthenon là biểu tượng của sự kết thúc Hy Lạp

cổ đại và của nền dõn chủ Athen, và được đánh giá như là một trong những công trình văn hóa vĩ đại nhất thế giới

1.3 Các lĩnh vực Mỹ thuật

1.3.1 Hội hoạ

Hội họa là một loại hình nghệ thuật tạo hình dùng đường nét, hình khối, màu sắc,

bố cục để xây dựng hình tượng nghệ thuật, để biểu hiện cuộc sống phong phú và đa dạng trên mặt phẳng được gọi là tác phẩm hội hoạ hay gọi ngắn gọn là tranh Hoặc

có thể nói hội họa là một bộ môn nghệ thuật tạo hình đặc trưng bởi sự biểu hiện không gian trên mặt phẳng bằng các yếu tố tạo hình Không gian mà ta đề cập tới trong tranh là không gian ảo và chỉ có thể cảm nhận bằng thị giác Không gian trong hội hoạ vô cùng đa dạng Có thể là giống hoàn toàn như thực hoặc không gian được

giản lược, ước lệ theo ý đồ sáng tạo của tác giả

a Ngôn ngữ

Đường nét

Theo định nghĩa khoa học: “đường nét là tập hợp của những điểm trong chuyển động” Có nhiều loại “đường”: đường thẳng, đường cong, đường gấp khúc, đường tròn, đường xoáy ốc Trong nghệ thuật hội hoạ có thể sử dụng một đường cụ thể như đường trục của hình tượng người chẳng hạn; hoặc khi vẽ cột điện, ta cũng có thể sử dụng những đường thẳng đứng hoặc nằm ngang Hình tượng người được tạo bởi nhiều đường nét kết hợp Nói tóm lại, trong nghệ thuật hội hoạ, khái niệm đường nét thường cùng song hành, muốn tạo nét phải có đường, đường làm nên nét Những tập hợp đường trong tranh tạo nên nét vẽ và đường nét làm nên hình trong tranh Đường

Trang 6

bao giờ cũng chỉ ra một phương hướng nhất định và chúng gợi lên nhiều cảm xúc thẩm mỹ khác nhau

Ví dụ: những đường thẳng đứng và đường nằm ngang tạo sự ổn định, chắc chắn và tĩnh Những đường xiên tạo ra cảm giác nghiêng ngã, bấp bênh, không ổn định Cũng có khi đường xiên lại gợi cho ta cảm giác xao động, lung linh hay sự hồi tưởng

Tranh “Phố cổ” của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái, những mái ngói xô nghiêng, rêu

phong gợi cho ta những hồi tưởng về vang vọng của quá khứ xa xôi Thường thì hướng từ trái sang phải, từ dưới lên trên chỉ những gì thuận mắt tiến bộ, đi lên, phát triển hướng ngược lại cho ta cảm giác ngược lại Những điều này không viết thành quy định song từ thời cổ đến nay, các nghệ sĩ vẫn thường làm như vậy Có lẽ điều này là do đặc điểm về con mắt quy định

Tác phẩm “Giặc đốt làng tôi” hoạ sĩ Nguyễn Sáng đã tạo ra hướng đi ngược

chiều nhau Đoàn quân đang tiến theo hướng sang phải, đoàn người dân theo hướng ngược lại và người xem cũng dễ dàng hình dung được mặt trận nằm ở hướng nào Ta giả sử hoạ sĩ vẽ theo chiều hướng ngược lại, người xem sẽ có những cảm xúc thẩm

mỹ ngược chiều và bố cục tranh sẽ không thuận mắt Hay trong tranh dân gian “Tiến

sĩ chuột vinh quy” diễn tả “ngựa anh đi trước, kiệu nàng đi sau” theo hướng từ trái

sang phải rất thuận mắt, thuận hình Trong trang trí đồ hoạ, người ta đặc biệt chú ý đến vai trò của các đường lượn dưới hình thức có lặp lại hoặc diễn biến tự do Khi

vẽ chân dung ta cũng thấy rõ tác dụng của đường hướng trong việc diễn tả tình cảm Đường cong hướng lên cho chân dung tươi cười, vui vẻ và lạc quan Ngược lại đường cong hướng xuống sẽ gợi cảm giác buồn bã, chán nản Như vậy chính đường hướng trong tranh đã góp phần tạo cho người xem nhiều cảm xúc thẩm mỹ Vấn đề

là người hoạ sĩ vận dụng chúng ra sao trong quá trình làm tranh: đường và nét là một trong những yếu tố tạo nên tranh

Bằng nét, Van Gốc đã tạo ra bầu trời phong ba bão tố hay vầng thái dương với ánh sáng vàng chan hoà trên cánh đồng Để diễn tả sự tương phản về tính chất, diện mạo của nét, ta có những cặp từ : nét thanh- nét thô, nét đậm- nét nhạt, nét gai góc- nét nuột nà, nét cứng- nét mềm Người hoạ sĩ khi xây dựng tác phẩm của mình, phải tuỳ theo ý đồ sáng tác, chủ đề tư tưởng của tác phẩm hay tính cách của nhân vật định vẻ

mà chọn và tổ chức nét để diển tả những hình tượng nhân vật của mình Trong tranh

“Cái bát” (sơn mài 1949) Hình ảnh bà mẹ chịu nhiều hi sinh được hoạ sĩ vẻ bằng

nhiều nét xao động, đối lập với mảng lớn phẳng phiu khi diễn tả người con chiến sĩ

Trang 7

Sự tương phản đó tạo nên sự sâu sắc làm rung động lòng người Dùng đường nét có thể diễn tả được cấu trúc, trạng thái của một người, một vật, một phong cảnh nào đó v.v Ngoài ra đường nét còn góp phần diễn tả tình cảm, tính cách của nhân vật

Đường nét là một tổ chức các điểm, tuyến được sử dụng trong hội hoạ, phong phú, đa dạng

+ Đường nét thẳng: có cảm giác khoẻ, chắc chắn

nếu vẽ đường nét thẳng đứng : tạo cảm giác mạnh mẽ, vui

nếu vẽ đường nét thẳng ngang: gây cảm giác phẳng lặng, yên ả

nguồn gốc: do nhu cầu

+Đường nét cong: tạo cảm giác mềm mại hơn uyển chuyển nhiều đường cong phức tạp, rối rắm đồng thời cũng tạo sự phức tạp

+Đường nét gấp khúc: cảm thấy trắc trở rắc rối

Có thể nói đường nét là yếu tố góp phần tạo nên tiếng nói ở trong tác phẩm và

nó góp phần phong phú đa dạng về tính chất không những thế mà đường nét còn sử dụng khi thanh khi thô, khi đậm khi nhạt với màu sắc khác nhau

Hình khối

Hình là hiệu quả thụ cảm của thị giác đối với vật thể trong không gian do tác động của ánh sáng Điều kiện để có hình đó là : ánh sáng, vật thể và thị giác Trên cơ sở đó hoạ sĩ dùng các yếu tố đường nét, đậm nhạt, mảng để có thể tạo ra hình trên mặt phẳng tranh Một vật thể phải có hình dáng nhất định và chiếm chỗ, chiếm một thể tích nào đó trong không gian Đó là hai đặc điểm: hình và khối của vật thể

Hình là đường viền của vật thể được diễn tả trên mặt phẳng Khối là biểu hiện của thể tích không gian Khối và không gian ở đây là yếu tố ảo do đậm nhạt tạo ra trên mặt phẳng, nó được thị giác tiếp nhận Vì vậy, nghệ thuật có những lúc rất giống thực song cũng có thể không giống thực và trong nghệ thuật hội hoạ hình ảnh trong tranh chỉ là quy ước mà thôi Tuy nhiên, ở từng thời kì, từng xã hội có những quy ước riêng về tạo hình

Hình khối cũng có những biểu cảm nhất định, hình khối vuông vức biểu hiện

sự chắc chắn, chính vì thế mà người ta phối hợp tính chất hình khối làm cân bằng về mặt bố cục hoặc là để xử lý bố cục theo ý đồ tương tự

Hình mảng tạo nên khối nên việc xử lý bố cục người ta cũng kết hợp để tạo nên không gian trong tác phẩm hội hoạ

Ánh sáng

nh sáng trong hội hoạ diễn tả độ đậm nhạt của màu sắc, đồng thời nó cũng góp phần để biểu đạt nội dung Sự phân bố ánh sáng có thể hoàn toàn theo ý đồ sắp xếp của tác giả nhằm mục đích thu hút, tạo điểm nhìn trọng tâm cho người thưởng thức, ánh sáng cũng góp phần gây nhịp điệu trong tác phẩm Không chỉ diễn tả lại màu sắc tự nhiên đơn thuần mà người họa sĩ còn xữ lý bẵng cảm xúc rung động của mình trước đối tượng phản ánh để làm thay đổi màu sắc gây sự hấp dẫn hơn

Trang 8

Màu sắc

Màu sắc: là một ngôn ngữ xem như quan trọng nhất trong việc tác động tâm lý tình cảm của người xem tranh Màu sắc có tiếng nói rất lớn trong việc biểu cảm cảm xúc của tác giả về đề tài, về hình tượng

Trong các yếu tố ngôn ngữ của hội họa, cùng với đường nét, hình khối thì màu sắc cũng là một đặc trưng của ngôn ngữ tạo hình của hội hoạ, góp phần lớn tạo nên bức tranh đẹp, hấp dẫn và lộng lẫy Màu sắc còn đem lại cho người xem sự lạc quan yêu đời, niềm vui sướng, hứng khởi Ngược lại nó cũng đem đến cho người xem sự

sợ hãi, buồn bã hay chán nản Màu sắc có nguồn gốc tự nhiên đồng thời có cả nguồn gốc xã hội Điều này là do sự liên tưởng kinh nghiệm của con người tạo nên Ví dụ màu đỏ cho người ta liên tưởng tới cảm giác nồng cháy, sự hi sinh đổ máu, màu cờ,

Tổ quốc; hoặc màu xanh giúp ta cảm nhận sự tươi mát hoà bình hạnh phúc Theo phân tích vật lí ánh sáng trắng là sự tổng hợp của bảy màu: đỏ- da cam- vàng- lục- lam- chàm- tím ở đây ta thấy có ba màu nguyên không được tạo nên bởi sự pha trộn

mà màu tự nó, đó là đỏ- vàng - lam

Còn lại là những màu do pha trộn hai màu khác mà có: da cam được tạo nên

do pha màu vàng và đỏ, màu lục là do pha màu vàng với màu lam, hay màu đỏ pha với màu lam sẽ cho ta màu tím Màu sắc được pha trộn sẽ cho vô vàn hoà sắc màu phong phú và sinh động Màu sắc cũng có những tính chất, đặc điểm nhất định, màu nóng lạnh, sắc độ, sắc thái, màu bổ túc v.v Việc sử dụng màu là một nghệ thuật phức tạp, có nhiều quan điểm phụ thuộc vào từng cá nhân, dân tộc, từng thời đại trong hội hoạ thì thường sử dụng màu theo nguyên tắc hài hoà (theo gam ăn nhập với nhau, có nóng có lạnh, có màu chủ đạo ) phù hợp quy luật mắt nhìn để hấp dẫn người khác chú ý Màu sắc trong hội hoạ có ưu thế mạnh trong việc diễn đạt chủ

