Những người gọi môn này là Ðàm thoái thì cho rằng nó được một nhà sư ở chùa Long Ðàm tại sơn lâm truyền lại.. Trong chương thứ năm sách Thái cực quyền thế độ giải của Hứa Vũ Sinh có chép
Trang 2LƯỢC KHẢO VÕ THUẬT TRUNG HOA
TRÍ CHI – HỒ HIẾU VŨdịch và chú giải
VÕ THUẬT TÙNG THƯ XUẤT BẢN
10-12-1973
LỜI NÓI ÐẦU Mấy năm gần đây, sách viết về võ thuật xuất bản rất nhiều Các soạn giả đã trình bày nhiều môn võ của VN và ngoại quốc Ðó là một hiện tượng đáng mừng vì sách
võ thuật đã cung cấp rất nhiều tài liệu cho người hâm mộ võ nghệ muốn tim hiểu các môn phái và luyện tập những môn mà mình thích.
Chúng tôi cũng đọc một số sách viết về võ thuật của Trung Hoa và Việt Nam Theo nhận xét thô thiển của chúng tôi thì võ của các nước Ðông Nam Á như Nhật, Ðại Hàn, Mã Lai, Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của võ Trung Hoa vì hoàn cảnh địa lý, văn hóa, chiến tranh, vv Nói như vậy, chúng tôi không có ý phủ nhận những tinh hoa võ Việt Nam của người Việt đã sáng tạo với bao nhiêu tâm huyết, cũng như những ảo diệu của võ thuật thuộc các nước trên Ðiều mà chúng tôi tha thiết nhất là mong có thì giờ tìm hiểu các võ phái của Việt Nam Nhưng chiến tranh kéo dài, hoàn cảnh riêng không cho phép chúng tôi thực hiện ý tưởng đó.
Chúng tôi đọc quyển "Quốc kỷ luận lược" của Từ-Triết-Ðông (một giáo sư văn chương kiêm võ sư) khảo cứu về võ thuật Trung Quốc, thấy có nhận xét rất xác
Trang 3đáng và khoa học Tác giả đã trình bày một số lớn các võ phái Tàu như Thái Cực quyền, Hình Ý quyền mà các sách vở viết bằng chữ quốc ngữ có đề cập đến Vì vậy, chúng tôi lượt dịch sách này với các dụng ý sau đây :
1 Trình bày cho đọc giả Việt Nam hâm mộ võ thuật thấy một rừng võ Trung Hoa mênh mông, đã có nhiều ảnh hưởng đến võ thuật Việt Nam.
2 Giới thiệu một tác giả Trung Hoa viết về võ thuật cổ truyền của họ với những lý luận khoa học và tương đối khách quan.
3 Cung cấp cho bạn trẻ chúng ta thích võ thuật thấy cảm tưởng của một người học võ Tàu và những kinh nghiệm của một võ sư Trung Hoa.
4 Gợi cho các bạn khảo cứu võ Việt Nam những khái niệm khi nghiên cứu võ Việt và có thể so sánh với võ Tàu.
5 Kim chỉ nam thành công cho các võ sinh mới bước chân vào nghề võ, tránh những lầm lạc đáng tiếc sau một thời gian tập luyện mà vô bổ.
Sau phần dịch thuật, chúng tôi có thêm phần phụ lục với hy vọng giúp đọc giả những tài liệu để hiểu thêm về những chi tiết võ thuật trong sách của tác giả Tài liệu tham khảo không có nhiều, nên chúng tôi cũng chưa cảm thấy đầy đủ trong phần phụ lục này Hy vọng ở lần tái bản, chúng tôi sẽ tăng bổ thêm.
Cuối cùng, chúng tôi mong sách nầy đến tay các bạn đọc, nhất là các bạn trẻ yêu
võ nghệ, như một niềm tin của một người đồng điệu gửi đến một người bạn đồng thanh khí.
Sài gòn, 21 tháng 4 năm 1973
Dịch giả cẩn chí Trí Chi – Hồ Hiếu Vũ
CHƯƠNG MỘT DẪN CHỨNG VÕ HỌC THỜI XƯA
Ðể phân biệt với các môn võ du nhập từ ngoại quốc vào Trung Hoa về sau này, võthuật ngày xưa gọi là "kỹ kích" Kỹ kích còn gọi là "Quốc Kỹ"
Trong Quốc kỹ có hai loại Quyền thuật và Binh khí Quyền thuật là môn võ tậpluyện bằng tay chân không, còn binh trượng là xử dụng khí giới Khảo cứu về những
thời trước dây thấy có các môn Thủ bác (đánh bằng tay) Giốc để (giốc : đối chọi, để :
xô đẩy, tức là môn đô vật) ; Ðạo dẫn (thuật hô hấp, nội công) và kiếm thuật (môn
đánh kiếm) Bốn môn này liên lạc với nhau rất cần thiết cho con nhà võ, rồi dần dầnhọp lại thành ra kỹ kích của các đời gần đây
Căn cứ vào sách vở có thể đưa ra những luận chứng về võ thuật
1 QUYỀN THUẬT VÀ GIỐC ÐỂ
Trong mục "Nghệ văn chí" của sách Hán thư nói về "binh kỹ xảo" gốm có mười
ba nhà, trong đó sáu thiên nói về môn thủ bác cũng xếp vào binh kỹ xảo Như vậy
Trang 4thấy rằng võ thuật đã được dùng trong quân ngũ từ xưa Truyện "Cam Diên Thọ"
trong Hán thư chép :
Diên Thọ thì về môn thủ bác
Võ sĩ được thi bằng môn thủ bác
Như vậy môn võ nầy đã được thực dụng từ xưa
Cũng trong Hán thư, mục "Vũ Ðế Ký" chép :
Mùa xuân năm Nguyên Phong thứ ba nhà vua sai tổ chức hội giốc để
Như thế môn đô vật đã được dùng trong các cuộc vui đời nhà Tần (từ năm 221
đến năm 206 trước Tây lịch) Trước đời Tần chưa có danh từ giốc để nhưng đã có môn giốc để.
Từ đó về sau, môn đô vật cũng được thịnh hành Truyện "Lý Tồn Hiền" trong
đá, cố ý làm cho địch tử thương Hai môn này mục đích khác nhau nhưng có thểtương thông (Tại Việt Nam môn đô vật chẳng biết có từ đời nào, nhưng đến thời đạinhà Tiền Lê (1428-1527) thì có Mạc Ðăng Dung đã thi đỗ Ðô lực sĩ Tưởng cũng nênbiết rằng đô vật Việt Nam cổ truyền không "tàn bạo" như đô vật của Âu Mỹ Hai bênđấu vật ai bị vật ngã ngữa hai vai chạm xuống sàn hoặc bị nhấc bổng hai chân khỏisàn là thua, và tuyệt đối cấm lên gối, đá, đánh )
2 SỰ BIẾN THIÊN CỦA THUẬT ÐẠO DẪN
Phép đạo dẫn xưa đã có, Trong mục "Nghệ văn chí" của Hán Thư, phần "Phương
kỹ lược" có ghi về 13 vị thần tiên, chép rằng :
Hoàng Ðế có thuật "Tạp tử bộ dẫn" gồm mười hai quyển, trong đó có đề cập đến phương pháp đạo dẫn.
Truyện "Hoa Ðà" trong sách Tam quốc có chép : Hoa Ðà có thuật vận khí hô hấp
để chữa bệnh (Hoa Ðà biết môn ngũ cầm : Nhứt hổ, nhì nai, ba hùm, bốn dã nhân,
năm chim muông)
Như vậy, đạo dẫn và quyền thuật có đã lâu, các võ thuật gia áp dụng môn đạo dẫn
để tăng thêm sức mạnh Tuy nhiên có điểm khác nhau là đạo dẫn để dưỡng sinh, cònquyền thuật để đánh kẻ địch
Trang 5Trong sách Dưỡng tín diện mệnh lục có các chương "Phục khí liệu bệnh đạo dẫn
án ma", các chương này trình bày phương pháp tập luyện gần giống như môn BátÐoạn Cẩm và Dịch Cân Kinh sau này
3 NGUỒN GỐC CỦA KIẾM THUẬT
Môn đánh kiếm rất tiện lợi trong võ nghệ thời xưa Những võ khí như qua, can,mâu, kích dùng trong chiến trận Các lối đâm, chém, lui, tiến đều phải theo mệnhlệnh, không thể nhảy nhót mau lẹ theo ý muốn của mình, chỉ có kiếm là có thể tunghoành theo ý riêng Nếu tập luyện thuần thục thì có thể tự vệ một cách linh động nênmôn này ngày càng xảo diệu, vì vậy Hạng Võ nói :
– Có thể dùng kiếm địch với một người.
Ðời Xuân Thu Chiến quốc thuật đánh kiếm đã phổ biến cả phương Nam lẫn
phương Bắc Trung Hoa Sách Ngô Việt Xuân Thu chép chuyện "Viên Công Việt Nữ"
tuy gần với thần thoại, nhưng cũng đủ chứng minh rằng môn kiếm thuật rất thịnh ởphía Nam nước Tàu
Truyện Kinh Kha trong sử ký chép :
Kha bàn về kiếm thuật trái ý Nhiếp Cái Về sau Kha đâm không trúng Tần ThủyHoàng, Lỗ Câu Tiễn có nói :
– Tiếc thay không tinh luyện môn kiếm thuật.
Như vậy kiếm thuật cũng thông dụng ở phương Bắc nước Tàu
Ðến cuối đời Hán, thuật đánh kiếm vẫn còn thịnh, sách Ðiển Luận của Tào Phi có
chép : kiếm pháp ở bốn phương đều khác nhau, duy chỉ ở Kinh sư là hay nhất.
Trong đời vua Hoàn Ðế, Linh Ðế có quan Hổ Bôn là Vương Việt giỏi kiếm thuật,nổi tiếng ở kinh sư Người ở Hà Nam là Sử A theo học với Việt, cũng giỏi môn này
Quan Phân Úy tướng quân nhà Ngụy là Ðặng Triển có thể tay không đoạt đượcđao, kiếm Tào Phi lúc trẻ cũng giỏi màn đánh song kích, thường tự cho là vô địch
Như vậy môn kiếm đến đời Tam Quốc lại thành môn tay không đoạt kiếm, cùng
Trang 6những loại đánh song kích, đơn kích và kiếm pháp Về sau các môn binh khí đều bắtnguồn từ kiếm thuật.
