Một trong những nguyên nhân khiến Trường quyền được yêu thích là do nó có thể dùng làm bài tập cơ bản của võ thuật.. Nếu dùng Trường quyền làm bài luyện cơ bản, không những sẽ nắm vững đ
Trang 2GIÁO TRÌNH HUẤN LUYỆN
MÔN TRƯỜNG QUYỀN
Trang 3TRƯỜNG QUYỀN QUYỂN IA- Khái Quát Về Môn Trường Quyền
I - Giới thiệu môn Trường quyềnTrường quyền là một phái võ của Trung Quốc, người ta gọi Trường quyền là những môn quyền thuật ở phương Bắc Trung Quốc, chuyên bôn trì tiến thoái nhanh chóng Tên gọi của môn
Trường quyền có 3 ý nghĩa khác nhau
− Theo nghĩa thứ nhất thì Trường quyền là tên gọi tổng hợp các loại quyền pháp có phong cách giống nhau Chủ yếu bao gồm Tra quyền, Hoa quyền, Pháo quyền, Pháo chùy quyền, Phiên tử quyền, Thiếu lâm quyền, Hồng quyền, có nguồn gốc rất lâu đời
− Ngoài ra, đời xưa cũng có loại quyền gọi riêng là Trường quyền Tên gọi này bắt nguồn từ
“Trường quyền tam thập nhị thế” (32 thế Trường quyền) Thủ pháp, thân pháp, bộ pháp, cước pháp dựa theo đặc điểm của “32 thế Trường quyền” mà kết thành bài quyền, các động tác bao gồm: thoán, băng, triển, dược, đằng, … Thích Kế Quang đời Minh đã từng phân chia quyền thuật ra làm Trường quyền và Đoản đả
Sách “Kỷ hiệu tân thư”, trong mục Quyền kinh gọi 32 thế Trường quyền của Tống Thái Tổ, 72 thế hành quyền của họ Ôn đều thuộc loại này Và : Trường quyền được nổi tiếng từ Tống Thái Tổ Môn này còn gọi là “Thái tổ môn”, lưu hành từ đời Minh (1368 – 1660) Như vậy nguồn gốc của môn này rất xưa Thái Tổ lại có Lục bộ quyền, Hầu quyền, Hóa quyền, tên của các thế tuy khác nhau nhưng thực ra cũng đại đồng tiểu dị Người đời sau còn nói rằng Tống Thái Tổ có truyền lại một môn nữa là Hồng quyền Quyền sư Lương Vĩnh Thần thuộc phái Thái Tổ lại nói: “Chủ yếu của phái Thái Tổ môn là quyền pháp gồm các loại: Trường quyền, Đường lang triển xí, Lạc trụ, Phản xa, Để công” Gần đây có Lương Đức Khôi, người Nhật Chiếu, tỉnh Sơn Đông rất nổi tiếng về Trường quyền
− Thời xưa còn từng gọi Thái Cực quyền là Trường quyền “Bản sao sách Thái cực quyền luận” có chép : “Sở dĩ gọi là Trường quyền bởi quyền pháp như Trường Giang, Đại Hà, thao thao bất tuyệt” Trong chương thứ 5 sách “Thái Cực quyền thế độ giải” của Hứa Vũ Sinh có chép : “Đời Đường, Hứa Tuyên Bình còn truyền lại môn Thái Cực quyền thuật còn gọi là tam thất thế, bởi vì chỉ có 37 thế mà nổi tiếng Phương pháp dạy từng thế một để cho người học tập thuần thục rồi mới chỉ thêm một thế khác, không xác định quyền lộ Sau khi thành công, các thế tự hỗ tương liên quán, tương kế bất đoạn (nối nhau không dứt) Vì vậy còn gọi là Trường quyền” Cũng sách ấy chép : “Họ Du có truyền môn Thái Cực quyền, còn gọi là Tiên Thiên quyền, hay Trường quyền” Đó là một lối giải thích về 2 chữ Trường quyền
Môn Trường quyền mới chế tác hiện nay là một loại quyền phát triển sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa tạo nên (năm 1949), có ảnh hưởng khá lớn trong phong trào võ thuật, có cơ sở rộng rãi trong quần chúng, từ đó, nó đã được xếp vào làm một hạng mục trọng điểm trong thi đấu võ thuật Môn Trường quyền hiện đại đã hấp thu được sở trường của các loại Tra, Hoa, Pháo, Hồng quyền, tạo nên quy cách hóa các động tác thủ hình, thủ pháp, bộ hình, bộ pháp, khí pháp, thăng bằng, nhẩy nhót của loại Trường quyền, biên soạn theo phương pháp vận
Trang 4động của Trường quyền.
Các môn Thái Tổ, Nhị Lang, Mê Tung, Bát Cực, Phiên Tử, Tra quyền, Hồng quyền rất nổi tiếng trong loại Trường quyền Những môn ấy đại đồng tiểu dị và được xem là những bài luyện truyền thống (Tuy nhiên trong những năm gần đây, những bài luyện này ít nhiều cũng đã bị sửa đổi) Thường trong lúc luyện tập coi trọng sự tiến thoái mau lẹ, nhảy tọa nhẹ nhàng, khí thế tinh nhuệ, phương pháp biến hóa, đường quyền rộng Phạm vi mở rộng của thân như di chuyển, đá bay, xoay vòng, thay đổi vị trí lớn Trong Trường quyền, môn Phiên Tử sở trường về luyện tay, môn Phê Quải sở trường về luyện chưởng Tra quyền sở trường về luyện tập bước đi Đó là những chỗ độc đáo của mỗi môn
Trước mắt nội dung Trường quyền bao gồm cơ bản công, bài bản đơn luyện, bài đối luyện Bài đơn luyện lại chia ra 2 loại: bài bản quy định và bài bản tự chọn Nội dung bài bản quy định có Giáp tổ, Ất tổ bài Trường quyền thi đấu; quyền sơ cấp; quyền, Thanh niên quyền, Thiếu niên quyền; cùng với Sơ cấp đao, thương, kiếm, côn, dùng làm tài liệu giảng dạy phổ cập
Trong thi đấu, yêu cầu bài Trường quyền tự biên tự diễn phải phù hợp với quy tắc thi đấu, nội dung ít nhất phải bao gồm 3 loại thủ hình là quyền, chưởng, câu và 5 loại bộ hình là cung, mã, phác, hư, yết, cùng với một số lượng quyền pháp, chưởng pháp, trửu (chỏ) pháp nhất định và các tổ hợp thoái pháp (cách đá) co duỗi, vung thẳng, quét vòng, vỗ đánh riêng biệt khác nhau, các động tác thăng bằng, vọt nhẩy, té ngã, nhào lộn Thời gian hoàn thành bài múa cũng có yêu cầu nghiêm ngặt Vận động viên có thể căn cứ đặc điểm của cá nhân, bố cục cho hợp lý, làm nổi bật lên phong cách của bản thân
Các kiểu bài quyền cước và khí giới gồm có sự luồn chạy, nhẩy xa, nhẩy cao, vọt lên, tránh né, giang ra, bay lên, xoay trở
II - Công dụng và đặc điểm của môn Trường quyền :
1. Công dụng của Trường quyền :
Công dụng của Trường quyền là ở chỗ mau và mạnh, lúc tiến thì cấp bách, lúc thoái thì gấp rút, nhẹ nhàng không thể biết trước được, làm cho địch thủ khó lường Trường quyền thường công kích vào chỗ hở của đối phương, làm cho địch thủ không thể tự kiểm soát đường quyền
Trường quyền chủ yếu dành cho thanh thiếu niên luyện tập Nó là môn thể thao của các thanh thiếu niên và được giới trẻ hiện nay đặc biệt yêu thích Vì vậy ở những nơi truyền dạy võ thuật thường thấy các bài luyện Trường quyền Theo sự sắp xếp thì thấy, một mặt nó vừa thích hợp cho cơ sở huấn luyện, một mặt lại thích hợp cho việc thi đấu nâng cao, là một tiết mục biểu diễn và thi đấu của võ thuật toàn quốc Người tham gia đại hội võ thuật hay hội biểu diễn – nơi tập trung võ sĩ nổi tiếng các nơi – càng lúc càng nhiều Một trong những nguyên nhân khiến Trường quyền được yêu thích là do nó có thể dùng làm bài tập cơ bản của võ thuật Bởi vì, việc học võ đòi hỏi phải có sự mềm dẻo và linh họat của thân, tính nhẫn nại cao độ Ngoài ra, người mới học cũng cần luyện loại võ lực cơ bản như đá, …; Trong khi đó, động tác của Trường quyền vươn duỗi, phạm vi hoạt động của các khớp lớn, yêu cầu đối với tính dẻo dai, tính đàn hồi của cơ bắp và dây chằng đều khá cao Đồng thời, do đại đa số động tác của Trường quyền là dùng nhóm cơ lớn để tiến hành hoạt động, yêu cầu lớn về lượng hoạt động và tốc độ của cơ bắp với nhu cầu về
Trang 5Thông qua luyện tập võ thuật thường xuyên, có hệ thống, có thể làm cho cơ thể khỏe mạnh, tăng cường thể chất, phát triển sức lực, các tố chất cơ thể như tốc độ, sự dẻo dai, khéo léo và sức bền; bồi dưỡng các phẩm chất tốt đẹp như tính kiên cường, dũng cảm, chịu đựng khó khăn gian khổ Vì vậy khi mới bắt đầu học thì học kỹ thuật Trường quyền là thích hợp nhất Nếu dùng Trường quyền làm bài luyện cơ bản, không những sẽ nắm vững được các cơ bản của võ thuật, mà sau khi đã rèn luyện cơ thể khỏe mạnh, muốn tiến thêm một bước để đạt được một công phu độc đáo cho riêng mình thì khả năng thành công cũng sẽ rất lớn.
2 Đặc điểm của Trường quyền :
Đặc điểm của Trường quyền là tư thế giang triển đánh rộng, thoáng, xa, thoải mái, mạnh mẽ, động tác linh họat nhanh nhẹn, vuông vức ngay ngắn, ra đòn dài Sử dụng cước pháp (đòn đá) và các động tác nhảy vọt rất nhiều, bật cao, nhẩy xa, cứng và mềm cùng kết hợp Thủ pháp (đòn tay) chú trọng cương nhu phối hợp, nhanh và chậm xen nhau, tiến nhanh, lùi gấp, tốc độ ổn định, tiết tấu quyền pháp rõ ràng đâu ra đó
Trường quyền là một loại quyền thuật có động tác bài quyền và số đường đi khá nhiều, lấy động tác đánh xa làm chủ Thông thường khi tay đánh ra hoặc chân đá ra dùng cách phóng dài đánh
xa làm đặc trưng, thường phối hợp việc vặn eo duỗi xuôi vai để tăng dài điểm đánh tới, tìm đến hiệu quả kỹ thuật “dài một tấc mạnh thêm một tấc”
Về kỹ thuật của Trường quyền có 8 yêu cầu sau đây :
1) Tư thế : yêu cầu đầu ngay cổ thẳng, chìm thấp vai, vươn cao ngực, eo giữ thẳng, mông thu lại, thượng chi vươn duỗi, cứng cỏi, hạ chi ổn định cân xứng
2) Động tác : “tứ kích hợp pháp”, là chỉ Trường quyền hàm chứa bộ phận tạo thành động tác kỹ thuật, ở phương diện nội dung nói chung đều không tách dời khỏi 4 phạm trù phép tắc kỹ thuật
“Tứ kích”, chính là 4 kiểu phép tắc kỹ thuật là đá, đánh, quật ngã, chụp bắt trong võ thuật
Trường quyền có yêu cầu vô cùng nghiêm ngặt về nội dung phương pháp cụ thể đối với 4 kiểu kỹ thuật đá, đánh, quăng quật và chụp bắt Khi làm các động tác kỹ kích đá, đánh, quật, bắt, điểm bắt đầu và dừng lại, đường đi, điểm dồn lực đều cần rõ ràng, thể hiện ra được đặc điểm tấn công và phòng thủ trong bài Động tác của Trường quyền phải ngay ngắn, sử dụng lực trong các đòn đá, đánh, cầm nã… phải rõ ràng, công thủ chỉnh tề, trong ngoài kết hợp chặt chẽ, thống nhất Nó chú trọng việc đánh đá đúng cách, không chấp nhận sự mập mờ giữa 2 động tác khác nhau, phương pháp không rõ, lờ mờ không rõ ràng Toàn bộ động tác phải có nhịp điệu phân minh, thể hiện rõ sự phối hợp nhanh – chậm, động – tĩnh, cương – nhu, khởi – phục
3) Thủ pháp : tay cần mau lẹ, “quyền như sao băng”, không chỉ yêu cầu khi vung tay múa
quyền cần phải cấp tốc, mau mắn, có lực, mà trong các động tác tinh tế ở chưởng, cổ tay cũng yêu cầu giống như vậy
4) Thân pháp : thân cần linh hoạt Thân pháp trong Trường quyền có thể chia làm né, chuyển, mở ra, rút lại, gập, vặn, cúi, ngửa Sự biến hóa của các thân pháp này chủ yếu là ở eo Do đó thân pháp yêu cầu “eo như rắn đi”, cần mềm dẻo, một mặt là yêu cầu cá kiểu thân pháp trong lúc vận động phải linh hoạt giống như rắn đi, có sự biến hóa khúc khuỷu; mặt khác lại yêu cầu tăng cường tính mềm dẻo của đốt sống ngực và eo, làm cho động tác vừa mềm mại lại dẻo dai
Trang 6Mềm mại thì linh hoạt, dẻ dai thì có lực Cần đem hoạt động của thân mình kết hợp khắn khít với các biến hóa nuốt (thu, rút, hóp lại), nhả, lách tránh, giang ra, xông ra, thúc tới, chèn lấn, tì vào khi tấn công và phòng thủ, trong ngoài ăn khớp, được như ý muốn, hình thành một thể hoàn chỉnh.
5) Bộ pháp : cần vững chắc, dính cứng như keo lại nhẹ nhàng nhanh nhẹn Bộ pháp tạo nên tác dụng trọng yếu trong Trường quyền, “Bộ bất ổn tắc quyền loạn, bộ bất khoái tắc quyền
mạn” (Bộ tấn không vững thì quyền cước rối loạn, bộ không nhanh thì quyền ra chậm) Bởi vậy cần phải làm cho các kiểu bộ pháp trong khi vận động cần nhẹ nhàng nhanh nhẹn, lại vững chắc giống như keo bám dính trên mặt đất, “không nhấc chân, không nhón gót”
6) Nhãn pháp : Mắt cần sắc sảo, phải “mắt sáng như điện”, cần sáng sủa, sắc sảo Nhãn pháp trong động tác của môn Trường quyền không hoạt động đơn độc, mà cần đầu chuyển động theo thân, thực hiện “tay – mắt theo nhau”, “tay đến mắt đến”, “tay tới đâu, mắt cũng tới đó”, chiêu thức từ ý nghĩ chuyển ra ánh mắt, dồn ánh mắt nhìn theo thế đánh Thông qua cái thần của mắt mà diễn đạt ra được đầy đủ ý thức nội tại của mỗi chiêu mỗi thức
7) Tinh thần : cần tập trung toàn bộ tinh thần, biểu hiện nên chí khí dũng cảm, nhanh khéo, không hề lo sợ Lúc đi quyền phải tập trung tư tưởng, thể hiện vẻ mạnh mẽ, linh mẫn, không sợ hãi gì cả Tinh thần cần sung túc, đầy đủ, dồn vào trong sự động hay tĩnh lúc vận động
8) Kình lực : lực cần thông suốt Nếu vận kình phát lực không thông thuận, cũng sẽ
làm cho vận động bị cứng đơ cứng ngắc Trường quyền tối kỵ “kình lực cứng ngắc”, nhấn mạnh
“lực càn thông suốt” Cần có cương có nhu (cứng và mềm), khi phát kình phải có sức bột phát, cần cứng mà không ngay đơ, mềm mà không lỏng lẻo, cương nhu giúp nhau, lại còn cần dùng ý thức để chi phối động tác phát lực, đem hơi thở phối hợp khi phát lực, đạt đến sự hợp nhất giữa trong và ngoài Ra đòn phát lực phải có sức công phá, tuy cương mà không ngay đơ, nhu mà không mềm rũ, lại còn lấy ý thức chi phối việc phát lực, trong ngoài hợp nhất
9) Kỹ thuật : công phu cần thuần thục “Công” ở đây là chỉ cho các tố chất của cơ thể như sức lực, tốc độ, sức bền và các kỹ xảo vận động Sở dĩ gọi là “thuần” là yêu cầu đề ra đối với chất lượng kỹ thuật của Trường quyền Muốn làm cho chất lượng kỹ thuật đạt đến mức thuần thục, một điều kiện trọng yếu chính là tăng cường rèn luyện và thực tiễn dưới tiền đề của tiêu chuẩn kỹ thuật
10)Hơi thở : khí cần hạ chìm, “khí trầm Đan điền”, ấy là bởi quan hệ có tính lâu dài của hơi thở trong Trường quyền, cũng quan hệ tới sự thúc đẩy kình lực, tức chỗ gọi là dùng khí thúc đẩy lực Phương pháp hô hấp của Trường quyền ngoài “trầm” ra, còn có 3 phép là “đề”, “thác”, “tụ”, hợp thành 4 cách là : “đề”, “thác”, “tụ”, “trầm” Nói chung, trong tình huống khi từ động tác ở dưới thấp tiến vào động tác trên cao, lúc vọt nhẩy thì dùng “phép đề khí” (nâng khí lên); khi xuất hiện động tác có tính tĩnh lặng từ dạng cao thành dạng thấp thì cần dùng “phép thác
khí” (bưng, đẩy khí); lúc xuất hiện động tác có tính mạnh mẽ, dứt khoát, ngắn gọn thì cần dùng
“phép tụ khí”; ở động tác từ trên cao đổ xuống thấp thì lại dùng “phép trầm khí” Hô hấp phải điều hòa, lúc nhảy lên phải “đề khí”, lúc dừng phải “thác khí”, động tác cứng mạnh phải “tụ
Trang 7động tác, từ đầu tới cuối vẫn tuân theo yêu cầu cơ bản của “khí nên hạ chìm”.
