1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG địa lý tài NGUYÊN DU LỊCH

65 1,2K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 154,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài giảng này giúp cho các bạn ngành du lịch và lữ hành hiểu rõ về địa lý tài nguyên du lịch

Trang 1

I.VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT MÔN HỌC

- ”Địa lý và tài nguyên du lịch” là một trong các môn cơ sở trong chương trình đàotạo nghề du lịch

- Là môn học lý thuyết, đánh giá kết thúc môn học bằng hình thức kiểm tra hết môn.

II MỤC TIÊU MÔN HỌC:

Môn học nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức tổng quan về địa lý, tàinguyên du lịch, giúp sinh viên nghiên cứu thực tế địa lý, tài nguyên du lịch Việt Nam

III ĐỒ DÙNG VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

- Bài giảng điện tử

- Phấn, bảng, giáo án, giáo trình, tài liệu tham khảo, …

IV NỘI DUNG MÔN HỌC

PHẦN I: CƠ SỞ ĐỊA LÝ DU LỊCH

Chương 1:

ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ DU LỊCH

I Du lịch và chức năng của du lịch

1 Khái niệm du lịch

Ngày nay, cuộc sống càng phát triển, nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí,… củacon người ngày càng cao và du lịch đã trở thành nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, là hiệntượng kinh tế - xã hội phổ biến, không ai lại không biết đến du lịch Tuy nhiên, khái niệm

du lịch được hiểu rất khác nhau

Trên giác độ là người làm du lịch, việc hiểu về du lịch cũng như các khái niệm của

du lịch là rất cần thiết Vậy du lịch là gì? Các khái niệm về du lịch được hiểu như thế nào?

- Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch:

+ Trong tiếng Pháp, thuật ngữ “DL” được gọi là “Tourisme” nghĩa là đi một vòng + Trong tiếng Anh, người ta gọi là “Tourism” và cũng với ý nghĩa tương tự là khởi hành, đi lại Thuật ngữ “Tourist” mà ngày nay được sử dụng phổ biến lần đầu tiên xuất

Trang 2

hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1980 (Dẫn theo Robert Lanquar, Kinh tế Du lịch, NXB TG, HN 1993).

+ Với người Đức, họ không sử dụng gốc từ trong tiếng Pháp mà sử dụng từ “der Fremdenverkehrs” là tổ hợp từ 3 từ có nghĩa là: ngoại (lạ), giao thông (đi lại), và mối quan hệ Với gốc từ này, người Đức nhìn nhận “Du lịch” như là mối quan hệ đi lại hay

vận chuyển của những người đi du lịch

+ Trong Pháp lệnh du lịch Việt Nam, tại Điều 10, thuật ngữ “Du lịch” được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

Như vậy, tùy theo ngôn ngữ khác nhau và các cách hiểu khác nhau về du lịch ở cácnước khác nhau mà khái niệm về du lịch được hiểu rất khác nhau Không chỉ vậy:

- Đứng trên các giác độ khác nhau cũng sẽ có các cách hiểu khác nhau về du lịch:

+ Trên giác độ là người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình để được hưởng một khoảng thời gian thú vị, được đáp ứng các nhu cầu về nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí,…

+ Trên giác độ là người quan sát (cư dân địa phương): Du lịch là hiện tượng dịch chuyển của con người đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ; là cơ hội

để tìm hiểu về văn hóa và phong cách của người ngoài địa phương, người nước ngoài; du lịch còn là cơ hội để tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập.

+ Trên giác độ là đơn vị kinh doanh du lịch: Du lịch là cơ hội để kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận (Họ coi du lịch là cơ hội để bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra

nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch, từ đó mang về lợi nhuận từ kinh doanh)

+ Trên giác độ là chính quyền địa phương nơi làm du lịch: Du lịch là một ngành kinh tế mang lại nguồn thu ngân sách, mang lại lợi ích ở tầm vĩ mô (Du lịch là việc tổ

chức các điều kiện về chính trị, về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ dukhách Du lịch là một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, đồng thời thông qua đómang về lượng công việc mà du lịch tạo ra, thu nhập mà cư dân của mình có thể kiếmđược, khối lượng ngoại tệ mà khách du lịch quốc tế mang vào cũng như các khoản thuếnhận được từ hoạt động kinh doanh du lịch và từ khách du lịch)

Trang 3

Như vậy, tùy theo cách tiếp cận khác nhau và dưới nhiều góc độ khác nhau màkhái niệm du lịch cũng được hiểu khác nhau Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm về

du lịch qua các giai đoạn phát triển của nó Theo đó:

- Khái niệm du lịch cũng từng bước được hoàn thiện về mặt thời gian:

+ Trước thế kỷ XIX - đầu XX: Du lịch được coi là một hiện tượng nhân văn.

Trước thế kỷ XIX, du lịch chỉ là hiện tượng lẻ tẻ của một số người thuộc tầng lớptrên (thượng lưu, quan chức,…); cho đến đầu thế kỷ XX, khách du lịch về cơ bản vẫn tự

do lo lấy việc đi lại và ăn ở của mình Lúc này, du lịch vẫn chưa được coi là đối tượngkinh doanh, nó vẫn nằm ngoài lề của nền kinh tế Vì vậy, vào thời kỳ này, người ta coi dulịch như là một hiện tượng nhân văn làm phong phú thêm nhận thức của con người Theo

đó, khái niệm du lịch được hiểu như sau:

“Du lịch là hiện tượng những người đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình theo nhiều nguyên nhân khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền và ở đó

họ phải tiêu tiên mà họ đã kiếm được ở nơi khác”

+ Sau chiến tranh thế giới lần thứ II: Du lịch là một hoạt động kinh tế

Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, thế giới bước vào thời kỳ bình ổn, lúc này dòngkhách du lịch ngày càng đông, việc giải quyết nhu cầu về nơi ăn, ở, giải trí,… đã trở thànhmột cơ hội kinh doanh, với góc độ này, du lịch không chỉ là một hiện tượng nhân văn mà

nó còn là một hoạt động kinh tế Theo đó:

“Du lịch được coi là toàn bộ những hoạt động và những công việc phối hợp nhau nhằm thỏa mãn các yếu cầu của khách du lịch.”

+ Trong giai đoạn hiện nay: Du lịch là một ngành công nghiệp

Cùng với xu thế quốc tế hóa, du lịch phát triển một cách mạnh mẽ, các hoạt độngkinh doanh du lịch ngày càng gắn bó và phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệthống rộng lớn Lúc này:

“Du lịch là một ngành công nghiệp, là toàn bộ các hoạt động mà có mục tiêu là chuyển các nguồn nhân lực, vốn và nguyên vật liệu thành những dịch vụ, sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.”

Đến đây, ta thấy định nghĩa đã xem xét du lịch như là một phạm trù kinh tế Tuynhiên, định nghĩa mới chỉ mô tả du lịch theo hiện tượng bên ngoài của nó và nó mang tínhchất phản ánh sự phát triển của du lịch qua các giai đoạn chứ chưa phản ánh được các mốiquan hệ bản chất bên trong của du lịch

Trang 4

- Đứng trên giác độ là người làm du lịch (kinh tế du lịch): Với chúng ta, những

người làm du lịch trong tương lai thì khái niệm du lịch phải được xét về mặt bản chất của

nó Theo đó: du lịch là tổng hòa của các mối quan hệ và nó được định nghĩa như sau:

“ Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ

du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch.” (Định nghĩa của Michael Coltman).