Sách Kỹ hiệu tân thư của Thích Kế Quang cho rằng các môn chỉa ba, côn,
thương, yển nguyệt đao, câu liêm đều phát nguyên từ kiếm thuật
(Sách xưa có chép lại sự chế tạo kiếm rất tinh vi Ngày nay những vùng Giang Tô,Long Tuyền, Chiết Giang và Tô Châu còn lưu lại những cổ tích có liên quan đến sựluyện kiếm Ngày trước cổ nhân chẳng những giỏi về kiếm thuật mà còn giỏi về cáchluyện kiếm Tương truyền đời xưa có những thanh kiếm nổi danh như : Long Tuyền,Thái A, Tử Hồng, Ngư Trường và hai thanh kiếm thư hùng Mạc Gia và Can Tương lạicàng nổi tiếng hơn, chế tạo rất tinh vi được gọi là thần kiếm Như vaềy có thể thấyđược sự quý báu và thông dụng của kiếm thuật lúc bấy giờ)
4 PHÂN TÍCH CÁC PHÁI VÕ CẬN KIM THỜI ÐẠI
Các môn thủ bác, giốc để, đạo dẫn, kiếm thuật dần dần hòa hợp với nhau thành
ra quyền thuật cận đại Môn phái về quyền thuật khác nhau nhưng đều có những ưu
điểm Các môn Thái Cực, Bát Quái, Hình Ý của Nam phái chịu ảnh hưởng thuật đạo dẫn ; các môn Thiếu Lâm, Ðàn Thoái, Hành Quyền, Ðoản Ðả, Ðịa Ðường của Bắc phái chịu ảnh hưởng của thuật thủ bác Môn đô vật chịu ảnh hưởng của thuật giốc để Các phương pháp dùng võ khí chịu ảnh hưởng của kiếm thuật và thủ bác,
dung hợp rồi biến hóa ra vậy
(Những điều nhận xét trên là căn cứ vào sách xưa có giá trị có thể tin được nên đưa
ra để suy luận Còn những truyền thuyết hoang đường về võ nghệ thì không đề cậpđến)
CHƯƠNG HAI
Trang 7NHỮNG ÐIỂM KHÁC NHAU CỦA VÕ THUẬT
Võ thuật Trung quốc ít khi được ghi chép đúng sự thật mà chỉ căn cứ vào nhữngtruyền thuyết Vì vậy một chuyện lại có nhiều thuyết khác nhau, một tên mà có nhiềulối giải thích Vì thời gian qua đã lâu, khó biết được chỗ nào đúng, chỗ nào sai Nhân
đó chúng tôi mới viết chương khảo dị này để ghi lại những thuyết khác nhau ấy
1 NHỮNG THUYẾT KHÁC NHAU VỀ MÔN ÐÀN THOÁI
Ðàn thoái còn gọi là Ðàm thoái Nguồn gốc của phái nầy đến đây chưa thể khảo
cứu được Những người gọi môn này là Ðàm thoái thì cho rằng nó được một nhà sư ở
chùa Long Ðàm tại sơn lâm truyền lại Một thuyết khác lập luận sở dĩ gọi là Ðàm thoái
vì người sáng tạo ra môn võ này vốn họ Ðàm ờ tại Hà Nam Còn gọi là Ðàn thoái thìcho rằng lúc đá chân phát lực ra thế mạnh như đạn bắn
2 KHẢO DỊ VỀ MÔN TRA QUYỀN
Tra quyền còn gọi là Xoa quyền Hai âm "tra" và "xoa" gần như nhau Có lẽ môn
Tra quyền thường dùng xoa chưởng, xoa bộ, rồi từ chỗ thường dùng mà môn võ nàymang tên là Xoa quyền chăng ? Còn gọi là Tra quyền có lẽ môn này được một người
họ Tra sáng tạo ra ?
3 KHẢO LUẬN VỀ NHỮNG THUYẾT KHÁC NHAU CỦA MÔN TRƯỜNG QUYỀN
Gần đây, người ta gọi Trường quyền tức là những môn quyền thuật ở phương Bắc
Trung Quốc chuyên bôn trì, tiến thoái mau chóng Sách Kỷ Hiệu Tân Thư của Thích
Kế Quang gọi Thái tổ Trường quyền, thất thập nhị hành quyền của nhà họ Ôn đềuthuộc loại này Ðó là sự khác nhau giữa Trường quyền và Ðoản đả Nhưng chúng tôi
từng thấy bản sao sách Thái cực quyền luận có chép : "Sở dĩ gọi là trường quyền bởi
quyền pháp như Trường giang, Ðại hà, thao thao bất tuyệt" Trong chương thứ năm
sách Thái cực quyền thế độ giải của Hứa Vũ Sinh có chép :
Ðời Ðường, Hứa Tuyên Bình còn truyền lại môn Thái cực quyền thuật còn gọi là tam thế thất, bởi vì chỉ có 37 thế mà nổi tiếng Phương pháp dạy từng thế một để cho người học tập thuần thục rồi mới chỉ thêm một thế khác, không xác định quyền
lộ, sau khi thành công, các thế tự hỗ tương liên quán, tương kế bất đoạn (nối nhau không đứt) Vì vậy còn gọi là Trường quyền.
Cũng sách ấy chép :
Họ Du có truyền môn Thái cực quyền, gọi là Tiên thiên quyền, còn gọi là Trường
Trang 8Ðó là một lối giải thích về hai chữ Trường quyền Trường quyền còn là danh từ
chuyên môn để chỉ về một loại quyền thuật như sách Kỷ Hiệu Tân Thư có chép :
Tống Thái tổ dạy môn Trường quyền Thế thì Trường quyền gồm có ba nghĩa khác
nhau
4 KHẢO LUẬN VỀ NHỮNG Ý NGHĨA KHÁC NHAU CỦA NAM PHÁI
Ngày nay cho rằng quyền thuật lưu hành ở vùng Trường giang tư thế gọn và kínđáo nên gọi là Nam quyền, còn gọi là Nam phái Quyền thuật lưu hành vùng SơnÐông, Hà Bắc, tư thế rộng và không kín gọi là Bắc quyền hay còn gọi là Bắc phái.Như vậy gọi Nam phái và Bắc phái là người ta dựa theo từng khu vực có những loạiquyền thuật lưu hành mà nói Ðiều ấy cũng có lý
Nhưng căn cứ vào nguyên nhân gọi quyền thuật là Nam phái hay Bắc phái thì Namphái chỉ những môn Thái cực, Bát quái chuộng về nhu Các phái này tuy có nhữngthế đánh địch thủ, nhưng chịu ảnh hưởng của thuật đạo dẫn ngày xưa
Danh từ Bắc phái dùng để chỉ những môn như Trường quyền, Ðoản đả, chuộng vềcương mãnh tuy cũng dùng để đả thông kinh mạch trong thân thể, nhưng mục đích làdùng để chế ngự địch thủ Nếu theo phái biệt của quyền thuật mà xét thì võ ngày nay
ở vùng Trường giang tức là môn Ðoản đả trong Bắc phái vậy
5 NHỮNG GIẢI THÍCH KHÁC NHAU VỀ NỘI GIA VÀ NGOẠI GIA
Danh từ Nội gia và Ngoại gia trong quyền thuật bắt đầu có từ Hoàng Tông Hy viết bài : "Vương Chinh Nam mộ chí minh" trong văn tập Nam Lôi Trước họ Hoàng, các
sách võ của Thích Kế Quang, Trình Xung Ðẩu đều không có danh từ này Theo lời họ
Hoàng : Quyền thuật phái Thiếu Lâm nổi tiếng trong thiên hạ, nhưng chủ yếu là đánh kẻ địch, kẻ địch cũng nhân đó mà tìm cách đánh lại.
Còn gọi Nội gia tức là lấy tĩnh chế động, kẻ phạm vào ta lập tức ngã ngay Vì vậy
võ của phái Thiếu Lâm cũng thuộc vào hàng Ngoại gia
Như vậy Nội gia chủ về tĩnh, còn Ngoại gia chủ về động Cho nên Nội gia và
Ngoại gia còn dùng để chỉ nội công và ngoại công
Sách Thiếu Lâm quyền thuật bí quyết có nói :
Trang 9Từ đời Minh (1368-1436) về sau bàn luận về võ nghệ mới chia làm hai phái Nội gia và Ngoại gia Tại sao gọi là Nội gia ? Tức là tiếng phổ thông để chỉ những kẻ sống trong cõi trần này như trong nhà Ngoại gia là chỉ những người sa môn, tu theo đạo giáo để phân biệt với người trần tục Giống như nhà Phật gọi người tại gia
và xuất gia vậy.
Ðó cũng là một thuyết về Nội gia và Ngoại gia Nhưng thuyết của Hoàng Tông Hytương đối xưa hơn, có thể đúng với nghĩa lúc ban đầu
6 KHẢO CỨU SỰ KHÁC NHAU CỦA MÔN BÁT ÐOẠN CẨM
Khi bàn về môn Bát đoạn cẩm, Triều Công Vũ có viết trong Quận Trai độc thư chí như sau :
Một quyển sách bát đoạn cẩm không đề tên người soạn, chép về các thuật thổ cố nạp tân (thở hơi cũ, hít hơi mới).
Ngày nay có hai loại Bát đoạn cẩm : một loại có 8 thức thường tập theo thế kỵ mã.Một loại nữa chia thành 3 phần, tất cả 24 thức, khi tập luyện thường đứng thẳng Loạithứ nhất chỉ tập luyện về gân sức Loại thứ hai là hít khí vào và tưởng tượng khí thôngsuốt đến đầu ngón tay Loại một tương truyền do Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi) sáng chế.Loại hai là do Thanh Lai chân nhân truyền
Lại có lối ngồi mà tập luyện gọi là Văn bát đoạn, còn có tên là Thập nhị đoạn
cẩm ở torng có ghi những động tác như "Tả hữu minh thiên cổ", "Tưởng hỏa thiêu tếluân", "Bối hậu ma tinh môn" Càng gần với phép đạo dẫn, cùng với những điều ghi
chép trong sách Di tiên chí của Lý Tự Củ có nhiều điểm đại đồng Lối này rất gần với
cổ pháp Riêng loại Bát đoạn cẩm của họ Triều không thuộc về loại này
7 KHẢO CỨU VỀ SỰ TÍCH CỦA HỒNG KỶ VÀ TRƯƠNG TÙNG KHÊ
Trong sách Thiếu Lâm côn pháp xiển tông của Trình Xung Ðẩu có chép : Ông
theo các nhà sư Thiếu Lâm tập côn pháp Trong văn tập của Lục Phu Ðình (quyển
6), chuyện "Thạch Kính Nham" có viết :
Khi Thẩm Thụy Trinh đóng quán ở Thái thương chiêu mộ những thầy giỏi võ vùng Ðông nam để luyện tập cho quân sĩ Kính Nham nhận lời mời đến dạy Ðồng thời cũng có nhiều người đến dạy như Tào Lan Ðình, Triệu Anh cùng với các nhà sư Thiếu Lâm như Hồng Kỷ, Hồng Tín.