đề và cảm xúc tình cảm của tác giả, có những quan niệm màu sắc đôi khi trở thành quy ước đối với cộng đồng của một dân tộc theo sự cảm nhận riêng của họ Màu sắc trong hội hoạ còn tạo nên những sắc thái riêng, thể hiện phong cách của tác giả

Tranh trong thời kì màu lam của Picátxô phần lớn là diển tả những con người

có số phận thấp hèn, nghèo khổ trong xã hội Pháp đầu thế kỉ XX Toàn bộ tranh được ông phủ một màu xanh lam lạnh lẽo, nặng nề Những nhân vật gầy yếu, bệnh tật, chán chường như bị chìm ngập trong màu lam nặng nề đó Tất cả các yếu tố về hình, màu đã giúp Picátxô diển tả thành công và sâu sắc các nhân vật Người xem cảm nhận được gánh nặng của số phận Nó không chỉ đè nặng lên nhân vật trong tranh mà người xem cũng thấy căng thẳng, nặng nề bởi gam màu lam lạnh lẽo nói trên

Màu sắc là tên gọi chung Khi các màu sắc được pha trộn với nhau tạo ra những sắc loại, sắc thái, sắc độ Sắc loại là hỗn hợp của nhiều màu thể hiện dưới dạng riêng biệt Sắc loại được gọi bằng tên gây liên tưởng tới các màu tự thân như màu da cam, màu cỏ úa, màu da bò, màu nõn chuối, màu xanh cốm, màu nước biển Sắc thái là sự khác nhau về chất của một màu cùng gốc: như màu xanh biếc, màu xanh lá cây, màu xanh cẩm thạch, màu xanh sẩm

Trong nghệ thuật hội hoạ, quan trọng nhất vẫn là tương quan màu sắc Màu sắc

có tiếng nói mạnh mẽ giúp hoạ sĩ thể hiện ý đồ, chủ đề của mình rõ ràng hơn Cùng

Trang 9

quả khác nhau Do đó, cùng với đường nét, hình khối, màu sắc góp một phần không nhỏ tạo nên ngôn ngữ riêng của hội hoạ Khi sử dụng các ngôn ngữ này, mỗi hoạ sĩ

sẽ tuỳ theo nội dung, chủ đề của tác phẩm mà bố trí, sắp đặt hình khối, màu sắc, đường nét, đậm nhạt sao cho phù hợp, tạo cho tác phẩm có một tiếng nói mạnh mẽ, rung động và sâu sắc

Bố cục

Bố cục trong hội họa chính là sự sắp xếp các yếu tố về đường nét, màu sắc, hình mảng, ánh sáng để tạo nên một tác phẩm hội hoạ Đường nét, hình khối và màu sắc là những thuộc tính vốn có của sự vật, nó ở trạng thái tự nhiên, trong từng hình thì có thể hoàn chỉnh theo ý đồ của tạo hoá, nhưng quan sát nó dưới những góc nhìn

và đặt trong những không gian khác nhau thì luôn cho những cảm thụ nghệ thuật khác nhau Điều đó đặt ra cho người nghệ sĩ phải có một sự sắp xếp lại để khi tái hiện thì cho hiệu quả thẩm mỹ cao nhất Máy móc như ống kính mà nghệ sĩ nhiếp ảnh còn phải dùng những thủ pháp nghề nghiệp với sự cắt cúc để tạo ra một hoàn cảnh mới, hợp lí, hiệu quả cao Hình ảnh của tự nhiên khi động lại thành điểm nhớ trong đầu mọi người thì đã lược bớt chi tiết, trở nên khái quát với sự cô động nhất, như vậy nó đã một lần được “bố cục” lại Hoạ sĩ dù vẽ trực hoạ hay vẽ nhập tâm thì

đã làm cho hình ảnh chỉ tái hiện theo cảm thụ nghệ thuật riêng, cường điệu những gì cần nhấn mạnh, khám phá những gì sâu lắng ở bên trong Bố cục không phải sắp xếp ngẫu nhiên, lần lượt thứ tự theo những đối tượng miêu tả, mà là sự sắp xếp sáng tạo làm thay đổi sự nhìn thông thường để đem lại cho người xem những khoái cảm thẩm

mĩ Bố cục cũng có thể tạo nên đề tài do hình thức, ý tưởng sắp xếp các yếu tố về ngôn ngữ tạo hình Bố cục dạng tam giác gây sự nghiêm trang, bố cục dạng hình tròn tạo nên sự khép kín hay rung chuyển

và hoà quyện tinh tế của các hạt màu lại với nhau do sự loang chảy của nước Màu nước về căn bản, nó không phải là màu phủ vì màu trắng của nền giấy là màu trắng mạnh nhất của màu Các màu không đè chồng lên nhau mà chen vào nhau Màu tan trong nước và bám vào các hạt (grain) giấy khá mịn Dưới sự chiếu rọi của ánh sáng, màu và giấy làm cho sự phản quang khá tinh tế Chính các yếu tố đó làm cho màu nước có khả năng miêu tả ánh sáng và hơi nước, những cái mỏng nhẹ, trong suốt và tài tình

Do đặc điểm màu hoà tan trong nước và tan vào nhau cho phép tranh màu nước có những sắc độ thật tinh tế, từ độ đạm nhất đến độ nhạt nhất và lan ra trên giấy

để trống Tranh màu nước có thể cho sự sắc gọn, thanh mảnh và mạnh mẽ, làm nổi

Trang 10

bật hiệu quả của nét bút Một trong những nét độc đáo nữa của tranh màu nước là hiệu quả của sự ngẫu nhiên Nước chảy và loang hoen ra xung quanh nhiều khi tạo được cái duyên dáng thú vị

Do những đặc điểm riêng biệt của màu nước nên người ta phải chọn vật liệu để

vẽ lên cho thích hợp; chẳng hạn, có thể vẽ lên lụa và giấy Chất lụa và thớ lụa cho phép màu tan đều và thẩm thấu từ từ tạo sự chuyển đổi tinh tế Nếu dùng giấy, tốt nhất là loạ giấy mịn, có hạt ganh nhỏ đều, sờ vào vừa ráp vừa mát tay Giấy phải có

độ thẩm thấu vừa phải, đều đặn và từ từ

Tác phẩm màu nước như Đốt đuốc đi học của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân tranh kí

hoạ màu nước của Nguyễn Thanh Châu, Huỳnh Phương Đông, Cổ Tấn Long Châu, Thái hà, Lê Lam, Lê Hồng Hải, Nguyễn Văn Kính đã gây xúc động lòng người bởi tính thời sự nóng hổi và tính chân thực của cảm xúc Những tập kí hoạ đó còn được

in và phổ biến rộng rãi trong và ngoài nước, giới thiệu với các nước về một khía cạnh của cuộc sống ở miền Nam Việt Nam vào những năm tháng chiến tranh gian khổ

-Màu bột

Màu bột phát triển từ thế kỉ XVI, dùng nhiều cho minh hoạ sách Thời Phục Hưng nó dùng để làm phác thảo nghiên cứu cho tranh sơn dầu thế kỉ XIX màu bột được dùng như một chất liệu độc lập Sang thế kỉ XX mặc dù các hoạ sĩ còn vẽ màu

bột, nhưng nhìn chung chất liệu này đang mất dần vị trí và bị thay thế bằng tempera

Đặc điểm của màu bột là màu ở dạng điều chế thành bột, khi vẽ đang ướt thì ta thường khó chồng các lớp màu lên nhau Bột màu có khả năng diễn tả đối tượng theo lối tả thực đạt hiệu quả tương đối tốt, tuy nhiên độ bền của bột màu vẫn còn nhiều hạn chế, bột màu thường bị phai hoặc bong khỏi bề mặt do môi trường hoặc sử dụng keo không tốt Bột màu trước đây được điều chế từ các khoáng chất, cây cối tự nhiên,

do vậy cũng còn hạn chế về số lượng các màu Ngày nay bột màu được điều chế công nghiệp nên màu sắc cũng rất phong phú và có chất lượng màu có độ bền cao, dể

sử dụng kết hợp với nhiều chất liệu khác Bột màu được sử dụng trên nền chất liệu giấy, vải và một số chất liệu khác Bột màu với kĩ thuật sử dụng đơn giản So với sơn dầu thì bột màu ít sử dụng trong sáng tác vì nó có độ bền không cao, nhưng bột màu cũng có một số ưu điểm như dễ sử dụng, màu sắc phong phú, rẽ tiền nên được sử dụng trong học tập là chủ yếu Chất kết dính của nó là keo, các hoạ sĩ trước đây vẫn quen dùng loại keo da trâu hoặc là loại nhựa cây khác Ngày nay đã có các loại keo công nghiệp làm chất kết dính cho màu bột rất tốt như: Keo PVA, các loại hồ dán giấy.v.v Cũng như màu nước màu bột là loại tan trong nước, khi ướt màu đậm hơn, tươi hơn, khi khô màu nhạt đi Tranh khô thì màu kết vào nền Màu hoà với màu trắng có thể cho những màu vừa ý (điều này còn phụi thuộc vào tỉ lệ pha) Nếu vẽ màu ướt tức là màu nọ và màu kia được đặt lên nhau, hoà vào nhau có thể cho một gam màu hài hoà và rực rỡ

Họa sĩ Văn Giáo nổi tiếng với bức tranh Đền voi phục và một số tranh về đề tài Hồ Chí Minh Có nhiều tác phẩm thành công ở đề tài về chiến tranh như Du kích

tập bắn của Đỗ Cung, Gặp nhau của Mai Văn Hiến Ngoài ra những tác phẩm như Mùa lúa chín của Tạ Thúc Bình, Ao làng của Phan Thị Hà, Em nào cũng được học

Trang 11

-Sơn dầu

Sơn dầu là chất liệu mà có nguồn gốc từ phương Tây, họ biết đến sơn dầu từ rất sớm, ban đầu sơn dầu được dùng để phủ làm chức năng trang trí và bảo vệ vật dụng Vì vậy mà họ đã sơn lên thuyền, phủ lên các đồ gỗ hoặc vẽ lên cờ Các nhà nghiên cứu chất liệu cho rằng hai anh em Van Ếch (Hubert và Jean Van Eyck) thế kỉ XIV, người Hà Lan, đã phát hiện ra sơn dầu có công hoàn thiện chất liệu này và áp dụng nó vào hội hoạ Sau đó, sơn dầu dần dần được cải tiến và trở thành chất liệu đặc biệt quan trọng và hấp dẫn các hoạ sĩ châu Âu Công nghiệp hoá chất phát triển, màu sơn càng thêm phong phú và tiện lợi trong việc sử dụng các tuýp sơn

Tranh sơn dầu cũng như khái niệm về sơn dầu bắt đầu phổ biến ở nước ta từ khi Pháp chính thức mở trường Cao đẳng Đông Dương năm 1925

Trước đó ở Việt Nam đã có tranh sơn dầu Đó là hai bức tranh chân dung cụ

Tố Mền vẽ năm 1896 và “bình văn” vẽ năm 1905- 1906 của hoạ sĩ Lê Văn Miến Ông Miến là người Việt Nam đầu tiên học tại trường mỹ thuật Paris (1891- 1894), học trò của giáo sư J.L Giêrôm (J.L Jérôme), trường phái Tân cổ điển Ông là người đầu tiên tiếp thu nền hội hoạ bác học của phương Tây, qua chất liệu sơn dầu với những phương pháp hàn lâm của trường học Pháp, cuối thế kỉ XIX