Có thể thể hiện các mối quan hệ đó bằng sơ đồ sau:

+ Đối với nhà cung ứng dịch vụ du lịch:

 Tìm thấy ở KDL: Cơ hội kinh doanh nhằm thu lợi nhuận

 Tìm thấy ở CDĐP: Như là đối tượng khái thác nhằm phục vụ nhu cầu của khách dulịch

 Tìm thấy ở CQĐP: Là sự đầu tư cho CSHT và CSVCKT xã hội, cũng như sự bảođảm về an ninh chính trị, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh của họ

+ Đối với cộng đồng cư dân địa phương:

 Tìm thấy ở KDL: Những hiểu biết về nền văn hóa và phong cách của người ngoàiđịa phương, người nước nước ngoài; là cơ hội làm ăn

 Tìm thấy ở các ĐVKDDL: Việc làm và thu nhập

 Tìm thấy ở CQĐP: Tạo điều kiện để bán các sản phẩm địa phương

CQĐPCDĐP

Trang 5

+ Đối với chính quyền địa phương:

 Tìm thấy ở KDL: Khối lượng ngoại tệ mà khách du lịch quốc tế mang vào cũng nhưcác khoản thuế nhận được từ khách du lịch

 Tìm thấy ở các ĐVKDDL: Các khoản thu nhập từ thuế

 Tìm thấy ở CDĐP: Là nguồn lực để tạo ra các sản phẩm địa phương để đáp ứng nhucầu của KDL

KẾT LUẬN: Khái niệm trên đây đã lột tả được đầy đủ các mối quan hệ bản chất

bên trong của du lịch cả về góc độ kinh tế và kinh doanh du lịch và nó phù hợp với xuhướng phát triển của du lịch trong giai đoạn hiện nay Như vậy, cùng với sự phát triển củahoạt động du lịch, khái niệm du lịch cũng có sự phát triển, đi từ hiện tượng đến bản chất

2.2 Chức năng kinh tế:

- Nâng cao sức khoẻ và tính dẻo dai cho người lao động nhằm nâng cao hiệu quả laođộng: thông qua các hoạt động nghỉ ngơi, nghỉ dưỡng giúp phục hồi sức khoẻ, từ đó nângcao năng suất lao động

- Du lịch là một ngành kinh tế độc đáo – kinh tế dịch vụ, do đó nó làm ảnh hưởngđến cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nền kinh tế: Công – nông – dịch vụ

- Việc chi tiêu cho du lịch của khách du lịch không chỉ là hàng hóa dịch vụ do ngành

du lịch tạo ra mà cả các ngành kinh tế khác sản xuất ra, kể cả nó kéo theo sự phát triểncủa giao thông vận tải

=> Vì vậy du lịch là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thungoại tệ lớn của nhiều quốc gia

2.3 Chức năng sinh thái:

Trang 6

- Tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái.

- Để đáp ứng nhu cầu du lịch và nâng cao sức hấp dẫn khách yêu cầu môi trườngcảnh quan của vùng (quốc gia) làm du lịch phải được đảm bảo Từ đó, hàng loạt các côngviệc quốc gia đã xuất hiện để vừa bảo vệ các cảnh quan tự nhiên có giá trị, vừa tổ chứchoạt động giải trí du lịch (công viên, )

- Phát triển du lịch sẽ tạo cho khách có hiểu biết sâu sắc các tri thức về MTTN, hìnhthành quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên, góp phần giáo dục cho KDL về mặt sinhthái học

Du lịch phát triển góp phần làm tăng thu nhập quốc dân: KDL mang ngoại tệ đến đổi

và tiêu tiền ở nước làm du lịch, do đó làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng

và đất nước, từ đó góp phần tăng thu nhập Hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại

tệ đáng kể cho vùng (quốc gia) lăm du lịch

Xuất khẩu du lịch (du lịch quốc tế chủ động): là việc khách du lịch đến du lịch ở một

quốc gia khác và chi tiêu cho các hoạt động du lịch Lúc này, các quốc gia đón khách(nhận khách) đê thu được ngoại tệ và khách du lịch đê hưởng thụ các giá trị của TNDL

Nhập khẩu du lịch (du lịch quốc tế thụ động): là việc 1 quốc gia gởi khách là dân cư

của nước mình sang du lịch ở các quốc gia khác Tại đó, họ bỏ tiền ra cho chi tiêu du lịch,kết thúc chuyến du lịch, họ quay về nước và mang theo những giá trị du lịch của nướcđến

Trang 7

- Thông qua hoạt động lưu thông mà du lịch ảnh hưởng tích cực đến các ngành kinh

tế khác:

+ Du lịch có ảnh hưởng tích cực lên sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp vànông nghiệp (như công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, côngnghiệp gỗ, công nghiệp dệt,ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, v.v )

+ Du lịch luôn đòi hỏi hàng hoá có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, mĩthuật và hình thức Do vậy, du lịch góp phần định hướng cho sự phát triển của các ngành

ấy trên các mặt: số lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm và việc chuyên môn hoá củacác xí nghiệp trong sản xuất

+ Ảnh hưởng của du lịch lên sự phát triển các ngành khác trong nền kinh tế quốcdân như: Thông tin, xây dựng, y tế, thương nghiệp, văn hoá, v.v cũng rất lớn: Sự sẵnsang đón tiếp khách du lịch của 1 vùng không chỉ thể hiện ở chỗ những nơi đó có tàinguyên du lịch, mà bên cạnh chúng phải có cả cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống đường sá,nhà ga, sân bay, bưu điện, ngân hàng, ,mạng lưới thương nghiệp, v.v Qua đó cũng kíchthích sự phát triển tương ứng của các ngành có liên quan Ngoài ra, du lịch phát triển cònđánh thức 1 số ngành sản xuất thủ công cổ truyền

- Kinh tế du lịch góp phần làm tăng thu nhập quốc dân: Hoạt động du lịch quốc tế

là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước Ngoại tệ thu được từ du lịch quốc tế làm sốngđộng cán cân thanh toán của đất nước du lịch và thường được sử dụng để mua sắm máymóc, thiết bị cần thiết cho quá trình tái sản xuất xã hội Do vậy, du lịch quốc tế góp phầnxây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước

+ Du lịch quốc tế tạo điếu kiện cho đất nước phát triển du lịch tiết kiệm lao động

xã hội khi xuất nhập khẩu một số mặt hàng Nhưng xuất khẩu theo đường du lịch có lợihơn nhiều so với xuất khẩu ngoại thương, xuất khẩu bằng du lịch là xuất khẩu đa số dịch

vụ Hàng hoá trong du lịch được xuất với giá bán lẻ, luôn đảm bảo cao hơn giá xuất theođường ngoại thương là giá bán buôn

+ Ngoài ra, xuất khẩu bằng du lịch quốc tế không tốn chi phí vận chuyển quốc tế,tốn ít chi phí bảo quản và đóng gói như xuất khẩu ngoại thương vì vận chuyển trong phạm

vi đất nước Do vậy, xuất khẩu bằng du lịch quốc tế tiết kiệm phương tiện vận chuyển, tiếtkiệm chi phí vận hành và sử dụng các phương tiện ấy không tốn chi phí trả thuế xuất nhậpkhẩu

Trang 8

+ Do đặc điểm của tiêu dùng du lịch: khách hàng phải tự vận động đến nơi có hànghoá và dịch vụ, chứ không phải vận chuyển hàng hoá đến với khách, nên tiết kiệm đượcnhiều thời gian và làm tăng nhanh vòng quay của vốn, do đó thu hồi vốn nhanh và có hiệuquả.