Như vậy nhà sư Hồng Kỷ ở đây và nhà sư Hồng Kỷ dạy côn pháp cho Trình Xung
Trang 10Ðẩu có phải là một hay không ?
Sách Ninh ba phủ chí chép : Trương Tùng Khê người đất Cẩn theo học với Tôn
Thập tam lão nhưng Hoàng Tông Hy không nói đến điều đó Họ Hoàng lại cho rằng
Tùng Khê vốn người ở Hải Diêm, như vậy, khác với điều chép trong Ninh ba phủ chí Các điều chép trong sách Thiếu Lâm quyền thuật bí quyết (xem chương Tồn Nghi) lại khác nữa Không rõ thuyết nào đúng Nhưng sách Thiếu Lâm quyền thuật
bí quyết ra đời sau này còn Ninh ba phủ chí tương đối gần sự thực hơn bởi vì do
người đồng hương của Tùng Khê viết theo học với Tôn Thập tam lão, điều này sách
Ninh ba phủ chí bổ khuyết cho sự thiếu sót của họ Hoàng Còn việc Tùng Khê có
phải là người ở Hải Diêm hay không là do Hoàng Tông Hy Vì họ Hoàng là học trò củaVương Chính Nam, Chính Nam là đệ tử đời thứ ba của Trương Tùng Khê
CHƯƠNG BA
Trang 11BIỆN LUẬN VỀ NHỮNG SAI LẦM
Võ thuật Trung hoa có rất nhiều truyền thuyết sai lầm mà các điều ghi chép trongsách vở cũng có nhiều sự vay mượn ngụy tạo Sai lầm từ đời này nối tiếp đời kia,không phải chỉ một sớm một chiều Nay biện minh như sau để hy vọng thay đổinhững chỗ sai lạc Những chỗ cũ chính chỉ đưa ra những nét đại cương, những chỗ ythác (dựa vào đó mà thêm thắc vào) không liên quan đến đại thể cũng không đề cậpđến (như người ta cho rằng môn kích được truyền từ Lữ Bố hay Tiết Nhơn Quí,thương được truyền từ Triệu Vân, Trương Phi )
1 SỰ GIẢ MẠO VỀ YẾU LUẬN CỦA HÌNH Ý QUYỀN
Các nhà quyền thuật phái Hình Ý cho rằng môn này được truyền từ Nhạc Phi.Chuyện này do sự vay mượn mà có Các nhà quyền thuật phái này mượn danh họNhạc để tăng thêm giá trị cho môn phái Chúng tôi từng có bài : "Bạt Nhạc Phi thị
Hình ý quyền yếu luận" rằng : "Lý Kiếm Thu soạn sách Hình ý quyền sơ bộ cuối cùng
có phụ mười thiên về "Nhạc Võ Mục" Sách Hình ý quyền học yếu luận viết là cuốn
sách này do Trịnh Liêm Phố ở Tế Xương tìm được Theo chúng tôi xem về văn thể
của bài này toàn theo khí cách của thể văn "bát tỷ" (là một thể văn biền ngẫu, giống
bát cổ gồm có 8 đoạn) Thể văn "bát tỷ" không thấy Nhạc Vũ Mục viết đến bao giờ.Những người học võ thường ít hiểu văn chương nên không nghi ngờ Còn người họcvăn xem qua biết ngay là do người đời sau mượn danh Nhạc Vũ Mục mà viết ra yếuluận về Hình ý quyền
Yếu luận đã không phải do Nhạc Vũ Mục viết thì môn Hình ý quyền có phải do
Vũ Mục truyền lại hay không ? Ðó là một điểm đáng nghi ngờ
2 DỊCH CÂN KINH, TẨY TỦY KINH KHÔNG PHẢI CỦA ÐẠT MA ÐẠI SƯ
Nghiên cứu tường tận về quyền thuật của Thiếu lâm tự cũng không biết môn võnày được sáng tạo vào lúc nào Theo những điều ghi chép trong sử thì võ Thiếu lâm
có từ đời nhà Ðường (618-713) Nhưng nguồn gốc về quyền thuật và sự truyền dạy võnghệ trong chùa Thiếu lâm thì mãi đến đời Minh (1368-1436) mới có thể khảo chứngđược Vì truyền thuyết cho rằng Ðạt Ma thiền sư sáng tạo ra võ Thiếu lâm nên nhiềungười hiếu sự lại soạn thêm sách Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh để làm cho thuyết nàyđúng sự thực hơn Trong bài "khảo chứng về Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh" tôi cónói :
Hai sách này do người đời Minh hoặc đời Thanh làm ra, nhưng lại thác danh là
do Ðạt Ma thiền sư soạn.
Trang 12Chúng tôi xin đưa ra những chứng minh :
a Sự giả tạo trong bài văn tựa của Lý Tĩnh :
Trong bài văn tựa của Lý Tĩnh viết ở sách Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh, phần cuối cùng có ghi Lý Tĩnh Dược Sư phủ tự Nhưng theo truyện "Lý Tĩnh" trong Cựu đường thư thì Dược Sư nguyên là tên của Lý Tĩnh Tên "Tĩnh" là mới cải lại sau này.
Thế mà trong sách ấy lấy hai chữ Dược Sư làm tên tự của Lý Tĩnh tức là ngụy tạo
Trong bài tựa còn nói : Cù Nhiêm dạy lại cho tôi (tôi tức là Lý Tĩnh) và chuyện "Cù
Nhiêm khách" được viết ra vào đời Ngũ Ðại (từ 907 đến 960 gồm : Hậu Lương, HậuÐường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu) do Ðỗ Quang Ðình soạn đó là một điều ngụy
tạo nữa Cuối bài tựa này còn viết bài tựa soạn ra năm Trinh Quán thứ 2 vào tháng
3 Khảo cứu trong sách Ðường Thư thì tháng 3 năm Trinh Quán thứ 2, Lý Tĩnh đang
làm quan Nội Ðạo Hành Quân Ðại Tổng Quản để chống nhau với bộ lạc Tiết Diên
Ðà Như vậy chính là lúc Lý Tĩnh đang lập công, thế mà bài tựa lại nói lúc này LýTĩnh đã "công thành thân thoái", sai với thực tế Ðó là một điều ngụy tạo nữa
b Bài tựa của Ngưu Cao cũng giả tạo
Trong bài tựa này có câu : Ngựa đất qua sông không phải là sự thực chép trong
chính sử mà là chuyện bịa đặt trong tiểu thuyết Ðó là một điều ngụy tạo Cũng trong
bài tựa này viết : soạn ra vào năm Thiệu Hưng thứ 12 cất ở vách núi đá tại Tung Sơn Nhưng năm Thiệu Hưng thứ 11, nhà Tống đã nhường đất Hà Nam cho nước Kim
(1441) Ngưu Cao làm sao có thể đem bài tựa cất dấu ở Tung Sơn ? Vã lại nếu saingười đi dấu sách thì hà tất phải dấu ở đất của nước Kim, đó là một điều ngụy tạo nữa(Tung Sơn là tên dãy núi chạy dài trên vùng đất của ba tỉnh Phúc Kiến, Hồ Nam vàGiang Tây Hai ngọn núi lớn nhất của dãy Tung Sơn là Thiếu Thất sơn và Thái Thấtsơn nằm trên phần đất Tuyền Châu thuộc hai huyện Ðăng Phong và Tân Mật) Các bàitựa trên đều là ngụy tác, như vậy bài tựa cho rằng Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinhtruyền từ Ðạt Ma cũng không đủ tin
Hơn nữa Ðạt Ma thiền sư mở đầu môn Thiền tông vốn dùng tĩnh tọa để chứng ngộ,không dùng văn tự để nói đến yếu chỉ môn này Ngài truyền cho Tuệ Khả thiền sư chỉ
nói rằng : Lăng Già bốn quyển có thể làm tâm ấn Nếu Ðạt Ma có Dịch cân kinh, Tẩy
tủy kinh, tại sao không nói một lượt với kinh Lăng Già ? Há rằng Dịch cân kinh cònxảo diệu hơn kinh Lăng Già hay sao ? Ðó là một chứng cớ về sự ngụy tạo vậy ?
Những chứng cớ trên đủ thấy sự ngụy tạo sách Việc làm sách giả vào cuối đời
Minh đầu đời Thanh (1436) thì thật nhiều Sách Kỹ hiệu tân thư của Thích Kế
Quang chép :
Các nhà quyền thuật xưa nay cho rằng Tống Thái tổ có 32 thế Trường quyền (tức Triệu Khuôn Dẫn, đồ đệ của Ðạt Ma trên đất Trung Hoa vào lúc nhà Ðường sắp
Trang 13suy tàn) lại có Lục bộ quyền, Hầu quyền, Hoá quyền Ngày nay nhà họ Ôn có 72 thế Hành quyền, 36 thế Hợp tỏa còn về côn pháp thì hay nhất là phái Thiếu Lâm, võ phái ở Thanh Ðiền, thương pháp thì có nhà họ Dương đều nổi tiếng.