Sơn dầu có những đặc tính là khả năng biểu đạt tả thực gần như vô tận của nó Nếu như sơn mài và lụa có cái độc đáo riêng nhưng bị hạn chế về khả năng diển tả thì sơn dầu lại có khả năng diển tả mọi trạng thái của tự nhiên, mọi đối tượng của hiện thực, tạo ra những sắc độ tinh tế nhất

Một trong những ưu thế nổi bật nữa của sơn dầu là khả năng tả chất mạnh mẽ Bảng màu của sơn dầu so với các chất liệu khác đa dạng và đặc biệt phong phú Do đặc tính hoá học nên màu sơn ướt có thể pha quện vào nhau, tuỳ theo tỉ lệ pha mà có các màu và sắc độ khác nhau Việc sử dụng màu tuỳ thuộc vào sỏ thích của mỗi hoạ

sĩ, người thích gam nàu lạnh, người thích những màu rực rỡ, trong khi có người thích những màu hài hoà nhẹ nhàng Do bảng màu của sơn dầu vô cùng phong phú nên nó

là cơ sở để các hoạ sĩ ấn Tượng làm cuộc “cách mạng” màu sắc trong hội hoạ vào cuối thế kỉ trước Tranh của họ tươi tắn, rực rỡ, tràn ngập ánh nắng, không khí và hơi nước Tranh sơn dầu rất bền, có những tranh cách đây khoảng 500 năm vẫn giữ nguyên vẻ đẹp và giá trị của chúng Tranh sơn dầu có thể vẽ trên nhiều chất liệu : vải,

gỗ, kim loại, bìa dày (các- tông) hay giấy

Nhiều danh hoạ nổi tiếng vẽ sơn dầu: Đó là Lêôna đơ Vanhxi, Raphaen, Tixtiêng, Rubenxơ, Rêmbơran, Caravagiô Sau này là Manê, Mônê, Rơnoa, Van Gốc, Xêdan, Gôganh

Năm 1925 chất liệu sơn dầu mới mẻ được du nhập vào Việt Nam cùng với những kiến thức về nghệ thuật Châu Âu từ một trung tâm đào tạo lớn là Trường Cao

đẳng Mỹ thuật Đông Dương Tác phẩm“Thiếu nữ bên hoa huệ ” của Tô Ngọc Vân

đã thành công trong việc diển tả vẻ đẹp của người thiếu nữ yêu kiều cùng với cách

diễn khối, tả chất, ánh sáng Tác phẩm “Em Thuý” của Trần Văn Cẩn tác giả đã phát

huy thế mạnh của sơn dầu và đạt hiệu quả cao trong việc diển tả tinh tế ngoại hình và thể hiện chiều sâu tâm lí của nhân vật

Trang 12

Ngoài ra, còn có rất nhiều tác phẩm sơn dầu “Giặc đốt làng tôi” của Nguyễn Sáng, “Đồi cọ” của Lương Xuân Nhị, “Mùa gặt ” của Dương Bích Liên, “Một buổi

cày” cuả Lưu Công Nhân , đặc biệt là những tranh vẽ phố cổ của Bùi Xuân Phái

không những nổi tiếng ở trong và ngoài nước mà còn ảnh hưởng đến các thế hệ sau này về bút pháp và kĩ thuật sơn dầu

-Lụa

Đây là chất liệu duy nhất không gọi theo chất màu mà theo vật liệu dùng làm nền tranh Người ta có thể dùng nhiều thứ màu khác nhau để vẽ lên lụa: bột màu, màu nước, mực nho, màu tempéra hoặc rắc nhũ vàng, bạc Nhưng dù dùng màu nào thì cuối cùng là tranh phải giữ được chất nền lụa

Chính sự thẩm thấu từ từ, và những ô trống giữa các sợi không có màu sợi, làm cho màu lụa có cái huyền ảo, gợi cảm giác mỏng, mờ, vô định Trong tranh lụa, không đối lập từ chỗ màu đậm nhất tới chỗ không có màu Nó cũng chính là một phần của bức tranh để tạo hiệu quả cho tác phẩm, nhất là sau khi lót mặt sau của tranh bằng giấy Đó chính là đặc điểm do lụa tạo ra Đặc điểm này rất phù hợp với quan niệm và cách vẽ của người phương đông

Lụa đặc biệt thích hợp với những đề tài phong cảnh, nhất là cảnh miền núi cao, bản mường trong sương, cảnh hoàng hôn, bình minh hay biển chiều Ngoài ra những đề tài con người như thiếu nử, em bé, nhửng cảnh sinh hoạt gia đình , tình cảm mẹ con hay các tĩnh vật hoa lá cũng rất đắc dụng

Tác phẩm chất liệu lụa của Việt Nam đã có từ lâu nhưng còn thấy rất ít, chân dung (Nguyễn Trãi là một tác phẩm tiêu biểu) Từ những năm 30 của thế kỷ này, chúng ta mới có những hoạ sỉ tìm tòi,nghiên cứu về lụa Sau đó phát triển thành một thể loại độc lập Người có công tìm kiếm và thể hiện thành công chất liệu lụa là hoạ

sĩ Nguyển Phan Chánh Ông là người tiên phong trong việc áp dụng các bài học kỷ thuật châu Âu lên chất liệu lụa, đưa chất liệu này trở thành chất liệu độc đáo của Việt

Nam Những tác phẩm của ông là “ Chơi ô ăn quan ” , “rửa rau cầu ao” , “em bé cho

chim ăn ”, “bữa cơm”, “người hát rong ” Tranh của ông chinh phục người xem bởi

cái tình, cái duyên đậm đà mà ý nghĩa, mang sắc thái Việt Nam và cũng còn bởi sự tinh tế và độc đáo của chất lụa

Trần Văn Cẩn nổi tiếng với “ Hai cô gái trước bình phong ” “con đọc bầm nghe ”; Nguyển Tường Lân với “hiện vẽ hoa”; Lương Xuân Nhị với “chợ hoa đào ” , “gia

đình dân chài” ; Nguyển Tiến Chung với “mùa gặt”, “hoà bình trở lại” Trần Đông

Lương thành công với nhiều tranh thiếu nữ Hoạ sĩ Nguyển Thụ nổi tiếng với tranh

lụa vẽ miền núi “Sương sớm”, “Hai cô gái Thái” , “Nhà sàn” , “Làng ven núi”

v.v Tranh lụa của Nguyển Thụ phóng khoáng đầy chất thơ, trữ tình, như có không khí và hơi nước Đề tài và bút pháp của ông rất phù hợp với chất liệu lụa

Ngoài những chất liệu trên đây, Hội họa với sự phát triển về nghệ thuật tạo hình như ngày nay các hoạ sĩ luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu và còn sử dụng lẫn nhau giữa các chất liệu trong 1 tác phẩm người ta gọi là chát liệu tổng hợp với cách thể hiện sáng tạo và tạo nên chất cảm mới mẽ

Trang 13

Ngôn ngữ

Đồ họa: là nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách gián tiếp qua các

kỹ thuật in ấn, vì vậy một tác phẩm đồ họa thường có nhiều bản sao

Theo tiếng Hi Lạp “Graphich”(graphique) có nghĩa là viết, theo nghĩa tiếng

Anh là chỉ nghệ thuật viết và vẽ Như vậy ta có thể thấy rằng đồ hoạ là một loại hình nghệ thuật mà đặc trưng ngôn ngữ của nó là dùng nét để thể hiện

Với đồ hoạ in ấn (hay gọi là các loại tranh khác), hoạ sĩ phải khắc để có được bản gốc, sau đó mới in ra tranh trên giấy Do đó, ngôn ngữ phụ thuộc vào kĩ thuật khắc Hay nói cách khác, kĩ thuật, nghệ thuật khắc và in đã góp phần tạo nên đặc trưng ngôn ngữ hội hoạ Nếu hội hoạ là dùng bút lông vẻ màu hình lên giấy vải, lụa, gỗ thì đồ hoạ lại dùng dao khắc để “vẽ” trên gỗ, đồng hay trên một chất liệu nào khác

Vì vậy, cũng là đường nét song trong đồ hoạ có khác với đường nét trong hội hoạ Cũng là nghệ thuật làm tranh nên tiếng nói đồ hoạ vẫn là những yếu tố biểu đạt những đường nét, màu sắc, mảng hình, bố cục Tuy vậy, do đặc trưng ngôn ngữ của mình nên yếu tố biểu đạt chính của đồ hoạ là đường, là nét, là vạch khắc to nhỏ, nông sâu, mau thưa, song song hay đan chéo để xây dựng hình tượng Với một tác phẩm hội hoạ, sau khi xây dựng hình, hoạ sĩ có thể dùng màu sắc để tạo hình Màu sắc có thể đậm đà, bay bướm, tinh tế trong một mảng hình để biểu hiện

Đồ hoạ có thể chỉ dùng đen trắng, hoặc in một màu hoặc nhiều màu Song dù ở loại nào thì vẻ đẹp của khắc gỗ chính là ở hệ thống nét khác nhau,phong phú Điều này tạo ra chất đồ hoạ một cách mạnh mẽ, rõ ràng Ngoài ra cái đẹp ở tranh khắc gỗ còn là các mảng màu dày mỏng, xốp, đặc do kĩ thuật in đưa ra Tuy vậy, trong đồ hoạ, yếu tố hình là rất đặc trưng và quan trọng Màu sắc góp phần biểu hiện cùng đường nét Trang khắc gỗ màu “Gội đầu” của hoạ sĩ Trần Văn Cẩn chỉ dùng máy mảng màu rất đơn giản : mảng nền, mảng tóc đen và mảng thân màu trắng nhẹ nhàng Với sự đơn giản đó, hoạ sĩ đã cho người xem thấy hết vẻ đẹp tràn đầy, nõn nà, mềm mại, duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam ở đây trái ngược với những mảng màu nhẹ nhàng, đơn giản song lại là một tác phẩm rất tài năng về cách sử dụng nét Chỉ bằng một nét cong như nửa hình trái tim kết hợp với nét mềm nuột ở cánh tay đã tạo ra bộ ngực thiếu nữ căng đầy, tràn sức sống

Khắc gỗ là loại hình phổ biến và hình thành sớm, ngoài ra nghệ thuật khắc đồng, khắc kẽm vào thế kỷ XVII-XVIII cũng rất phát triển và ngày nay đồ hoạ của nghệ thuật tạo hình được thể hiện với nhiều loại hình như: khắc cao su, khắc trên một

số chất liệu mới như nhựa tổng hợp, Đối với nghệ thuật khắc gỗ, Nhật Bản cũng là

1 nước có nghệ thuật khắc gỗ mạnh Trong khắc gỗ của Nhật Bản nói riêng và nghệ thuật tạo hình của Nhật Bản nói chung họ chú trọng về hình, theo kiểu thể hiện tinh xảo về đường nét và cũng rất chi li Trước đây nghệ thuật khắc gỗ được đưa vào ngành in ấn và quyển sách in chữ bắng khắc gỗ đầu tiên 1430