- Việc phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều công ăn,việc làm và tạo điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương, phát triển du lịch, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở

những vùng đó, và cũng vì vậy mà góp phần làm giảm sự tập trung dân cư căng thẳng ởnhững trung tâm dân cư

- Du lịch quốc tế còn là phương tiện tuyên truyền và quản cáo không mất tiền cho

đất nước du lịch chủ nhà, mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế theo cáchướng: ký kết hợp đồng trao đổi khách giữa các nước, các tổ chức và các hãng du lịch,tham gia vào các tổ chức quốc tế về du lịch

- Du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khoẻ cho nhân dân lao động và do

vậy góp phần làm tăng năng xuất lao động xã hội

Về mặt xã hội:

- Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hoá vàthường tiếp xúc với dân địa phương Thông qua các cuộc giao tiếp đó, văn hoá của cảkhách du lịch và của người bản xứ được trau dồi và nâng cao Du lịch tạo khả năng chocon người mở mang hiểu biết lẫn nhau; mở mang hiểu biết về lịch sử, văn hoá, phong tụctập quán, đạo đức, chế độ xã hội, kinh tế, v.v Du lịch còn làm giàu và phong phú thêmkhả năng thẩm mĩ của con người khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của 1 đấtnước

- Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giữ gìn và nâng caotruyền thống dân tộc Thông qua các chuyến di tham quan,nghỉ mát, vãn cảnh, v.v người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hoá dân tộc, qua đóthêm yêu đất nước mình

- Ngoài ra, sự phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc góp phần khai thác,bảo tồn các di sản văn hoá và dân tộc, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiênnhiên xã hội

II Đối tượng, nhiệm vụ của địa lý du lịch

1 Đối tượng:

Trang 9

- Địa lý du lịch nghiên cứu hệ thống tổ chức lãnh thổ du lịch, phát hiện các quy luậthình thành và phân bố của nó theo mọi kiểu, mọi cấp, dự báo và nêu lên các biện pháp để

hệ thống ấy hoạt động một cách tối ưu

- Những thành phần của hệ thống tổ chức lãnh thổ du lịch:

+ Phân hệ khách (du lịch): là phân hệ trung tâm, quyết định các thành phần khác của

hệ thống phụ thuộc vào đặc điểm (nhân khẩu, dân tộc, xã hội…) Phân hệ này được đặctrưng bởi cấu trúc và lượng cầu, bởi tính lựa chọn, tính mùa và tính đa dạng của luồngkhách

+ Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hoá: tham gia vào phân hệ với tư cách làTNDL, là điều kiện để thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và là cơ sở cho việc hình thành

hệ thống Đặc trưng của phân hệ là: sức chứa, độ tin cậy, tính thích hợp, tính ổn định vàtính hấp dẫn

+ Phân hệ công trình - kỹ thuật: đảm bảo nhu cầu bình thường cho khách du lịch (ăn,

ở, đi lại…) và những nhu cầu giải trí đặc biệt (chữa bệnh, tham quan du lịch …) tạo nên

- Xác định cơ cấu lãnh thổ tối ưu của vùng, gồm:

+ Cấu trúc sản xuấ t- kỹ thuật của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch phù hợp vớinhu cầu và tài nguyên

+ Các khối liên kết giữa hệ thống nghỉ ngơi du lịch với hệ thống khách

+ Hệ thống tổ chức điều khiển được xây dựng trên cơ sở phân vùng du lịch

III Phương pháp nghiên cứu địa lý du lịch

Trang 10

1 Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống:

Thu thập và phân tích thông tin ban đầu, vạch ra các chỉ tiêu thích hợp, xác định cấutrúc hệ thống tối ưu của hệ thống lãnh thổ du lịch

2 Phương pháp nghiên cứu thực địa:

Cho phép tích lũy tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm của tổchức lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch

3 Phương pháp bản đồ:

Với việc sử dụng các mô hình bản đồ, phân tích liên hợp các xeri bản đồ sẽ giúpphản ánh những đặc điểm không gian về tài nguyên, các luồng khách và cơ sở kỹ thuậtphục vụ du lịch

4 Phương pháp toán học:

- Xử lý số lượng lớn thông tin nhờ vào máy tính điện tử

- Nghiên cứu khả năng chọn lọc du lịch

- Nghiên cứu tài liệu

6 Phương pháp cân đối:

Là tập hợp các phương pháp tính toán nhằm phân tích, lập kế hoạch, dự báo sự pháttriển của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch Chú ý đến khối lượng, cơ cấu nhu cầu, tàinguyên và sức chứa của các hệ thống CSVC-KT phục vụ du lịch

Ngoài ra địa lí du lịch còn sử dụng hàng loạt các phương pháp khác (thu thập và xử

lý tư liệu, viễn thám, kinh tế - y - sinh…)

Chương 2:

TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

I Tài nguyên du lịch

1 Quan niệm về tài nguyên du lịch

1.1 Quan niệm về tài nguyên

Trang 11

Theo nghĩa rộng, tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn năng lượng, nguyên liệu,các thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ có liên quan mà con người có thể

sử dụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình

1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch

Trước hết, Tài nguyên du lịch (TNDL) là loại tài nguyên có những đặc điểm giốngcác loại tài nguyên nói chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển củangành du lịch

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, DTLSVH, công trình lao động, sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.

1.3 Ý nghĩa, vai trò của tài nguyên du lịch:

* Ý nghĩa: TNDL là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển du lịch Nếu

không có TNDL thì không thể phát triển được du lịch

tố quan trọng mang tính quyết định để tạo nên quy mô, số lượng, chất lượng của sảnphẩm và hiệu quả của hoạt động du lịch

- Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch Để đáp

ứng nhu cầu đa dạng, phong phú và ngày càng cao của khách, các doanh nghiệp, các địaphương, quốc gia cần phải đẩy mạnh phát triển nhiều loại hình du lịch Các loại hình dulịch ra đời đều phải dựa trên cơ sở của TNDL Hoạt động DL mạo hiểm được tổ chức trên

cơ sở các TNDL như : núi cao, hệ thống hang động, các khu rừng nguyên sinh, ; du lịchnghỉ dưỡng, tắm nước khoáng được tổ chức ở những vùng có suối khoáng ; du lịch lặnbiển được tổ chức ở vùng có nhiều san hô,

- Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch Các quan hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch gồm: KDL, TNDL, CSHT, CSVCKTDL,

Trang 12

đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổc chức điều hành, quản lý du lịch Các phân hệ nàyđều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường kinh tế - xã hội, trong đó chúngđều phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của TNDL.

2 Đặc điểm và phân loại tài nguyên du lịch

2.1 Đặc điểm của tài nguyên du lịch:

- Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc vàđộc đáo có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch

- Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có những giá trị vô hình(tạo cảm xúc thẩm mỹ văn hoá của khách)

- Tài nguyên du lịch thường dễ khai thác

- Thời gian khai thác là khác nhau, tạo nên tính mùa vụ du lịch

- Tài nguyên du lịch được khai thác tại chổ để tạo ra sản phẩm du lịch, nên có sứchút cơ sở hạ tầng và khách du lịch tới nơi tập trung các tài nguyên đó

- Tài nguyên du lịch có thể sử dụng nhiều lần, nếu sử dụng kết hợp với bảo vệ hợplý

2.2 Phân loại tài nguyên du lịch:

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên:

+ Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về ngoại hình, nhưng văn hóa của conngười ở đây cũng góp phần ảnh hưởng gián tiếp đến du lịch

+ Địa hình vùng đồi thường tạo ra một không gian thoáng đãng và bao la, thích hợp

để cắm trại, dã ngoại, tham quan

+ Địa hình miền núi có không khí trong lành, có nhiều đối tượng hoạt động du lịchnhư suối, thác, hang động, sinh vật và các dân tộc ít người

Trang 13

+ Địa hình kiểu Karsto, đặc biệt là hang động Karsto, những cảnh quan thiên nhiên

và văn hóa của hang động Karsto rất hấp dẫn khách du lịch

Kiểu karsto ngập nước cũng là một tài nguyên du lịch hấp dẫn

+ Các kiểu địa hình ven bờ các kho chứa nước lớn (đại dương, biển, sông, hồ…) có

ý nghĩa quan trọng đối với du lịch : tham quan, nghỉ ngơi an dưỡng, tắm biển…

- Khí hậu:

+ Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người: Khí hậu là sự thay đổi theo chu

kỳ của thời tiết Tài nguyên khí hậu phục vụ du lịch là tổng hợp các yếu tố như nhiệt độ,

độ ẩm, áp suất không khí, gió, ánh nắng mặt trời thích hợp nhất đối với sức khoẻ conngười

+ Ảnh hưởng của khí hậu đối với du lịch được thể hiện:

+) Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích

Họ thường tránh nơi quá lạnh, quá ẩm, hoặc quá nóng, quá khô Người sống ở nơi có khíhậu khắc nghiệt thường thích đi du lịch ở nơi có khí hậu thích hợp hơn