Họ Thích đưa ra những ưu điểm về quyền thuật và khí giới, ca tụng côn pháp củaThiếu Lâm mà không khen ngợi quyền thuật của phái này Thích Kế Quang sống vàođời Minh Gia Tĩnh, Vạn Lịch (Năm 1566 Thích Kế Quang cùng với Dũ Ðại Du dẹptan giặc Nụy Khấu tức bọn cướp biển người Nhật sống ven miền duyên hải TrungHoa) Như vậy thấy rằng lúc ấy quyền thuật Thiếu Lâm không hơn được quyền thuật
các phái khác Ðời Minh, niên hiệu Vạn Lịch, Trình Xung Ðẩu viết sách Thiếu Lâm côn pháp có đoạn nói :
Thích Kế Quang ở lâu trong quân đội, rất thông thạo nghề võ Nếu quyền phápThiếu Lâm đã nổi tiếng lúc bấy giờ thì tại sao khi luận về cái hay của quyền thuật cácphái, họ Thích lại không đề cập đến quyền thuật của Thiếu Lâm ? Trình Xung Ðẩusống đồng thời với Thích Kế Quang, lại vốn học võ ở chùa Thiếu Lâm, cho nênnhững điều ông ấy nói đúng với sự thật : lúc bấy giờ quyền thuật Thiếu Lâm chưathịnh hành Như vậy đời Vạn Lịch nhà Minh, quyền thuật Thiếu Lâm chưa được người
ta coi trọng Thế thì quyền thuật Thiếu Lâm nổi tiếng phải sau đời Vạn Lịch 1621) Người soạn sách Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh phải sống sau đời Vạn Lịch,nhưng mượn danh của Ðạt Ma để tăng thêm giá trị của sách mình soạn Sách này đượcsoạn ra lúc quyền thuật Thiếu Lâm được thịnh hành sau đời Vạn Lịch vậy
(1573-Hơn nữa, đời Minh có phong trào làm giả sách cổ : Phong Phường làm giả sách
Thi truyện của Tử Cống, Thân Bồi làm giả sách Thi thuyết, Dương Thận làm giả sách Tạp sự bí tân rồi gọi tác giả là Vô danh thị đời Hán Như vậy việc ngụy tạo
Dịch cân kinh, Tẩy tủy kinh cũng do phong trào ấy mà ra
3 NHỮNG SỰ SAI LẦM VỀ YẾU QUYẾT BÍ TRUYỀN CỦA QUYỀN THUẬT THIẾU LÂM
Trang 14Sách Thiếu lâm quyền thuật bí quyết có nói về sư pháp của quyền thuật phái này
hình như tập hợp các thuyết của các môn phái khác mà chưa đi đến chỗ chiết trung, vìvậy thuyết lý có nhiều chỗ mâu thuẫn nhau Lời bạt về sách nầy chúng tôi đã từng viết:
Trong phần "Ngũ yếu thuyết" của sách này có nói : Thuật pháp của phái Thiếu Lâm tuy sáng tạo từ Ðạt Ma, nhưng phát triển, biến hóa cho đến chỗ đại thành là
do Viễn Tính thiền sư (Viễn Tính sinh vào cuối đời nhà Minh có sáng chế ra lối đánh
kiếm và 10 quy ước của phái Thiếu Lâm) Trong phần quy ước của phái Thiếu Lâm lại
nói : Giác Viễn thượng nhân trùng lập giới ước Hai chỗ ấy mâu thuẫn nhau Như thế
thì Giác Viễn và Viễn Tính là một người hay sao ? Hay là hai người Nếu là một ngườithì tại sao trong phần chú thích của thiên "Quyền pháp lịch sử dữ chân truyền" có ghi :
Giác Viễn sống khoảng đời Kim hoặc đời Nguyên Xét về thiên "môn phái Thiếu Lâm thay đổi vào đời Minh" thì : trong niên hiệu Sùng Trinh, Thái Cửu Nghi là đệ tử của Nhất Quán Thế mà trong thiên "Sư pháp của Nam Bắc phái" lại ghi : Nhất Quán là
đệ tử của Giác Viễn.
Như vậy, không cần biết Giác Viễn là người thế nào, cũng không phải sinh vàokhoảng đời nhà Kim (1115-1234) hoặc đời nhà Nguyên (1279-1368) Nếu nói rằng ôngsinh vào cuối đời Minh thì mới hợp lý Có lẽ dưới đời Minh có một nhà sư lập ra 10điều răn để mở rộng môn phái võ thuật Thiếu Lâm Tên vị sư ấy là gì ? Không thểkhảo cứu được và cũng không ai biết Vì vậy có người gọi vị ấy là Viễn Tính hoặc gọi
là Giác Viễn
4 TRƯƠNG TAM PHONG KHÔNG PHẢI NGƯỜI ÐỜI BẮC TỐNG
Nhà học giả đời Thanh là Hoàng Tông Hy nói : Trương Tam Phong là người đời Bắc Tống Người đời sau cho rằng thuyết này đúng nên rất tin theo, kỳ thật không
đúng Chúng tôi đã từng biện luận về bài "Mộ Chí Vương chinh Nam" của HoàngTông Hy như sau :
Trương Tam Phong là đạo sĩ ở núi Võ Ðương (núi Võ Ðương nằm giữa hai phầnđất Giang Tây và Hà Nam) Vua Huy Tông nhà Tống triệu ông nhưng vì lời lẽ của ôngkhông hợp ý nhà vua nên vua không dùng Ban đầu Trương Tam Phong (tên thật làTrương Quân Bảo) nằm mơ thấy đức Huyền Ðế dạy cho quyền pháp Ðến sáng mộtmình ông giết hơn 100 tên giặc Võ thuật của Trương tiên sinh lan tràn đến Thiểm Tây
và nổi tiếng nhất trong số các môn đồ của ông là Vương Tông
Xem ra thuyết này không đúng Mục "Phương kỹ truyện" trong Minh sử chép :
Trương Toàn Nhất tên là Quân Bảo hiệu là Tam Phong dung mạo khôi ngô, thân giống rùa, lưng giống hạc, tai to, mắt tròn, râu cứng như kích, dù trời nóng hay lạnh cũng chỉ mặt một bộ áo quần, đội một cái nón, ăn hơn một đấu gạo, mỗi ngày
Trang 15đi hơn trăm dặm Ông cùng học trò đi chơi núi Võ Ðương lập ra lều cỏ mà ở Vua Thái Tổ nhà Minh nghe tiếng, nên năm Hồng Võ thứ 14 (1382) có sai sứ đến tìm ông nhưng không gặp.
Thuyết này nếu so với thuyết của họ Hoàng tương đối gần sự thật hơn Bởi vì nămHồng Võ thứ 14 từng có việc nhà vua sai sứ giả tìm Trương Tam Phong Có lẽ vì thếngười này truyền miệng người kia nên sai lạc và cho đó là chuyện xảy ra vào đời HuyTông nhà Tống Một điều sai lạc nữa là thấy Trương Tam Phong giỏi võ nên người đờibịa đặt thêm là ông nhờ đức Huyền Ðế dạy cho võ nghệ trong giấc chiêm bao
Nếu Trương Tam Phong là người đời Huy Tông nhà Bắc Tống (960-1126) thì tạisao từ đời Nam Tống (1127-1279) đến đời Nguyên (1279-1368) không có một ai nhắcđến tên ông ? Mãi đến đời Minh các đạo sĩ mới truyền về chuyện của Trương TamPhong Do đó lời nói của Hoàng Tông Hy chỉ là một thuyết dựa theo lời truyền khẩu
mà thôi, không đủ để tin cậy
Sở dĩ người ta cho rằng Trương Tam Phong là người đời Bác Tống vì một học giả
có uy tín như Hoàng Tông Hy, lời nói của ông tất nhiên phải có giá trị
5 BÁT ÐOẠN CẨM KHÔNG PHẢI DO NHẠC VŨ MỤC SÁNG TẠO
Tục truyền thường nói : môn Bát Ðoạn Cẩm được sáng tạo bởi Nhạc Vũ Mục.
Thật ra môn này chỉ là chi nhánh của các bậc đạo gia thường tu hành theo phép đạo
dẫn trước khi Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi) ra đời Trong sách Di Kiên Chí của Hồng Mại
có chép : năm Chính Hoà thứ 7, Lý Tự Củ làm Khởi Cư Lang thường tập phép hô hấp gọi là "Trường sinh an lạc pháp" Về sau phép này biến hoá thành môn Bát đoạn
cẩm Năm Chính Hoà thứ 7 là đời vua Huy Tông nhà Tống, lúc ấy Nhạc Vũ Mục chưaxuất thế mà môn Bát Ðoạn Cẩm đã thông hành ở đời, như vậy đủ chứng minh rằngmôn này không phải do Nhạc Vũ Mục sáng tạo
6 THƯƠNG PHÁP CỦA LỤC PHU ÐÌNH KHÔNG PHẢI LÀ MAI HOA THƯƠNG
Lục Phu Ðình rất giỏi võ nghệ, người ở vùng Thái Thương đến nay còn nhắc nhở,tán thưởng Nhưng nhiều người cho rằng lọ Lục giỏi về Mai Hoa thương Chúng tôikhảo cứu thấy nhiều người cùng học võ một lượt với Lục Phu Ðình như Trần Hồ (HọTrần cũng là bậc danh Nho chuyên về Lý học ở Thái Thương) Trần Hồ có viết vềcuộc đời của Lục Phu Ðình, chỉ nói Phu Ðình theo Thạch Kính Nam học thươngpháp, không nói đến chuyện theo học võ với ai nữa Xem chuyện Thạch Kính Nam
của Phu Ðình thì Kính Nham giỏi về Lê Hoa thương pháp Như vậy từ Lê Hoa thương biến thành Mai Hoa thương là có chỗ sai lầm Gần đây, xem sách Trung Quốc thể dục sử, mục "Các nhà giỏi võ nghệ đời Thanh" của Quách Hy Phần thấy viết :
Trang 16Phu Ðình giỏi võ nghệ, lối Mai Hoa thương pháp của ông là do một nhà sư ở núiNga Mi truyền dạy.