11)Tiết tấu : trong lúc diễn luyện, có nhiều kiểu đối chọi mâu thuẫn giữa nhanh và chậm, động và tĩnh, cứng và mềm, cất lên và sụp xuống làm cho càng thêm rõ rệt, càng bất ngờ, tính tiết tấu càng mạnh
Do Trường quyền di chuyển rộng, sử dụng 2 chân nhiều nên rất chú trọng cước lực Tục ngữ nói
“Luyện quyền không luyện cước, đến già cũng chẳng được gì”, “Quyền đánh 3 phần, cước đá 7 phần”, … là nói tầm quan trọng của 2 chân trong Trường quyền
Đời Minh, Đường Thuận Chi viết trong “Võ diên” nói về quyền pháp rằng “Phàm muốn học cước pháp, trước tiên phải học hư” Chữ “hư”ở đây là chỉ các công phu cơ bản về tấn pháp, bộ pháp, thoái pháp Về sau lại có nhiều phương pháp luyện tập binh khí, càng chú trọng đến cước pháp Nổi tiếng nhất là phép luyện “Mai hoa trang công”, dùng 5 trụ gỗ dài 7 thước chôn xuống
3 thước, nhô trên mặt đất 4 thước, đường kính đầu trụ gỗ khoảng 2 tấc, mỗi trụ cách nhau 2 thước thành hình hoa mai Đầu tiên luyện mã bộ trên trụ, dùng lòng bàn chân, rồi gót chân, mũi bàn chân tiếp xúc với đầu trụ gỗ Sau quen dần tùy ý nhảy nhót, luyện quyền hay binh khí trên trụ gỗ
Dưới đây là một số động tác minh họa tiêu biểu trong môn Trường quyền:
1 Đằng không phi cước 2 Đề tất thôi chưởng
Trang 83 Thượng bộ tuyền phong cước 4 Mã bộ tạp quyền
B- Những Môn Võ Nằm Trong Hệ Thống Trường Quyền
1 TRA QUYỀNTra quyền là một môn quyền thuật của Trung quốc, Còn gọi là “Xoa quyền”, “Sáp quyền” Trong “Quốc kỹ luận lược” của Từ Chấn có nói: “Tra quyền cũng có tên là Xoa quyền, vì 2 âm
“xoa”, “tra”gần giống nhau” Có lẽ môn Tra quyền thường dùng xoa chưởng, xoa bộ rồi từ chỗ đó mà gọi môn này là “Xoa quyền” Cũng có người cho rằng nên gọi là “Tra quyền”, bởi môn võ này dùng nhiều phép “tra”, chú trọng xuất thủ tức là “tra” (xòe ngón tay ra, bóp, nặn, nhúm lấy), trong khẩu quyết đánh thương của môn này có câu “nhất tra nhị nã (bắt) tam trát (đâm)” Gọi Tra quyền, có thể là lấy tên một người họ Tra sáng tạo ra môn này Hiện nay thống nhất gọi nó là Tra quyền Môn này thịnh hành ở các miền Thượng Hải, Sing Piang, Kansu (Quảng tây), miền tây và nam Trung hoa, ở các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Hà Bắc, nhất là trong lớp người Hồi và được họ vô cùng yêu thích, gọi nó là “Giáo môn quyền” Các bài bản binh khí cũng được tăng thêm Do truyền ở các khu vực khác nhau nên chia ra các môn Tra quyền của họ Trương, họ Lý, họ Mã, họ Sa
Nguồn gốc của nó không biết được sáng lập từ đời nào, có 2 cách nói:
Trang 9− Một là vào thời Đường (hoặc nói cuối đời Minh hay cuối đời Thanh gì đó), có người dân Hồi giáo ở Tây Vực là Tra Mật Nhĩ từ phía đông đến truyền môn võ này ở một dải huyện Lỗ Tây Quan Người đời sau lấy họ của người này để đặt tên cho môn võ; Theo những võ sư của môn này thì Tra quyền cùng một nguồn gốc với 10 lộ Đàn thoái, cả 2 đều được truyền từ Tây Vực Phát sinh ở Quan Huyện, tỉnh Sơn Đông, do Tra Mật Nhĩ truyền lại cho nên mới có tên như vậy Tương truyền, vào giữa đời Minh, có người thanh niên là Tra Mật Nhĩ sống ở Tây vực, vâng theo lời của hoành đế tới phương Đông, xuống phương Nam để đánh dẹp giặc lùn Nhật Bản, trên đường đi qua làng Trương Doãn ở Quan Huyện (còn có tên là thôn Nhất Lý) thì mắc phải bệnh nặng phải ở tạm trong nhà người Hồi, được sự tận tình chữa trị và chăm sóc mà hết bệnh khỏe mạnh trở lại Hết lòng cảm kích, người này bèn truyền lại cho họ một bài quyền để biểu thị sự cảm tạ Để kỷ niệm sự việc này, người dân Hồi ở trong vùng bèn đặt tên cho môn võ ấy là Tra quyền Sa Đàm Phúc ở Quan Huyện là người truyền thụ môn Tra quyền sớm nhất Sa Lượng, con trai của ông là tiến sĩ võ năm Ung Chính đời Thanh, đã từng đem quân tới trấn giữ ở Tây an Sau ông, môn Tra quyền ngày càng khuếch đại, truyền nhân chủ yếu có Lý Lão Sùng, Thái Trường Thanh, Hoàng Bích Tân, Trương Kim Đường, Trương Kiền, Trương Kỳ Duy Đến cuối đời Thanh, đầu đời Dân quốc lại xuất hiện các hào kiệt võ lâm như Dương Hồng Tu, Trương Anh Chấn, Trương Anh Kiệt, Thường Chấn Phương
− Hai là do phái Thiếu lâm diễn hóa mà thành (xem thêm trong “Quốc thuật sử” của Hứa Vũ Sinh)
Gần đây, theo khảo chứng của tác giả cuốn “Trung quốc Tra quyền” thì truyện Tra Mật Nhĩ truyền dậy môn võ này thật sự không phù hợp với lịch sử mà cho rằng vị tiến sĩ võ khoảng năm Ung Chính đời Thanh, người ở huyện Sơn Đông quan là Sa Lượng (người đương thời tôn xưng là
Sa Mật Nhĩ “Mật Nhĩ” là ngôn ngữ Ba tư còn lưu giữ trong dân Hồi Có ý nghĩa là “Trưởng quan” Tên “Tra Mật Nhĩ” nghi là cách gọi nhầm của “Sa Mật Nhĩ” mà ra) sáng tạo nên, hình thành trong khoảng đời Thanh, ban đầu thịnh hành ở Sơn Đông Về sau có danh gia Tra quyền là Dương Hồng Tu mở lớp dậy ở Tế Nam, Hoàng Bính (Minh) Tinh truyền bá ở Hà Nam; Vu Chấn Thanh, Mã Kim Tiêu, Mã Vĩnh Thắng, xuống miền Nam truyền dạy ở một dải Thượng Hải, Nam Kinh, Tô Châu Trung ương quốc thuật quán năm xưa cũng đã từng xếp Tra quyền vào khóa trình, hiện nay, môn này lưu truyền khắp nước (T.quốc)
Môn võ này sở trường về luyện bước đi, chuyên luyện cách tiến lui cho nhanh nhẹn, dùng chiến đấu ở nơi rộng rãi hay khoảng đất trống trải Sách “Kỷ hiệu tân thư” nói nhà họ Ôn có 72 đường hành quyền, cùng một dụng ý như Tra quyền
Mấy chục năm về trước, các võ sư thuộc phái Tra quyền là Dương Phụng Chân, Trương Học Sinh được mời đến dạy tại dinh quan trấn thủ đất Tế Nam Sau đó Dương Phụng Chân được mời xuống dạy võ ở Trung hoa võ thuật hội tại Thượng Hải Về sau, học trò của Học Sinh là Vu
Trang 10Chấn Thanh được mời dạy võ tại Trường Cao đẳng sư phạm Nam Kinh Bạn đồng môn của Vu Chấn Thanh là Mã Cẩm Tiêu dạy quyền thuật tại trường Đệ ngũ tỉnh lập ở Giang Tô.
Tra quyền còn chia ra luyện khí giới dài và ngắn, đơn hoặc song, cùng với đối luyện
đối luyện tay không, đối luyện khí giới, đối luyện tay không với khí giới Bài bản quyền cước tổng cộng chia ra 10 đường (thập lộ Tra quyền) làm gốc, mỗi đường có 30 ~ 60 động tác Ở mỗi đường thứ nhất và 2 còn có một đường quyền chính và phụ Đường thảo phụ lại có yêu cầu kỹ thuật theo một lối cương và một lối nhu, chủ yếu có: Nhất lộ Mẫu tử, nhị lộ Hành thủ, tam lộ Phi thoái, tứ lộ Thăng (Khai) bình, Ngũ lộ Quan đông, lục lộ Mai phục, thất lộ Mai hoa, bát lộ Liên hoàn, cửu lộ Long bãi vĩ, thập lộ Xuyến quyền Ngoài ra còn có tam lộ Họat quyền, tam lộ Pháo quyền, Tứ lộ Hồng quyền và lưỡng lộ Thoái quyền
Tra quyền coi trọng Đàn thoái, Thập lộ đàn thoái cùng với Pháo quyền, Hoạt quyền, Hồng
quyền, Thoái quyền là công phu cơ bản Trong bài bản quy định môn Trường quyền đã từng hấp thu nội dung bộ phận Tra quyền Môn này cũng được thu nhập vào trong hệ thống tài liệu thông dụng của học viện thể dục toàn quốc
Khí giới có nhiều loại dài ngắn đơn song khác nhau : Tra đao, Xuân thu đại đao, Tra thương, Song đầu kỳ thương, Tra câu, Tra kiếm, Long hình kiếm, Côn ngô kiếm, Ngũ lang côn
Trong hệ thống Tra quyền, các kiểu động tác cơ bản của bài bản quyền thuật và kỹ thuật diễn luyện phần lớn giống với các môn Trường quyền khác Phong cách diễn luyện và kỹ thuật có đầy phong thái và sức thu hút đặc biệt
Hệ thống kết cấu động tái cơ bản và phương pháp kỹ thuật chiến đấu của Tra quyền có: bộ hình, bộ pháp, thủ hình, thủ pháp, thoái pháp, giữ thăng bằng, nhẩy nhót, xoay chuyển, đánh, chọc, bổ, chặt
Thủ pháp có: phách (bổ), cách (đỡ), thôi (đẩy), xuyên (luồn), trừu (kéo), băng (bắn), kháo (tì), triền (quấn), xung (phóng), cái(phủ), điêu (khuấy)
Thoái pháp (đòn chân) có: thích (đá), đàn (búng), điểm, đăng (đạp), tảo (quét), sản (sắn), sủy (đạp ngang), câu (móc), đề (nhấc), lan (chặn), chàng(thúc) Nhiều động tác chạy luồn, băng mình, vọt nhẩy, lạng lách tránh dạt, di dời bốc lên, tư thế duỗi dài, động tác gọn gàng, chuyển động cấp tốc, tĩnh lặng yên ổn, tiết tấu rõ ràng, lực phát ra thông đạt, cứng và mềm giúp nhau, nhịp nhàng, hoàn chỉnh, bố cục rộng thoáng, tuyến đường vận động đầy biến hóa
Trong thực tế chiến đấu có mười chữ khẩu quyết là: súc (rút lại), tiểu (nhỏ), miên (liên tục), nhuyễn (mềm dẻo), xảo (khéo léo), thác (tránh, né), tốc (mau), ngạnh (cứng), thúy (dứt khoát), hoạt (linh hoạt)
Môn Tra quyền chú trọng lối đập, bung, gẩy, đánh, tránh dạt mở khép, động tác linh hoạt, mau lẹ vững chắc Nó có lối đánh nhảy cao, đá lẹ thật nhanh nhẹn Những thế căn bản là nhảy, đá, xoay trở lẹ làng Khi luyện cần đạt tới mức tâm ổn, mắt sáng rõ, tinh thần và hình thái hòa hợp làm một Tâm ý hòa hợp với mắt nên thường sáng tỏ Tâm ý hòa hợp với đôi tay nên thường linh hoạt, tâm ý hợp với cánh tay nên thường có lực, tâm hợp với thân nên thường ở chỗ tinh Nắm tay cuộn lại như chiếc bánh cuốn, bàn tay (chưởng) tựa như ngói xếp Tay đấm ra như hổ rời hang, thu tay về thì ôm vào trong lòng
Trong quá trình vận hành bài bản môn Tra quyền, động tác của thượng chi yêu cầu
khi xung quyền, đánh chưởng, cùi chỏ hơi co, làm cho cánh tay thành dạng hình vòng cung, mặt
Trang 11nắm đấm hơi xoay vào trong cho mắt nắm tay (phía hổ khẩu) hướng lên trên, tục gọi là “tà sáp nhất cán kỳ” (cắm xéo một cán cờ), làm cho Tra quyền có được nét đặc sắc của sự tròn trịa khi dang mở động tác; Động tác hạ chi chú trọng tính co duỗi của thoái pháp, trong mỗi một đường quyền đều có vài lần đá đàn thoái, sủy thoái, trắc sủy, đằng không tiễn đàn, hình thành đặc điểm “Thủ tự lưỡng phiến môn, Toàn bằng túc đả nhân” của Tra quyền Nhìn từ hình thái động tác hoàn chỉnh thì Tra quyền đại giá tử mở rộng biên độ của động tác làm chủ thể, trong đó có động tác nhỏ hàm xúc xen cài, làm cho bài bản thể hiện ra sự đặc sắc của sự xen kẽ giữa khép và mở, trong dài có ngắn Ngoài ra, động tác của Tra quyền nhấn mạnh đến tay chân cùng phát
ra, dưới đá trên đánh Chú trọng tay đi tới thì bộ cũng tới, cùng lên cùng xuống Trong quá trình động tác, các bộ vị ngực, eo, bụng dùng lối vặn, chuyển, hợp, dang mở để quán xuyến tứ chi, gia tăng tốc độ vận hành của chi thể, tăng lớn phạm vi hoạt động của động tác Đồng thời đầu
chuyển theo thế, mắt theo tay nhìn, đã tạo thành phong cách quyền thuật ngoại hình ngay ngắn, trong ngoài hợp nhất, gồm đủ cả hình và thần
Khái quát về đặc điểm của Tra quyền có 4 điểm như sau:
1. Tư thế duỗi dài, động tác gọn gàng Phạm vi hoạt động của các khớp tay chân khá lớn, yêu cầu đối với tính mềm dẻo của cơ bắp và tính linh hoạt của các khớp xương khá cao, giúp cho sự mềm và dai của cơ bắp, tính linh hoạt của các khớp được phát triển
2. Chuyển động thì mau, tĩnh lặng thì ổn định, đạt tới mức quyền đánh ra như sao băng, mắt sáng như điện, eo chuyển tựa rắn đi, chân cắm như dùi khoan, đi như gió, đứng vững như đinh đóng Trong quá trình luyện công, bất kể là động tác lớn hay thủ pháp nhỏ, đều cần phải vô cùng mau lẹ, nhanh nhẹn, đồng thời trong khi đang xoay chuyển, tránh né mau chóng khác thường hoặc khi đang tiến hành các phương
pháp kỹ thuật phóng tới, đạp, đá, lại có thể đột nhiên lặng dừng mà ổn định
3. Phát lực thông thuận, tiết tấu rõ ràng, trình tự của việc phát lực trong môn Tra quyền là vùng thượng chi, bắt đầu ở eo, truyền đến vai, cùi chỏ, đạt tới tay; hạ chi thì khởi từ hông, truyền đến đầu gối, đạt tới bàn chân Cùng lúc với sự hoàn thành quá trình phát lực này, còn cần đạt được sự rõ ràng về tiết tấu, tức là trong toàn bộ quá trình diễn luyện bài bản, yêu cầu có sự tương trợ lẫn nhau giữa cứng và mềm, nhanh và chậm xen nhau, đi liền một mạch, tự nhiên thông thuận
4. Nhịp nhàng hoàn chỉnh Bên trong và ngoài cơ thể cần nhịp nhàng hoàn chỉnh, cần phải có sự tương ứng trên dưới, liền lạc trước sau đối với thủ pháp, thân pháp, bộ pháp trong động tác Có một số động tác khá phức tạp như các kỹ thuật động tác chuyển thân, vỗ chân, vọt nhẩy, trồi sụp, chuyển vặn cần phải có năng lực giữ thăng bằng khá tốt, đồng thời thần của mắt, ý thức hơi thở cần phải phối hợp mật thiết với động tác để đạt tới mắt nhìn tới là tay đi tới, tinh thần và hình thể hợp lại làm một Cách luyện theo kiểu phối hợp bên trong với bên ngoài này giúp tăng cường tác dụng điều tiết của đại não, làm cho sự hô hấp và cơ quan nội tạng đượcđược rèn luyện