Theo sự nghiên cứu của một nhà khoa học Ấn Độ, khí hậu thích hợp đối với hoạtđộng du lịch thể hiện ở bảng sau:

Hạng Ý nghĩa

Nhiệt độ trung bình/

năm (0 0 C)

Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (0 0 C)

Biên độ của nhiệt độ trung bình (0 0 C)

Lượng mưa trong năm (mm)

+) Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng

+)Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, giải trí

Trang 14

Các loại hình du lịch thể thao vui chơi giải trí như nhảy dù, tàu lượn, khinh khí cầu,thả diều, thuyền buồn… rất cần có các điều kiện khí hậu thích hợp như hướng gió, tốc độgió, quang mây, không có sương mù…

+) Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạtđộng dịch vụ về du lịch Tính mùa của du lịch chịu tác động chủ yếu của nhân tố khí hậu.Mùa du lịch cả năm đối với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng; Mùa du lịch vàomùa đông như du lịch trượt tuyết trên núi, du lịch tham quan các tài nguyên du lịch nhânvăn; Mùa du lịch vào mùa hè như du lịch leo núi, du lịch tắm biển và các loại hình du lịchngoài trời

=> Tóm lại, tài nguyên khí hậu tác động lớn đến sức khoẻ con người, đến loại hình du lịchphục vụ chữa bệnh an dưỡng và việc triển khai các loại hình du lịch

- Tài nguyên nước:

+ Bề mặt nước và các bãi nông ven bờ: Bề mặt nước là mặt không gian thoáng rộng, khíhậu trong lành, mát mẻ, có phong cảnh đẹp Các bãi biển hoặc bãi ven hồ sử dụng để tắmmát, dạo chơi, hoạt động thể thao như bơi lội, du thuyền, lướt ván

+ Nguồn nước khoáng, nước nóng phục vụ loại hình du lịch tắm nước nóng, đắp bùn,chữa bệnh

- Tài nguyên sinh vật:

Những khu rừng xa lạ, đẹp đã trở thành đối tượng tham quan hấp dẫn, tính đa dạngsinh học, bảo tồn những nguồn gen quý đã thu hút các nhà khoa học quan tâm nghên cứu,

sự giàu có của một số loài động vật có thể phục vụ cho du lịch săn bắn thể thao

Tài nguyên sinh vật nước ta phục vụ lợi ích du lịch được tập trung khai thác ở cácvườn quốc gia, các hệ sinh thái đặc biệt và các điểm tham quan sinh vật

+ Vườn quốc gia: Hệ thống các vườn quốc gia là nơi tập trung đa dạng sinh học cao.

Trong đó có nhiều động thực vật đặc hữu, quý hiếm

Nước ta có nhiều vườn quốc gia, phục vụ đắc lực cho việc khai thác phát triển du lịchnhư: Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Ba Bể, Cát Bà, Cát Tiên Ngoài ra còn cómột số khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, môi trường khá tiêu biểu, có giá trị du lịch nhưHương Sơn (Hà Tây), Côn Sơn (Hải Dương), Đền Hùng (Phú Thọ)…

- Một số hệ sinh thái đặc biệt:

+ Hệ sinh thái rừng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long

Trang 15

+ Hệ sinh thái rạn san hô ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hoà, Bình Thuận, Bà Rịa –Vũng Tàu…

+ Các hệ sinh thái vùng đấu ướt và cửa sông ở Tràm Chim (Đồng Tháp), Xuân Thủy(Nam Định)

- Các điểm tham quan sinh vật:

Nước ta có nhiều điểm tham quan sinh vật như : Các vườn thú, vườn bách thảo, công viên vui chơi, giải trí, các viện bảo tàng Hải dương học (Hải Phòng, Nha Trang), sân chim, vườn chim, vườn hoa trái (Đồng bằng sông Cửu Long), các cơ sở thuần dưỡng voi (Buôn Đôn – Đăk Lăk), cơ sở nuôi khỉ (đảo Rều - Quảng Ninh), nuôi trăn, rắn cá sấu ở

đồng bằng sông Cửu Long…

Tài nguyên sinh vật có ý nghĩa lớn đối với phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinhthái, săn bắn, thể thao, nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, chỉ một số cảnh quan tự nhiênhoặc các thành phần, bộ phận của chúng chứa đựng các tài nguyên du lịch mới tạo nên

các cảnh quan du lịch tự nhiên Các cảnh quan du lịch tự nhiên gồm có :

+ Điểm du lịch tự nhiên: Nơi có dạng tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn, có khảnăng thu hút khách du lịch và giới hạn trong một không gian không lớn lắm

+ Khu du lịch tự nhiên: Là nơi có nhiều điểm du lịch tự nhiên, có phạm vi không

gian rộng lớn, ví dụ : Hạ Long – Cát Bà

Ngoài các tài nguyên du lịch kể trên, các hiện tượng thiên nhiên đặc biệt cũng có sức

hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch như sự xuất hiện của Sao Chổi, hiên tượng NhậtThực, hiện tượng Núi Lửa Phun, hiện tượng Cực Quan hoặc Mưa Sao…

2.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn:

a/ Quan niệm:

TNDL nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuynhiên, chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thácphát triển du lịch để tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường mới được gọi là TNDLnhân văn

Vì vậy, TNDL nhân văn thường là những giá trị văn hoá tiêu biểu, đặc sắc của mỗiđịa phương, mỗi quốc gia Thông qua những hoạt động du lịch dực trên việc khai thác cáctài nguyên du lịch nhân văn, khách du lich có thể hiểu được những đặc trưng cơ bản vềvăn hóa dân tộc, địa phương nơi mình đến

b/ Đặc điểm:

Trang 16

- Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn là giải trí.

- Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo diễn ra trong thời gian rất ngắn, do đó trongchuyến đi du lịch có thể đi thăm quan nhiều đối tượng tài nguyên

- Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hóa cao hơn, thunhập và yêu cầu cao hơn

- Tài nguyên du lịch nhân tạo thường tập trung ở các thành phố, ở các điểm quần cưnên không cần xây dựng thêm cơ sở vật chất riêng

- Tài nguyên du lịch nhân tạo không có tính mùa vụ như tài nguyên du lịch tự nhiên

- Đối với tài nguyên du lịch nhân tạo, khách quan tâm là những người có trình độvăn hoá cao, có mức sống cao và hiểu biết rộng

- Sở thích của người tìm đến tài nguyên du lịch nhân tạo rất phức tạp và khác nhau,

nó phụ thuộc vào độ tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, thế giớiquan, vốn trí thức của họ

- Tài nguyên du lịch nhân văn tác động theo từng giai đoạn

+ Cần đánh giá đúng giá trị của các di tích

+ Theo các thang giá trị khác nhau, những di tích cũng được phân thành những cấpkhác nhau:

 Các di tích cấp địa phương

 Các di tích cấp quốc gia

 Các di tích quốc gia đặc biệt

Trang 17

*Các loại di tích văn hóa – lịch sử ở nước ta :

- Di tích khảo cổ học : Là những địa điểm ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá nghệ

thuật về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự, vào thời gian nào đó trong lịch

sử cổ đại

Ví dụ: Di tích của nề văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình, Bắc Sơn…

- Di tích lịch sử: Di tích ghi dấu các sự kiện lịch sử hoặc các đặc điểm lịch sử tiêu

biểu của các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình Cụ thể, đó là các di tích

ghi dấu về dân tộc học, đó là sự ăn, ở của các tộc người; Di tích ghi dấu sự kiện chính trị

quan trọng, có ý nghĩa quyết định hướng phát triển của đất nước, địa phương; Di tích ghi

dấu chiến công chống xâm lược; Di tích ghi dấu kỉ niệm; Di tích ghi dấu vinh quang trong lao động; Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc phong kiến.