Khắc kẽm thường thể hện là kĩ thuật khắc tinh xão Có hai dạng là khắc kẽm nóng và kẽm nguội Gọi khắc kẽm nóng vì trong quá trình khắc sử dụng hoá chất chủ yếu là axit để cho nó ăn mòn ở những mảng phân bố theo ý đồ, cũng đồng thời khắc nét mảng chấm vạch, những kĩ thuật khắc kẽm, đồng, nhôm tương tự nhau Kĩ thuật khắc nguội gần như là kĩ thuật khắc gỗ có sử dụng dụng cụ dao khắc dể tạo nên

Trang 14

chấm vạch , nét, hình mảng Khắc kẽm thường các tác phẩm không lớn nhưng thể hiện độ chi li và chính xác cao Trong quá trình thể hiện người ta đòi hỏi sự cẩn thận

kĩ lưỡng, đòi hỏi kì công, chi tiết Sau bản khắc kẽm thường sử dụng đen trắng, nếu

sử dụng khắc kẽm màu thì người ta sử dụng rất hạn chế về màu sắc Người ta chủ yếu coi trọng nghệ thuật khắc và xử lí bố cục màu để tôn vinh thêm cho nghệ thuật độc đáo của bản in

Khắc thạch cao là chất liệu tạo nên vẻ đẹp riêng thô ráp, thể hiện sự thô ráo, khác với gỗ thạch cao thường các tác phẩm chú ý đến hình mảng là chủ yếu Thường thì sử dụng mảng thạch cao sau đó dùng dao để khắc, nét thường khắc chìm Các mảng để phân bố màu khi in có nhiều bản in

Ngoài ra còn có khắc cao su nhựa tổng hợp những chất liệu làm phong phú

thêm cho chất liệu hội hoạ

in độc bản: thương in 1 màu, nghệ thuật này chỉ mới xuất hiện không lâu, còn trong

in khắc gỗ xuất hiện (từ xưa) sớm nhất Trong dòng tranh dân gian kĩ thuật khắc gỗ

và in tranh đã trở thành, phát triển mạnh Ngoài nghệ thuật khắc gỗ, còn có thể loại

in kẽm, in cao su, in lụa

Khi phân loại của Đồ hoạ dựa trên kĩ thuật in của các chất liệu bản in như: gỗ, đá, kim loại là chủ yếu Về màu sắc so với hội hoạ thì tác phẩm Đồ hoạ loại hình này

thường ít màu, chính vì thế mà trong nghệ thuật tạo hình hoạ sĩ rất chú ý về việc sử dụng tinh tế và phát huy tối đa hiệu quả tính chất của đường nét

Một trong những phương pháp lâu đời nhất của loài người để giữ lại những ý tưởng về hỡnh ảnh kỹ thuật in nổi, về nguyờn tắc rất đơn giản, Trong các kỹ thuật in nổi khắc gỗ là phương pháp in lâu đời nhất Người Babylon và người Ai Cập đó từng in con dấu làm bằng gỗ khắc nổi trờn đất sét mềm, tại Trung Quốc ngay từ thế kỷ 4 người ta đó biết dựng mực quột lờn những tảng đá có khắc chữ

và chà giấy lên để in ra

Trong thời nhà Đường (618 – 907) tranh vẽ

và chữ kèm theo (trên cùng một bản in) đó được in

ra bằng các bản in gỗ, sách in bằng bản khắc gỗ cũng đó được biết đến từ thế kỷ 9, trong khi loại này ở chõu Âu mói đến thế kỷ 15 mới xuất hiện Quyển sách lâu đời nhất in bằng bản khắc gỗ được biết đến bao gồm 6 trang với cỏc bản khắc gỗ nhỏ cho nửa trang một là

quyển Kinh Kim Cang (tiếng Anh: Diamond Sutra) ra đời vào năm 868

Tại châu Âu việc sử dụng con dấu bằng gỗ đó được chứng minh là bắt đầu từ thế kỷ 12: Ở í vải được in bằng cách này Người ta đoán rằng kỹ thuật này lan truyền vào Đức trong thế kỷ thứ 14 qua các người vẽ hỡnh cho con bài

Các tác phẩm nghệ thuật khắc gỗ đầu tiên ra đời trong khoảng thời gian từ năm

1400 đến năm 1500 trong cỏc tu viện ở Bayern và vựng nỳi Alpes là các bản in một mặt từng trang rời Dưới dạng như các tờ truyền đơn hay sách mỏng, các bản in khắc

Trang 15

gỗ được dùng để truyền bá các ý tưởng về nghệ thuật, thế giới quan và tụn giỏo, đặc biệt là trong thời kỳ của Phong trào cải cỏch

Bờn cạnh cỏc bản in khắc gỗ một mặt, từ năm 1430 đó xuất hiện loại sỏch in bằng bản khắc gỗ mà mỗi trang được in bằng một bản in khắc gỗ bao gồm cả chữ viết lẫn hỡnh ảnh Việc sử dụng cỏc bản khắc gỗ để minh họa trong sách càng được phổ biến từ khi Johannes Gutenberg phỏt triển kỹ thuật in sỏch Quyển "Sử biờn niờn thế giới Schedel" do Anton Koberger ở Nỹrnberg (Đức) in vào năm 1493 bao gồm gần 2.000 bản khắc gỗ

Cùng với hội hoạ, đồ hoạ là một trong những loại hình nghệ thuật phục vụ

cuộc sống con người một cách tích cực Với tiếng nói cô đọng mạnh mẽ của mình,

Đồ hoạ đã trở nên gần gủi gắn bó với quần chúng nhân dân Tác dụng của tranh đồ hoạ về mặt nghệ thuật và tính quần chúng là tác dụng thực tiễn không có được ở các loại hình nghệ thuật khác Ngay từ thời cổ, tranh khắc gỗ dân gian đã thể hiện những ước mơ, nguyện vọng của nhiều tầng lớp nhân dân và nó còn sống mãi về sau Nghệ thuật đồ hoạ đã xuất hiện từ rất sớm, đồ hoạ còn có những điểm mạnh riêng mà các loại hình nghệ thuật khác không có Đó là khả năng nhân bản của đồ hoạ, từ bản khắc, bản gốc, người nghệ sĩ có thể in ra hàng loạt tác phẩm Những tác phẩm này về

cơ bản hầu như không khác gì so với nguyên bản Do đó, loại hình đồ hoạ được áp dụng nhiều trong lĩnh vực thông tin, quảng báo, tuyên truyền, cổ động, sách báo, v.v Trong nghệ thuật đồ hoạ Việt Nam thì tranh khắc gỗ màu là thể loại đồ hoạ có nguồn gốc lâu đời, phát triển mạnh nhất và có nhiều thành công Tranh khắc gỗ dù là đen trắng hay màu đều có một vẻ đẹp giản dị, tinh khiết song lại rất trữ tình, trong

có những thế mạnh riêng mà các loại hình như hội hoạ, điêu khắc và kiến trúc không

có Đồ hoạ có khả năng nhân bản nhiều Chính vì vậy mà đồ hoạ áp dụng ở nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực công thương, ứng dụng trong quảng cáo thông tin, tuyên truyền, cổ động,

Chất liệu

Khắc gỗ là loại khắc trên gỗ rồi in trên giấy Trải qua nhiều bước thăng trầm, đến nay nó vẫn là một chất liệu với kĩ thuật độc đáo, có giá trị thẩm mỹ cao và được nhiều người ưa chuộng Kĩ thuật khắc gỗ ra đời cùng với việc phát hiện ra giấy, viết

và kĩ thuật ấn loát, minh hoạ sách ở châu Âu, nghệ thuật khắc gỗ khởi đầu từ cuối thế kỉ XIV, chủ yếu là minh họa kinh thánh Sau khi kĩ thuật in hiện đại ra đời, nghệ thuật khắc gỗ minh hoạ sách phát triển mạnh, nhưng vẫn ở tình trạng khuyết danh Đỉnh cao của khắc gỗ thời Phục Hưng là những sáng tác của A Đuyrê con (Abert Durer) (1471-1528) và H Honben con (Hans Holbein) (1497-1543) Đầu thế kỉ XVI, các hoạ sĩ người Đức và người ý đã phát triển kĩ thuật khắc gỗ tối-sáng.Với kĩ thuật

Trang 16

này, tranh được in nhiều lần bởi các bản in có độ đậm nhạt và màu sắc khác nhau Tranh mang nhiều chất hội hoạ, khả năng tả khối và ánh sáng cao hơn

Cuối thế kỉ XVIII, một hoạ sĩ người Anh Th.Biuých (Th.Bewick) đã phát minh

ra phương pháp khắc gỗ bắng bút nhọn và đưa khắc gỗ lên vị trí xứng đáng với khả năng tạo khối và các sắc màu tinh tế ở Trung Quốc và Nhật Bản, truyền thống khắc

gỗ màu phát triển từ thế kỉ thứ VIII đặc biệt tranh khắc gỗ Nhật Bản rất được hâm

mộ ở Pháp từ cuối thế kỉ XIX Đó là tranh của Utamarô với các thiếu nữ uyển chuyển, duyên dáng, Hôkuxai với các tranh về núi Phú Sí tuyệt vời, Hirôxugê với tranh phong phú vùng Êđô và hồ Biva nổi tiếng

Việt Nam tranh khắc gỗ có truyền thống khá lâu đời, nhiều dòng tranh dân gian như: Đông Hồ, Hàng Trống và Kim Hoàng sử dụng chất liệu màu điều chế từ

tự nhiên

Tranh khắc gỗ phát huy thế mạnh của đường nét Chúng ta thấy tranh của Đuyê, Hôben, cũng như tranh của Trung Quốc, Nhật Bản và tranh Đông Hồ Việt Nam, đường nét đóng vai trò chủ đạo Người Nhật tạo không gian bằng đường nét, lấy sự tinh tế của đường nét làm phương tiện biểu đạt Đuryê, Hôben đưa kĩ xảo đường nét tới mức điêu luyện, chính xác

Khắc gỗ cũng như các kĩ thuật đồ hoạ khác, có khả năng nhân bản cao, là một phương tiện tuyên truyền đắc lực Hiệu quả của tác phẩm phụ thuộc vào hai quá trình: quá trình khắc và quá trình in Gần như tất cả các loại gỗ thông dụng đều có thể

sử dụng trong khắc gỗ Ở nước ta, trong quá khứ cũng như trong hiện tại, tranh khắc

gỗ là chất liệu rất được ưa chuộng Các hoạ sĩ ngày nay, nhờ kết hợp giữa những kiến thức của nghệ thuật châu Âu với truyền thống tranh khắc dân gian đã tạo nên một

phong cách riêng, độc đáo cho tranh khắc gỗ Tiêu biểu là “phong cảnh Sài Sơn” của Nguyễn Tiến Chung, “Tĩnh vật hoa quả” của Phạm Văn Đôn, “Ông cháu” của Huy Oánh, “Lớp học bổ túc văn hoá buổi trưa” của Thế Vinh, “Lớp học ở miền núi” của

Kiến trúc có từ rất sớm, là nghệ thuật tồn tại song song với sự phát triển của lịch sử, trong kiến trúc nó có nhiều công việc, kiến trúc cũng là một loại hình biểu hiện có tác dụng phản ánh thực tế, là không gian trong đó con người sản xuất, lao động, học tập và đi lại, ăn ở và triển khai các hoạt động đáp ứng về sinh hoạt, tồn tại của con người, ngoài các yếu tố đòi hỏi về công năng sử dụng thì yếu tố thẩm mỹ là yếu tố đặc biệt được kiến trúc sư chú ý coi trọng khi sáng tác, thiết kế Kiến trúc nó gắn liền với không gian, cấu trúc và vẻ đẹp bên ngoài nên nó gắn chặt chẽ với quy luật không gian, với chất lượng của hình thức, tỉ lệ, tỉ xích