Sau khi nước cộng hòa nhân dân Trung hoa thành lập, Tra quyền được xếp vào tiết mục biểu diễn và thi đấu của võ thuật toàn quốc Trương Văn Quảng, một danh gia truyền thụ môn Tra quyền ở Học viện thể dục Bắc kinh đã biên soạn xuất bản nhiều bộ sách nói về môn Tra quyền, thúc đẩy cho môn này được phổ cập và phát triển
Trang 12Đặc điểm kỹ thuật của Tra quyền, quy nạp có 3 điều như sau:
Tra quyền có 3 đặc điểm:
1) Tiết tấu rõ ràng, chuyển động mau, đứng dừng lặng yên
2) Động tác đi mau, đường quyền rõ ràng
3) Thế chỉnh tề lực đi thuận, mắt nhanh tay lẹ
Yêu cầu đạt đến “đi như gió, đứng như đóng đinh, vươn lên như vượn, rơi xuống như chim ưng” Chuyển động như mãnh hổ, lặng dừng như núi Nhạc, nhanh chậm xen nhau, cứng và mềm nâng đỡ nhau, chiêu pháp rõ ràng, chuyển mau dừng đột ngột Bất kể tấn công phòng thủ tiến lui tuy nhanh mà không loạn, chậm mà không tản mát, tư thế ngay ngắn thư duỗi Tay mắt thân bộ đều cần trên dưới theo nhau, trước sau liền nhau, trong ngoài phối hợp với nhau, lại còn có “tam tiết”, “lục hợp”, “thập yếu” (tức là 10 chữ yếu quyết tấn công và phòng thủ : súc, tiểu, miên, nhuyễn, xảo, thố, tốc, ngạnh, thúy, hoạt) Trong bài quyền có nhiều động tác luồn chạy, nhảy, vọt lên cao, cất lên sụp xuống gập chuyển
2 HOA QUYỀN :1) Nguồn gốc của môn Hoa quyền :
Võ thuật Trung quốc có hai môn võ đều có nguồn gốc khác nhau nhưng đều có tên gọi là Hoa quyền Một môn Hoa quyền thuộc loại Đoản đả, được viết dưới dạng chữ “thảo” (cỏ) nằm trên chữ “hóa” (biến hóa), có nghĩa là bông hoa; tinh hoa Còn môn Hoa quyền này thuộc loại
Trường quyền, được viết theo cách viết giản hóa thì là chữ “hóa” (biến hoá) nằm trên chữ
“thập” (mười), có nghĩa là: đẹp, tươi tốt, tinh túy, nước Trung hoa, … Đây là một môn võ cổ xưa của Trung quốc, khởi nguồn từ vùng Tế Ninh của Sơn đông (xưa gọi là Nhâm Thành)
Theo truyền thuyết, vào khoảng năm Khai Nguyên đời Đường (713 – 740), có vị hiệp khách sống gần núi Hoa sơn là Thái Mậu tinh thông kỹ kích, giỏi về kiếm thuật, ở quanh quẩn trong vùng Trường an, lúc rảnh hứng lên, thường rút kiếm ra múa, thế như rồng rắn, ngay cả khi tay không cũng có thể bay nhảy làm như dạng gió xoáy Về sau do kết oán thù với nhà quyền quý, ông đã dùng dao giết chết kẻ thù, phải về Sơn Đông lánh nạn, ẩn cư ở Nhiệâm Thành (đời
Đường, Tế Ninh gọi là Nhiệm Thành) Đến năm Tuyên Hòa đời Tống (1119 – 1120), người đời sau của Thái Mậu là Thái Thái và Thái Cương, có sức lực, dũng võ hơn người, thường được chọn làm tay đấu vật tham gia “lộ đài giao tranh” với các châu quận khác hoặc kinh đô Trong thực tiễn chiến đấu đấm đá túm quật, che đỡ ngăn chặn, hoá giải trên các võ đài ấy, kỹ thuật chiến đấu của họ đã được phát triển, nhân đó đã sáng lập nên một quyền pháp có phong cách độc đáo riêng, tự thành một nhà, gọi là Hoa quyền Các chiến thuật, chiến lược của Hoa quyền như :
“chợt động chợt tĩnh, thế thường không cố định ; thấy thời cơ không để mất, gặp thời thì chẳng nghi”; “trong chuyển động có ý phòng thủ, khi thất bại thì chẳng lo âu ; trong phòng thủ có ý vận động, khi thắng lợi thì có cơ hội”; “muốn tiến thì lui về trước, địch sẽ chẳng đề phòng ; muốn lui thì trước phải tiến, sẽ chẳng bị địch bức bách” ; “địch tiến tới muốn chuyển động (tấn công), mau mà đánh nó; địch lui muốn phòng thủ, dồn ép để đánh nó; dẫn địch lệch nghiêng ra ngoài rồi đánh thẳng vào họ; dụ địch xông thẳng vào rồi triệt (chặn) để đánh họ” ; “kiêu thì không phòng bị, khiếp sợ thì không dũng cảm; giỏi thì chẳng tiêu vong, chắc thắng mới làm”, nghe nói chính là do hai người này truyền lại từ thời ấy
Trang 13quyền bí phổ”, dần dần đã làm cho Hoa quyền trở nên hoàn chỉnh Trong cuốn “bí phổ” của ông, đã cho tinh, khí, thần gọi là “tam hoa”, còn nói : “Tam hoa quán nhất (quán đỉnh – hợp làm một trên đỉnh đầu), đạo thủy thành dã (bắt đầu thành đạo)”, “Hoa quyền giả, tam hoa quán nhất chi vị dã (Tam hoa dồn vào một chỗ ấy là Hoa quyền)” Như vậy có thể thấy, sở dĩ gọi môn này là “Hoa quyền”, ấy là do nó lấy triết lý “tam hoa quán đỉnh” của cổ đại dùng làm chỉ đạo lý luận cho quyền pháp, “thần dựa vào hình hài, do tâm mà phát, tiến tới mà làm thành công” Cách nói này chính xác hơn so với cách nói của tên gọi lấy theo núi Hoa sơn Sự xuất hiện
của“Hoa quyền bí phổ” ở đời Minh, đã đặt cơ sở cho sự phát triển lý luận cho môn Hoa quyền, làm cho nó trở nên hoàn chỉnh Tên của nó lấy từ chữ “tam hoa quán” Sách “Hoa quyền phổ” viết: “gọi là Hoa, là lấy ý từ hấp thu “tam hoa” là tinh, khí, thần vậy”
Có người nói, Thái Vãn là dòng nhánh con cháu của họ Thái ở núi Hoa sơn, cuối đời thường ngao du bốn phương để lánh đời, không biết mất ở đâu Do không có con cháu thừa tự, nên dòng họ Thái ở Hoa sơn của vùng Tế Ninh đến đây dần dần bị mất Do tập thể dân ở thôn Thái Hành, huyện Hưng Phúc, ở Tế Ninh có cùng họ giống với họ Thái ở Hoa sơn, nên được truyền thụ cho môn quyền pháp này, làm cho Hoa quyền lưu truyền ở Thái Hành, rồi truyền bá rộng ra ngoài Người kế thừa toàn diện kỹ thuật môn Hoa quyền thời cận đại là Thái Quế Cần, tức là khoảng năm Quang tự đời Thanh (1893 – 1908), năm cuối triều đại Thanh, Thái Quế Cần đã truyền bá Hoa quyền ra khắp nơi, tuy ông cũng mang họ Thái, nhưng khác với dòng họ Thái ở vùng Hoa sơn
Thái Quế Cần, có hiệu là Chuyết Đình, ra đời vào tháng 5, năm Quang Tự thứ 3 đời Thanh ở thôn Thái Hành, xã Hưng Phúc Tập, huyện Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông Thái Quế Cần từ nhỏ đã theo ông nội là Thái Công Thịnh tập võ Người ở Thái Hành có truyền thống đời đời tập võ, sở trường về thương và kiếm Đồng thời cũng thạo về Hoa quyền, ấy là bởi năm xưa, họ Thái ở Hoa sơn do sự giao hảo vì cùng dòng họ nên mới truyền môn này vào Thái Hành Trong quá khứ năm xưa, Thái Hành nhiều lần gặp phải thiên tai địch họa, đất đai cằn cỗi, dân tình lưu tán, đến khoảng năm Đạo Quang, Hàm Phong đời Thanh (1822 – 1861), người giỏi về võ thuật như Thái Công Thịnh chỉ còn lác đác vài người mà thôi Phải nói rằng Thái Công Thịnh là người có cống hiến trong quá trình phát triển của Hoa quyền, ấy là vì ông đã đưa ra yêu cầu huấn luyện “eo cần mềm dẻo, chân cần linh hoạt”, “háng (đũng quần) cần dựng đứng, đỉnh (dựng tay đảo
ngược) cần chụp bắt” cho môn Hoa quyền Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của tiền nhân, ông đã sáng lập ra “Cơ bản công” bao gồm 32 phép, 72 thức chuyên môn huấn luyện sự dẻo dai của
eo và chân cùng với sức lực của tay và chân như :
− Phần eo có : cúi, chuyển, vặn, lật, lắc, uốn gập, bật, quăng, cố định, hạ xuống, kéo dài ra, uốn cong(12)
− Phần chân có : ép, nhấc kéo, treo, đá, phách, xé, kéo dài ra (7)
− Phần tay có : cầy, nằm, đẩy, treo, tì, không, bò (7)
− Phần háng có : đề, cung, hư, mã, trạm (5)
Nhờ vậy, đã mở ra đường hướng cho hệ thống huấn luyện của Hoa quyền Về sau, Thái Công Thịnh mắc bệnh qua đời, gia cảnh nghèo khốn, Thái Quế Cần phải dời Thái Hành đến thành thị mưu sinh, cả nhà dời về ở tại cửa nam Tế Ninh bên ngoài Hoàng kinh các Sự biến đổi hoàn cảnh này khiến cho ông có cơ hội gặp được Đinh Ngọc Sơn, là người được chân truyền tinh thâm
Trang 14Hoa quyền dòng họ Thái ở Hoa sơn với tiếng tăm vang dội một thời là “Tề Lỗ đại hiệp” Trải qua khảo nghiệm “đêm tuyết phải chịu đày ải ba lần”, ông đã trở thành đệ tử dưới cửa họ Đinh Trong khoảng 3 năm, ông đã học được hết sở truyền tinh túy Hoa quyền của họ Đinh, rồi lần hồi một mình tạo được chỗ đứng trong giới võ thuật, trở thành bậc thầy lớn trong nghề võ, người truyền bá quyền pháp Hoa quyền thời cận đại từ cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc cho đến nay Cuối đời, ông định cư ở Thượng Hải, đã từng nhận lời dậy ở hội Tinh võ, làm cho Hoa
quyền được lưu truyền xuống phương Nam Hiện nay môn này lưu truyền chủ yếu ở Sơn Đông, Thựơng Hải, Giang Tô, Triết Giang, Hồ Bắc, Hồ Nam, Hà Nam, Quảng Đông, Hồng Kông Tại Nhật bản, Singapo cũng lưu truyền môn này
Cùng thời với Thái Quế Cần, nhân vật đại biểu làm cho Hoa quyền được tiến một bước trong sự phát triển và truyền bá, còn có Đổng Bảo Thái, Lưu Vĩnh Thụy, Hầu Ân Tứ và Tu Đại Hoà Thượng (tên tục là Lý Thụy Vân) Hoa quyền của Đổng Bảo Thái, chủ về tư thế, coi trọng sự đoan trang, chú ý đến “đơn bãi phù các” (đơn : một, đơn lẻ; bãi : lắc, vẫy, xua, khua; phù : hiện lên, bơi, vượt quá; các : tránh được) Hoa quyền của Lưu Vĩnh Thụy coi trọng kình lực, nhấn mạnh đến “lực cương (cứng) khí thô”; Hoa quyền của Hầu Ân Tứ yêu cầu “khinh linh tế
xảo” (nhẹ nhàng khéo léo), tiến lui rõ ràng; Còn của Như Tu Đại Hòa Thượng thì lại lấy Thiền công của họ Thích kết hợp làm một với quyền pháp của Hoa quyền, sáng chế theo một cách riêng biệt, biến thể phát triển thành “La Hán quyền”, cách luyện của nó là “lấy khí làm chủ, lấy hình làm phụ”, gọi là “Thiếu lâm tâm pháp” Tất cả các môn này đều là trên cơ sở kế thừa của Hoa quyền đã có sự phát triển đổi mới thêm
2) Kỹ thuật cơ bản của Hoa quyền :
Hình thức múa tập luyện của môn Hoa quyền có khá nhiều bài bản, nội dung có: đánh tay
không, khí giới (đao, thương, kiếm, côn), đơn luyện, đối luyện Bài bản quyền thuật có 3 cấp là
sơ, trung và cao cấp, với 18 bài sơ, trung cấp quyền thuật và12 bài cao cấp (tức các đường quyền từ 1 ~ 12) Đây là những bài có tính đại biểu cho môn phái, đa số lấy nội dung từ các động tác chiến đấu và thế thức tấn công phòng thủ như : đá, đánh, quật, bắt, sắp xếp theo quy luật vận động tiến công phòng thủ cất lên phục xuống, quặt chuyển, tiến lên lùi xuống, chuyển động hay tĩnh lặng, lúc nhanh lúc chậm, khi cứng hay mềm, lúc giả và thật, khi trầm bổng ngừng ngắt để tạo thành Đặc điểm chủ yếu của những bài này là : vừa có thể tập múa một người, lại có thể đối luyện hai người với nhau, qua đó nắm bắt và lý giải được ý nghĩa kỹ thuật chiến đấu của mỗi động tác Nhưng, nó lại không chỉ đơn thuần là tăng thêm vào động tác chiến đấu, mà còn chịu sự chế ước của “phương pháp kỹ thuật” của nghệ thuật vận động quyền pháp Bài bản của Hoa quyền có sự nhu nhuyễn, cứng mạnh, thanh thoát tự nhiên, mau lẹ cấp tốc, du dương chậm dãi, bao gồm các động tác té ngã, lăn lộn, giữ thăng bằng, vọt nhẩy Nhờ vậy khi thường xuyên
luyện tập Hoa quyền, có thể huấn luyện cho người ta kỹ năng chiến đấu, đối với các bộ phận của cơ thể, có thể phát triển toàn diện, tăng tiến cơ năng của các bộ phận, giúp cơ bắp phát
triển, khớp xương linh hoạt, căng giãn dẻo dai và chắc mạnh, có tác dụng tốt đến cơ quan tiền đình (giữ thăng bằng) và cơ năng phối hợp nhịp nhàng của trung khu thần kinh
Quyền pháp của Hoa quyền chú trọng hình thể ngay ngắn; gân cốt mạnh khỏe cường tráng; tâm làm chủ tể, tâm ý động thì hình đi theo, ý phát khởi thì thần truyền đạt; chuyển động mau, tĩnh lặng thì ổn định; khí thế liền lạc liên miên; khéo điều chỉnh hơi thở; âm dương đối lập Hoa
Trang 15quyền có 4 đặc điểm:
1) Thế ngay ngắn, chiêu thức tròn trịa, kết cấu chặt chẽ, thế quyền yêu cầu đối xứng trái phải, hình thành quy luật trên dưới, không nghiêng lệch, không tán loạn
2) Kình đi gấp thân thể ngay ngắn, thông suốt một mạch Yêu cầu đạt được “chiêu liền
chiêu, thế tiếp thế, bộ lôi kéo bộ”, “hình đoạn ý liên, thế đoạn khí liên”
3) Chuyển động cấp tốc, dừng lại đứng yên, tiến lui đều mau Yêu cầu động thì chợt phát, như gió cuốn mây tan Tĩnh thì bỗng dừng, giống mặt hồ lặng sóng
4) Cứng và mềm nâng đỡ nhau, phân rõ thật giả Đi quyền yêu cầu có cương có nhu, vừa có nhanh lại có thể chậm, việc co duỗi căng chùng, chìm nổi ngừng ngắt đều cần ứng dụng hợp lý trong bài quyền