Ví dụ: Thành Cổ Loa, nhà sàn Bác Hồ, hang Pắc Bó, Ải Chi Lăng, Khu Tân Trào,

bãi cọc Bặch Đằng, Chứng tích Sơn Mỹ…

-Di tích văn hoá - nghệ thuật: Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc, có giá

trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật Nó chứa đựng giá trị kiến trúc và giá trị vănhoá tinh thần

Ví dụ: Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), toà thánh

Tây Ninh…

-Danh lam thắng cảnh: Là nơi có cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết

hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoahọc

Ví dụ: Chùa Hương, Yên Tử….

Lễ hội: Lễ hội là một hình thức văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của

một dân tộc, là loại hình sinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của người dân được hìnhthành và phát triển trong quá trình lịch sử

Lễ hội là tài nguyên du lịch có giá trị thu hút khách du lịch rất lớn

Trang 18

Nước ta là nước có nhiều nghề thủ công truyền thống: chạm khắc đá, nghề đúc đồng,nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề mây tre đan, nghề dệt… mỗi nghề đều có lịch

sử phát triển lâu dài và khá độc đáo

+ Nghề chạm khắc đá:

Là một trong những nghề có lịch sử lâu đời nhất thế giới Thời kỳ đồ đá, con người

đã chế tác ra những vòng đeo tay, hạt chuỗi, khuyên tai, tượng bằng đá

Tại Việt Nam đã tìm thấy di chỉ xưởng chế tác đá Bái Tự (Bắc Ninh), Tràng Kênh(Hải Phòng), Bái Tê (Thanh Hoá), Kinh Chủ (Hải Dương), Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng).Ngoài ra, còn rải rác ở nhiều nơi khác như Ninh Bình, Thừa Thiên Huế, Biên Hoà…

+ Nghề đúc đồng: Nghề đúc đồng của nước ta xuất hiện rất sớm - từ thời kỳ dựng

nước Những sản phẩm được đúc từ đồng thau của nền văn hoá Đông Sơn như trống đồng

đã chứng tỏ một trình độ kỹ thuật điêu luyện, một tư duy nghệ thuật phong phú Ngoài racòn có “tứ đại khí” của nước ta thời xưa, đó là:

Tượng đồng cao 20m ở chùa Quỳnh Lâm ( Quảng Ninh)

Chuông Quy Điền ở chùa Diên Hựu ( Chùa Một Cột)

Vạc chùa Phổ Minh (Nam Định) nặng 6150kg

Nghề đúc đồng phát triển nổi tiếng nhất là ở làng Ngũ Xá (Hà Nội ), làng Trà Đúc(Thanh Hoá) và làng Điện Phương (Quảng Nam)

+ Nghề kim hoàn: Nước ta có nhiều làng làm nghề kim hoàn, như làng Đình Công

(Thanh Trì – Hà Nội) là ông tổ của nghề này

+ Nghề gốm: Nước ta là một trong những nơi có kỹ nghệ gồm phát triển sớm nhất ở

châu Á Nhiều địa phương đã nổi tiếng cả trong và ngoài nước về kỹ thuật làm gốm thủcông thô sơ rất sơ rất độc đáo có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách như: Hương Canh(Vĩnh Phúc), Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà ( Bắc Ninh), Lò Chum ( Thanh Hoá), PhươngTích (Huế), Biên Hoà (Đồng Nai)…

+ Nghề mộc:

Nghề mộc dựng đình chùa, đền miếu, nổi tiếng có thôn Cúc Bồ (Hải Dương)

Nghề chạm trổ, khắc gỗ có rất nhiều nơi nổi tiếng: làng Đồng Giao xã Hương Điềntỉnh Hải Dương, làng Chàng Thôn, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây; làng Giáp thuộc Tứ

Xã, huyện Lâm Thao - Phú Thọ, La Xuyên huyện Yên Ninh tỉnh Nam Định; Phù Khê vàKim Thiều tỉnh Bắc Ninh… Vùng Thuận Hoá (Huế) là kinh đô của cả nước, nơi tập trungnhiều nghệ nhân nghề mộc và chạm trổ

Trang 19

+ Nghề dệt, thêu ren truyền thống: Theo truyền thuyết thì công chúa Thiều Hoa, con

gái thứ sáu của vua Hùng Vương thứ nhất, chính là người tìm ra con tằm và phát minh ranghề dệt lụa Những địa danh gắn với truyền thuyết đó ở nước ta có rất nhiều như: Bưởi,Nghi Tàm, Nghĩa Đô (Hà Nội), Trinh Tiết, Kiều Trúc, La Khê (Hà Tây)

+ Nghề đan lát mây tre: Phú Vinh, Ninh Sở (Hà Nội), Quảng Phong (Thanh Hóa)… + Chế biến món ăn: Cốm Làng Vòng (Hà Nội), bánh khô mè Cẩm Lệ (Đà Nẵng)… + Mỹ nghệ ngà sừng: Thụy Ứng, Vạn Hạnh.

+ Nghề sơn mài và khảm: Nghề sơn mài ở Việt Nam có từ đời Lê Hiến Tông, có ông

tiến sĩ Trần Lưu tên thật là Lương (1470) ở làng Bình Vọng, huyện Thường Tín tỉnh HàTây, đỗ tiến sĩ năm 1502, là ông tổ của nghề sơn Việt Nam Kế thừa và phát huy nghềtruyền thống đó, năm 1925 ở nước ta, trường CĐ Mỹ Thuật Đông Dương được thành lập.Những hoạ sĩ nổi tiếng về sơn mài là Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung,Trần Văn Cẩn

Nghề khảm thì theo truyền thuyết do ông Nguyễn Kim ở làng Thuận Nghĩa, Thanh

Hoá thành lập Về sau ở làng Chuôn huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây.( thời Lê Hiển Tông1740-1786) Sau đó ra Thăng Long, lập nên phố hàng Khay và lập đền thờ ông Kim.Ngày nay, nổi tiếng nhất của Việt Nam là Hà Tây, Hà Nội và Nam Định

Các đối tượng du lịch khác gắn với văn hóa dân tộc:

- Là những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá phong tục tập quán, hoạt

động sản xuất với những sắc thái riêng của các dân tộc

- Những tập tục riêng về cư trú, về tổ chức xã hội, về sinh hoạt, trang phục và ẩm

thực, về ca múa nhạc…

Các đối tượng văn hoá thể thao và các hoạt động có tính sự kiện:

- Các trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn, các bảo tàng…

- Những hoạt động mang tính sự kiện như các giải trí thể thao lớn, các cuộc triển lãm

những thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, các liên hoan phim ảnh quốc, ca nhạcquốc tế, dân tộc,

II Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch

1 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

1.1 Cơ sở hạ tầng: Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy du lịch.

- Giao thông vận tải: Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên một khoảng

cách nhất định Nó phụ thuộc vào giao thông (mạng lưới đường sá: đường bộ, đường sắt,

Trang 20

đường thuỷ, đường không,…) và phương tiện giao thông Một đối tượng có thể có sứchấp dẫn khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu nhân tố giao thông.Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì du lịch mới trở thànhhiện tượng phổ biến trong xã hội.