Nếu chuyện này có thật thì tại sao Trần Hồ không chép vào phần viết về cuộc đờicủa Lục Phu Ðình ? Có lẽ Quách Hy Phần căn cứ vào truyền thuyết của nhiều ngườicho nên mới có sự nhầm lẫn ấy
CHƯƠNG BỐN
Trang 17NHỮNG VÕ PHÁI CẬN ÐẠI
Phần trước đã khảo cứu về nguồn gốc của quyền thuật, có thể coi các phương phápđánh bằng tay, đô vật, thuật hô hấp của đạo gia, kiếm thuật là đầu mối của võ thuậtcận đại Căn cứ vào sách vở để so sánh các môn phái gần đây, ta thấy có rất nhiều sựbiến thiên, nhưng có thể suy xét mà tìm ra được nguồn gốc
Từ đời Minh (1368-1660) trở về sau, các hệ phái võ thuật tương đối rõ ràng Thầy,trò nối nhau truyền thụ tinh hoa quyền thuật và võ khí có thể nhìn vào sách vở màthấu rõ Còn từ đời Minh trở về trước, nguồn gốc rất mơ hồ, phần đông chỉ căn cứ vàocác truyền thuyết mà thôi Nay lược thuật các võ phái cận đại là căn cứ vào nhữngđiều có thể tin được Những điểm nào nghi ngờ thì xếp vào phần tồn nghi Nếu chỗnào có nhiều thuyết khác nhau thì lấy thuyết nào có thể tin tưởng nhất liệt vào chươngnày
Hiện nay, gọi là quyền thuật, có thể chia thành Nam, Bắc hai phái Nguồn gốc củaNam phái bắt đầu từ Trương Tam Phong ở núi Võ Ðương, trong đó, chủ yếu là TháiCực môn, cùng với hai môn Bát Quái và Hình Ý, xếp thành một phái Chi nhánh củaBắc phái thì rất nhiều Trứ danh nhất gồm có Ðàm Thoái, Tra Quyền, Thiếu Lâm,Ðoản Ðả, Ðịa Ðường, Bát Cực, Phê Quải
Võ công của Nam phái phần nhiều nhu hòa, những người theo học đa số là vănnhân, học sĩ, phần đông có ghi chép lại những điều đã học Vì vậy nguồn gốc tươngđối minh bạch – võ công của Bắc phái tương đối cương mãnh, những người theo học
đa số là võ sĩ thô mãng, vì vậy nguồn gốc mờ mịt, khó biết được – nay theo sự tườngthuật về nguồn gốc của các môn phái ghi chép lại ở sau
1 NAM PHÁI
a Thái Cực quyền
Thái Cực quyền được sáng tạo bởi đạo sĩ ở núi Võ Ðương là Trương Tam Phong
: Họ Trương là người cuối đời Nguyên (1368) Ðầu đời Minh về sau có Vương TôngNhạc ở Thiểm Tây dạy về Thái Cực quyền Trần Châu Ðồng ở Ôn Châu theo họcmôn này với Vương Tông Nhạc
Trong niên hiệu Gia Tĩnh triều Minh (1522-1567) có Trương Tùng Khê theo họcvới ông già Tôn Thập Tam rồi dạy cho mấy người học trò Trong số ấy, nổi tiếng nhất
là Từ Minh, Diệp Kế Mỹ, Cận Tuyền
Về sau lại nhiều người giỏi Thái Cực quyền như Ngô Côn Sơn, Chu Văn Tuyền,Ðơn Tư Nam, Trần Trịnh Thạch, vv Côn Sơn lại lại dạy cho Lý Thiên Mục, Từ Ðại
Trang 18Nhạc, Thiên Mục dạy cho Dư Ba Trọng, Ngô Thất Lang, Từ Mậu Hoằng, Vân Truyềndạy cho Lư Thiệu Kỳ, Trinh Thạch dạy cho Tăng Nhĩ, Tăng Vĩ Tư Nam dạy choVương Lai Hàm, Chinh Nam Chinh Nam đem Thái Cực quyền dạy cho con của nhàhọc giả Vương Tông Hy là Bách Gia Võ nghệ của Bách Gia chưa đạt đến tuyệt đỉnh,nhưng lại đem 6 lộ quyền pháp của Chinh Nam truyền thụ, cùng với ca quyết về Thậpđoạn cẩm ra chú thích thành ra võ học về Thái Cực quyền ở phương Nam TrungQuốc.
Vương Tông Nhạc truyền thụ cho Tưởng Phát ở Hà Nam Tưởng Phát lại dạy choTrần Gia Câu, Trần Trường Hưng ở Hoài Khánh thuộc Hà Nam Trường Hưng có 2con là Cảnh tín và Kỷ Tín Dương Phúc Khôi, tự Lộ Thiền ở huyện Vĩnh Niên tỉnh HàBắc với người cùng làng là Lý Bá Khôi theo học với Trần Trường Hưng Lúc mới theohọc, các bạn đồng môn phần lớn đều họ Trần, rất kỳ thị 2 người Dương và Lý kết bạnvới nhau, hết sức nghiên cứu, luyện tập, thường suốt đêm không ngủ Trần TrườngHưng biết Phúc Khôi rất cần mẫn nên truyền hết những thế bí hiểm Phúc Khôi có 3trai, trưởng tử chết sớm, thứ tử là Ngọc, tự Ban Hầu, tam tử là Giám, tự Kiện Hầu đềuhọc được bí truyền của cha Kiện Hầu có người con là Triệu Thanh, tự Trừng Phốcũng nối được nghiệp nhà Lại có người ở Bắc Bình, có 3 học trò giỏi là Vạn Xuân,Lăng Sơn, Toàn Hựu Về sau, 3 người lại theo lời của Phúc Khôi, theo học với BanHầu Vì vậy ở Bắc Bình có môn Thái Cực quyền của nhà họ Dương
Trong niên hiệu Ðạo Hàm nhà Thanh có người ở Quảng Bình là Vũ Võ Nhượngnghe nói ở Hà Nam có Triệu Bảo Trấn, Trần Thanh Bình giỏi Thái Cực quyền, bènđến xin học Về sau truyền cho Hách Vi Chân, Vi Chân dạy cho Tôn Phúc Toàn PhúcToàn người ở Hà Bắc, tự Lộc Ðường rất nổi tiếng là giỏi Thái Cực quyền Ðệ tử theo
học rất đông, ông lại soạn sách Thái Cực quyền học Vì vậy, ở Bắc Bình lại có môn
Thái Cực quyền của họ Tôn
b Bát Quái quyền, còn gọi Bát Quái chưởng
Tôn Lộc Ðường viết :
Trong "Du Thân Bát Quái Liên Hoàn chưởng" có chứa 18 đường La Hán quyền, gồm 72 tiệt thoái, 72 ám cước, đến như các môn điểm huyệt, kiếm thuật và các món
võ khí cũng chứa đựng trong Bát Quái quyền.
Bát Quái quyền không rõ do ai sáng chế và xuất hiện vào đời nào Tục truyền cóngười tên Ðổng Hải Xuyên, gặp được một dị nhân ở vùng An Huy mà học được mônnày Ðệ tử của họ Ðổng có Trình Ðình Hoa, Lý Tồn Nghĩa, Doãn Phúc, Mã Duy Kỳ,Ngụy Cát, Tống Vĩnh Tường, Lý Văn Báo, Triệu Văn Long, Trình Ðình Hoa dạy choTôn Lộc Ðường Môn Bát Quái của họ Trình rất nổi tiếng ở Bắc Phương Biến cố nămCanh Tý (năm 1900), họ Trịnh bị người Ðức giết Người con là Hữu Long cũng nối
được nghiệp nhà Trong số đệ tử, giỏi nhất là Tôn Lộc Ðường có soạn sách Bát Quái
Trang 19quyền học.
c Có phải Hình Ý môn do Nhạc Phi sáng tạo từ đời Tống ?
Xem dụng ý của môn này thì cùng nguồn gốc với Thái Cực quyền Trong khoảngcuối đời Minh, đầu đời Thanh (1660) có người ở Bồ Ðông là Cơ Tế Khả, tự là LongPhong dạy môn này cho Tào Kế Vũ Họ Tào thi võ đời Khang Hy, đỗ đầu cả 3 lần làmThiểm Tây Tĩnh Viễn Tổng Trấn Tào Kế Vũ dạy cho Cơ Thọ và người ở Lạc Dương
là Mã Học Lễ Trong niên hiệu Hàm Phong, có người ở Kỳ Huyện là Ðới Long Bangcùng em là Lăng Bang theo học với họ Mã được bí truyền, nổi tiếng ở vùng Sơn Hữu.Người ở Thâm Châu là Lý Năng đến đất Tấn, nghe danh họ Ðới, đến xin học Suốt 9năm, công phu thành tựu Từ đó ở Hà Bắc mới có môn Hình Ý quyền Lý Năng dạycho người ở hà Bắc là Lưu Kỳ Lan, Quách Văn Thâm, Tống Thế Vinh, người ở SơnTây là Xa Nghị Tề, người ở Giang Tô là Bạch Tây Viên Ðệ tử của Lưu Kỳ Lan là LýTồn Nghĩa, Cảnh Kế Thiện, Triệu Chấn Tiêu, Chu Minh Thái Ðệ tử của Quách VănThâm là Lý Khôi Nguyên, Lưu Dũng Kỳ Lý Khôi Nguyên dạy cho Tôn Lộc Ðường
Lộc Ðường viết quyển Hình Ý quyền học Lý Tồn Nghĩa dạy cho Thượng Văn
Tường, Hách Ân Quang, Lý Vân Sơn Con của Vân Sơn là Kiếm Thu cũng viết sách
Hình Ý quyền học sơ bộ.