Kỹ thuật cơ bản của Hoa quyền, nói chung có thể chia ra 8 điểm như sau :
• Ngũ thể cân xứng (Hình thể ngay ngắn): Hoa quyền gọi thân mình, hai tay và hai tay là “ngũ thể”, “ngũ cốt”, “ngũ cân”, cho rằng mỗi động tác và thế thức của đường quyền đều do 5 mạch tuyến này tạo thành Nếu kết cấu tổ hợp của 5 mạch tuyến không cân xứng, không ngay ngắn, sẽ không thể coi là đã đầy đủ hình thể của quyền pháp Trong “Hoa quyền bí phổ” có nói: “Ngũ thể cân xứng mới có thể gọi là hoàn bị về hình” Nhân đó mới chủ trương “hình ấy phải vuông đúng như ê ke, tròn đúng như vẽ com pa, thi triển từ trong sự cân bằng, thu gom ôm lấy nhau, ngó nhìn qua trái và phải, tám mặt hướng về một tâm” Mỗi động tác, tư thế đều chú ý đến
không gian trước sau trái phải, trên dưới cao thấp, làm cho không bị thiên lệch, ngay ngắn yên ổn, tư thế chính xác chiêu thức tròn trịa, hình thể ngay ngắn Thế thức yêu cầu ngay ngắn
cân xứng, nghiêm chỉnh
‚ Gân cốt mạnh khỏe, cứng mạnh có lực : Hoa quyền cho rằng quyền pháp nếu chỉ làm cho ngũ thể cân xứng, hình thể ngay ngắn, thì cũng chưa đủ, mà còn yêu cầu có “chất” Chỉ có cách làm cho “ngũ thể” tạo thành động tác quyền pháp và thế thức đầy đủ sức mạnh, làm cho gân cốt của hình thể cứng mạnh có lực, thì mới coi là đạt đến yêu cầu về “chất” “Hoa quyền bí phổ” nói :
“gân cốt mạnh mẽ mới có thể gọi là chất lượng tốt” Bởi vậy, Hoa quyền mới gọi “ngũ thể” là
“ngũ cân”, “ngũ cốt”, “cốt pháp” được chú trọng rất nhiều, mỗi động tác và thế thức đều cần
“dồn lực vào trong chân tay”, làm cho tứ chi và thân mình thường ở dưới trạng thái có sức căng Như vậy, gân cốt của “ngũ thể” mới đầy đủ sức mạnh “Hình thể cân xứng, kình lực mạnh mẽ”, như vậy mới có được “hình chất hoàn thiện” trong quyền pháp Động tác, thế thức chú ý vận dụng “cốt pháp” (cách vận dụng gân cốt) là “xanh (chống), bạt (ưỡn), trương (dương), triển (duỗi), câu (câu móc), khấu (ghìm giữ), kiều (cất lên), tướng (giúp nhau), băng (nhẩy vọt lên), đỉnh (đẩy), tháp(sụp xuống), thu (thu về), trầm (chìm xuống) Cũng tức là “ngũ thể” (thân mình và tứ chi) cần cốt có cốt cách cường tráng, mạnh mẽ chắc chắn
ƒ Tâm động hình tuân theo : trong “Hoa quyền bí phổ” có nói : “Tâm điều khiển tính tình, là chúa tể của toàn thân” “ Cái tâm ấy lấy sự chắc thật để hoạt động thì chi tiết ắt có lực; cái tâm ấy lấy lòng nghi ngờ để hoạt động, thì chi tiết ắt không theo ý”, “tâm chính rồi sau đó thân mới chính”, “tâm chính ở bên trong, thì sau đó sự động tĩnh mới không bừa bãi” Bất kể sự vận động nào của hình thể cũng đều chịu sự chi phối của hoạt động tâm chí Nếu chỉ có hình thể động tác
ở bên ngoài, mà không có hoạt động tâm chí ở bên trong, thì quyền pháp sẽ vẫn chưa đủ mức độ cao về “chất” “Tâm kiên cường thì tinh mạnh”, “nếu tâm không kiên cường thì hình hài không
Trang 16có kình lực mạnh mẽ được” Cần nâng cao chất lượng “hình thể cân xứng kình lực mạnh mẽ” của thế thứ động tác, lại còn cần thông qua tác dụng của “tâm lực” “Tâm động thì khí sinh”,
“lòng nghiêm trang thì tinh thần tập trung”, hoạt động của tâm chí làm chủ toàn bộ quyền pháp Bởi vậy, Hoa quyền chủ trương “tâm động hình tuân theo” Chú trọng tác dụng nội tại của tâm chí, cho rằng trong và ngoài phối hợp với nhau thì kình lực mới có thể cứng mạnh, chuyển động có ý hướng, do đó khi vận động đều là “tâm chí nằm ở trước thế đánh, thế đánh ở sau tâm”
„ Không cương không nhu : Hoa quyền cho rằng quyền pháp không nên thuần cương (hoàn toàn cứng), cũng không nên thuần nhu (hoàn toàn mềm) Chủ trương không quá cương, không quá nhu, cương và nhu nên giữ ở mức “trung hòa” Cho nên, “Hoa quyền bí phổ” nói : “Thuần nhu thì thuần nhược (hoàn toàn yếu), cái thế ấy ắt bị đè bẹp; thuần cương thì thuần cường, cái thế ấy ắt cũng bị tiêu vong; không nhu không cương, thường phù hợp với đạo (nên còn mãi)”
… Chuyển động tấn tốc, tĩnh lặng đứng yên : Trong Hoa quyền có chiêu, có thế “Hoa quyền bí phổ” viết rằng: “Thế là thủ, thuộc âm, chủ tĩnh; chiêu là công, thuộc dương, chủ động” Nhưng,
“tĩnh chẳng phải là không chuyển động, động chẳng phải là không có sự yên tĩnh”, cần phải là
“trong tĩnh có động, trong động có tĩnh” Bởi vậy “cần động mà lại tĩnh, thì như nuôi kẻ địch để sinh gian trá; cần tĩnh mà lại động, thì làm mất thời cơ đến nỗi làm hỏng việc” Cho nên quyền pháp cần chú trọng việc “ tĩnh như cá lặn (biệt tăm)”, “động như con rái cá chạy (không
ngừng)”, “tiến như gió mưa (cấp tốc ào ạt)”, “lui như núi Nhạc (ổn định vững chãi), chuyển động tấn tốc, tĩnh lặng đứng yên, có tiết tấu và trật tự thứ lớp
† Khéo điều chỉnh hơi thở (Đề thác tụ trầm) : Hoa quyền coi trọng việc điều tiết hơi thở khi vận động Trong “Hoa quyền bí phổ” có nói đến 4 kiểu phương pháp là “đề, thác, tụ, trầm” Trong tình huống thông thường, từ động tác dưới thấp tiến sang động tác trên cao, hoặc khi làm động tác vọt nhẩy thì vận dụng phép “đề”(đưa khí lên) Khi xuất hiện động tác đứng dừng lại ở thức cao hoặc thức thấp thì vận dụng phép “Thác” (giữ khí lại) Khi xuất hiện động tác cứng giòn, ngắn gọn có lực thì vận dụng phép “Tụ” (gom tụ lại) Khi động tác ở cao tiến vào động tác ở dưới thấp thì vận dụng phép “Trầm” (hạ chìm xuống) 4 kiểu phương pháp điều tiết hơi thở này lại cần phải là do “cơ thể sinh ra khí, khí nuôi dưỡng cơ thể”, vận dụng biến hóa tự nhiên tuỳ theo tư thế động tác, không nên cố ý thực hiện cách hít thở quá mạnh Trên tổng thể còn cần
“khí quán (dồn vào) Đan điền”, thường xuyên chú ý “bình tâm tĩnh khí” (giữ tâm bình yên, khí tĩnh lặng)
‡ Liên miên phụ thuộc nhau (Các thế thông liền nhau) : Hoa quyền coi trọng sự liền suốt một mạch, không xuất hiện gián đoạn trong thế thức động tác của một đường quyền “Hoa quyền bí phổ” nói: “Các thế quyền pháp, phải liên hệ liên tục với nhau, lưu chuyển không ngừng” Cho rằng “khí thông mới sinh”, kỵ nhất là chữ “đoạn” (đứt) Nhưng nói là “liên tục”, cũng không phải là không để cho giữa các thế có khoảng trống gián cách ngưng nghỉ, mà là chú trọng vào việc cần phải đạt đến “hình đoạn ý vẫn đi liền”, “thế đoạn khí vẫn đi liền” trong thời gian nghỉ giữa các thế, giỏi vận dụng hoạt động tâm chí ở bên trong, thông qua cái thần của con mắt (ánh mắt) mà đem ý hướng của động tác trước và sau trở nên liên tiếp, làm cho thế quyền tiếp nối nhau, liền lạc một mạch Trong cách luyện, nhấn mạnh tới sự “liên miên tiếp nối theo nhau, khí mạch không ngừng” Nói rằng “liên” (liền), là giữa khoảng mỗi chiêu mỗi thế cần phải đạt tới
Trang 17ngắt nhưng khí vẫn đi liền), vận dụng hoạt động tâm trí ở bên trong và cái thần của mắt để làm cho ý hướng trước sau của động tác trở nên liên tiếp, các thế tiếp liền nhau, liền mạch thông suốt.
ˆ Hai mặt tạo nên công dụng (Phân rõ âm dương): “Hoa quyền bí phổ” viết : “Một vật có hai thể, ấy là khí vậy” “Âm dương, cương nhu, thuận nghịch, hướng tới hay quay ngược trở lại, lẻ và chẵn, đều là hai cả, không phải là một vậy.” “Hai mặt để tạo nên công”, cho rằng
“không tạo lập hai mặt thì không thấy được một mặt, một mặt đã không thấy thì cái dụng của hai mặt cũng chấm dứt”, có “hai mặt” đối lập và thống nhất của âm với dương, thì mới có sự vận động, có biến hóa, mới sản sinh ra được công dụng “Song trọng thì trệ” : nếu như hai phía trong cùng một sự vật đều là âm hoặc đều là dương, dùng âm đối âm, dùng dương đối dương, đó đều gọi là “song trọng” Phạm phải song trọng “âm – âm” hoặc “dương – dương”, thì tất cả đều sẽ bị ngưng trệ Bởi vì “dương không thể đứng độc lập, có được âm thì sau đó mới thành; âm không thể tự chuyên trách được, nhờ có dương rồi sau đó mới vận hành” Nếu là âm – âm thì đều là âm, dương – dương thì đều là dương, chúng chỉ có một khí, mà không có hai khí, “dương gặp âm thì thông, gặp dương thì bị cản trở, cho nên sẽ không thể sản sinh vận động, sản sinh biến hóa, sản sinh công dụng Bởi vậy, Hoa quyền chú trọng “tinh thần dựa vào hình thể, do tâm mà phát, hai mặt tạo nên công” Đem “tinh thần” được coi như là “công, là dụng”, phải phụ thuộc vào hình thể, chịu sự chi phối của tâm Nhấn mạnh đến sự bổ sung tạo thành lẫn cho nhau từ hai phía mâu thuẫn Cho rằng, chỉ có làm cho “hai khí Âm Dương” trở nên hài hòa, mới có thể sản sinh công dụng của “Thần”, nhân đó đối với các nhân tố như : động – tĩnh, hư - thực, cứng – mềm, nhanh – chậm, duỗi – co, căng – chùng, ém lại – dương ra, liên tục – ngắt quãng, nặng – nhẹ, trồi lên – sụp xuống, trong – ngoài, trên – dưới, trái – phải, ngay ngắn – nghiêng lệch, cần hết sức chú ý trong khi vận động
Có được sự đối lập và thống nhất của “hai mặt” này mới sản sinh ra công dụng Nhân tố đối lập của hai khí âm dương rất được chú trọng trong bố cục, thể thức kết cấu, kình lực, v.v của đường quyền
Phương pháp kỹ thuật cơ bản này chỉ dẫn cách làm thế nào để luyện tốt phương pháp cơ bản của Hoa quyền Nắm bắt được điều này, sẽ từng bước nâng cao trình độ luyện tập môn Hoa quyền, lại còn nâng cao thêm hứng thú đối với việc tập luyện võ thuật
3) Lý luận cơ bản cách chiến đấu của môn Hoa quyền :
Chiến thuật chiến lược thực tế chiến đấu của môn Hoa quyền cũng có lý luận cơ bản khá hệ thống Nói theo cách đơn giản, trong khi chiến đấu, Hoa quyền vô cùng coi trọng sự “đắc khí”,
“đắc thời”, “đắc cơ”, “đắc thế”, cho rằng đó là mấu chốt của sự thắng bại, gọi là “tứ đức” “Hoa quyền bí phổ” nói rằng : “Người giỏi chiến đấu, lấy sự dũng cảm làm đầu, lấy khí làm quyết định” “Lấy khí để thực hiện ý chí”, “chí, là tướng soái của khí”, mà “dũng” thì là “cái chỗ để chí dám làm” Cho rằng “nổi giận sinh ra khí, mắt không coi dao sắc nhọn là gì cả; ý chí hướng tới chỗ nào, thì vững chắc tới đâu cũng vẫn cứ vào được; người đánh thắng, ấy là kẻ đánh dũng cảm” Nếu như trong đánh nhau, “tuy chỉ có tài mà không có chí” thì “không thể tăng được
thành tích” Bởi vì “thắng do ở đắc khí, bại do ở làm mất khí”, “ý chí hợp nhất thì thắng, khí tản mát thì thua” Cho nên Hoa quyền chủ trương “đắc khí” là điều cần trước tiên trong chiến đấu Trong ứng chiến thực tế với địch, Hoa quyền chú trọng: “lấy dũng làm đầu, lấy khí làm yếu
Trang 18quyết”, yêu cầu đạt đến “nhất lang, nhị độc, tam cấp, tứ trí, ngũ thuận, lục cơ, thất dật, bát
vô” (1 là hiểm, 2 là độc ác, 3 là cấp tốc, 4 là mưu trí, 5 là nương theo, 6 là thời cơ, 7 là an nhàn,
8 là không)
“Đắc thời”, là “thấy lợi không để mất vậy” Lúc đánh lộn với nhau, khi đối phương có sơ hở, là thời cơ có lợi cho ta, không nên hồ nghi do dự Bởi vì “thời cơ khó được mà dễ mất”, do dự thì trì hoãn, trì hoãn thì mất thời, mất thời thì không thắng Ấy gọi là “sau lúc thất lợi, lại còn gặp tai ương” Bởi vậy, Hoa quyền nhấn mạnh việc “Lúc đắc thời không để chậm trễ, thời cơ không quay trở lại” Cho rằng mấu chốt của thắng bại là “đạt được do ở thời cơ, không ở sự tranh đấu”, cần phải “thấy lợi không để mất, gặp thời chẳng nghi ngại”
“Đắc cơ”, là “quan sát hướng chuyển động, thừa lúc họ chưa ổn định, đánh lúc họ vô ý” Hoa quyền cho rằng lúc đánh nhau chẳng gì “thần kỳ bằng việc đắc cơ”, cần khéo quan sát hướng chuyển động của đối phương, thừa lúc họ muốn động mà chưa động hoặc chuyển động mà chưa ổn định, để cấp tốc tấn công Nhưng mà cái cơ hội này, trên không gian và thời gian là “lúc
trước sau không để xê xích một giây, khoảng xa gần không cho cách một phân, đi trước nó một khắc thì vượt quá lớn, sau nó một khắc thì mất thời”, “không để chút chậm trễ”, phải cho vừa khít thích hợp, mới gọi là “đắc cơ” Người giỏi “đắc cơ” thì thắng, không giỏi “đắc cơ” thì thua
“Đắc thế”, là “thuận theo cái thế ấy” “Cái thế ấy, đều gọi là thuận mà không phải là nghịch” Khi đánh nhau, Hoa quyền chủ trương “dựa theo thế mà tìm ra lối đi có lợi”, không cản trở
ngược lại nhau Bởi vì “trở ngược thì mất thế”, mất thế thì không thắng