- Thông tin liên lạc: Đây cũng được coi là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng

của hoạt động du lịch Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịchtrong nước và quốc tế; Là phương tiện vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng vàkịp thời, góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các nước

- Ngoài ra, hệ thống các công trình cấp điên, nước cũng góp phần không nhỏ cho

việc nghỉ ngơi giải trí của khách

Như vậy, CSHT là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có hoạtđộng du lịch

1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: CSVCKTDL gồm:

- Các cơ sở lưu trú, ăn uống: (Motel, Hotel, camping, Bungalow, làng du lịch, biệt

thự, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà có phòng cho thuê; Nhà hang, night club, snack bar,…)

- Các cơ sở vui chơi giải trí: Các công viên giải trí, công viên chủ đề, các sân thể

thao, phòng thể thao, sân vận động, các thiết bị vui chơi giải trí

- Các công trình phục vụ hoạt động trung tâm văn hoá: Bao gồm trung tâm văn

hoá, thông tin, phòng chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm,…

- Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp: Đáp ứng nhu cầu về hàng hóa của KDL

thông qua các sản phẩm đặc trưng cho du lịch, các hang thực phẩm và hàng hoá khác

- Cơ sở y tế: Nhằm mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung

tại các điểm du lịch Cơ sở này bao gồm các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánhnắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng,…), các phòng y tế với các trang thiết bị trong đó(phòng tắm hơi, massage,…)

- Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác: Trạm xăng, thiết bị cấp cứu, xưởng sữa

chữa dụng cụ thể thao, giặt là, cắt tóc, bưu điện,…

2 Khách du lịch

- Trong các nhóm nhân tố phát triển du lịch, khách du lịch đóng vai trò rất quantrọng và là đối tượng trung tâm của hoạt động du lịch Du lịch không thể phát triển hoặctồn tại nếu không có khách du lịch

Trang 21

- Ngày nay, cuộc sống càng phát triển con người càng có nhu cầu tìm hiểu, khám phá

về thế giới, về tự nhiên, về con người, về văn hoá, lịch sử,…, muốn được nếm trải tất cả

sự độc đáo của những vùng đất nới lạ Đây chính là lúc để du lịch có điều kiện để pháttriển

3 Các nhân tố về kinh tế - xã hội, chính trị

- Sự phát triển của nền sản xuất có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu

du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Sự phát triển của nền sản xuất xãhội đẻ ra nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, làm xuất hiện hoạt động du lịch, rồi đẩy nó với tốc độphát triển nhanh hơn

- Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế, cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật là nhân tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch

Đó là tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, làm tăng thêm khả năng thực tế thamgia hoạt động nghỉ ngơi du lịch, hoàn thiện cơ cấu hạ tầng và tạo cho du lịch có bước pháttriển mới vững chắc hơn

- Ngoài ra, các nhân tố chính trị cũng là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụngthúc đẩy hoặc kìm hảm sự phát triển của du lịch trong nước và quốc tế Du lịch chỉ có thểxuất hiện và phát triển trong điều kiện hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc

Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các đốitượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tàinguyên du lịch, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả cao nhất

2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch: Có ba hình thức chủ yếu:

- Hệ thống lãnh thổ du lịch

- Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch

Trang 22

- Phân hệ các tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên văn hoá lịch sử.

- Phân hệ các công trình kỹ thuật

- Phân hệ đội ngũ cán bộ công nhân viên

- Phân hệ điều khiển

Các phân hệ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

2.1.1 Phân hệ khách du lịch:

- Là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu đối với các thành phần khác của

hệ thống, bởi vì các thành phần này phụ thuộc vào đặc điểm (xã hội, nhân khẩu, dântộc…) của khách du lịch

- Các đặc trưng của phân hệ khách là: cấu trúc và lượng nhu cầu, tính lựa chọn, tínhmùa và tính đa dạng của luống khách du lịch

2.1.2 Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hoá:

Là điều kiện để thoã mãn nhu cầu nghỉ nghơi du lịch và là cơ sở lãnh thổ cho việchình thành hệ thống Phân hệ này có sức chứa, có độ tin cậy, tính thích hợp, tính ổn định

và tính hấp dẫn Nó được đặc trưng bằng lượng nhu cầu, diện tích phân bố và thời giankhai thác

2.1.3 Phân hệ công trình kỹ thuật:

Đảm bảo cho cuộc sống bình thường của khách du lịch, nhân viên phục vụ (ăn ở, đilại…) và những nhu cầu giải trí đặc biệt (chữa bệnh, tham quan,du lịch…) Toàn bộ côngtrình kỹ thuật tạo nên cơ sở hạ tầng du lịch Nết đặc trưng của phân hệ là sức chứa, tính đadạng, tính thích hợp, mức độ chuẩn bị khai thác…

2.1.4 Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ:

Hoàn thành chức năng dịch vụ cho khách hàng và đảm bảo cho các xí nghiệp hoạtđộng bình thường Số lượng, trình độ chuyên môn - nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nhânviên và mức độ đảm bảo lực lượng lao động là những đặc trưng chủ yếu của phân hệ

2.1.5 Bộ phận điều khiển: Có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống nói chung và từng

phân hệ nói riêng hoạt động tối ưu

Trang 23

2.2 Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch:

- Thực chất đây là sự kết hợp giữa các cơ sở du lịch với các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ

tầng được liên kết với nhau bằng các mối liên hệ kinh tế, sản xuất và cùng sử dụng chung

vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và kinh tế của lãnh thổ

- Có 3 giai đoạn hình thành thể tổng hợp lãnh thổ du lịch:

+ Giai đoạn 1: Là việc tập trung một cách đơn giản các cơ sở, xí nghiệp du lịch.+ Giai đoạn 2: Phát triển các ngành chuyên môn hóa và tập trung các xí nghiệp dulịch theo dấu hiệu ngành và lãnh thổ

+ Giai đoạn 3: Hình thành cấu trúc lãnh thể của thể tổng hợp

2.3 Vùng du lịch:

Vùng du lịch là hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội, một tập hợp các hệ thống lãnh thổ

du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng nhằm đảmbảo cho hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch với việc có chung chuyên môn hóa vàcác điều kiện kinh tế - xã hội để phát triển du lịch có hiệu quả

Trên quan điểm hệ thống, có thể trình bày vùng du lịch như một tập hợp hệ thốnglãnh thổ được tạo nên bởi hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: hệ thống lãnh thổ dulịch và không gian kinh tế - xã hội xung quanh, nhằm đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động

có hiệu quả Giữa chúng có các mối liên hệ với nhau Mối liên hệ giữa các yếu tố tạothành hệ thống lãnh thổ du lịch mang tính chất liên hệ công nghệ có tác dụng thực hiệnđầy đủ các khâu công nghệ của quá trình du lịch Còn các mối liên hệ của hệ thống lãnhthổ du lịch với các không gian kinh tế - xã hội xung quanh là các mối liên hệ kinh tế.Như vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch là hạt nhân tạo nên vùng du lịch, nhưng khôngphải là toàn bộ lãnh thổ của vùng mà chỉ là nơi tập trung nguồn tài nguyên du lịch và cáccông trình kỹ thuật Vùng du lịch có không gian rộng lớn hơn, trong đó bao gồm cả cáckhu vực sản xuất hàng hóa, vật liệu, năng lượng, có đội ngũ cán bộ, thông tin, kho tàng,các công trình công cộng

II Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch

Có thể nói, việc phân vị trong phân vùng du lịch có vai trò hết sức quan trọng

Đó là điều kiện khong thể thiếu trong phân vùng du lịch Có nhiều hệ thống phân vị khácnhau Theo M Buchvarov thì hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch ở gồm có 5 cấp:

1 Điểm du lịch

Trang 24

- Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch

- Có khả năng tạo vùng du lịch rất cao, là hạt nhân của vùng du lịch

- Trung tâm du lịch là nơi có quy mô nhất định về mặt diện tích, bao gồm các điểm

du lịch kết hợp với các điểm dân cư và môi trường xung quanh Trung tâm du lịch có thể

có diện tích tương đương với diện tích của một tỉnh

3 Tiểu vùng du lịch

- Tiểu vùng du lịch là một tập hợp bao gồm các điểm du lịch và trung tâm du lịch

(nếu có) Về quy mô, tiểu vùng du lịch bao trùm lãnh thổ của một vài tỉnh

- Tiểu vùng du lịch có nguồn tài nguyên tương đối phong phú về số lượng, đa dạng

về chủng loại

- Ở nước ta có hai loại tiểu vùng du lịch là tiểu vùng du lịch đã hình thành và tiểuvùng du lịch đang hình thành

4 Á vùng du lịch

- Á vùng du lịch là một tập hợp các tiểu vùng du lịch, trung tâm du lịch (nếu có) và

các điểm du lịch thành một thể thống nhất với mức độ tổng hợp cao hơn Vai trò của cơ

sở hạ tầng tăng lên, các thông số hoạt động và lãnh thổ du lịch lớn hơn

- Trong Á vùng du lịch có nhiều loại tài nguyên, tính chuyên môn hoá cũng đã bắtđầu được thể hiện

5 Vùng du lịch

Trang 25

- Vùng du lịch là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị Đó là 1 kết hợp lãnh thổ các ávùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch Vùng du lịch có những đặc trưngriêng về số lượng và chất lượng.