Như vậy bảo rằng Hình Ý quyền do Nhạc Vũ Mục sáng tạo từ đời Tống là khôngđúng
2 BẮC PHÁI
a Môn phái Ðàn Thoái
Ðàn thoái còn gọi là Ðàm thoái là một môn quyền thuật rất nổi tiếng trong Bắcphái Các tư thế của các nhà chuyên về Ðàn thoái thường có nhiều chỗ giống nhau, có
thể tạm chia thành hai chi nhánh chính : Một nhánh võ gồm có 12 lộ, một chi nhánh gồm có 10 lộ Những người theo học 12 lộ thường gọi là Ðàm thoái Từ khi người ở
Hà Bắc là Hoắc Nguyên Giáp xuống phương Nam, sáng lập Tinh Võ Hội ở ThượngHải, người phương Nam theo học môn nầy rất đông Trong Tinh Võ Hội dạy Ðàmthoái làm căn bản Những người hội viên của Tinh Võ Hội không ai là không tập môn
này Những người theo học 10 lộ thường gọi môn này là Ðàn thoái, và cho rằng môn
này được truyền bởi Hồi giáo Phái nầy rất thịnh hành ở tỉnh Sơn Ðông Nhiều người
ở Hà Nam cũng theo học Những người trong Hồi giáo tập luyện quyền thuật, có đến
7, 8 người theo học môn này 10 lộ Ðàm thoái và Tra quyền rất được những ngườitrong Hồi giáo tán thưởng và chuyên tập Người giỏi nhất về môn này là Mã VĩnhTrinh nổi tiếng mạnh nhất Thượng Hải trong mấy chục năm về trước Nhưng họ Mãkhông có học trò ở phương Nam Trung Hoa, mấy chục năm về trước, các võ sư thuộcphái Tra quyền là Dương Phụng Chân, Trương Học Sinh được mời dạy võ tại dinh của
Trang 20quan trấn thủ đất Tế Nam Về sau, học trò của Học Sinh là Vu Chấn Thanh được mờidạy võ ở trường Cao Ðẳng Sư Phạm tại Nam Kinh Sau đó, Dương Phụng Chân cũngđược mời xuống dạy võ ở Trung Hoa Vũ Thuật Hội tại Thượng Hải Bạn đồng môncủa Vu Chấn Thanh là Mã Cẩm Tiêu dạy quyền thuật ở trường Ðệ ngũ tỉnh lập ởGiang Tô Lại có người Hà Nam là Hà Thế Xương, tự là Ngọc Sơn cùng dạy Tra quyền
ở Trung Hoa Võ Thuật hội tại Thượng Hải Họ Hà mất năm Dân quốc thứ 16, thọ 86tuổi là bạn thân của Mã Vĩnh Trinh Lại có người ở Sơn Ðông là Mã Vĩnh Thắng theohọc Tra quyền với Tưởng Văn Anh và 10 lộ Ðàn thoái của Hồi giáo Mã Vĩnh Thắng
dạy võ tại trường Công nghiệp chuyên môn học hiệu tại Giang Tô Từ đó Ðàn thoái
và Tra quyền được phổ biến ở vùng Giang Nam.
b Tra quyền
Còn gọi là Xoa quyền, không biết được sáng tạo từ đời nào Theo những võ sư của
môn này thì Tra quyền cùng một gốc với 10 lộ Ðàn thoái đều được truyền từ Tây vực Theo sách Kỷ hiệu tân thư quyền kinh của Thích Kế Quang thì nhà họ Ôn có
72 đường Hành quyền, cùng một dụng ý như Tra quyền Môn võ nầy chuyên luyện tiến thối nhanh nhẹn Như vậy, có thể xem Tra quyền và Ðàn thoái cùng nguồn gốc
vậy
c Thiếu lâm
Phái này được xem là lĩnh tụ của võ thuật Trung Quốc Thực ra, quyền thuật củaphái Thiếu lâm chỉ nổi tiếng từ trung diệp đời Minh trở về sau Ðầu đời nhà Thanh,quyền thuật Thiếu lâm đi đến chỗ cực thịnh
Trong niên hiệu Vạn lịch nhà Minh, các nhà sư Hồng Kỷ, Hồng Tín theo lời mờicủa Thẩm Tụy Trình ở Bình Hồ, đến Thái Thương dạy võ cho binh sĩ Ðến khi nhàMinh mất, các bậc cố lão, di dân cùng những người thuộc tông thất nhà Minh trốn vàochùa Thiếu lâm, gắng sức học tập võ nghệ, để mưu việc khôi phục đất nước
d Bát phiên
Còn gọi là Phiên tử môn Theo sách Kỷ hiệu tân thư của Thích Kế Quang thì
ngày xưa có môn "Bát Thiển Phiên" tức là quyền thuật của phái này, rất phổ biến vàođời nhà Minh Ngày nay, tại Hà Bắc có Trần Tử Chính nổi tiếng về môn này, ông códạy võ tại Tinh Võ Hội
e Trường quyền môn
Còn gọi là Thái Tổ môn lưu hành từ đời Minh (1368-1660) Trong sách Quyền kinh của họ Thích có nói :
Trang 21Tống Thái Tổ có 32 thế Trường Quyền Và : Trường quyền được nổi tiếng từ Tống Thái Tổ.
Như vậy nguồn gốc của môn nầy rất xưa Gần đây có người ở Nhật Chiếu, tỉnh SơnÐông là Lương Ðức Khôi nổi tiếng về Trường Quyền
g Mê Tung môn
Mê Tung môn là môn võ gia truyền của nhà họ Hoắc, đến đời Hoắc Nguyên Giáp
đã truyền được 7 thế hệ Tinh Võ Hội ở Thượng Hải là do Hoắc Nguyên Giáp sáng lập,
nhưng nay, quyền thuật chính được dạy ở Tinh Võ Hội là Nhị Lang môn do Triệu
Chân Quần truyền thụ
Vì vậy mới gọi Biên Trừng và người ở Kim Hoa là Miên Chương đến kinh đô Kiều
Vũ cùng Giang Bân đến diễn võ trường xem tỉ thí Quân phương Bắc múa song đao như đạn xẹt, Biên Trừng vung côn ra đánh, song đao đều gảy.
Xem như vậy thì Miên Chương và Biên Trừng là người cùng thời với nhau, đềuthuộc vào trung diệp nhà Minh
Ðến nay, những người theo học Trường quyền đều tập thêm về Ðoản đả Trong
môn Ðàm thoái cũng có 6 lộ Ðoản đả Những người ở vùng Giang Nam chuyên tập vềÐoản đả
i Ðịa đường môn
Theo sách Quyền kinh của Thích Kế Quang thì Thiên Trật Trương là tổ môn võ này Ngày nay, Ðịa đường môn phổ biến ở phương Bắc Trung Hoa, thường dùng
những đòn của Trường quyền làm căn bản Ngược lại, ở vùng Giang Nam lại dùngnhững đòn của Ðoản đả làm căn bản Môn "Túy bát tiên" rất được xem trọng trongphái Ðịa đường Gần đây, ở Hà Bắc có Trương Cảnh Phúc, tự là Giới Thần nổi tiếng vềÐịa đường môn, từng dạy võ ở Trung Hoa thể dục hội tại Thượng Hải
k Phê quải và Bát cực
Hai môn quyền thuật này không biết có từ đời nào và do ai sáng tạo Môn võ Bát
Trang 22cực hơi có vẻ chậm chạp còn Phê quải môn thì hoạt bát mà hữu dụng, tương đối có
nhiều tính chất mềm dẽo nhất trong các loại quyền cương mãnh của Bắc phái
3 ÐÔ VẬT
Môn này có từ đời thượng cổ của Trung Quốc Ðời Minh, Trần Nguyên Bân đem
dạy môn này cho người Nhật thành ra Nhu Thuật Trần Nguyên Bân rất nổi tiếng về
môn này vào đời Minh Gần đây, người ở Bảo Dương là Mã Lương Thường đề xướng
môn đô vật Trong khi họ Mã làm trấn thủ sứ ở Tế Nam, trong đám bộ hạ có nhiều
nhân tài về môn đô vật nhất là Vương Chấn Sơn Về sau có doãn Chiếm Khôi xuốngphương Nam dạy môn này, nhưng người phương Nam Trung Quốc không ưa tập môn
sinh lại dạy cho Tống Tồn Phượng Họ Tống có soạn sách Kiếm pháp chân truyền.
Theo tác giả, nhà kiếm thuật nổi tiếng đương thời là Lý Cảnh Lâm từng theo học vớikiếm sư Trần Thế Quân, tục truyền kiếm thuật của họ Trần đã đến chỗ thần diệu Mônkiếm này áp dụng thân pháp của quyền Thái cực, bộ pháp của môn Bát quái, khai
sáng một lối kiếm thuật riêng Lại có Tôn Phúc Toàn soạn quyển Bát quái kiếm.
Triệu Liên Hoà còn truyền lại "Ðạt ma kiếm", "Thế bào kiếm", Mã Kim Tiêu có truyềnlại môn "Thuần dương kiếm", Trương Cảnh Phúc truyền lại môn "Bàn long kiếm"
b Thương pháp
Theo sách Kỷ hiệu tân thư của Thích Kế Quang, thì dòng họ Dương nổi tiếng về
Lê hoa thương pháp, cho rằng :
Thần hóa vô cùng, người đời sau không hiểu được chỗ sâu xa của nó Hoặc có kẻ biết mà giữ kín không dạy, hoặc dạy sai hẵn với chân truyền Vì vậy thương pháp
phổ thông chỉ có thương pháp nhà họ Mã, nhà họ Sa, gọi là Can tử Các loại
Trang 23thương này đều có chỗ hay, nhưng cách dùng đánh xa hay đánh gần có nhiều điểm khác nhau, chỉ có pháp đánh thương của dòng họ Dương thì tay cầm đốc thương, đưa thương ra rất dài, lại vừa có hư, có thực, có kỳ, có chính Lúc tiến lên thì dũng mãnh, lúc lui về thì nhanh nhẹn Thế rất hiểm, lúc bất động như núi Thái sơn, lúc động như điện xẹt Vì vậy mới có câu : "Trong vòng 20 năm, ngọn Lê hoa thương không gặp một đối thủ" Thật có thể đáng tin vậy.
Xem như thế thì có lẽ Thích Kế Quang học được chân truyền lối đánh thương của
họ Dương
c Côn pháp
Ðời nhà Minh, các danh tướng như Dũ Ðại Du, Thích Kế Quang đều giỏi về cônpháp Lại có những người thiện dụng môn này như Lý Lương Khâm, Lưu Bang Hiệp,Lâm Diệm Lại có lối côn pháp ở Thanh Ðiền, người đời Minh cũng không rõ nguồngốc Trong niên hiệu Vạn lịch đời Minh, có người ở Tân Ðô là Trình Xung Ðẩu, tự làTông Du, theo các nhà sư Thiếu lâm là Hồng Kỷ, Hồng Chuyển chuyên luyện về côn
pháp Ông có soạn sách Thiếu lâm côn pháp.
Hà Lương Thần trong sách Trận Kỷ khi luận về côn pháp lúc bấy giờ để chia ra
thành từng phái, có viết :
Côn pháp ở vùng Ðông hải, Biên thành và của Dũ Ðại Du thích hợp với nhau.
Có nhiều chỗ dấu kín không dạy Côn pháp của Thiếu lâm đều là dạ xoa côn pháp.