Ngôn ngữ đặc trưng của kiến trúc: Hình khối, tỉ lệ trong đó những thành phần của ngôn ngữ kiến trúc đó là về các hình thái, hình học, điểm, tuyến, diện, khối, không gian và thời gian, ánh sáng, bóng đổ màu sắc chất liệu và cấu tạo vật chất

Trang 17

Trong kiến trúc chứa đựng luật xa gần, tức là hiệu quả của phép phối cảnh Thời gian được hiểu là điều thứ 4 đó chính là sự cảm thụ quan sát Thời gian gắn liền với sự thay đổi không gian do con người gây ra

Kiến trúc Việt Nam ra đời rất sớm, đó xuất hiện từ thời vua Hựng dựng nước, Trên các trống đồng có thể thấy 2 loại hình nhà sàn chủ yếu là nhà sàn hỡnh thuyền

và hỡnh mai rựa Theo các nhà kiến trúc cho rằng làng xã Việt Nam có tính quần thể cao, các kiểu kiến trúc đơn giản nhẹ nhàng phù hợp với khí hậu và tập quán của người Việt Nam

Tây Nguyên, mái nhà được làm theo kiểu nhọn vút, kèo cột vững chói, hoa văn

và tượng gỗ trang trí cho nhà của người sống và nhà mồ của người chết Vùng miền Trung Việt Nam mái nhà thấp Mái lợp dày, cột lớn Chân cột kê đá tảng, mộng mạng chắc chắn như đúc, nhà có thể khiêng đi nơi khác mà không hư hỏng éồng bằng Bắc bộ là vùng đất cổ, làng cổ Nhà cửa ý thức được truyền thống cha truyền con nối rất rừ Nhà ngúi, sõn gạch, cõy mớt, tường vôi là một công thức để con người

đủ yên tâm cho đời mỡnh và cho con chỏu đời sau Lên Tây Bắc, Việt Bắc xa biển gần rừng, sẵn mưa nhưng ít bóo nờn nhà sàn cao, mỏi doóng, lợp ngúi mỏng (thứ ngúi xếp tiếp vào nhau khụng cần ràng buộc) Hoặc lợp bằng những mảng gỗ pơ mu,

gỗ hoàng la chẻ mỏng Hầu như nhà nào cũng có một hàng rào nứa vót nhọn cao vây quanh để chống thú dữ Ở Huế, ngoài thành quỏch, thỡ nhà cửa cú một nột rất đặc trưng mang tính cách Huế - đó là nhà vườn Kiến trúc nhà vườn Huế độc đáo đó làm phong phỳ thờm cho bức tranh kiến trỳc Việt Nam

Trong kiến trúc ánh sáng được xem như là người phát ngôn số một, ánh sáng cùng với bóng đổ là 2 yếu tố luôn luôn hổ trợ lẫn nhau, cho nhau và nó làm duyên dáng thêm cho không gian 2 chiều, 3 chiều ánh sáng và bóng đổ trên toàn bộ chi tiết của kiến trúc làm tăng giảm trạng thái cảm xúc, nó có thể làm vui hơn, yên tĩnh, thân mật, hay bất an, sợ hãi Nghệ thuật kiến trúc có những công trình mà người xem coi

như là những ngôi nhà của tinh thần hay trò chơi của ánh sáng và bóng đổ

Màu sắc trong kiến trúc nó làm sống dậy dưới tác dụng của ánh sáng Màu sắc bằng khả năng truyền cảm của mình nó có thể làm thành công công trình kiến trúc về

độ lớn và khoảng cách khác nhau Cùng với một hình khối nhưng người ta cảm nhận

về độ lớn và khoảng cách khác nhau Cũng như sự cảm nhận về sự ấm cúng, lạnh lùng khác nhau

Yếu tố màu sắc trong các vấn đề tôn giáo làm cho con người cảm tháy tôn nghiêm hơn, về mặt sinh học thì màu sắc của các nội ,ngoại thất công trình làm cho con người có thể tác động về tâm sinh lý của con người

Việt Nam trước đây thì màu sắc phụ thuộc vào đối tượng sử dụng với mục đích khác nhau Kiến trúc của dân gian có màu sắc thanh đạm, mộc mạc, kiến trúc cung đình có màu sắc rực rỡ, nó trấn át con người, làm cho con người cảm thấy uy nghiêm

Yếu tố chất cảm, văn hoa của chất liệu cũng là những yếu tố có sức mạnh trong sự biểu đạt chất truyền cảm của kiến trúc 2 yếu tố này gắn liền với cấu tạo và tiêu chí sử dụng chất liệu trang trí bề mặt (Bê tông, gạch, đá, vữa,gỗ, gốm, sứ, kính ), những yếu tố tâm lí khác nhau (văn hoa trên vật liệu, kích thước của vật

Trang 18

liệu cũng đều gây ra những hiệu quả khác nhau): Gỗ, gạch tạo nên sự cổ kính, mộc mạc Sứ gây cảm giác mượt mà Kính: nhẹ nhàng, trong sạch, v.v

Sự kết hợp giữa ngôn ngữ kiến trúc với ngôn ngữ các ngành nghệ thuật kiến trúc và Điêu khắc trong mọi thế hệ như ở các công trình kiến trúc cổ VN như chùa Phương,đó là sự kết hợp giữa kiến trúc và điêu khắc độc đáo Điêu khắc đã góp phần làm khắc đã góp phần làm kiến trúc trở thành kiệt tác, những mô típ phù điêu gỗ ở khắp mọi chi tiết rất dân gian

Các hoạt động kiến trúc với không gian 3 chiều và với tác động của thời gian

sẽ đem cho người quan sát một chuỗi liên tục ở không gian ngoại thất cũng như nội thất Các ngành nghệ thuật khác thì nắm bắt nghệ thuật qua hình ảnh, ảo ảnh, dáng vẻ bên ngoài còn mọi liên hệ giữa kiến trúc và hiện thực biểu hiện ở chỗ kiến trúc là phương tiện phục vụ và quá trình tổ chức hiện thực

Trong nền mỹ thuật Việt Nam cổ, kiến trúc và điêu khắc có nhiều dấu tích hơn

cả Những pho tượng đá, gỗ còn lại đến ngày nay như tượng Phật (chùa Phật Tích), tượng Tổ truyền đăng (chùa Tây Phương), tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay (chùa Bút Tháp) đã trở thành niềm tự hào của dân tộc ta Trong mỹ thuật hiện đại, so với hội hoạ điêu khắc có chậm hơn đôi chút Sau khi trường mỹ thuật Đông Dương được thành lập (1925) đã dần hình thành một đội ngũ hoạ sĩ, trong đó có những tính cách được hình thành và phát triển thành công như phong cách vẽ lụa của hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh Phải nói rằng trước cách mạng 1945, nền hội hoạ hiện đại Việt Nam đã hình thành đặc điểm và phong cách Còn điêu khắc hoàn cảnh chiến tranh và điều kiện hạn chế nên mãi đến 1945, sau khi hoà bình lập lại mới có điều kiện phát triển

và đạt thành công lớn Càng ngày, điêu khắc càng phát triển và có nhiều tác phẩm giàu chất khám phá, sáng tạo của các nhà điêu khắc Có nhiều thể loại mới, chất liệu mới được khai thác trong thực tiễn

Ngôn ngữ khối của điêu khắc cũng được khai thác rất đa dạng ở nhiều khía cạnh khác nhau Nhà điêu khắc không chỉ sử dụng khối tròn, chắc đóng kín mà đi khai thác những khối tương phản, đối lập như khối lồi, lõm, đặc, thủng, khối đóng, khối mở việc kết hợp khối tương phản này tạo ra nhiều hiệu quả mới lạ và đầy biểu hiện đối với thị giác hiệu quả của điêu khắc là mảng khối, là quan hệ của tác phẩm điêu khắc với không gian đa chiều xung quanh

Trang 19

Trong lịch sử phát triển của nghệ thuật điêu khắc thường gắn với kiến trúc, tôn

vẻ đẹp của kiến trúc, mang phong cách kiến trúc như trong nghệ thuật Ai Cập cổ Đó

là những tác phẩm phù điêu hoành tráng trang trí trong các công trình kiến trúc Có một thể loại khác, đó là tác phẩm tượng tròn Thể loại này phát triển độc lập, không gắn với kiến trúc mà tự nó mang vẻ đẹp của chính mình, gắn bó với không gian xung quanh thành một thể thống nhất Cũng là tượng tròn, nhưng nó được phân chia theo các đặc điểm, chức năng của từng loại tượng như tượng đài, tượng trang trí v.v Tượng tròn là loại hình nghệ thuật taọ hình bằng cách kết hợp hình khối trong không gian ba chiều ở đây ta cũng thấy xuất hiện cụm từ về các yếu tố tạo hình như hình, khối, không gian Song ở hội hoạ, khối không gian đều là khối ảo, không gian

ảo được tạo ra bằng đậm nhạt, màu sắc trên mặt phẳng hai chiều và được thị giác tiếp nhận Còn điêu khắc lại khác: hình thực, khối thực và không gian cũng thực Khi thưởng thức tác phẩm điêu khắc (tượng tròn) ta có thể đi xung quanh tượng để ngắm nghía và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm ở nhiều hướng, nhiều diện khác nhau với nhiều chất liệu như tượng gỗ, tượng đồng, gò nhôm, tượng đất nung

Khi ánh sáng chiếu vào một vật nào đó trong không gian sẽ giúp ta cảm nhận được hình khối của vật đó Vì vậy khi tạo khối tức là tạo hiệu quả ánh sáng, đồng thời cũng là tả chất của đối tượng đối với nhà điêu khắc Khối lồi và khối lõm, sự tương phản về khối sẽ gợi ra những tương phản về hiệu quả ánh sáng và tạo nên những cảm xúc về thẩm mỹ khác nhau hoặc ngược chiều Với kĩ thuật phong phú trong các bức chạm gỗ đình làng Các nghệ nhân đã tạo ra rất nhiều tác phẩm với những mảng khối sinh động Khi ánh sáng trong đình thay đổi ta sẽ cảm nhận được

sự chuyển động của các hình khối đó, gợi hiệu quả sống động của hình tượng điêu khắc

Bề mặt tượng cũng là một yếu tố ngôn ngữ Trên bề mặt tượng còn liên quan đến yếu tố đường nét trên tượng như ta thường thấy trong nhiều chùa, tượng Phật thường nhẵn, láng, kết hợp với đường nét mềm mại, thể hiện sự nhu hoà, còn tượng các vị La Hán thường thô nhám và khúc khuỷu thể hiện sự khắc gỗ

Tác phẩm điêu khắc được gắn với không gian thực, không gian đặt tượng cũng góp phần làm tăng giá trị của tác phẩm điêu khắc Nếu được đặt đúng chỗ, đúng điều kiện ánh sáng, môi trường sẽ làm tác phẩm đẹp thêm lên và ngược lại Tác phẩm điêu khắc có liên quan mật thiết tới cảnh quan môi trường, kiến trúc Đó là môi trường

“sống” của tác phẩm điêu khắc Có được như vậy nó mới phát huy hết chức năng giá dục và thẩm mỹ của mình