- Vùng du lịch có tính chuyên môn hoá rất cao, nó là cái đặc trưng riêng làm chovùng này khác với các vùng khác

- Vùng du lịch có diện tích lớn, bao gồm nhiều tỉnh và nó bao gồm các vùng du lịch

đã hình thành và vùng du lịch đang hình thành

III Hệ thống chỉ tiêu trong phân vùng du lịch

1 Cơ sở xây dựng hệ thống chỉ tiêu trong phân vùng du lịch

- Vùng du lịch được tạo thành bởi nhiều yếu tố Đó là các yếu tố tạo vùng Hệ thốngchỉ tiêu phân vùng du lịch trước hết phải nhằm vào yếu tố tạo vùng Các yếu tố tạo vùngchủ yếu là nguồn tài nguyên (tự nhiên, văn hóa – lịch sử, kinh tế - xã hội), dòng khách dulịch, CSHT và CSVCKT

- Mỗi vùng du lịch phải có một cực đủ mạnh để thu hút các khu vực xung quanh vàolãnh thổ của vùng Trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu, cần phải lưu ý đúng mức tớivấn đề này

2 Hệ thống chỉ tiêu trong phân vùng du lịch

Xuất phát từ các điểm cơ bản trong việc phân vùng du lịch nói trên, ta có hệ thốngchỉ tiêu phân vùng du lịch với 3 loại chỉ tiêu chính

2.1 Số lượng, chất lượng tài nguyên và sự kết hợp của chúng theo lãnh thổ:

- DL là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt TNDL ảnhhưởng trực tiếp đến việc tổ chức lãnh thổ DL, đến việc hình thành chuyên môn hoá cácvùng DL và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch Do vị trí đặc biệt quan trọng của nó,TNDL được tách thành một phân hệ riêng biệt trong hệ thống lãnh thổ du lịch

+ Về thực chất, TNDL là các ĐKTN, các đối tượng văn hoá – lịch sử đã được biếnđổi ở mức độ nhất định

+ TNDL có tác động không nhỏ tới sự hình thành và phát triển cũng như cấu trúcchuyên môn hoá của vùng

+ Trên tác động tổng hợp của tài nguyên tự nhiên đã xuất hiện các kiểu tổ hợp dulịch, như : tổ hợp du lịch ven biển, du lịch núi, du lịch đồng bằng – đồi Còn với TNDLnhân tạo thì lại thiên về tác dụng nhận thức hơn

Trang 26

- Khi đề cập tới chỉ tiêu về tài nguyên, trước hết cần xem xét về mặt số lượng tàinguyên vốn có Tất nhiên, việc xác định số lượng tài nguyên du lịch chỉ có tính chấttương đối.

- Chất lượng TNDL có tác dụng tạo vùng rất lớn Trong nhiều trường hợp, số lượng

và chất lượng TN không phù hợp với nhau Các loại TN chỉ phát huy tác dụng hấp dẫnKDL khi có chất lượng cao

- Đối với từng loại tài nguyên, không phải bất cứ đặc điểm nào của nó cũng có ýnghĩa đối với du lịch Thông thường chỉ có một số đặc điểm nhất định tham gia vào quátrình tạo vùng

- Mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc tạovùng Vai trò tạo vùng của TNDL không chỉ dừng lại ở số lượng và chất lượng mà còn ở

sự kết hợp của các loại tài nguyên Mức độ kết hợp tài nguyên càng phong phú, sức thuhút KDL càng mạnh, tác dụng tạo vùng của nó càng cao

2.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch :

- CSHT và CSVCKT là nhân tố tạo điều kiện biến những tiềm năng của TNDLthành hiện thực Giữa CSHT, CSVCKT và TNDL có mối quan hệ qua lại, bổ sung chonhau

- CSHT có vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triển vùng du lịch, đặc biệt làgiao thông vận tải

- CSVCKT có vai trò đảm bảo cho du lịch hoạt động bình thường và được coi nhưCSHT du lịch

2.3 Trung tâm tạo vùng :

- Mỗi vùng du lịch ít nhất phải có một trung tâm tạo vùng để lôi kéo các lãnh thổ lâncận Giữa trung tâm tạo vùng và TNDL, CSHT, CSVCKT có mối quan hệ mật thiết vớinhau

- Trung tâm tạo vùng có nguồn tài nguyên phong phú, được sử dụng ở mức độ rấtcao Trung tâm tạo vùng phải có sức hút mạnh đối với lãnh thổ xung quanh Trung tâmtạo vùng càng lớn thì sức hút càng mạnh Trong trung tâm tạo vùng thì có trung tâm tạovùng toàn quốc và trung tâm tạo vùng địa phương

- Ý nghĩa đặc biệt của trung tâm tạo vùng được thể hiện rõ nét trong qúa trình xácđịnh ranh giới của các vùng du lịch

IV Phương pháp phân vùng du lịch

Trang 27

1 Các phương pháp chung

- Phương pháp tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống

- Phương pháp phân tích toán học

- Phương pháp cân đối

- Phương pháp bản đồ

2 Phương pháp xác định ranh giới vùng du lịch

2.1 Quan niệm về ranh giới vùng:

- Việc xác định ranh giới vùng du lịch là một trong những khâu phức tạp nhất trongphân vùng du lịch Trong quá trình nghiên cứu, cần vận dụng các quan điểm khác nhau,đặc biệt là hai quan điểm tổng hợp và hệ thống

- Việc xác định ranh giới vùng du lịch cần xác định theo ranh giới hành chính

2.2 Các bước và phương pháp tiến hành:

- Xác định sự phân hóa lãnh thổ dựa vào nguồn tài nguyên du lịch

- Xác định sự phân hóa lãnh thổ dựa vào cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ dulịch

- Xác định các trung tâm tạo vùng và sức hút của chúng

- Xác định ranh giới của các vùng du lịch trên cơ sở tổng hợp 3 chỉ tiêu trên

Trang 28

PHẦN II: ĐỊA LÝ DU LỊCH VIỆT NAM

Chương 1:

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM

I Đặc điểm phát triển của ngành du lịch

Du lịch Việt Nam được hình thành và phát triển từ thập kỉ 60, thế kỉ XX Từ đóđến nay, quy trình phát triển của du lịch không đều, có thể chia làm 2 giai đoạn :

-Từ 1960 – 1990 : Ngành du lịch phát triển còn nhỏ bé, thiếu thốn và lạc hậu, chủ yếu làphục vụ chuyên gia nước ngoài

-Từ 1990 – nay : Du lịch phát triển với nhiều thuận lợi và có tốc độ tăng trưởng cao

Với những điều kiên tự nhiên, xã hội và nhân văn hoàn toàn phù hợp với sự pháttriển du lịch, du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể

II Quy hoạch không gian du lịch

(Đọc giáo trình « Địa lý và tài nguyên du lịch »)

Trang 29

- Vùng có 6 tỉnh ở biên giới phía bắc giáp với Trung Quốc, 5 tỉnh ở phía tây giápLào, toàn bộ phía đông giáp vịnh Bắc Bộ.