Vì vậy có Tam đường là Tiền, Trung và Hậu Tiền đường côn còn gọi là Ðơn thủ dạ xoa, Trung đường côn còn gọi là Âm thủ dạ xoa, giống như đao pháp Hậu đường côn còn gọi là Hiệp côn đới bỗng, các nhà sư ở Ngưu sơn giỏi về lối này.
Sách Ninh ba phủ chí có viết :
Biên Trừng theo học võ ở chùa Thiếu lâm.
Như vậy côn pháp của ông tức là Dạ xoa côn Sách lại ghi :
Trong niên hiệu Chính đức, giặc Nụy khấu đến cống hiến lễ vật Có tên giỏi đánh côn nghe tiếng của Trừng xin tỉ đấu Quan thái thú Trương Tân đồng ý Giặc Nụy hơn 10 tên, đều cầm thương tranh nhau đâm Biên Trừng nhưng ông chỉ cầm chỉa ba vung lên, bao nhiêu thương đều rơi hết.
CHƯƠNG NĂM
Trang 24NHỮNG ÐIỀU TỒN NGHI
Chương này ghi lại những truyền thuyết từ ngày xưa để lưu truyền Sau mỗi phầnnếu có những lời nhận xét của chúng tôi là để luận đoán và phát minh hầu soi sángvấn đề
I CÁC MÔN LIÊN QUAN ÐẾN QUYỀN THUẬT NỘI GIA
nên gọi là Trường quyền Yếu quyết gồm có "Bát tự ca", "Tâm hội luận", "Chu thân
đại dụng luận", "Thập lục quan yếu luận" Về sau truyền cho Tống Viễn Kiều
Chúng tôi nhận xét :
Tiểu sử của Hứa Tuyên Bình có thể xem sách Ðường thi kỷ sự bản mạt của Kỷ Hữu Công đời Tống Có điều : Hứa Tuyên bình dạy Thái cực quyền thì không có
sách vở để khảo cứu, có lẽ là do khẩu thuyết lưu truyền mà thôi
(1) Hứa Tuyên Bình người ở huyện Hấp, phủ Vi châu, thuộc Giang Nam, ở ẩn tại núi Thành dương, rồi làm lều ở Nam Dương Theo phép Tịch cốc, nhịn ăn Lý Bạch
có đến thăm họ Hứa, nhưng không gặp, có đề thơ tại Vọng Tiên Kiều.
b Họ Du (2) truyền lại môn Thái cực quyền gọi là Tiên thiên quyền, còn có tên
là Trường quyền, học được của Lý Ðạo Tử (3) đời Ðường Họ Lý ở Nam Nhan cung,
núi Võ Ðương, không ăn đồ nấu chín, người ta gọi là Phu Tử Lý Môn phái họ Ducòn lại là Du Thanh Tuệ, Du Nhất Thành, Du Liên Châu và Du Ðại Nham
(2) Người huyện Dĩnh, phủ Ninh quốc thuộc Giang nam
(3) Người ở An Khánh thuộc Giang nam.
c Thái cực quyền của họ Trình bắt đầu từ Trình Linh Tiển (4), môn này do Trình Củng Nguyệt truyền đến Trình Tất (5) rồi đổi tên là Tiểu Cửu Thiên, có tất cả
14 thế, có hai bài ca quyết là "Dụng công ngũ chí" và " Tứ tính qui nguyên"
(4) Tự là Nguyên Ðiều, người phủ Vi châu, Giang nam Loạn Hầu Cảnh, phủ Vi châu được yên là do công của họ Trình Vua Nguyên đế nhà Lương phong làm Vi châu thái thú.
(5) Ðậu Tiến sĩ niên hiệu Thiệu Hưng, làm chủ bộ ở Hưng hóa, quan đến Lễ bộ Thượng thư.
d Thái cực quyền của Ân Lợi Hanh truyền lại gọi là Hậu Thiên Pháp, truyền cho Hồ Cảnh Tử (6), họ Hồ dạy cho Tống Trọng Thù (7) gồm có 17 pháp thức,
phần nhiều thuộc lối đánh bằng cùi chỏ, tuy tên gọi các thế khác nhau, nhưng côngdụng cũng giống như các môn Thái cực quyền kể trên
Trang 25(6) Người ở Dương châu.
(7) Người ở An châu, thường đi chơi đài Cô tô và đề thơ trên đài nầy.
e Trương Tam Phong tên là Thông, tự là Quân Thực, người ở Liêu dương, theo
học đạo Nho cuối đời Nguyên, giỏi vẽ và viết, lại giỏi cả thi, từ Năm Trung Thốngnguyên niên, đỗ Mậu tài (tú tài) làm quan Lịnh ở Trung sơn và Bắc lăng Vì rất hâm
mộ Cát Trĩ Xuyên, nên Trương Tam Phong dứt bỏ đường công danh, đi chơi trong núiBảo kê, thấy 3 ngọn núi cao đẹp xanh tốt, bèn lấy hiệu là Tam Phong Tử Ðời sau nói
về Trương Tam Phong có đến 10 thuyết khác nhau nhưng đều không nói đến chuyệnông giỏi quyền thuật Ðầu niên niên hiệu Hồng Võ (1368) ông được triệu vào triều, đingang qua núi Võ đương, ban đêm nằm mơ thấy Huyền Võ Thiên Ðế dạy cho quyềnpháp, đến sáng phá được giặc, vì vậy gọi môn quyền này là Võ đương phái, còn gọi làNội gia quyền
Lại có thuyết cho rằng Tam Phong sinh vào đời vua Huy Tông nhà Tống 1125) khi quân Kim vào chiếm Trung quốc, một mình ông giết hơn 500 giặc Kim.Người vùng Sơn thiểm ái mộ ông theo học đến mấy ngàn người
(1100-Những thuyết trên đây theo sách Thái cực quyền đồ thuyết giải của Hứa Võ Sinh.
Trang 26II CÁC MÔN LIÊN QUAN ÐẾN QUYỀN THUẬT NGOẠI GIA
1 MÔN PHÁI THIẾU LÂM
Kỹ thuật của phái Thiếu lâm, cao nhất là Ngũ quyền Ngũ quyền là Long quyềnluyện thần, Hổ quyền luyện cốt, Báo quyền luyện lực, Xà quyền luyện khí, Hạc quyềnluyện tinh Nhiều người cho rằng Ngũ quyền là do Ðạt Ma thiền sư truyền lại từ đờiLương (907-923) Thiền sư ở chùa Thiếu lâm thấy học trò tinh thần ủy mỵ, mỗi khingài thuyết pháp, học trò thường bì quyện, không thư thái về tinh thần, vì vậy mới dạyhọc trò phương pháp luyện tập quyền thuật gồm có trước, sau, tả, hữu, tất cả 18 thế là
: Triều thiên trực cử (2 thế), Bài sơn vận chuyển (4 thế), Hắc hổ thân yêu (4 thế), Hạc dực thư triển (1 thế), Tốn trản câu hung (1 thế), Vãn cung khai cách (1 thế), Kim báo lộ trảo (1 thế), Thoái lực trật đảng (các thế trên đều dùng tay, chỉ riêng có thế này mới dùng chân) Ðó là thủ pháp của Thập bát La hán quyền.
Mấy trăm năm sau có Giác Viễn Thượng Nhân, vốn là một vị công tử ở Nghiêmchâu, cắt tóc xuất gia, vào chùa Thiếu lâm, học được môn Ngũ quyền của Ðạt Masáng chế thêm thành ra 72 thế
Về sau, có nhiều người theo học Giác Viễn thấy môn này chưa đến chỗ tuyệt diệu,mới thay đổi thành người thường cầu thầy học thêm Ðến Lan châu đất Thiểm, mớigặp Lý Tẩu Họ Lý giỏi về thuật cầm nã, lại thích tập luyện môn "Ðại điểu hồngquyền", vì vậy thân pháp rất mau lẹ, lại có tuyệt nghệ về chưởng pháp và chỉ pháp.Giác Viễn đã quen biết với Lý Tẩu, lại được họ Lý giới thiệu, theo học với Bạch BgọcPhong ở Thái nguyên Lúc ấy họ Bạch đang dạy võ ở chùa Ðồng Phúc tại Lạc dương
Về sau, Lý Tẩu và Bạch Ngọc Phong đều về chùa Thiếu lâm Võ thuật của Thiếu lâm,
từ khi có thêm họ Lý và họ Bạch mới thay đổi, dung hợp tông pháp cũ, sáng tạo vàtăng thêm hơn 100 thế Sự kiện trên xảy ra vào đời Kim (1115-1234) và đời Nguyên(1279-1368)
Từ niên hiệu Ðạo Quang (1837-1867), Hàm Phong (1867-1878) trở về sau, võ thuậtlổi tiếng khắp hai vùng Ðại giang (tức sông Hoàng hà) Nam Bắc Trung Hoa gồm có 3người :
a Một là Lý Cảnh Nguyên, còn có hiệu là Trường Tu Lý, người ở Hạ khẩu thuộc
tỉnh Hồ bắc, theo học với một nhà buôn họ Cao
Hơn một năm, võ nghệ đại tiến, về sau được họ Cao giới thiệu theo học với mộtnhà sư ở chùa Tam Nguyên, có soạn sách Trần kỹ thiền cơ phát huy môn phái Thiếulâm Về sau, con của họ Lý bất tiếu (không giống, bất tiếu tử : con không giống cha)sách ấy bị thất lạc
b Người thứ hai là Tất Hắc Tử, quê ở Ma dương thuộc đất Tương châu Bẩm sinh
Hắc Tử có sức mạnh hơn người, da đen, vì vậy còn có hiệu là Tất da đen Theo học
võ với Tào Ngọc Ðình người ở Hán Thăng Thầy của học Tào là Trí Viên thiền sư,
Trang 27vốn là bậc võ nghệ cao cường của phái Thiếu lâm, luyện được môn Hô hấp thầnchưởng hơn 40 năm, có thể đánh người cách xa 100 bước, lại có thể nhảy qua tườngcao một trượng không nge tiếng động vì vậy võ nghệ của thiền sư khai sáng một lốimới cho võ phái Thiếu lâm Tất Hắc Tử được tào Ngọc Ðình dạy dỗ bèn chuyên côngtập võ Thiếu lâm có thể đi trên vách, chưởng lực thần công cũng đại tiến Họ Tào
thương, bèn dạy môn Lưu tâm hoàn pháp Võ nghệ của họ Tất gồm được tinh hoa
của hai miền Nam Bắc
c Thứ ba là một người họ Hồ quê ở Lê bình thuộc đất Kiềm, múc nhỏ rất chuộng
võ nghệ, lại giỏi về môn Ðoản đả và Thoái kích pháp cùng với môn Thôi ấn của
Liễu diệp chưởng Về sau họ Hồ còn theo học với Nhất Quán (sau khi học võ củaGiác Viễn, Nhất Quán lại theo học với người ở Quế lâm là Mã Sĩ Long Sĩ Long dạy
cho Nhất Quán môn Thần nã thuật, Nội gia khí công, Ngọc xuyên kiếm Vì vậy
Nhất Quán vốn học võ Thiếu lâm lại học luôn cả võ của phái Nội gia) Họ Hồ từ khi
theo học với Nhất Quán, được bí truyền, lại cố tập môn Song thôi thủ Về sau lại biến
đổi lối dạy của thầy, chuyên dồn sức vào 1 ngón tay Học trò của Hồ giỏi nhất làDương Ðộc Nhãn, Mã Bắc Tùng Sau Dương Ðộc Nhãn hay dạy võ ở vùng đất Tương,đất Kiềm Mã Bắc Tùng dạy võ ở vùng Xuyên, Thục Ðến nay, vùng này vẫn còn họctrò của họ Mã
Chúng tôi nhận xét :
Nếu như thuyết trên đây đúng thì các vùng Xuyên, Kiềm, Tương còn những họctrò kế thừa môn phái của họ Hồ, tiếc rằng chúng tôi không quen biết nhiều với các vịquyền sư ở các vùng này, nên không thể dò hỏi mà đối chứng được Vì vậy các thuyếttrên để vào chương Tồn Nghi
d Quyền thuật Thiếu lâm ở đất Việt (Quảng đông) được truyền từ Thái Cửu Nghi.