Trống đồng Đông Sơn là tập hợp đỉnh cao nghệ thuật trang trí, kỹ thuật đúc đồng, điêu khắc Với những hoạ tiết trang trí phong phú, sinh động phủ đầy mặt

trống và tang trống là những hình ảnh cuộc sống lao động chiến đấu và những hình thức tín ngưỡng vui chơi của cư dân Lạc Việt Qua trống đồng Đông Sơn cho ta thấy một bức tranh toàn cảnh về xã hội người Việt cổ

Khi thưởng thức một tác phẩm điêu khắc người xem không chỉ được thoã mãn một giác quan thị giác mà còn có thể cảm nhận trực tiếp bằng các

Trang 20

giác quan khác về chất liệu Ta có thể cảm nhận sự mềm, lạnh, trơn, nhẵn của đá; sự thô ráp, rắn chắc của xi măng, sắt thép ; sự ấm áp, thô mộc của gỗ

Trang 21

1.4 LUẬT XA GẦN VÀ GIẢI PHẪU TẠO HÌNH

1.4.1 Luật xa gần

1 Khái niệm

Không gian hội họa rất phong phú và đa dạng, hội họa có thể phỏng theo hiện

thực hoăc ước lệ hoá, cũng có thể biến dạng theo những ý tưởng sáng tạo Tuy nhiên

để có những tác phẩm có thực tiễn hoàn mỹ, người họa sĩ phải biết dựa vào thực tế,

chủ động sử dụng những vật liệu và tìm cách giải quyết hợp lý, hài hoà các vấn đề

tạo hình

Luật xa gần là khoa học nghiên cứu và tìm ra qui luật của mắt nhìn đối với các

vật thể ở những vị trí khác nhau trong không gian đồng thời chỉ phương pháp diễn tả

các yếu tố tạo hình trên mặt phẳng 2 chiều đúng như thực tế không gian 3 chiều(

chiều rộng, chiều cao, chiều sâu)

Luật xa gần còn gọi là Luật thấu thị, được các danh họa và các nhà khoa học

khác hoàn thiện từ thế kỷ XV Trình bày sự thay đổi của các yếu tố: đường nét, hình

khối, màu sắc, tỷ lệ của các vật thể ở những vị trí xa gần khác nhau

2 Kết cấu của luật xa gần

3 Đặc điểm của sự nhìn

Đặc trưng của hội họa là sự biểu hiện không gian lên mặt phẳng, bằng nhiều chất liệu khác nhau với các yếu tố tạo hình, trong đó việc xây dựng không gian một cách sống động như mọi vật vốn có thì cần thiết phải biết được qui luật quan hệ của các sự vật ở những vị trí khác nhau đảm bảo sự thống nhất

4 Phép chiếu xuyên tâm

Phép chiếu xuyên tâm là một phép chiếu trong đó các tia chiếu đều đi qua một

điểm gọi là tâm chiếu

-Hình chiếu của một đường thẳng có hướng đi qua tâm chiếu sẽ là một điểm

M

Trang 22

-Hình chiếu của những đường thẳng song song với nhau không có hướng đi qua

tâm chiếu, cũng không có hướng song song với mặt phẳng hình chiếu thì sẽ có hướng

đồng qui tại một điểm

- Hình chiếu xuyên tâm của một mặt phẳng có hướng đi qua tâm chiếu sẽ suy

biến thành một đường thẳng

Phép chiếu xuyên tâm giúp người vẽ xây dựng lại cảnh vật một cách chính xác

nhưng không nhất thiết phải lệ thuộc theo thực tế mà chủ động về mặt bố cục

Đường chân trời là đường thẳng được qui ước năm ngang trước mắt làm cơ sở

cho việc xác định của các yếu tố khác trong luật xa gần Đường chân trời còn gọi là

đường tầm mắt, trong thực tế đương chân trời ta dễ thấy nhất là khi quan sát trên một

không gian rộng nó là đường phân chia tiếp giáp giữa bầu trời và mặt đất

9 Điểm tụ

Chính là điểm đồng qui của những đường thẳng cùng hướng trong phối cảnh

Điểm tụ chính: là điểm tụ của tất

cả những đường đi vào chiều sâu theo hướng vuông góc với mặt tranh( điểm chính) nó chỉ có một điểm và xuất hiện trong phối cảnh chính diện

Điểm tụ phụ: là điểm tụ của tất

cả những đường đi vào chiều sâu theo hướng bất kì không vuông góc với mặt tranh Có nhiều điểm tụ phụ và xuất hiện

trong phối cảnh góc

Điểm tụ cũng có thể ở trên đường tầm mắt hoặc dưới đường tầm mắt

10 Hình lập phương ở các vị trí khác nhau trong không gian

Trang 23

P P

Trong thực tế khi quan sát các vật thể ở các vị trí khác nhau sẽ cho ta thấy sự thay đổi về kích thước cũng như hình dạng biến đổi, ở hình minh họa này là vị trí quan sát hình lập phương có 2 điểm tụ

Các yếu tố đường nét, màu sắc, ánh sáng, tỷ lệ theo qui luật càng ở vị trí càng xa càng mờ nhạt, nhỏ dần, lạnh hơn Từ những qui luật cơ bản đó để người vẽ

có thể xây dựng được các hình ảnh sự vật hiện tượng ở trong thực tế cảnh vật

Trang 24

1.4.2 Giải phẫu đầu người

1 Mặt người trưởng thành

Tỷ lệ mặt người được tính theo đơn vị con mắt làm đơn vị chuẩn để so sánh và tính theo cách tính như sau:

+ Đường phân đôi theo bề dọc mặt người là vị trí của con mắt

+ Mặt được chia làm 3 phần bằng nhau như sau:

- Từ chân tóc đến lông mày

- Từ lông mày đến chân mũi

- Từ chân mũi đến cằm

+ Bề ngang của một con mắt bằng khoảng cách giữa 2 con mắt

+ Bề ngang của mũi rộng hơn bề ngang con mắt một ít

+ Bề rộng của miệng rộng hơn bề ngang của mũi một ít

 Bề ngang của mặt bằng từ chân tóc đến chân mũi( không kể 2 tai)

 Vị trí 2 tai nằm trong khoảng từ chân mày đến mũi

2 Mặt người già

Tỷ lệ mặt người già được tính theo đơn vị con mắt làm đơn vị chuẩn để so sánh và tính theo cách tính như sau:

+ Vị trí của con mắt nằm trên đường phân đôi theo bề dọc mặt người

+ Mặt được chia làm theo tỷ lệ cơ bản như mặt người trưởng thành nhưng mang một số nét khác biệt vì có nhiều đường nét tạo nên vẻ mặt già dặn, nhăn nhúm,

miệng móm vì răng rụng, các nếp nhăn ở khóe

miệng nhỏ, mắt tròn, lông mày ngắn

3 Các biểu hiện tình cảm trên khuôn mặt người

4 Tỷ lệ nam toàn thân

Con người đều có những dáng vẻ, đặc điểm khác nhau do hoàn cảnh địa lý,

Trang 25

người giống nhau, do đó tỷ lệ con người không thể tính bằng công thức hay định luật nào được Nhưng dù mỗi người có một nét riêng về hình dáng, cấu trúc của cơ thể thì người ta vẫn có thể xác định một cách khái quát với những ước tính tương đối chính xác về tỷ lệ

Trong giải phẫu tạo hình, tính khoa học của việc xác định tỷ lệ cơ thể con người dựa trên phương pháp đo so sánh giữa các bộ phận

Lấy đơn vị đầu người làm đơn vị đo, từ đó so sánh với tất cả các bộ phận trên

cơ thể Một cơ thể được xem như là lý tưởng là phải có một tỷ lệ hài hoà, thời Hy Lạp tỷ lệ người trưởng thành có chiều cao 8 đầu là một tỷ lệ biểu thị vẻ đẹp của cơ thể người và tỷ lệ này cũng áp dụng cho nghệ thuật tạo hình

Như vậy người ta cũng đã tìm ra một tỷ lệ “ Vàng” cho việc xây dựng cơ thể người tạo nên vẻ đẹp trong nghệ thuật tạo hình nói chung và hội họa nói riêng Đã có rất nhiều tác phẩm thể hiện mà tên tuổi của tác giả cũng như tác phẩm đã sống mãi với nền nghệ thuật thế giới

Người Việt Nam tỷ lệ đẹp được xem như là tỷ lệ có chiều cao trên dưới 7,5 đầu, trong nghệ thuật tạo hình các hoạ sỹ đã áp dụng tỷ lệ đó cho cả người nam và người nữ

Với cách lấy tỷ lệ trên đây, tỷ lệ toàn thân người Việt Nam được tính theo tỷ lệ 7,5 đầu và chia theo các vị trí bộ phận như sau:

- Đầu thứ 1: từ đỉnh đầu đến ngang gáy

- Đầu thứ 2: từ ngang gáy đến góc xương vai

- Đầu thứ 3: từ góc xương vai đến cạnh trên mông

- Đầu thứ 4: từ cạnh trên mông đến ngấn mông

Chân:

Chiều cao chân từ ngấn bẹn đến hết chân đo được 4 đầu

Trang 26

Tay:

Phần tay từ mõm cùng vai đến đầu ngón tay giữa dài khoảng hơn 3 đầu

- Đầu thứ 1: cổ tay đến đầu ngón tay

- Đầu thứ 2: cổ tay đến khuỷu tay

- Đầu thứ 3: khuỷu tay đến gần mõm cùng vai

còn lại gần 1/2 đầu

Vai:

Chiều ngang vai 2 đầu

Hông:

Chiều ngang hông trên dưới 1,5 đầu

 Đường nét thể hiện cơ thể người nam trưởng thành có phần góc cạnh, các khối cơ

lộ rõ tạo nên sự khoẻ khoắn, vững chắc Thân được qui vào hình thang cân, là phần

rộng nhất của toàn thân nam khi nhìn chính diện

5 Tỷ lệ nữ toàn thân nữ

Về cơ bản tỷ lệ của phụ nữ như tỷ lệ người nam, được tính theo đơn vị đầu với

tỷ lệ chiều cao toàn thân là 7,5 đầu

Phần thân phụ nữ được qui vào hình chữ nhật đứng, như vậy bề ngang vai của phụ nữ rộng khoảng trên dưới 1,5 đầu Bề ngang rộng nhất của phụ nữ là bề ngang mông, đó là sự khác nhau cơ bản về tỷ lệ người nam trưởng thành và phụ nữ ngoài

ra đường nét biểu hiện cơ thể của phụ nữ cũng mềm mại, ít góc cạnh hơn, khối hình thường không biểu hiện các cơ bắp như ở người nam

2.4 So sánh sự khác nhau giữa tỷ lệ người nam và nữ

2.5 Vẽ hình xây dựng tỷ lệ người nam,

nữ trưởng thành

Trang 28

CHƯƠNG 2: MỸ THUẬT CƠ BẢN 2.1 Vẽ theo mẫu

2.1.1 Khái niệm, vai trò của vẽ theo mẫu

Từ xưa tới nay, hiện thực của tự nhiên, của xã hội luôn luôn là đối tượng trung thành cho con người đi tìm cái đẹp, đặc biệt là trong mỹ thuật Người hoạ sĩ luôn lấy thực tế làm đối tượng để nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo tác phẩm Sự tìm tòi cách biểu hiện vốn là đặc tính của người nghệ sĩ, nhưng với người mới học vẽ, việc bám sát thực tế, vẽ lại thiên nhiên một cách trung thực là một yêu cầu hết sức cần thiết Hình hoạ là phương pháp dựng hình vẽ để mô tả đối tượng khách quan có thực

mà mắt ta quan sát được bằng đường nét, mảng, hình khối, sáng tối (đậm, nhạt) để tạo không gian Không gian trong hình hoạ có thể là một màu hoặc nhiều màu