Có được “tứ đức” (4 đức) là khí, thời, cơ, thế này mới có thể nắm chắc được thắng lợi trong
chiến đấu
Lý luận cơ bản của thuật chiến đấu trong môn Hoa quyền còn có thuyết “hư thực tương
sinh” (thật giả sinh ra nhau) Hoa quyền xem sự hữu hình của kỹ thuật chiến đấu là thực, vô hình được coi là hư “Hoa quyền bí phổ” nói : “Hữu hình là thực, vô hình là hư” Khi đánh nhau, “hư thì khó công, thực thì dễ phá” Bởi vì “vô hình thì khó thấy tình hình của nó”, sự dối lừa động tĩnh mạnh yếu khôn lường; hữu hình thì có thể phân biệt được tình hình của nó Cho nên, chủ trương “chiến đấu quý ở chỗ vô hình”, làm cho bản thân thường ở vào địa vị ẩn giấu hình tích Chữ “hư” cũng có nghĩa là sự giả dạng, để làm cho đối phương từ “vô hình” bộc lộ qua “hữu hình”, ta cần phải “biểu hiện bằng cái hư, nghênh đón bằng cái thực”, cung cấp cho đối phương nhiều hình tượng giả để dẫn dụ họ Khi đối phương đã bộc lộ hình tích, thì lấy lực lượng thật sự của ta ra để đánh họ “Hư” và “thực” lại còn nói về việc mạnh yếu cứng mềm, khi đón đánh vào cái hữu hình của đối phương, còn cần “tránh chỗ mạnh của nó, đánh vào chỗ hư”, phải giỏi về việc tránh khỏi sở trường của đối phương, tấn công vào sở đoản của họ Nhưng mà, hư thực lại là
“dựa vào thế mà làm cho thích hợp”, dựa vào biến hóa của hình thế, mà thực có thể hóa ra hư,
hư có thể hóa ra thực, “người đánh giỏi, không thể không hư, không thể không thực”, “hư và thực sinh ra nhau như vòng tuần hoàn không đầu mối”, làm cho đối phương khó đoán được đâu là đầu và cuối Người giỏi về phát sinh hư và thực tiếp nối nhau, đánh không sợ thua
4) Công pháp của môn Hoa quyền : chia ra trạm trang (trụ tấn), đả trang (đánh vào cọc), thích trang (đá vào cọc), đánh bao cát, trích tinh hoán nguyệt
Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung hoa thành lập, Hoa quyền được xếp vào tiết mục biểu diễn và thi đấu của võ thuật toàn quốc, và đã từng được chỉnh lý, xuất bản lần lượt 4 cuốn sách
Trang 19là “Nhất lộ Hoa quyền”, “Nhị lộ Hoa quyền”, “Tam lộ Hoa quyền” và “Tứ lộ Hoa quyền” Bài
“Nhất lộ Hoa quyền” và “Tứ lộ Hoa quyền” Thái Long Vân (sinh tháng 11 năm1928), người ở Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông biểu diễn đạt huy chương vàng trong đại hội thi đấu và biểu diễn hình thức thể dục dân tộc toàn quốc (Trung quốc) năm 1953 Thái Vân Long đã xuất bản cuốn “Hoa quyền” (1956), “Tứ lộ Hoa quyền và Nga My kiếm” (tháng 2 năm 1991)
3 TAM LỘ PHÁO QUYỀN Theo tên gọi, có nghĩa đây là một môn võ chú trọng đến sức lực, hình dung tư thế oai phong tựa như một khẩu đại pháo ngoài chiến trận, uy lực công kích của môn võ này giống như đạn pháo Trong võ thuật, có vài môn dùng chữ “pháo” làm tên gọi bài quyền hoặc bài quyền dùng chữ
“pháo” làm từ để hình dung
Tam lộ pháo quyền này thuộc loại Trường quyền, khi xưa thuộc môn Thiếu lâm, do Vương Tử Bình truyền lại, nằm trong 4 môn võ lớn cùng với các môn là Tra quyền, Hoạt quyền, Hồng quyền (lại có người còn gộp thêm cả Đàn thoái, thành ra 5 loại, đều nhập vào môn Tra quyền) Trong tài liệu “võ thụât” của học viện thể dục Trung quốc hiện nay, nó cũng được đưa vào loại Trường quyền, và còn được xếp vào loại bài bản Trường quyền truyền thống có danh tiếng
Pháo quyền là một loại quyền thuật có tư thế khai mở, cứng mạnh có lực, chiêu thức rành mạch, tính chiến đấu rõ ràng Khi tập luyện yêu cầu mau lẹ có lực, mức độ trồi lên sụp xuống ngoặt chuyển khá lớn Phong cách kỹ thuật thì dũng mãnh uy nghiêm đi kèm với sự trầm tĩnh, tiến tới mức độ “động như điện chớp, phát ra mau như gió mưa, một mình ra vào, không gì ngăn cản nổi” Trong kỹ thuật động tác, có hàm ẩn khá nhiều phương pháp kỹ thuật của Thập lộ đàn
thoái Có thể nói kết cấu trong Tam lộ pháo quyền là lấy cơ sở kỹ thuật của thập lộ đàn thoái Mọi người chẳng khó khăn gì để nhìn ra quan hệ kế thừa gắn bó mật thiết giữa hai môn này.Tuy nói Pháo quyền cũng có Thập lộ (10 đường), nhưng qua sửa đổi chỉnh lý chỉ có 3 bài là tam lộ, lục lộ và cửu lộ được lưu truyền Trong số đó, Tam lộ pháo quyền được lưu hành rộng rãi nhất, ảnh hưởng lớn nhất và có tính đại biểu hơn cả Người ta quen gọi nó đơn giản là “Tam lộ pháo” Nhìn chung, trong môn Pháo quyền được tryền dạy qua 30 đời các vị quyền sư nổi tiếng trong người Hồi cho đến các vùng trên khắp lãnh thổ Trung hoa, đều lấy Tam lộ pháo làm chủ yếu Giống như trong 10 đường Tra quyền cũng có Ngũ lộ Tra quyền và Tứ lộ Tra quyền có ảnh hưởng khá lớn vậy
Động tác toàn bài Tam lộ pháo quyền chia ra 8 đoạn, cũng tức là đi về 8 lượt trong cả bài Tổng cộng có 70 động tác
Kết cấu đường đi của bài là:
− Đoạn thứ nhất: từ Thượng bộ dẫn thủ khiêu chưởng cho đến động tác thứ 8 là “Phiên thân phách quyền Mã bộ bổng quyền” là đi xéo qua góc trái, bước tới hướng tây nam
− Đoạn thứ hai: bắt đầu từ động tác thứ 16 là “Tính bộ chấn đóa bổng chưởng” là bước tới góc đông bắc
− Đoạn thứ ba: vẫn hướng về góc tây nam
− Đoạn thứ tư: bắt đầu từ động tác “Phiên thân phó bộ xuyên chưởng” là chạy
thẳng; sau khi đến động tác thứ 8 là “Yết bộ bão chưởng” là bật đá về hướng bắc
− Đoạn thứ năm: từ “Song thôi chưởng” là đi tới theo hình tam giác sau đó lại đi xéo về góc tây nam
Trang 20− Đoạn thứ sáu đi thẳng giống đoạn bốn.
− Đoạn bẩy và tám đều đi qua lại theo đường thẳng Duy trong động tác đoạn bẩy có 3 động tác lật người khá phức tạp, người học cần chú ý
Tam lộ pháo quyền do khi rèn luyện thì dũng mãnh mau lẹ mà có lực, yêu cầu phát kình cao, động tác liên hoàn cần giống như cây pháo dây, phạm vi hoạt động lớn, cất lên sụp xuống lớn, có nhiều ngoặt chuyển, bởi vậy lượng vận động khá lớn, rèn luyện lâu dài, có ích lợi rất lớn trong việc tăng cường sức khỏe, phòng thân và nâng cao tố chất cơ thể
4 PHÁO CHÙY Là một môn quyền thuật của Trung quốc, còn gọi là “Tam hoàng pháo chùy” “Tam hoàng” ý nói đến 3 vị vua là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế có trong truyền thuyết của Trung quốc
“Pháo chuỳ” ý chỉ cho uy lực lớn mạnh giống như đạn pháo hay như dạng quả chùy đánh ra trầm trọng và hung mãnh khi đánh quyền
Môn này được sáng chế từ cuối đời Minh, phát triển tới thời Trung diệp của đời Thanh Tương truyền vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, nhà sư Phổ Chiếu ở chùa Thiếu lâm đem môn võ này truyền cho Cam Phượng Trì và Kiều Tam Tú Kiều Tam Tú lại truyền cho con mình là Kiều Hạc Linh, Kiều Hạc Linh khi ngao du ở núi Nga My, vừa khéo gặp được Vu Liên Đăng người ở Sơn Đông và Tống Mại Luân, người ở Hà Bắc, cùng bàn luận về đạo và võ, thấy khá hợp ý, liền thu
2 người này làm đồ đệ 2 người họ Vu và Tống học thành nghề xong trở về cố hương, lại có chỗ sáng tạo và phát triển đối với môn Pháo chùy, hình thành dần nên 2 hệ phái lớn là Vu và Tống lưu truyền đến nay Từ đó xuất hiện câu nói “Vu quyền Tống thủ”, đặt cơ sở cho sự phát triển của môn Pháo chùy sau này Cuối đời Thanh, xã hội bắt đầu loạn, nghề bảo tiêu do đó thịnh hành Đa số võ sư nổi tiếng thời đó về môn Pháo chùy đều làm nghề bảo tiêu, thu thập đệ tử Pháo chùy lưu truyền khá rộng ở một dải vùng Bắc Kinh, trở thành một loại quyền thuật đặc sắc có tính địa phương của vùng Bắc Kinh
Đặc điểm kỹ thuật: Bài bản của Pháo chùy ngắn, ít bài quyền, đòn thế gọn gàng, kết cấu đơn giản, động tác giản dị dứt khoát, không cầu kỳ, lối ra đòn cấp tập, mỗi một chiêu thức, mỗi lần súc tích hay phát ra đều đầy đủ kình lực cứng mạnh, có tính chiến đấu cao Ngạn ngữ võ thuật nói “Chùy đánh chữ thập, phóng qua trái phải, phía trước đánh vào sườn, đằng sau đánh vào ngực” Qua đó đã tỏ rõ đầy đủ đặc điểm kỹ thuật của môn Pháo quyền Luyện Pháo quyền có 5 yêu cầu như sau :
1) Khí chìm xuống cần tụ lại
2) Lực ở gốc cần mạnh
3) Hổ khẩu và cổ tay cần ưỡn ra
4) Eo và mắt cần linh hoạt
5) Tâm trí cần hoạt bát
Pháo quyền vốn có 12 bài, hiện tại chỉ còn có 7 bài Phương pháp cơ bản của Pháo chùy có Thập nhị pháo tức: Khai môn pháo ; Phách sơn pháo ; Liên hoàn pháo ; Chuyển giác pháo ; Thập tự pháo ; Não hậu pháo ; Tiết đỗ pháo ; Xung thiên pháo ; Liêu âm pháo ; Trát địa pháo ; Oa tâm pháo và Thất tinh pháo
Khí giới diễn luyện thường dùng của Pháo quyền có : thương, kiếm, đao, côn
Trang 21Sau khi nước cộng hòa nhân dân Trung hoa thành lập, Pháo chùy được chọn là tiết mục biểu diễn và thi đấu của võ thuật toàn quốc.
Đường thảo thứ 2 của Thái cực quyền Trần gia cũng được gọi là Pháo chùy, ngoài ra còn có môn Pháo quyền, nhưng cả hai đều khác với môn Tam hoàng pháo chùy này
5 ĐỊA CHI PHÁO QUYỀN :Thuộc hệ thống Bát môn quyền Môn võ này tương ứng với Thập nhị địa chi là tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi Lối đánh quyền mãnh liệt, như pháo nổ sấm kêu, cho nên có tên là Pháo quyền Nghe nói môn này do một người tên là Thường Ba Ba sáng chế trong khoảng năm Gia Khánh đời Thanh Nhân vật đại biểu chủ yếu cho môn này có Lý Văn Hỷ, người ở An Ninh Bảo, tỉnh Lan Châu; Trịnh Giang, người ở thành phố Tây Cố và Vương Đức Thành
Địa chi pháo quyền tổng cộng có 12 đường Kết cấu bài bản chặt chẽ, thế quyền thư duỗi vung rộng, kình lực đầy đủ chắc chắn; động tác linh hoạt, thân pháp tự nhiên, tiết tấu rõ ràng, đi liền một mạch Nổi bật là đặc điểm kỹ thuật chiến đấu, chú ý đến tấn công và phòng thủ, coi trọng thực dụng, gồm đủ cả thể và dụng Động tác chủ yếu có : “Tả hữu ủng thủ” (ôm tay bên trái và phải), “Yến tử hàm nê” (chim én ngậm bùn), “Thái tử thượng điện”, “Quỷ xả toàn” (quỷ kéo dùi khoan), “Đại pháo đoạt oa” (bắn pháo lớn cướp hang ổ), “Hoa thủ pháo”, “Thiểm pháo”,
“Lộc lô ai kiên”
Thủ pháp lấy quyền làm chủ, đan xen vào có các loại chưởng pháp Thoái pháp dùng Đại bôn thoái (chạy bước dài), Tiểu bôn thoái (chạy bước ngắn), Lý nhu thoái (đạp chân phía trong), Ngoại thái thoái, Tả hữu đóa tử cước làm chủ, kiêm có các
cách quật ngã bằng chân như : lý giao, ngoại giao, tiền tảo, hậu tảo
Công pháp chủ yếu là một số các phương pháp luyện tập eo, chân, vật ngã Trong lúc diễn
luyện, yêu cầu cẩn thận từng chút một, tiến dần theo thứ tự, duy trì tập thường xuyên Môn võ này lưu truyền chủ yếu ở các vùng Cam Túc, Ninh Hạ, Thanh Hải, Tân Cương
6 THÁI HOÀ QUYỀN Thái Hòa quyền thuộc loại Trường quyền, chú trọng tu tập cả trong lẫn ngoài, chủ trương chia võ thuật ra 2 môn là Võ nghệ và Võ đạo
Võ nghệ thì chú trọng về tư thế, coi trọng khí lực Võ đạo thì chú ý dưỡng khí, nặng về thần ý Phép nội công luyện “Bát khuyên kình”, “Bát thôi Thái hòa công”, “Thái hoà huyền ất công”, đặc điểm là đều coi trọng cả 3 thứ ý, khí, lực Lấy ý vận khí, khí tới đâu, lực theo tới đó, dùng cả
hư (giả) và thật, cứng và mềm giúp lẫn nhau Rèn luyện lâu ngày, sẽ khỏe người, tiêu trừ bệnh tật, eo và chân thêm nhẹ nhàng mạnh
mẽ
Bài bản ngoại công có : “Loan linh bát thủ”, “Hắc hổ quyền”, “Trung quyền”, “Tổ chiến ngũ hầu”, “Uyên ương lộ”, “Lục gia thế”, “Đại hoa sơn”, “Tiểu hoa sơn”, “Long chân đồ”, “Đường lang đồ”, “Mãnh hổ thượng sơn”, “Mãnh hổ hạ sơn”, “Quán quyền”, “Bát khởi lô” Thái hòa quyền đã hòa trộn đưa vào một số kỹ thuật của Đường lang quyền, đầy đủ cả đòn ngắn và dài, lấy đòn dài làm chủ Đòn chân có cao, có thấp Lấy đòn đá thấp làm sở trường, lại mượn thêm
sơ hỗ trợ của Nội công, nên tính chiến đấu khá cao
Trang 227 BÁT CỰC QUYỀNTên đầy đủ là “Khai môn bát cực quyền”, còn gọi là “Nhạc Sơn bát cực quyền” Gọi là “Khai môn”, là lấy ý dùng “Lục lộ khai pháp” (tức “lục đại khai” – 6 cách mở rộng) làm kỹ thuật hạch tâm, phá tung cửa nẻo (tư thế phòng thủ) của đối phương Gọi là “Bát cực”, là sử dụng theo câu nói quen dùng đời cổ: “ngoài cửu châu có bát dần, ngoài bát dần có bát hoằng, ngoài bát hoằng có bát cực”, ẩn ý “8 phương cực kỳ xa” Gọi là “Nhạc Sơn”, nghe nói bát cực xuất phát từ chùa Nhạc Sơn ở huyện Hà Nam, cho nên có tên là “Nhạc Sơn”.