- Ở đây có những vùng núi non hùng vĩ và hiểm trở, có những cánh rừng bạt ngàn,

có đồng bằng màu mỡ Khí hậu đặc sắc, nắng chan hòa, mùa đông lạnh

- Văn hóa các tộc người rất phong phú, giàu bản sắc

II Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên

Thiên nhiên của vùng đa dạng và có nhiều nét độc đáo, nên tài nguyên du lịch tự

nhiên của vùng cũng rất phong phú, đa dạng, là cơ sở để phát triển toàn diện du lịch

1 Địa hình

- Địa hình đa dạng và phức tạp, núi và cao nguyên chiếm gần ¾ lãnh thổ của vùng Vùng

có các dãy núi đồ sộ và hùng vĩ và có các cánh cung núi

Điều này đã tạo nên nhiều nới có phong cảnh đẹp như Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì…

- Kiểu địa hình karst tập trung nhiều tạo cho vùng những kì quan thiên nhiên độc đáo,đặc sắc như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Hương Sơn, Tam Cốc – Bích Động…

- Bờ biển dài, địa hình đa dạng đã hình thành nên nhiều bãi biển đẹp : Bãi Cháy, ĐồSơn, Sầm Sơn, Cửa Lò…

2 Khí hậu

Khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa của vùng thuận lợi cho hoạt động du lịch, nhưng do

có tính phân mùa nên gây nhiều cản trơ cho hoạt động du lịch như nóng, mưa, giông,bão…

III Đặc điểm lịch sử - văn hóa và tài nguyên du lịch nhân văn

Về lịch sử, đây là vùng được hình thành sớm nhất nước ta, có lịch sử lâu dài hơn

4000 năm, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm cùng nhiều triều đại phong kiến

Trang 30

ngoại xâm Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc đã để lại nhiều di tích, di sản có ýnghĩa lớn và các danh nhân văn hóa của dân tộc.

Vùng có một kho tàng kiến trúc nghệ thuật độc đáo như chùa: Chùa Tây Phương (Hà

Tây), chùa Keo (Thái Bình), chùa Một cột (Hà Nội)…

Mây tre, sơn mài, gốm sứ, thêu ren, đan, chạm, khắc, các sản phẩm từ cói

7 Về vui chơi giải trí

Vùng có nhiều trò chơi như chọi gà, chọi trâu, đấu vật, ném còn…

IV Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

1 Cơ sở hạ tầng du lịch:

Vùng có cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tương đối phát triển Tuy nhiên, ở trung dumiền núi thì còn thiếu các phương tiện và điều kiện đi lại

- Mạng lưới giao thông đường bộ ô tô: Từ Hà Nội đi lên các tỉnh miền núi phía bắc

có đường quốc lộ số 1, 2, 3, lên Tây Bắc có quốc lộ 6, ra biển có quốc lộ 5, nối với cáctỉnh phía nam có quốc lộ 1

- Mạng lưới giao thông đường sắt: Các tuyến giao thông đường sắt chạy song song

với các trục đường bộ Tất cả các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia, quốc tế đều có thể đibằng các tuyến giao thông khác nhau

Trang 31

- Mạng lưới giao thông đường hàng không: Có sân bay quốc tế Nội Bài lớn thứ 2

của cả nước Sân bay Gia Lâm, Sân bay Điện Biên, Cát Bà, sân bay Vinh đều phục vụ

đón khách du lịch

- Mạng lưới giao thông đường biển: Có cảng Hải Phòng lớn thứ 2 của cả nước, có

thể đón hàng chục ngàn khách du lịch Tuy vậy, việc đầu tư xây dựng và cải tạo hệ thốnggiao thông đường sá nhằm tạo thuận lợi và rút ngắn thời gian đi lại cho khách du lịch làđặc biệt quan trọng và rất thiết thực để phát triển du lịch vùng này

- Có nhiều cửa khẩu quan trọng: Móng Cái (Quảng Ninh), Tân Thanh (Lạng Sơn)

- Khả năng cung cấp điện, nước, và thông tin liên lạc những năm gần đây phát

triển rất mạnh

2 Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch

- Về lưu trú: Trên cơ sở kế thừa các cơ sở đã được xây dựng từ những năm trước

đây, gần đây vùng đã tăng cường đầu tư nâng cấp và xây dựng mới nhiều khách sạn cóchất lượng

- Về phục vụ ăn uống: Có nhiều món ăn ngon, đặc sắc như cơm tấm giò chả, phở

Bắc, bún ốc, bún mọc, nem chua, chả cá, rượu làng Vân, cốm làng Vòng, đậu xanh HảiDương,…

- Về vui chơi giải trí: Với các trò chơi thả chim, chọi gà, chọi trâu, đi chợ hoa ngày

tết hoặc tham dự các ngày lễ hội, xem rối nước, đấu vật, đánh đu, câu cá, bể bơi, tổ chứcbiểu diễn nghệ thuật,…

V Các sản phẩm du lịch đặc trưng và các địa bàn hoạt động du lịch chủ yếu của vùng

1 Sản phẩm du lịch đặc trưng

Tại vùng kinh tế Bắc Bộ, sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch văn hoá, sinh thái kếthợp với du lịch tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng

1.2 Những sản phẩm du lịch cụ thể

1.2.1 Tham quan, nghiên cứu nền văn hoá Việt Nam:

- Các di tích lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam:

+ Tại Việt Trì: Đền Hùng

+ Tại Lạng Sơn, Cao Bằng: Chi Lăng, Pắc Pó, Đông Khê, Thất Khê

Trang 32

+ Tại Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên: An toàn khu Sơn Dương, Tân Trào,Chiêm Hoá, Bắc Sơn.

+ Tại Ninh Bình: Hoa Lư, Tam Điệp

+ Tại Quảng Ninh – Hải Phòng có Vân Đồn, Yên Tử, Sông Bạch Đằng

- Các di sản văn hoá, nghệ thuật truyền thống: chèo tuồng, múa rối nước, âm nhạc cổtruyền, hát quan họ, hát ca trù…

- Các lễ hội và sinh hoạt tâm linh: thuộc các nền văn minh, văn hoá của các dân tộcnhư Tết Nguyên Đán, Tết Trung Nguyên (rằng tháng 7 AL), tết Trung Thu

- Các làng nghề truyền thống:

+ Làng gốm: Hương Canh (Vĩnh Phúc), Đông Triều, Lò Chum (Thanh Hoá)

+ Làng mộc: Nội Duệ, Đồng Kỵ (Tiên Sơn, Bắc Ninh), Lỗ Khê (Đông Anh – HàNội) Sản phẩm chủ yếu ở đay là chạm gỗ, chạm là làm nổi, trổ là làm thủng Người thợ

đã dùng bàn tay khéo léo của mình khắc chạm vào các sản phẩm hoành phi, câu đối, sập

gụ, tủ chè, tượng phật, đồ thờ Sau khi chạm rồng bay phượng múa lân chầu, các tíchtuồng cổ đã làm tăng giá trị sản phẩm lên gấp bội

+ Nghề khảm: Người thợ khảm dùng nguyên liệu là gỗ tốt, sơn ta để gắn vào võ trai

ốc nhằm tạo ra các tác phẩm là nghệ thuật, hay các hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp Hàngkhảm có nhiều loại như tủ chè, sập, ghế bành, hoặc các bức tranh phong cảnh, đồ trangsức, album, khay…nổi tiếng là làng Chuôn ( Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây)

+ Nghề dệt lụa: Làng Vạn Phúc (Hà đông – Hà Tây); nghề thêu ở Quất Động(Thường Tín – Hà Tây)

+ Ngoài ra còn có nghề đúc đồng ở Hà Tây, nghề đan lát may tre phát triển ở nhiềunơi

1.2.2 Tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí ở các vùng cảnh quan:

- Vùng các hồ nước lớn: Hoà Bình, Thác Bà (Yên Bái), Đại Lải (Vĩnh Phúc), Hồ NúiCốc (Thái Nguyên), Ba Bể (Bắc Cạn), Suối Hai, Đồng Mô (Hà Tây), Hồ Tây (Hà Nội)…

- Vùng hang động karstơ ở: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La,Lai Châu, Ninh Bình, …

- Vùng núi cao và rừng nguyên sinh: Phanxipăng, Yên Tử

- Nghỉ dưỡng, giải trí ven biển: Quảng Ninh: Hạ long, Bái Tử Long, Trà Cổ; HảiPhòng: Đồ Sơn, Cát Bà; Thanh Hoá: Sầm Sơn; Nghệ An: Cửa Lò ; Hà Tĩnh : Thiên Cầm

Ngày đăng: 20/10/2017, 05:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w