Thái là học trò giỏi của Nhất Quán, vốn là người ở Cao yếu, đất Việt Trong thời SùngTrinh, thi đổ khoa võ cử làm Quân lịnh Thừa tuyên quan dưới quyền quan Kinh lượcHồng Thừa Trù Họ Hồng đầu hàng Mãn Thanh, Thái Cửu Nghi bỏ trốn vào chùa
Thiếu lâm, học võ với Nhất Quán thiền sư, rất giỏi về Siêu cử thuật, lại tinh cả thoái pháp (phép sử dụng chân), có thể nhảy hơn một trượng, mau như chim ưng, người ta
không thể phòng bị được Học trò giỏi của họ Thái có một người họ Mạch, một người
họ Mạc Cả hai đều ở Thuận đức, không biết tên là gì Sau khi Thái Cửu Nghi mất hơn
10 năm, hai người học trò mới chuyên tâm, trí ý về sư pháp, đều trở thành bậc võ sưtài giỏi nhất ở Việt đông Ðến nay hơn 100 năm, những người bàn đến quyền thuậtvẫn thường tán thưởng
Chúng tôi nhận xét :
Theo những điều ghi trên, nên tìm những võ sư rành về môn phái trên ở Việt đông
để dò hỏi, nay không thể chứng minh hư thực thế nào
e Quy ước về Thập giới (10 điều răn) của phái Thiếu lâm bắt đầu có từ Viên Tính
Trang 28thiền sư (ngài sinh vào cuối đời Minh 1660) Sau đến Thống Thiền thượng nhân mới
tăng thêm và sửa đổi Thống Thiền là hoàng tộc nhà tộc nhà Minh, tên thật là ChuÐức Trù, có người nói rằng Thượng Nhân là chú họ của Phú vương nhà Minh Cuốicùng đến Việt tây cử binh lo việc khôi phục, chuyện không thành mới vào tu ở chùaThiếu lâm Sau bị người ta dò xét sắp bị bắt, mới bỏ trốn ra Ðài loan, nương nhờTrịnh Kinh (con Trịnh Thành Công) Bày mưu cho họ Trịnh, nhưng mưu không đượcdùng, buồn sầu trở về, đến Ðạm thủy thì mất
Những điều trên trích ở sách Thiếu lâm quyền thuật bí quyết.
g Thiếu lâm phái còn được gọi là Ngoại gia Triệu Khuôn Dẫn là thủy tổ.
Khuôn Dẫn nhờ võ giỏi nên thắng người, nhưng hết sức dấu kín, không dạy cho aihết Một hôm say rượu, mới nói những chỗ tinh diệu cho các quan nghe Khi tỉnh hốihận, nhưng không muốn nuốt lời, cuối cùng mới đem sách đặt ở Thần đàn chùa Thiếulâm : phép này chuyên về ngạnh công
Những điều trên trích ở sách Bắc quyền vưng biên của Lục Sư Thông.
2 THÁI TỔ MÔN
Những nhà quyền thuật xưa nay đều cho rằng Tống Thái Tổ có 32 thế Trường quyền, lại có Lục bộ quyền, Hầu quyền, Hóa quyền, tên của các thế tuy có khác
nhau, nhưng thực ra cũng đại đồng tiểu dị
Trích ở mục "Quyền kinh" trong sách Kỷ hiệu tân thư của Thích Kế Quang.
Chúng tôi nhận xét :
Truyền thuyết thường cho rằng Tống Thái Tổ giỏi về quyền thuật và môn Trườngquyền được truyền từ Tống Thái Tổ Ai cũng nói như vậy Nhưng từ đời Tống (960-1279) đến đời nhà Minh (1368-1623) trải qua một thời gian khá dài, không rõ hệ phái
và sự truyền thụ do những ai, nên chỉ có thể liệt vào mục Tồn Nghi mà thôi Quyền sưLương Vỹ Thần thuộc phái Thái tổ có nói :
Chủ yếu của Thái tổ môn là quyền pháp gồm các loại Trường quyền, Ðường lang triển xí, Lạc tục phản xa, Ðể công.
Lời nói ấy khác với lời của Thích Kế Quang trong Kỷ hiệu tân thư Vì vậy, ghi
Trích sách Trung quốc thể dục sử.
Chúng tôi nhận xét :
Trang 29Những người cho rằng môn Hồng quyền do Tôn Võ Tử truyền lại thì ít, còn thuyếtcho rằng môn này do Tống Thái Tổ sáng chế thì có nhiều người nghe theo Nhưngcho rằng Thích Kế Quang tập môn Hồng quyền cộng thêm vào phép vận khí và các
phép thu túng, thì trong mục "Quyền kinh" ở sách Kỷ hiệu tân thư không có ghi Có
lẽ chỉ căn cứ vào khẩu thuyết mà thôi
4 ÐÀN THOÁI MÔN
Những người giỏi quyền thuật trong Hồi giáo thường nói : môn Ðàn thoái truyền
từ Nam Kinh đến Bắc kinh được xuất phát từ Hồi giáo Vì vậy hai câu đầu trong bài
ca quyết của Thập lộ Ðàn thoái là :
Côn luân đại tiên thế giới truyền,
Danh viết Ðàn thoái áo vô biên.
(nghĩa là bậc đại tiên ở Côn luân truyền dạy cho thế giới môn Ðàn thoái, áo diệu
5 ÐOẢN ÐẢ MÔN CỦA PHƯƠNG NAM
Chu Hồng Thọ khi luận về nghệ thuật quyền cước vào thời Trung cổ có nói :
Nghệ thuật quyền cước thời thượng cổ đến đời Tần (221-206 trước Tây lịch), đời Hán (202-8 trước Tây lịch) tự nhiên bị thất truyền, đến đời Hậu Hán mới thấy ghi chép rõ ràng Quyền thuật của Trung quốc coi Quách Di là thủy tổ Từ Quách Di về sau mới có những nhân tài còn được ghi chép trong võ sử.
Họ Chu lại bàn về quyện thuật thời cận cổ có nói :
Như phép hậu dịch của Hứa Doanh, phép tiền dịch của Trương Cử Sơn không thể để cho thất truyền.
Lại có thế "Võ Tòng mở khóa" cho rằng Võ Tòng bị trói 2 tay, chỉ dùng 2 chân để
ứng địch rồi về sau thành ra một thế võ tuyệt diệu Ðời Minh, người ở Hồ nam làVương Tín Thần dùng ý nghĩa bốn chữ "Võ Tòng mở khoá" biến thành ca quyết để
cho người học võ dễ nhớ (theo sách Diễn võ tinh pháp).
(Những điều trên đây trích trong sách Quyền nghệ học sơ bộ).
6 CÁC MÔN LIÊN QUAN VỀ ÐÔ VẬT
Môn Ðô vật dùng tay không và sức mạnh mà phát sinh ra những mánh lới, nghệ
thuật, tạo thành một lối riêng trong võ học Trung quốc Thuật này theo bản tính của
Trang 30động vật Trong thời đại tiến bộ này, không có một quyển sách chuyên môn nào đểkhảo cứu về Ðô vật Các võ sĩ truyền từ đời nọ sang đời kia rằng môn Ðô vật đượcsáng tạo từ lúc Nhạc Vũ Mục cầm quân đánh giặc Bởi vì Nhạc Vũ Mục rất giỏi vềquyền, bỗng, nhiều người theo học Nhưng quyền bỗng phải có thân thể mẫn tiệp mới
có thể tập đến chỗ ảo diệu Ðến như bôn Ngưu Cao rất chậm chạp, tối tăm nên học rấtkhổ sở Nhạc Vũ Mục mới rút các động tác trong các môn câu, nã, tiêu, khấu vv sáng lập ra môn Ðô vật Bởi môn này rất dễ chỉ dạy không cần người học thông minhhay tối tăm, thể chất không cần khỏe mạnh hay yếu đuối, nếu cố gắng hết năng lựccủa mình, vẫn có thể thắng được địch thủ Ðời Càn Long nhà Thanh gọi môn này làTạp kỷ, cũng được thịnh hành một thời
(Trích bài tựa sách Suất dốc giáo khoa thư của Mã Lương)
7 CÁC MÔN LIÊN QUAN ÐẾN KHÍ GIỚI
a Kiếm môn (môn đánh kiếm)
Trong sách Trận kỷ, Hà Lương Thần có viết
CHƯƠNG SÁU