Bát cực quyền do người nào sáng chế ra, thấy trong ghi chép để lại có hai cách nói: một thuyết nói do đạo sĩ họ Lại tên là Ngô Chung, người thôn Hậu Trang Khoa, huyện Kháng Vân, tỉnh Hà Bắc sáng chế nên;
Một thuyết nói do Trương Nhạc Sơn, người huyện Hà Nam truyền cho Ngô Chung Hai thuyết này đều cần khảo chứng lại Ngô Chung truyền nghề cho con gái là Ngô Vinh Về sau nhà họ Ngô di cư về trấn Mạnh Thôn, huyện Thương, tỉnh Hà Bắc Từ đó Mạnh Thôn bèn trở thành vùng đất truyền bá môn Bát cực quyền
Đặc điểm kỹ thuật đánh của Bát cực quyền: tư thế nhỏ ngắn, sắc sảo, động tác mau mạnh, kình lực cứng chắc; chuyển đổi các cách đổ xuống, xô ra, chèn ép, bất chợt lay động bắn đánh ra; phát lực cứng giòn, dùng khí thúc lực, lấy âm thanh hỗ trợ thế đánh, làm cho người kinh sợ Ra đòn như tên bắn, sấn bước như xuyên vào đá, vọt lên mạnh, rơi xuống cứng, từng đoạn ngắn với thế hiểm Lúc diễn luyện, uy nghi như hổ, vững vàng ổn định như gấu, mạnh mẽ như chim ưng, xoay chuyển như rắn
Bài bản chủ yếu có: “Bát cực tiểu giá”, “Bát cực quyền” (còn gọi là “Bát cực đối tiếp”), “Lục trửu đầu”, “Bát cực tân giá”, “Cương kình bát cực”, “Bát cực song quỹ”, “Bát trận quyền” Binh khí chủ yếu lấy :“Lục hợp đại thương”, “Đối trát lục hợp” làm chủ
8 PHÊ QUẢI và BÁT CỰCHai môn này không biết có từ đời nào, do ai sáng tạo Môn Phê quải rất linh hoạt, có khá nhiều tính mềm dẻo nhất trong các loại quyền cương mãnh của Bắc phái, sở trường về luyện chưởng Môn Bát cực có vẻ chậm chạp hơn
9 PHIÊN TỬ QUYỀNCòn có tên là “Phiên tử”, “Phiên quyền” Vốn có tên là “Bát thiểm phiên”, “Bát
phiên”, tục gọi là “Phiên tử quyền” Thuộc loại hình quyền thuật đoản đả, sở trường về luyện tay Phiên tử quyền đã sớm lưu hành rộng ở đời Minh Thích Kế Quang đời Minh viết trong “Kỷ hiệu tân thư Quyền kinh tiệp yếu” như sau: “ …… Bát thiểm phiên, thập nhị đoản, thử diệc thiện chi thiện giả dã.” “Bát thiểm phiên” tức là quyền thuật của phái này, rất phổ biến vào đời Minh Trong 32 thế của ông đã hấp thu các chiêu thế “Đương đầu pháo”,
Trang 23của Phiên tử quyền Trước kia, Phiên tử quyền lưu truyền ở Cao Dương, tỉnh Hà Bắc, cuối đời Thanh thì truyền đến vùng Đông Bắc Gần mấy chục năm khá thịnh hành chủ yếu ở các tỉnh Hà Bắc, Liêu Ninh, Cam Túc, Thiểm Tây Đời cận đại, Phiên tử quyền xuất phát từ Đoan Thị, tỉnh Hà Bắc Ngày nay, tại Hà Bắc có Trần Tử Chính nổi tiếng về môn này Ông có dạy võ tại Tinh võ hội Hiện nay, Phiên tử quyền truyền bá khá rộng ở 2 vùng Tây bắc và Đông bắc tuy đều cùng thuộc
1 mạch, nhưng hơi có chỗ khác nhau về kình lực và phong cách Môn truyền ở Tây bắc, trải qua sự diễn hóa của kình lực môn Thông bị, nên chú ý khá nhiều việc dùng eo phát lực, thành một mạch tự nhiên Môn truyền ở Đông bắc, chú ý nhiều đến việc đi liền một hơi nhanh nhẹn, dứt khoát Môn Phiên tử và Bát phiên ngày nay đã chia thành 2 phái, tuy vậy, các tư thế và dụng ý không có gì khác nhau Nếu thông thạo môn Phiên tử thì cũng luyện môn Bát phiên được và ngược lại, cũng như vậy
Bài bản chủ yếu của Phiên tử quyền có: “Trạm trang phiên”, “Tụ thủ phiên”, “Khinh thủ
phiên”, “Lỗ thủ phiên”, “Kiện trung phiên” Ở dải Hà Bắc lưu truyền
“Lục thủ phiên”, “Yến thanh phiên”; vùng đất Tây bắc ở Cam Túc lưu truyền “Mã gia phiên”,
“Ưng trảo phiên” Vùng đất Đông bắc lưu truyền “Long hình phiên”, “Ngư dược phiên” Trong môn Phiên tử, “Ưng trảo liên quyền” là cơ bản
Khí giới có: “Bát bộ liên hoàn tiến thủ đao”, “Miên chiến đao”
Đặc điểm: thế thức động tác ngắn gọn mà hay, phát lực nhanh mạnh, lối ra đòn tập trung, tư thế phủ phục lách tránh, động tác thành một đường liền lạc, cho nên ngạn ngữ võ gọi là “Phiên tử nhất quải tiên” Phương pháp tấn công phòng thủ chú trọng: miên (liên miên), nhuyễn (mềm dẻo), tùng (thả lỏng), thúy(dứt khoát), nội tàng hảo (ẩn giấu ở bên trong cho tốt)
Đòn chân thường đá tầm trung và thấp, chú trọng huấn luyện công phu eo, vai, hông và chân Yêu cầu công phu của chân luyện cho linh hoạt đầy biến hóa giống như cánh tay, vận dụng như mong muốn
10 YẾN THANH QUYỀN (hay BÍ TÔNG QUYỀN)
Bí Tông quyền là một môn võ của T.quốc, là quyền pháp truyền thống nổi tiếng của võ thuật Thiếu lâm, có hệ thống và phong cách độc đáo về nội dung lẫn kỹ thuật Từ xưa đến nay,
do mỗi người truyền dậy tự lấy hoặc bỏ theo ý mình và sự khác biệt của khu vực địa lý, cho nên lại chia thành rất nhiều lưu phái nhỏ khác, các lưu phái này đều có chỗ độc đáo và chú trọng đặc điểm kỹ thuật riêng biệt nhưng đều là Thiếu lâm ngoại gia, thuộc loại Trường quyền Có khá nhiều truyền thuyết xung quang nguồn gốc của Bí tông quyền Tên gọi của môn võ nhân đó cũng có nhiều cách nói khác nhau, như gọi là
“Mê Lộ quyền”, “Mê Tông Nghệ” hoặc “Nghê Tông (con sư tử) quyền”, “Bí tông quyền” Mượn danh nghĩa do nhân vật Yến Thanh trong “Thủy hử” truyền dậy lại Những tên gọi này có liên quan tới sự phát sinh ra nó Ví như :
Trang 24− Một truyền thuyết liên quan về nguồn gốc của môn này cho rằng, môn phái khởi nguồn từ cuối đời Đường, khi truyền đến đời Tống, thì được Lư Tuấn Nghĩa (một vị hảo hán Lương Sơn) ở Thiếu lâm tự chỉnh lý, phát triển thêm mà thành Về sau Lư Tuấn Nghĩa thu nhận Yến Thanh làm đồ đệ, đem chân truyền dậy cho người hầu là Yến Thanh (cũng là một vị hảo hán Lương Sơn), rồi cùng nhau lên Lương Sơn Bạc Sau khi họ Lư thoái ẩn, Yến Thanh mới truyền bá môn võ này rộng rãi, cho nên nó có tên là Yến Thanh quyền
− Truyền thuyết thứ 2 lại nói là môn đồ của Yến Thanh tuy phục võ nghệ của Yến Thanh, nhưng
vì Yến Thanh đi theo Lương Sơn Bạc tạo phản, cho nên mới phải giấu tên Yến Thanh đi, đổi tên gọi là Bí Tông quyền
− Lại có truyền thuyết thứ 3 nói là khi Yến Thanh lên Lương Sơn, bị quan binh truy đuổi, đã thi triển tuyệt kỹ làm cho không để lại tung tích trên mặt tuyết, khiến cho quân đuổi bắt bị lạc mất phương hướng, quan binh lâm vào mê lộ, cho nên mới gọi kỹ thuật của môn võ này là Mê Tông Nghệ hoặc“Mê tông quyền” (Mê : lạc, mất; tông :tông tích, dấu vết)
− Truyền thuyết thứ 4 là vào đời Đường, có vị hòa thượng Thiếu lâm lúc ra ngoài ngao du, khi đi sâu vào trong một khu rừng rậm ở Tứ Xuyên thì gặp con toan nghê (một loài mãnh thú trong truyền thuyết – sư tử) (có sách nói là đến một ngọn núi cao, trông thấy một loài động vật giốâng như con vượn) đang đánh nhau, động tác của nó linh họat, tự nhiên nhu thuận, cứng mềm kèm giúp nhau, tàng trữ thần khí bên trong, mới lần hồi đưa đến sự gợi ý, về sau tạo nên môn võ này, nên mới có tên là Nghê Tông quyền
Vì vậy trong xã hội mới lưu truyền câu nói: “Đông (Sơn Đông) Yến Thanh, Tây (Hà Nam) Nghê tông”
- Truyền thuyết thứ 5 nói do tuyến đường đánh quyền của môn phái này phức tạp, giống như
“dạng tổ nhền nhện”, bộ pháp độc đáo, đủ khả năng có thể làm hoa mắt địch thủ, cho nên được gọi là “Mê tông quyền” hoặc “Mê tông nghệ”
Do sự truyền bá võ thuật thời cổ đa số dựa vào “khẩu thụ thân truyền” (truyền thụ trực tiếp), ít có văn tự ghi chép, lại có sự nói hùa vào của phần lớn các truyền thuyết nêu trên, cho nên còn phải đợi sự khảo chứng xem xét lại
Tình hình truyền bá Bí tông quyền đời cận đại :
− Môn này được Tôn Thông, người ở Đại Nhạc, tỉnh Sơn Đông truyền bá ra vào cuối năm Khang
Hy (hoặc khoảng năm Ung Chính) đời Thanh Một phái gọi là “ Bí tông quyền” do đệ tử của ông là Trần Thiện người ở huyện Thương (Thương Châu) làm trung tâm Bài quyền có : Luyện thủ quyền, Tiểu tiến quyền, Đại, Tiểu ngũ hổ quyền, Báo quyền, Miên chưởng quyền, Bát chiết quyền, Bát đả quyền, Bí tông trường quyền, Sáo hoàn quyền, Hợp chiến quyền
Bài bản binh khí có : Tứ môn đao, Song đao, Đại đao, Nhị lang côn, Tam lộ điều, Lục lộ điều, Đơn quải, Song quải, Thập bát câu, Bát quái kỳ môn thương
Trang 25gọi môn võ này là “Mê tông quyền” hoặc “Mê tông nghệ”, con cháu các đời truyền nối cho nhau Bài bản quyền cước và binh khí có Đơn luyện quyền và Hoắc thị liên quyền, nội dung gần giống với phái của Trần Thiện Sau khi trong gia tộc đó có người tên Hoắc Nguyên Giáp xuất hiện, danh tiếng của Mê Tông Nghệ mới dần trở nên vang dội và phát triển rực rỡ.