Có nhiều cách gọi khác nhau về hình hoạ như vẽ tả thực, vẽ theo mẫu

Ngay từ buổi bình minh của loài người, trong quá trình lao động và đấu tranh với thiên nhiên nghiệt ngã để bảo tồn và phát triển, con người đã vạch khắc lên công

cụ lao động, lên vách hang đá nơi mình ở những hình muông thú quen thuộc, những động tác săn bắn, những sinh hoạt múa hát để ghi nhớ và từ đó cũng chính là những tín hiệu để thông báo với nhau Trên những bức vẽ này, ta nhận hấy sự nắm bắt hiện thực của người nguyên thuỷ rất chính xác và sinh động Dù chỉ là những đường viền (chu vi) hay những mảng màu đậm đặc thì hình ảnh được miêu tả vẫn chỉ rõ đặc tính nhân vật Điều đó chứng tỏ khả năng quan sát và thuộc mẫu đến độ rất tinh tế của người vẽ Trên những tác phẩm này, chất hình hoạ như một đường dây quán xuyến chung của toàn bộ hình vẽ

Trên thế giới, những hang động người xưa nổi tiếng như La-xcô (Lascaux) của Pháp, Gac-gax (Gargax) ở vùng biên giới Pháp - Tây Ban Nha, Xa-ha-ra (Sahara) của Châu Phi… là những bảo tàng nghệ thuật rất sinh động, phong phú và tuyệt đẹp của người nguyên thuỷ Ở đó, người nghệ sĩ nguyên thuỷ đã biết loại trừ những cái gì

là chi tiết của thực tế mà chắt lọc lại được những cái rất cơ bản và đặc trưng Từ cái

vỏ giống nhau lặp đi lặp lại của sự việc, họ đã đơn giản hình vẽ bằng lối hình học hoá

và đồ hoạ hoá Phải nói rằng, người nguyên thủy đã tìm mọi cách để miêu tả thực tế, bởi vậy nên hình và mảng của mẫu thực được phản ánh rất chuẩn mực và sinh động Hình hoạ có vai trò rất lớn trong sáng tác mỹ thuật, nhất là đối với người học

vẽ Anh-gơ-rơ (Ingrơ) - hoạ sĩ Pháp thế kỷ XIX cho rằng: "Đường nét là hình hoạ hay đúng ra nó là tất cả" Trong thiên nhiên, mọi vật tồn tại đều có hình thể Vẽ - trước hết là ghi lại các hình thể đó trên mặt phẳng của không gian 2 chiều Hình hoạ tham gia vào tất cả các quá trình học tập, nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật của người làm công tác mỹ thuật

Hình hoạ là môn học kết hợp chặt chẽ tư duy trí tuệ với khả năng biểu cảm thẩm mỹ của người học vẽ (và cả của các hoạ sĩ sáng tác) Nghiên cứu tốt về hình hoạ sẽ giúp cho người học có thể đi sâu, phát triển vững chắc trên con đường nghiên cứu và sáng tạo Như vậy, hình hoạ nói chung hay vẽ con người nói riêng luôn luôn

là mục tiêu, là đối tượng để người hoạ sĩ tìm hiểu và phát hiện ra vẻ đẹp của tác

Trang 29

nào Trong lịch sử mỹ thuật thế giới có không ít trường hợp các hoạ sĩ đã vượt qua

mọi khó khăn thử thách, tự tìm tòi, tự nghiên cứu để tìm ra những vẻ đẹp lý tưởng

của con người

Hình hoạ có tác động bổ sung, hỗ trợ cho các môn học khác trong hội hoạ:

Ký hoạ là môn học rất gần gũi với hình hoạ, việc nắm vững cấu trúc, hình thể

trong nghiên cứu hình hoạ sẽ giúp ích cho ký hoạ Có nghiên cứu hình hoạ tốt thì

người vẽ mới có thể chủ động được trong nghiên cứu thực tế và phát huy được tác

dụng trong vẽ ký hoạ

Với điêu khắc, hình hoạ giúp cho điêu khắc có cách nhìn về hình, về khối và

tỷ lệ, vì hình hoạ nghiên cứu thực tế của không gian 3 chiều nhưng chỉ trên mặt

phẳng 2 chiều, còn chính điêu khắc mới nghiên cứu thực tế trong không gian 3 chiều

một cách cụ thể hơn, vững chắc hơn

Vẽ hình hoạ tốt hỗ trợ tích cực cho trang trí thông qua nghiên cứu và lấy tài

liệu tại thực tế trên cơ sở của ghi chép hình thể và cấu trúc đối tượng Nó cũng giúp

người vẽ có khả năng khái quát hoá và cụ thể hoá đối tượng nghiên cứu một cách chủ

động và sáng tạo hơn, tạo tiền đề để hình thành bố cục đơn giản và cách điệu các hoạ

tiết trang trí

Mọi sáng tạo nghệ thuật đều bắt nguồn từ thực tế, để có được bố cục tranh vẽ

hình hoạ có vai trò quyết định đối với tác phẩm hội hoạ trong hình thành ý đồ và các

bước tiến hành trong sáng tạo tác phẩm của hoạ sĩ

Ngoài ra, hình hoạ còn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các bộ môn nghệ thuật khác như kiến trúc, điện ảnh, sân khấu, thiết kế công nghiệp…

2.1.2 Phương pháp vẽ hình họa

Hầu hết khi vẽ hình họa với bất

kỳ các mẫu thì thương tuân theo các bước sau đây:

-Quan sát nhận xét: Quan sát

toàn bộ vật mẫu trong cách sắp xếp (bố cục) chung; tìm góc nhìn đẹp để vẽ

Phân tích mẫu về hình dáng, tỷ lệ, đặc điểm và sáng tối Xác định bố cục hình vẽ trên

tờ giấy cho hợp lý, thuận mắt

-Xây dựng hình vẽ: - Bố cục hình vẽ trên giấy: Trên cơ ở tờ giấy vẽ hiện có,

ước lượng tỷ lệ chung của mẫu và phác khung hình chung cho mẫu Sau khi có được

khung hình chung cần vẽ phác qua các hình dáng cụ thể của từng mẫu Bố cục đẹp là

bố cục vừa với tờ giấy vẽ, không to quá hoặc nhỏ quá, không lệch trái hoặc lệch phải

+ Phác khung hình chung: Sau khi có bố cục chung tương đối hợp lý sẽ bắt đầu

phác hình

+ Dựng hình kỷ hà: Trước khi phác hình chi tiết cần đo và dọi hình mẫu để xác

định độ kích thước của mẫu Phác hình theo những điểm chính tìm trên cấu trúc của

mẫu, phác nét chính, tránh đi sa vào chi tiết vụn vặt

Trang 30

+ Chỉnh hình: Sau khi đã kiểm tra kỹ lưỡng hình vẽ so với mẫu thật, cần vẽ kỹ

bằng những nét nhấn đậm hơn ở các nét phần bên tối và các của vật mẫu Đẩy sâu,

chính xác nét phác cho đúng với đặc điểm, dáng vẻ của mẫu

- Vẽ bóng hoặc vẽ màu hoàn chỉnh bài vẽ: Cần phải phân tích, nhận xét, so

sánh kỹ lưỡng tương quan tỷ lệ của từng vật mẫu với tổng thể Tả dần các chi tiết để

bài vẽ đạt được tinh thần của mẫu về bố cục, về hình, về tương quan tỷ lệ để đạt đúng

đậm nhạt và không gian của mẫu Thông qua đậm nhạt và tương quan có thể nhận

biết được chất và màu sắc của vật mẫu

Tuy nhiên mỗi một loại mẫu thì cũng có những cách tiến hành phù hợp, cần thể

hiện được tình cảm của mình đối với quá trình vẽ theo mẫu

Con người là đối tượng quan trong trong các sáng tác nghệ tuhật tạo hình, bởi

con người là sản phẩm cao đẹp nhất của thế giới tự nhiên, với sự cân đối về hình

khối, hoàn chỉnh về cấu trúc tỷ lệ, con người là đối tượng cần thiết nhất trong quá

trình học vẽ nói riêng

Để vẽ chân dung người được chuẩn xác , trước hết người học cần vẽ tượng

chân dung, bởi vì tượng chân dung luôn luôn ở trạng thái tĩnh, ổn định về tỷ lệ, sắc

thái tình cảm

Các tượng mẫu đa được chọn lọc, có phần tạo nên các yếu tố nghệ thuật vì thế

tượng rất hấp dẫn người quan sát

Hình mảng trên các tượng mẫu đã đơn giản phần nào tạo nên hình khối rõ

ràng, dễ nhìn nhận ra So sánh chân dung với các hình khối cơ bản ta thấy chân thực

ra chân dung dung con người là sự sắp xếp các hình khối cơ bảnvà hình khối biến

dạng tạo thành, chúng được sắp xếp cân đối, hài hoà về tỷ lệ theo qui luật từ khối cơ

bản

Khi vẽ tượng chân dung cần phải nắm kỹ về giải phẩu tạo hình đầu người để

phân chia tỷ lệ các bộ phận theo cấu trúc đầu người

Cơ bản phần đầu người có 2 phần lớn cần nắm kỹ là xương đầu và cơ đầu

Xương mặt giữ vai trò quan trọng, quyết định phần lớn trong vẽ chân dung, khuôn

mạt có các bộ phận cần phải vẽ với độ chính xác cao như: mắt, mũi, miệng

Nắm các cấu trúc cơ bản về vị trí của các bộ phận, so sánh tỷ lệ các bộ phận

với nhau theo giải phẩu tạo hình

Nắm các trạng thái tình cảm của vẻ mặt người để thấy được sự thay đổi cơ bản của

các bộ phận

2.1.3 Những điểm cần lưu ý khi quan sát và

vẽ theo mẫu Nét, mảng và hình khối

Nét còn gọi là đường viên hay đường chu

vi, là ranh giới giữa vật này với vật khác, hay giữa một vật với không gian xung quanh Theo định nghĩa một cách khoa học thì đường nét là tập hợp của những điểm trong chuyển động

Trong ngh thuật hội hoạ, khái niệm "đường" và

Trang 31

có đường và đường làm nên nét Thực tế, các vật thể trong tự nhiên được tạo nên bởi nhiều đường nét kết hợp Bất kỳ một vật nào trong tự nhiên như hộp phấn, ngôi nhà hay đến cả con người cũng đều có nét Vẽ có nghĩa là ghi lại những nét "viền" đó Mảng là phạm vi nhất định diễn tả trên mặt phẳng, thể hiện chiều diện, tỷ lệ, xa gần, về tác động của sáng tối trong không gian

Hình khối do mảng tạo nên hình, những hình khác nhau trong cảnh vật, tạo nên

sự cân đối hay thăng bằng trong hình vẽ Hình là hiệu quả thụ cảm của thị giác đối với vật thể trong không gian do tác động của ánh sáng