− Môn “Yến Thanh quyền” cổ xưa được Trương Diệu Đình, người ở Thương Châu, tỉnh Hà Bắc truyền bá Môn này về sau truyền đến Tôn Thông vào đời Thanh Tôn Thông là người ở Đại Nhạc, tỉnh Sơn Đông Ban đầu ông theo họ Trương ở Diễn Châu học môn võ này, sau đó du lịch qua các nơi, về già, sống ẩn cư dậy võ ở huyện Thương, tỉnh Hà Bắc Tiếp nối sau Tôn Thông, môn võ này do các nhà võ thuật Trần Thiện, Dương Hồng Tân, Trần Quảng Trí, Liên Khoát hoà thượng, Lý Nguyên Trí, Hoắc Nguyên Giáp, Dương Côn Sơn, Lư Chấn Phong, Lưu Chí Thanh ra sức truyền bá Các tỉnh ở phía Bắc Trung quốc như Sơn Đông, Hà Bắc đều lưu truyền rộng rãi môn này Bài bản có : Yến Thanh đệ nhất lộ và Yến Thanh đệ nhị lộ
− Ngoài ra, môn võ này được truyền từ tỉnh Hà Bắc đến huyện Thanh Châu, tỉnh Sơn Đông, lại hình thành nên một phái là “Yến Thanh thần chùy”
− Ở một dải Thiên Tân, tỉnh Hà Bắc, nó lại kết hợp với Bát phiên quyền để hình thành một phái là “Yến Thanh thốn Bát phiên”; cùng với môn “Yếân Thanh quyền” chuyên luyện các kỹ thuật khấu tỏa cầm nã (móc khóa chụp bắt), tá cốt (tháo khớp), điểm huyệt
Môn Bí Tông có nội dung phong phú, lập thành một hệ thống riêng, kết cấu chặt chẽ, động tác hài hòa, chiêu pháp linh lợi, chú trọng thực dụng, tính chiến đấu mạnh Khi luyện tập, tác dụng tấn công và phòng thủ của quyền, chưởng, trửu, thoái, túc, tất (gối) đều được phát huy hết mức, tay mắt thân bộ pháp, tinh thần khí lực công đều được rèn luyện toàn diện Các loại bài bản quyền cước và binh khí có gần 100 loại
Tuy có rất nhiều lưu phái, mỗi môn có kỹ thuật và phong cách riêng biệt, nhưng về thực chất vẫn có nhiều điểm chung Đó là phong cách Thiếu lâm ngoại gia mang phong cách Trường
quyền bắc phái Nó lấy 24 yếu điểm của truyền thống (tức là “tứ kích”, “bát pháp”, “thập nhị hình”) làm yêu cầu cơ bản, về công pháp lại có đặc điểm của Nội gia quyền, tu luyện cả trong và ngoài Khi chuyển thế đi quyền, chú trọng công phu của eo và chân Động tác trong bài bản
Bí tông Trường quyền vững chắc chậm rãi, hít thở tự nhiên, thuộc lọai hình quyền pháp Nội công
Đặc trưng cơ bản của Bí Tông quyền là: quyền pháp tổ chức hợp lý, tư thế ngay ngắn, duỗi mở rộng, tròn trịa tự nhiên, lách chuyển vọt nhẩy xê dịch, hoạt bát, nhanh chậm xen nhau Quyền pháp giản dị không hoa loà, không coi trọng việc tạo dáng, chú trọng công phu thực chất, mỗi chiêu mỗi thế không phải đánh thì là phòng thủ, đầy đủ cả tấn công và phòng ngự, lấy tấn công làm chủ
Vận kình phát lực ra có cương và nhu, bộ vững như bắt rễ xuống mặt đất, thế chắc như núi cao sừng sững Khi tiến công, đi quyền trên một đường thẳng, đánh mạnh thọc mạnh, mau lẹ cho lực, trong công có phòng, chiêu pháp linh hoạt, làm cho người phải vội vàng luống cuống, không thể chống đỡ nổi
Tinh hoa kỹ thuật của nó là thế ngay chiêu thức tròn trịa, khí thế liền lạc, cứng mềm theo giúp nhau, hư và thực xen nhau, lấy tâm làm chủ tể, khí trầm Đơn điền Các bộ vị toàn thân đều có thể dùng để tấn công, ôm tì bám dính bắt, phủi nâng cuốn khoác, bẻ chụp triệt cất, thúc chèn
Trang 26quật treo, phương pháp đầy biến hóa, bộ pháp phức tạp, tiến lui như ý, đầy đủ cả thần thái và hình dáng, muốn sao cũng được, thuận theo tự nhiên Phát chiêu đa số xoay chuyển bước nhanh
ở gần sát người ngay trước mắt đối thủ, hoặc từ tư thế cao chuyển mau xuống tư thế thấp, quỹ đạo chuyển động đan giao ngang dọc, bước đi vọt nhẩy tung người lên không ngừng Lúc tập luyện, dấu chân có thể trải khắp cả sân tập Bởi vậy nên còn được gọi là “Thập diện mai phục quyền” Vì có lợi cho việc kết hợp chiến đấu và đánh cận chiến cho nên có câu nói “Thủ nhãn thân pháp bộ, tinh thần khí lực công, Bí Tông tam thập lục, nghệ thành thiên hạ hành”
Yêu cầu cơ bản của quyền thuật Bí Tông là :
1.Tư thế ngay ngắn, rơi xuống đất như cắm rễ Thân pháp cần dáng ngay, người thả lỏng, đầu đội lên, cổ thẳng, vai hạ chìm, lưng rút lên, eo dựng đứng, mông thu gọn, tư thế động tác cần
“xuất thủ chuyển động giống cuồng phong, thế lặng dừng vững tựa (núi) Thái sơn”, quyền cước rõ ràng, mỗi bộ đều có quy củ
2.Phát lực chắc chắn, cứng mềm giúp nhau Sự thọc, bắn lên, đập, dập, đẩy, đỡ, chặt, cắm của quyền và chưởng hay việc đạp, búng, vớt, đạp ngang, đá, đạp sắn, găm, giậm của chân cần đầy đủ kình lực, điểm dồn lực rõ ràng Vận dụng kình lực cần nhu thuận, sung túc, đầy đủ, phát lực cần thâm trầm, mạnh bạo, cứng chắc, làm cho “ra đòn như bông (mềm mại), chạm vào người giống như sắt (cứng)”
3.Eo và chân cần linh họat, bộ pháp mẫn tiệp Sự tránh, chuyển, ngửa, cúi của thân và eo hay việc cất lên, đưa ra, thu về, bỏ xuống của chân cần làm cho nhẹ nhàng, linh họat, sống động, hàm súc, hạ chìm, vững, tĩnh lặng, phát ra, hư thực xen nhau Sự tiến, lui, chạy, nhảy, lách,
chuyển, vọt lên không, xê dịch của bộ pháp cần đạt đến trên dưới phối hợp nhau, linh họat mau mắn
4.Thần thái và hình dáng đầy đủ, khí trầm Đơn điền “Mắt là đường đi của kỹ thuật”, “Thần là âm thanh của tâm pháp” Tay, mắt, thân pháp, bộ là biểu hiện bên ngoài của bài bản; tinh thần, khí lực, công tức là Nội công tâm pháp của quyền thuật
Aùnh mắt sáng như điện, tinh khí tàng ẩn bên trong, có lợi cho việc phán đoán đối thủ, điều tiết bản thân, dựa theo thế mà tiến lên, khắc chế địch giành chiến thắng Khí chất chắc chắn ở bên trong, ý giữ ở Đan điền, có lợi cho tâm định ý tĩnh, khí thuận tự nhiên, bộ tấn vững chắc, lực phát vào một điểm
Ngạn ngữ võ thuật nói:
“Thủ nhãn thân pháp bộ, tinh thần khí lực công;
Đại lộ thập vạn bát thiên lý, hữu chí tốc hành mạc trì nghi;
Công phu hạ đáo, thủy trích thạch xuyên;
Quyền đả thiên biên, thân pháp tự nhiên;
Nhập môn dẫn lộ tu nhật truyền, công phu vô tức pháp tự luyện”
Tạm dịch:
Tay, mắt, thân, bước chân, tinh thần khí lực công phu,Đường lớn mười vạn 8 ngàn dặm, có chí đi mau chớ chậm trễ
Luyện tập Công phu như nước chẩy đá mòn;
Đi quyền ngàn lần thân pháp sẽ được tự nhiên,
Trang 27Đặc điểm của Yến Thanh quyền là động tác nhẹ nhàng mau mắn, duỗi mở tự nhiên, có nhiều biến hóa linh họat, nặng về tấn công, chú trọng sự khéo léo, tập luyện cả công phu cứng và mềmdẻo, chú trọng công phu ở eo và chân, chân trụ vững chắc, bộ thế ngay ngắn, lực phát ra đầy đủ
Kiểu kỹ thuật của nó, cách đánh ở thựơng chi có súy (phẩy), phách (vỗ), cổn (lăn), lỗ (chụp giật) Thủ pháp chủ yếu có câu lâu thái loát, phong sao quải niêm (móc, ôm, ngắt hái, vuốt, đóng kín, vớt, treo, bám dính, chú trọng kỹ thuật cầm nã;
Về đòn chân, yêu cầu kình sung túc, lực đầy đủ, gọn gàng rõ nét Đòn chân chủ yếu có thích (đá), điểm (chọc), câu (móc), quải (treo), triền (quấn), tảo (quét), triệt (chặn), soại (đạp ngang), cùng với liêu âm cước (đá vớt lên bộ hạ), cát đang cước (đá cắt vào háng), liên hoàn đóa tử cước (giậm chân đá liên hoàn) Các kiểu chân : nhẩy, triệt, quải (treo), triền (quấn), phối hợp với các thân pháp: kháo (tì), thiểm (lách), định (giữ yên), súc (rút, co lại), lập thành kỹ thuật tấn công phòng thủ có tính chiến đấu khá mạnh
Ngoài ra, sự phối hợp giữa cái thần của mắt và thoái pháp có một phong cách độc đáo: thần của mắt tập trung vào một điểm nhưng vẫn thấy khắp cả 8 phía Aùnh mắt hỗ trợ cho thân pháp, ánh mắt trợ giúp khí lực Aùnh mắt yêu cầu nhìn tập trung vào một điểm mà vẫn thấy được 8 phương; Thân pháp dùng ẩn náu lách tránh vặn lắc làm chủ;
Bộ pháp dùng nhảy lên cao, bước cắm bỏ phía sau, cầm bắt làm chính yếu Bộ pháp của nó chú trọng lối bước cắm tiến Sáp bộ, lạng, dạt, bốc lên, di dời, luồn chạy băng tới, vọt nhẩy, chồm tới Coi trọng công phu về chân, ngoài các cách thông thường như nắm chân kéo lên, ép chân, đá, tỳ
ra, còn có đá bao cát, cọc gỗ
Trong thực tế chiến đấu, chú trọng việc mượn thế nương theo lực, ra đòn lúc địch không để ý Khẩu quyết quyền thuật có câu: “Kiến cương nhi hồi thủ, hồi thủ nhập thâu thủ, thâu thủ nhi thái thủ, thái thủ nhập lâu thủ”
Trong bài bản thường dùng nhiều động tác đánh trỏ, đánh và nhẩy lật Các kiểu bài bản đa số do hơn 50 động tác của các kiểu thủ hình, bộ hình, thoái pháp, thăng bằng, nhẩy nhót lập thành Nội dung của Bí tông quyền có:
1.Đánh tay không : Bài bản có Bí tông mẫu quyền, luyện thủ quyền, Đại tiểu ngũ hổ quyền, Bí tông trường quyền, Yến Thanh quyền, Yến Thanh giá, Yến Thanh thần chùy, Yến Thanh phiên quyền, Yến Thanh chưởng, Tam bộ giá, bát đả quyền, Tứ lộ bôn đả
2.Khí giới : Khí giới có Yến Thanh đao, Yến Thanh quải, Minh đường đao, Thanh long kiếm, Nhị lang côn, Ngũ hổ đoạn môn thương, Xuân thu đại đao
3.Đối luyện :chú trọng theo 12 chữ yếu quyết : đàm không (bàn luận về không), tiệp tiến pháp (cách tiến mau lẹ), ứng cứu pháp (cách ứng cứu), đạt biến pháp (cách biến đòn), chiết biến pháp (cách phá sự biến hóa), hư thực ứng cứu (thật và giả khi ứng cứu), đoá thiểm pháp (cách tránh né), bán tị phong đoản đả, Yến Thanh thập đả, Yến Thanh tam đả, Yến Thanh thập tứ thủ, Ngũ hoa miên chưởng, Nghênh diện đối(đón đánh trực diện), Miên chưởng bạt bộ đả pháp, Lý ngoại chiến (chiến đấu ở bên ngoài và bên trong), Ngũ hoa miên quyền
4.Ngoại công : thiết đang, thiết sa chưởng, thiết đỉnh Ngoài ra còn truyền dậy khinh công
5.Y liệu bảo kiện công (công phu chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe) : Thập nhị luyện thủ (12 cách luyện tay), sáng chế căn cứ vào học thuyết kinh lạc của Trung y, chủ yếu nhằm mục đích phòng
Trang 28trị bệnh tật, kéo dài tuổi thọ
Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa thành lập, Bí tông quyền được xếp vào là hạng mục thi đấu và biểu diễn của võ thuật toàn quốc
11 MÊ TUNG MÔNLà môn võ gia truyền của nhà họ Hoắc, đến đời Hoắc Nguyên Giáp đã truyền thụ được 7 thế hệ Tinh võ hội ở Thượng Hải là do Hoắc Nguyên Giáp sáng lập, nhưng nay quyền thuật chính thức được dạy ở Tinh võ hội là Nhị lang môn, do Triệu Chân Quân truyền thụ
C - Công Phu Cơ Bản Và Kỹ thuật Cơ BảnQua quá trình luyện tập kết hợp với sự đúc kết từ thực tiễn kinh nghiệm giảng dậy nhiều năm, người ta đã tích lũy được rất nhiều cách thức huấn luyện và thực hành có hiệu quả, từng bước hình thành nên một nhóm công phu cơ bản và kỹ thuật cơ bản rất phong phú, đi từ nông tới sâu, có hệ thống hoàn chỉnh Trong nội dung giới thiệu ở đây tuy lấy công phu cơ bản và kỹ thuật cơ bản của loại võ Trường quyền (Bắc phái) làm chủ, nhưng cũng có thể dùng làm cơ sở tham khảo luyện tập cho các loại quyền thuật và binh khí khác Ngoài ra, cũng có thể áp dụng nó để bổ trợ trong các bộ môn nghệ thuật sân khấu và điện ảnh (như hát tuồng, cải lương, kịch, …), múa, xiếc, cũng như trong các môn TDTT : điền kinh, bơi lội, …
Bất kể là người mới học võ hoặc đã có một cơ sở chuyên nghiệp nhất định về võ thuật cũng đều phải nên coi trọng và tăng cường việc luyện tập công phu cơ bản và kỹ thuật cơ bản
Thông qua luyện tập Công phu cơ bản và Kỹ thuật cơ bản, có thể làm cho các bộ phận của cơ thể được huấn luyện khá toàn diện, gia tăng tính dẻo dai, linh hoạt của các khớp xương, nâng cao năng lực khống chế và tính đàn hồi của cơ bắp, giúp phát triển khá nhanh tố chất chuyên môn của thân thể trong hoạt động võ thuật, tạo một cơ sở tốt cho việc học tập bài bản quyền cước và binh khí, nâng cao trình độ kỹ thuật
Thông qua việc tập luyện các động tác đứng tại chỗ và các kiểu xoay chuyển trên không trung, có thể tạo nên tác dụng trọng yếu đối với việc nâng cao chất lượng động tác, phòng chặn và giảm thiểu sự cố tổn thương lúc luyện tập
I - Công Phu Cơ BảnCông phu cơ bản nhằm chỉ những bản chất cần thiết của năng lực thể chất (thể năng), năng lực kỹ thuật (kỹ năng), hoặc là những sự chuẩn bị cần thiết của thể năng, kỹ năng và tâm lý trong luyện tập võ thuật Công phu cơ bản có một hệ thống mang tính tổng hợp những phương pháp luyện tập công năng các bộ phận trong, ngoài cơ thể Những phương pháp này là yêu cầu đầu tiên trong luyện tập võ thuật Nói chung nó bao gồm một số luyện tập về các phần trong cơ thể như : vai, tay, eo, chân, khớp háng; cách giữ thăng bằng, luyện tay và mắt, sức đẩy cánh tay, sức mạnh
1. Luyện tập vai và tay :
Chủ yếu nhằm tăng sự mềm dẻo của khớp vai, khuếch đại phạm vi hoạt động của khớp vai, phát
Trang 29cánh tay, giúp cho việc học tập và nắm bắt các loại thủ pháp về quyền, chưởng; cung cấp các tố chất chuyên môn cần thiết.
Phương pháp luyện tập chủ yếu có :
1) Ép vai :
− Thế chuẩn bị : Hai người bám tay vào vai nhau hoặc đứng đối diện với bệ gỗ hay vật có độ cao nhất định, cách một bước dài Hai chân dang rộng bằng vai hoặc rộng
hơn một chút Người đứng thẳng
− Động tác : Hai tay bám vào bệ gỗ, thân mình cúi về trước (ưỡn ngực, hạ thấp eo, thu xương hông) rồi làm động tác ép vai, dằn xuống (H 1 : a)
H 1 : a + bKhi lợi dụng bệ gỗ để ép vai, cũng có thể cho một người ngồi trên lưng người luyện, phối hợp theo tiết tấu dằn xuống của người luyện tập để trợ lực Với 2 người đối diện nhau làm động tác này thì gập người về trước, dằn ép vai xuống (H 1 : b)
¯ Yêu cầu và yếu điểm : Hai tay và 2 chân cần duỗi thẳng, biên độ ép xuống dần dần tăng lớn, điểm ép tập trung vào vai Lúc gia tăng trợ lực nên từ yếu đến mạnh
2) Xoay chuyển vòng tròn một cánh tay :
− Chuẩn bị : Đứng Cung bộ trái, chân trái gập cong gối, chân phải duỗi thẳng phía sau Tay trái chống trên gối trái (cũng có thể đứng thẳng, dang 2 chân, tay trái chống
eo) Tay phải buông bên cạnh người
Trang 30H 2 : a - b - c
¯ Yêu cầu và yếu điểm : Khi luyện tập, 2 tay trái phải tiến hành thay đổi cho nhau
Khi xoay vòng tròn cánh tay trái, đổi lại đứng cung bộ phải Tay duỗi thẳng, vai buông lỏng, khoát thành vòng tròn dựng đứng, dần dần gia tăng tốc độ
3) Hai tay xoay vòng tròn :
− Thế chuẩn bị : Đứng thẳng, dang 2 chân rộng bằng vai, 2 tay hạ 2 bên người
− Động tác :
a) Xoay vòng tròn trước sau :
Hai tay trái phải theo thứ tự lượn vòng tròn Tay trái từ dưới hướng về trước, đi lên, về phía sau, khoát vòng tròn hướng về trước Tay phải từ trên hướng về sau, đi xuống, tới phía trước, khoát vòng tròn về sau Sau đó lại y theo thứ tự, khoát vòng tròn theo hướng ngược lại (H 3 : a - b - c)
H 3 : a - b – c
Trang 31phải, đi lên, qua bên trái, đi xuống (H 4 : a - b)
Hoặc đồng thời khoát vòng tròn dựng đứng hướng qua trái, đi lên, sang bên phải, đi xuống dưới
H 4 : a – b H 5 : a
c) Xoay vòng tròn giao nhau : Hai tay duỗi thẳng lên trời, đồng thời khoát vòng tròn dựng đứng bên cạnh người Tay trái hướng về trước, đi xuống, về phía sau Tay phải hướng về sau, đi xuống tới phía trước (H 5 : a - b - c)
Khi luyện tập có thể tiến hành thay đổi 2 bên trái phải
H 5 : b + c H 6 : a
4) Ô long bàn đả (Phó bộ du phách) :
− Chuẩn bị : Đứng thẳng, dang 2 chân rộng hơn vai một chút Hai tay buông 2 bên
người
Trang 32− Động tác : Chân trái bỏ qua trái một bước thành Cung bộ trái, thân người theo đó chuyển qua trái Đồng thời, duỗi thẳng tay phải xuống phía trước bên trái Chưởng trái cắm dưới cùi chỏ phải, lòng bàn tay xoay vào trong, ngón tay chúc xuống (H 6 : a) Không ngừng động tác trên, chuyển người qua phải thành Cung bộ phải, đồng thời tay phải duỗi thẳng lượn cánh tay khoát vòng cung từ bên trái đi lên, qua bên phải, đến phía trên bên phải Tay trái hạ xuống đến phía dưới bên trái (H 6 : b)
H 6 : b + c
Không ngừng động tác trên, thân mình chuyển về phía sau qua bên phải Đồng thời tay phải duỗi thẳng, hướng xuống, theo sự chuyển thân, hướng về sau, lượn cánh tay qua phải, đến phía sau Tay trái duỗi thẳng, đi lên, hướng về trước, lượn cánh tay hình vòng cung đến bên trên, phía trước (H 6 : c)
Không ngừng động tác trên, chuyển người qua trái thành Phó bộ phải, đồng thời tay phải duỗi thẳng, hướng lên trên, qua bên phải, lượn cánh tay vạch vòng cung đi xuống, đến mé trong chân phải thì vỗ xuống đất Tay trái hướng xuống, lượn vòng cung qua bên trái, dừng lại ở phía trên bên trái (H 6 : d) Mắt nhìn theo bàn tay vỗ xuống mặt đất Tiến hành thay đổi 2 bên trái phải cho nhau khi luyện tập (H 7 : a + b + c + d + e : là hình nhìn từ sau lưng)
H 6 : d H 7 : a + b
Trang 33H 7 : c H 7 : d
+ Động tác quay cánh tay khi đứng Phó bộ phải gọi là : Hữu phó bộ du phách
+ Động tác quay cánh tay khi đứng Phó bộ trái gọi là : Tả phó bộ du phách
¯ Yêu cầu và yếu điểm :
+ Tay phải sau khi khoát một vòng tròn ở bên phải rồi mới đập vỗ xuống đất Tay trái đồng thời cũng xoay 1 vòng tròn ở bên trái rồi mới dừng lại
+ Tay phải đi trước, dùng cánh tay phải kéo dắt eo chuyển động
+ Hai tay luôn duy trì trên một đường thẳng, chuyển như bánh xe lăn Khớp vai cần thả lỏng hết mức, biên độ cần lớn
+ Hai tay khoát đi cần gần sát với người Lúc khoát tay đi lên, cần làm sát cạnh tai, khi khoát xuống cần cho sát với chân
+ Khi đứng ở Phó bộ du phách phải, mắt nhìn theo tay phải, ở Phó bộ du phách trái (tả) thì mắt nhìn theo tay trái
2 Luyện tập chân :
Chủ yếu nhằm phát triển tính mềm dẻo, linh hoạt và sức mạnh của phần chân
Phương pháp luyện tập có: ép chân, kéo chân, xoạc chân và đá hất chân
1) Ép chân : Nhằm kéo giãn dài đôi chân, tăng sự mềm dẻo và phạm vi hoạt động của khớp gối và khớp xương háng Phương pháp ép chân có 3 kiểu : ép thẳng, ép nghiêng và ép sau
a) Ép thẳng :
Trang 34− Chuẩn bị : Đứng thẳng, 2 chân ngang nhau, đối diện với bệ gỗ hoặc một vật thể có độ cao nhất định.
− Động tác : Chân trái nhấc lên, gót chân gác trên bệ gỗ, mũi bàn chân móc lên, cổ chân gập lên hết mức Hai tay đè trên đầu gối hoặc 2 bàn tay ôm lấy lòng bàn chân đặt trên giá đỡ Hai chân duỗi thẳng, eo lưng thẳng, thu xương chậu lại Gập người về trước, làm động tác dằn ép hướng về trước, xuống phía trước (H 8 : a) Chân trái và phải thay đổi cho nhau khi luyện
tập H 8 : a
¯ Yêu cầu và Yếu điểm :
+ Mũi bàn chân trụ hướng về trước, 2 chân duỗi thẳng
+ Dằn ép thẳng người hướng về trước, xuống dưới
+ Tăng lớn dần mức độ dằn xuống, từng bước tăng dần độ cao gác chân, kéo dài thời gian ép chân để tăng sự mềm dẻo của chân
+ Dùng trán, chót mũi chạm vào đầu ngón chân trước, sau đó tiến tới dùng cằm chạm vào đầu ngón chân (H 8 : b)
¯ Các bước luyện tập :
+ Khi ép chân tập thể, có thể tiến hành dựa trên tiết tấu nhịp H 8 : b
đếm Ép đến khi có cảm giác đau mới đạt hiệu quả Lúc này có thể giữ bất động, tiến hành tập kéo giãn dần (H 8 : b)
Có thể tiến hành ép chân và vin kéo chân thay đổi cho nhau
+ Trước khi ép chân , cần làm trước các động tác co duỗi, vung vẩy đôi chân để thư giãn cơ bắp và khớp xương Ép chân xong có thể gập đầu gối chân bị ép ôm ở trước ngực, sau đó buông ra, nâng cao lên, tập “khống chế chân”, nhằm nâng cao năng lực khống chế của chân
+ Ép chân xong có thể làm động tác đá chân, đá tạt chân Có thể tiến hành ép chân, kéo chân, khống chế chân, đá chân và tạt chân thay đổi cho nhau Như : “tạt – ép – đá” hoặc “ép – kéo – đá”
¯ Sai sót dễ mắc và cách sửa :
+ Hai chân không thẳng Cách sửa : Trước tiên làm cho người học xác định rõ ý
nghĩa và tác dụng của việc ép chân, đau chân là quá trình tất yếu phải trải qua khi ép chân Trước khi dằn ép chân, kiểm tra
Trang 35giữ ngay xương bánh chè hay chưa Sau đó dùng tay hoặc áp lực từ bên ngoài để ép xuống đầu gối.
+ Người không ngay thẳng (không thu được xương bánh chè, đầu gối cong): Cách sửa : trước tiên kê thấp chân bị ép; đưa phía bên vai, ngực của chân bị ép cúi về trước, rồi dùng 2 tay ôm giữ lòng bàn chân
¯ Yêu cầu và Yếu điểm :
+ Giống yêu cầu 1 và 2 của phần ép thẳng
+ Tăng dần mức độ ép nghiêng, từng bước tiến tới mức người nằm nghiêng trên chân bị ép Thân người cần nghiêng qua bên hoàn toàn
¯ Các bước luyện tập : Giống với ép thẳng
+ Có thể tăng dần độ cao
Nghiêng người kéo giãn (H.9 : a) cùng với ép nghiêng thay đổi cho nhau H 9 : b
¯ Sai sót dễ mắc và cách sửa :
+ Hai chân không thẳng Cách sửa : giống ở ép thẳng
+ Thân mình gập lệch, xéo về trước, tức nằm giữa khoảng ép chân thẳng và nghiêng Cách sửa : dang mũi bàn chân trụ ra ngoài, chân bị ép đẩy hết mức về trước Dịch vai trái hướng
Trang 36vào trong Tay phải đưa lên, hướng phía mé sau đầu dằn
xuống
c) Ép về sau :
− Chuẩn bị : Đứng thẳng, lưng xoay về phía điểm tì (bệ gỗ, v.v… ), chân khép sát nhau Hai tay chống eo hoặc bám vào một vật thể có độ cao nhất định
− Động tác : Chân phải đứng trụ Chân trái cất lên phía sau, gác mu bàn chân trên bệ gỗ Mu bàn chân duỗi thẳng Người gập về sau, làm động tác dằn ép (H 10)
Khi luyện tập, tiến hành thay đổi 2 chân trái, phải cho nhau H 10
¯ Yêu cầu và Yếu điểm : Hai chân duỗi thẳng gối, toàn bộ lòng bàn chân trụ chạm mặt đất, ngón chân bấm xuống đất Ngực ưỡn, eo gập về sau
¯ Các bước luyện tập : Giống với ép thẳng
¯ Sai sót dễ mắc và cách sửa :
Hai chân không thẳng Cách sửa : người cùng tập trợ giúp, một tay nâng đầu gối chân bị ép, tay kia ấn sau eo, hông của chân bị ép, giúp cho chân người tập duỗi thẳng H 10
d) Ngồi phó bộ ép chân :
− Chuẩn bị : Đứng dang rộng 2 chân qua trái phải
− Động tác : Chân phải co gối ngồi hẳn xuống, cả bàn chân chạm đất, mũi bàn chân xoay ra ngoài Chân trái duỗi thẳng gối, đổ dài trên mặt đất, mũi bàn chân móc vào trong (Phó bộ trái), lòng bàn chân chạm đất Sau đó 2 tay nắm lấy cạnh ngoài của mỗi bàn chân (H 11 : a)
Trang 37H 11 : a + b
Tiếp đó, chân phải đạp xuống đất, duỗi thẳng gối ra, dời trọng tâm qua trái Gối trái gập lại thành Phó bộ phải (H 11 : b)
Khi luyện tập, tiến hành thay đổi 2 bên Phó bộ trái - phải
¯ Yêu cầu và Yếu điểm :
+ Ưỡn thẳng ngực, hạ thấp eo, di động qua 2 bên trái - phải không cần quá nhanh
+ Cần hạ thấp xương chậu cho phần mông xuống gần mặt đất hết mức
+ Có thể đưa cạnh ngoài bàn chân nằm duỗi tựa vào chân tường để hỗ trợ cho mũi
chân móc vào trong
2) Nâng chân :
Chủ yếu nhằm tăng cường tính dẻo dai của chân, mở rộng biên độ hoạt động của khớp xương chậu, nâng cao sức lực cất chân đưa lên và chân đứng trụ Phương pháp nâng chân chủ yếu có 3 kiểu là: nâng phía trước mặt, nâng qua bên cạnh, nâng về sau
a) Nâng phía trước mặt :
− Chuẩn bị : Hai chân đứng thẳng ngang nhau
H 12 : a + b + c
− Động tác : Chân trái co gối nhấc lên, tay phải nắm giữ bàn chân trái Tay trái ôm lấy đầu gối (H 12 : a) Sau đó cất chân trái lên trên, về phía trước, duỗi thẳng Cạnh ngoài bàn chân hướng về trước (H 12 : b) Có thể mượn người phụ giúp nâng gót chân kéo lên như H 12 : c Người bị nâng đứng dựa lưng vào tường, chú ý duy trì tư
thế cho chính xác Người phụ trợ cần tiến hành nương tay, không nên quá mạnh
Khi luyện tập, tiến hành thay thế trái phải cho nhau
¯ Yêu cầu và Yếu điểm :
Ngực ưỡn, hạ thấp eo, thu xương chậu lại
Trang 38¯ Các bước luyện tập :
Giống với ép thẳng Kéo thẳng chân lên đa số tiến hành sau khi ép thẳng chân
¯ Sai sót dễ mắc và cách sửa : Giống phần ép thẳng
b) Nâng chân qua bên cạnh :
− Chuẩn bị : Hai chân đứng thẳng bằng nhau
− Động tác : Chân trái đứng trụ, duỗi thẳng Chân phải co gối nhấc lên, tay phải từ mé trong cẳng chân nâng giữ lấy gót chân Sau đó đem chân phải kéo lên trên, phía bên phải Tay trái phất chưởng đưa lên trên đầu, lòng bàn tay ngửa lên (H 13 : a) Cũng có thể mượn người khác giữ gót chân nâng kéo lên như H 13 : b
¯ Yêu cầu và Yếu điểm :
Giống với phần ép chân qua bên cạnh (nghiêng)
¯ Các bước luyện tập :
Ép chân, kéo chân đều nhằm nâng cao tính dẻo dai của đôi chân Cần tiến hành kết hợp với nhau
¯ Sai sót dễ mắc và cách sửa :
Giống ép chân nghiêng
H 13 : a + b H 14
c) Kéo chân về sau :
− Chuẩn bị : Đứng thẳng, khép chân, 2 tay vịn vào bệ gỗ hoặc một vật thể có độ cao nhất định
− Động tác : Chân trái đứng trụ Người phụ trợ nâng chân phải từ phía sau người mà nhấc lên Chân người tập phải duỗi thẳng gối và mũi bàn chân Thân người hơi cúi về trước Khi người
Trang 39vai “gánh đùi” lên để làm động tác kéo chân về sau.
Khi luyện tập, tiến hành thay đổi 2 bên trái - phải
¯ Yêu cầu và Yếu điểm; Các bước luyện tập; Sau sót dễ mắc và cách sửa :
Giống với cách ép chân về sau
3) Xoạc chân :
Chủ yếu nhằm tăng lớn thêm mức độ hoạt động của khớp xương chậu, tăng tiến tính dẻo dai của đôi chân Luyện tập xoạc dẻo có thể kết hợp tiến hành với ép chân và kéo chân Cách xoạc dẻo có 2 kiểu là : xoạc ngang và xoạc dọc
a) Xoạc dọc :
− Chuẩn bị : Hai chân đứng thẳng ngang nhau
− Động tác : Hai tay trái phải chống trên mặt đất hoặc nâng lên giữ ngang ở 2 bên Hai chân dang mở về trước và sau thành một đường thẳng Mặt sau của chân trái chạm mặt đất, mũi bàn chân móc lên Mé trong chân phải hoặc mặt trước của chân
chạm mặt đất (H 15)
¯ Yêu cầu và Yếu điểm : Ưỡn thẳng ngực, eo dựng đứng, hạ chìm xương chậu, duỗi thẳng đầu gối
¯ Các bước luyện tập :
+ Trước khi xoạc dẻo cần luyện tập ép chân, tạt chân và đá chân trước Người có 2 chân còn cứng có thể làm nhiều các động tác dằn ép tách 2 chân về trước - sau, hoặc dùng tay bám vào bệ gỗ, từng bước làm động tác xoạc dần xuống
+ Người có tính dẻo dai khá tốt, có thể không cần chống tay xuống đất khi làm động tác xoạc dẻo
+ Cũng có thể làm động tác gập người về trước hoặc ngửa về sau khi đang xoạc dẻo
H 15 H 16
b) Xoạc ngang :
− Chuẩn bị : Hai chân đứng thẳng ngang nhau
− Động tác : Hai tay chống xuống đất phía trước người Hai chân dang mở qua 2 bên trái - phải, thành một đường thẳng Mé trong của 2 chân chạm mặt đất (H 16)
Trang 40¯ Yêu cầu và Yếu điểm & Các bước luyện tập : Giống với xoạc ngang
4) Đá chân :
Đá chân là nội dung trọng yếu trong luyện tập đôi chân, cũng là một mặt biểu hiện phương pháp chủ yếu của việc huấn luyện Cơ bản công Sự dẻo dai, linh hoạt của đôi chân và sức lực khống chế chủa chân, trình độ huấn luyện của phần chân được tập
trung phản ánh qua hình thức đá chân này
Phương pháp đá chân có 2 kiểu là : hất chân (chân đá có tính tạt thẳng) và đá chân (chân đá có tính co duỗi)
v Hất chân :
a) Hất thẳng về trước :
− Thế chuẩn bị : Đứng thẳng, khép chân Hai tay dựng chưởng hoặc nắm thành quyền đưa ngang lên 2 bên (H 17 : a) Yêu cầu ngực ưỡn, eo dựng đứng, 2 chân đều duỗi thẳng gối
− Động tác : Chân trái bước lên trước nửa bước Chân phải móc lên, đá mạnh mũi
bàn chân lên phía trước trán Mắt nhìn thẳng về trước (H 17 : b) Tiến hành thay đổi trái - phải cho nhau khi luyện tập
¯ Yêu cầu và Yếu điểm :
+ Ngực vươn thẳng, eo thẳng đứng Chân trái lên thì đá chân phải, lên chân phải thì đá chân
trái
+ Mũi bàn chân hất lên cần móc cứng lên giữ nguyên khi chân đi lên, thu xương chậu, hóp mạnh bụng lại (không đưa khớp xương hông lên cao theo chân hất) Sau khi chân qua khỏi
eo, cần tăng tốc độ, cần có “thốn kình” (kình lực phát ra trong khoảng vài tấc) H 17 : a + b
+ Chân đá xong, rơi xuống đất cần nhẹ nhàng có thể duỗi hay vẫn móc mũi bàn chân lên
+ Ngưới mới học, khi bắt đầu không nên làm quá mạnh để tránh ngã về sau hoặc bị giãn gân
¯ Các bước luyện tập :
+ Có thể luyện ép chân và hất chân trước, sau đó mới luyện đá chân
+ Có thể đá thấp với tốc độ chậm vừa phải trước, sau đó tiến đến hoàn thành yêu
cầu luyện tập theo quy cách
+ Có thể bám tay vào dụng cụ tập, đứng tại chỗ đá một chân trước sau đó mới đá tiếp chân kia