Một vật thể phải có hình sáng nhất định và chiếm chỗ nhất định trong không gian Khối là do không gian 3 chiều giới hạn, được ánh sáng phân ra các chiều hướng

và bề mặt

Cảnh vật trong tự nhiên được hình thành trên cơ sở cấu tạo của các khối cơ bản

b Sáng tối và đậm nhạt:

Con người nhận biết được thế giới khách quan thông qua con mắt và ánh sáng

nh sáng chiếu rọi và vật thể làm nổi hình khối, làm vật có màu sắc và đem lại ý nghĩa cho việc ghi lại hình bóng trong giới tự nhiên

nh sáng chiếu vào một, hai chiều nào đó của vật thể làm cho vật thể đó nổi hình và khối lên, các chiều khác không có ánh sáng sẽ chìm trong mảng tối Giữa mảng sáng, mảng tối có mảng mờ mờ làm trung gian, còn mép bên tối có ánh phản chiếu gọi là bóng phản quang Tuỳ thuộc vào hình khối và chất, màu của vật thể mà bóng phản quang rõ hoặc không rõ Các khối hình cầu, hình trụ và các chất nhẵn bóng có bóng phản quang rất rõ

Cả một chuỗi sáng, tối, mờ mờ, phản quang tạo nên một bảng sắc độ đậm nhạt diễn biến từ sáng nhất đến tối nhất, làm cho vật mẫu nổi trên không gian và trên mặt phẳng của bài vẽ Ngoài tác dụng làm nổi khối, đậm nhạt còn có ý nghĩa miêu tả chất, thậm chí tạo nên cả màu sắc của vật thể, dù đó là bài vẽ đen trắng hoặc nhiều màu

c Tỷ lệ và cân đối:

Vẽ theo mẫu không thể không nói đến tỷ lệ và sự cân đối, bởi nó đã được tạo sẵn trong mối quan hệ chung của tự nhiên và trong cuộc sống Cấu trúc cảnh vật của giới tự nhiên luôn là sự tổng hoà của các yếu tố tạo hình tỷ lệ thuận mắt và cân đối Bởi vậy, để nắm bắt thực tế, người vẽ cần phải nghiên cứu kỹ đối tượng khách quan

và những nguyên tắc chung của cấu tạo tự nhiên

2.1.4 Vận dụng luật xa gần vào bài vẽ

Trong quá trình thực hiện vẽ theo mẫu, người vẽ vận dụng qui luật thay đổi của các yếu tố ánh sáng, đường nét, hình khối, màu sắc, để đúng thực tế như quan sát được

2.1.5 Bài tập: khối cơ bản và đồ vật đơn giản

Trang 32

Chú ý phân tích tượng mẫu thật kỹ bằng cách tìm ra các bộ phận tương ứng với các hình khối cơ bản quan sát các chi tiết biểu hiện vẻ mặt với những đặc điểm riêng

Quan sát tác động của ánh sáng đói với toàn bộ mẫu và trên các bộ phận, tìm các độ đậm nhạt và so sánh tương ứng

Kiểm tra chi tiết, điều chỉnh chính xác các phần sọ, mặt của tượng mẫu

Xác định chính xác các bộ phận mắt, mũi, miệng, tai

Trang 33

2.2 VẼ TRANG TRÍ

2.2.1 Tìm hiểu về nghệ thuật trang trí

Theo cách hiểu thông thường, trang trí là nghệ thuật làm đẹp Nó giúp cho cuộc sống

xã hội thêm phong phú và con người hoàn thiện hơn ý thích làm đẹp, mong muốn cái đẹp luôn tồn tại trong mỗi con người dù người đó là ai và sống trong hoàn cảnh nào Những ngày lễ, ngày Tết, ai cũng muốn gọn gàng sạch sẽ, mặc những bộ quần

áo đẹp nhất của mình, trang trí nhà cửa sao cho hấp dẫn, sạch sẽ và đẹp đẽ Đường phố được trang hoàng bằng những băng rôn, khẩu hiệu, cờ hoa

Trong cuộc sống hằng ngày, rất nhiều đồ vật mà ta thường sử dụng như bát, đĩa, ấm chén, lọ, khăn bàn, quần áo, đồng hồ tất cả đều có những họa tiết trang trí nhằm làm cho vật đó đẹp thêm, hấp dẫn và có giá trị thẩm mỹ hơn Những hình trang trí đó rất phong phú, nhằm làm cho đồ vật đẹp hơn, tạo cho người xem cảm giác gần gũi hơn Đó chính là nét nổi bật của nghệ thuật trang trí

Vì vậy, trang trí là những cái đẹp do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống, giúp cho đời sống con người và xã hội trở nên tốt đẹp và hoàn thiện hơn

a Vai trò của trang trí

Trang trí có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống con người, nó có mặt ở tất cả các vật dụng hằng ngày, nó làm cho cuộc sống thêm sinh động, phong phú và hấp dẫn

Trang trí trong đời sống

Nó gắn liền với các công trình kiến trúc, giao thông công cộng và những nơi đông người nhằm tuyên truyền, quảng bá, khuyếch trương cho những công ty lớn Với những nước đang phát triển như Việt Nam, công việc truyền bá thông tin cũng ngày càng trở nên sôi động và gần gũi với công chúng thông qua báo chí, truyền hình

và những băng quảng cáo lớn trên đường phố hoặc các trục đường quốc lộ Sự cách tân trong lối quảng cáo bắt buộc người họa sỹ trình bày phải không ngừng phát huy tính sáng tạo, sự hiểu biết để truyền tải tới người xem một cách ấn tượng và sâu sắc nhất

Khi con người cần đến sự vui chơi, giải trí và hưởng thụ từ những việc đoan giản nhất như trang trí nơi ăn, chốn ở…cho đến những cái lớn hơn ngoài xã hội như những công trình kiến trúc, bảo tàng, nhà văn hóa, … ở đó, trang trí làm tăng giá trị các công trình kiến trúc và bồi dưỡng khiếu thẩm mỹ cho con người

Trang trí trong hội họa

Nghệ thuật trang trí dân gian Việt Nam cũng vượt lên, thời gian Hình tượng cách điệu hoa sen, mặt người, mây nước luôn được khái quát hóa và đưa vào trang trí cho nhiều công trình kiến trúc như phù điêu, tranh thờ, trang trí Ngày nay, nghệ thuật trang trí được hình thành với nhiều phong cách hiện đại, các họa sĩ đã sáng tác

ra nhiều họa tiết trang trí đẹp bằng vẽ tay hoặc sử dụng máy móc hiện đại

b Tính hiện đại và tính dân tộc trong trang trí

Tính dân tộc

Mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng của mình Văn hóa nước ta chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc, nhưng không bị nó đồng hóa mà biến nó thành những

Trang 34

nét văn hóa riêng của Việt Nam Ví dụ, đình chùa của chúng ta cũng có những mái vòng cong nhưng khác với quy mô to cao, đồ sộ của Trung Quốc, mà mang dáng dấp một mái nhà nông thôn hiền lành và gẫn gũi, gắn chặt với cuộc sống và nếp nghĩ của người dân Việt Nam

Nền nghệ thuật trang trí của các nước ở châu á đều phát triển từ nền văn minh lúa nước Tuy nhiên, mỗi dân tộc có cái nhìn và cách thể hiện khác nhau Có thể chứng minh điều này qua phong cách vẽ của ba nước: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản

- Tranh của Việt Nam: ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc nhưng nét vẽ gần gũi với người dân lao động, nét vẽ mộc mạc, khái quát và tinh tế

- Tranh của Trung Quốc: Nét và hình hoà quyện rất tinh tế Nét vẽ tinh xảo, mềm mại thể hiện tài năng của các nghệ nhân Trung Quốc Mảng màu lớn kết hợp tài tình trong một không gian rộng

- Tranh của Nhật Bản: ảnh hưởng cách cẽ Trung Quốc nhưng mang đậm nét văn hóa dân tộc Nhật Khai thác triệt để những họa tiết trang trí Những mảng màu to nhỏ gắn kết với nhau rất kinh động Khi nhìn vào người ta nhận ngay ra phong cách vẽ của

người Nhật

c Các loại hình trang trí

Trang trí mỹ nghệ

Là trang trí trên các mặt hàng thủ công, bán thủ công hay công nghiệp nhẹ như

ấm chén, bát đĩa… là những đồ dùng thông dụng hằng ngày phục vụ cho đời sống tinh thần của nhân dân Trang trí mỹ nghệ của ta ngày nay được Nhà nước đầu tư và đưa vào khai thác nguồn nhân lực rất lớn Người Việt Nam vốn có cái nhìn khái quát,

óc thẩm mỹ tốt cộng với những bàn tay khéo léo, dễ dàng tạo ra những sản phẩm mới mang tính sáng tạo cao Ngành trang trí mỹ nghệ không những tạo ra việc làm cho người lao động mà còn thúc đẩy nền kinh tế nhà nước thêm phát triển

Trang trí nội ngoại thất

Là phần trang trí, sắp xếp phía bên ngoài và bên trong một tòa nhà, một ngôi nhà hay một căn phòng… sao cho phù hợp và đẹp mắt Cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu trang trí nội ngoại thất cũng càng được chú trọng Chính vì vậy, trang trí nội ngoại thất được đánh giá rất cao và có giá trị lớn trong việc làm thay đổi bộ mặt của đất nước

Trang trí ứng dụng công nghiệp

Là sáng tạo ra kiểu dáng các máy móc, đồ vật như xe máy, xe đạp… cho đến các mẫu mã hàng hóa mà ta bắt gặp hàng ngày như hộp bánh kẹo, đường sữa… trưng trí ứng dụng công nghiệp nói chung mang tính chất tạo dáng, để đưa vào sản xuất ở quy mô công nghiệp

Trang trí tin quảng cáo

Loại hình trang trí này gắn liền với sự tiến hóa chung của toàn xã hội, nhất là ở giai đoạn kinh tế có sự chuyển biến lớn Thông tin quảng cáo chính là sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư, kinh doanh trong và ngoài nước, nó chính là bộ mặt của đất

Ngày đăng: 22/08/2017, 15:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

10. Hình lập phương ở các vị trí khác nhau trong không gian - Bài giảng mỹ thuật
10. Hình lập phương ở các vị trí khác nhau trong không gian (Trang 22)
Hình  mảng  trên  các  tƣợng  mẫu  đã  đơn  giản  phần  nào  tạo  nên  hình  khối  rõ - Bài giảng mỹ thuật
nh mảng trên các tƣợng mẫu đã đơn giản phần nào tạo nên hình khối rõ (Trang 30)
Hình vuông: Bố cục phải hoàn chỉnh, có đặc điểm của hình vuông. Nghĩa là  khi bố cục xong, dù cắt bỏ đường diềm chu vi thì mảng trọng tâm và các hoạ tiết tồn  tại ở trong đó vẫn làm người ta có cảm giác về khuôn hình mà nó đã được sắp xếp,  khác  với  một - Bài giảng mỹ thuật
Hình vu ông: Bố cục phải hoàn chỉnh, có đặc điểm của hình vuông. Nghĩa là khi bố cục xong, dù cắt bỏ đường diềm chu vi thì mảng trọng tâm và các hoạ tiết tồn tại ở trong đó vẫn làm người ta có cảm giác về khuôn hình mà nó đã được sắp xếp, khác với một (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w