1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

cau hoi on thi mon xa hoi hoc

16 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 50,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy có những hướng nghiên cứu khác nhau như vậy, nhưng nhìn chung các nhà xã hội học thống nhất với nhau ở một điểm đó là: Xã hội học là một ngành khoa học nghiên cứu một cách hệ thống c

Trang 1

Xã hội học đại cương Ôn tập hết môn

Xã hội học đại cương

Ôn tập hết môn

(đề thi 90 phút)

I Yêu cầu về bài làm

Bài làm cần trình bày theo cấu trúc như sau:

1 Khái niệm

2 Nội dung vấn đề và phân tích nếu có

3 Kết luận của bản thân sinh viên về vấn đề

II Câu hỏi

Câu 1: Xã hội học là gì? Hãy trình bày và phân tích những điều kiện và tiền đề ra đời của xã hội học với

tư cách là một ngành khoa học độc lập?

Trả lời

1) Xã hội học: Thuật ngữ “xã hội học” (Sociology) được nhà xã hội học nguời Pháp – A.Comte (1798 – 1857) sử dụng lần đầu tiên vào năm 1838, được ghép từ hai chữ có nguồn gốc khác nhau:

+ “Socius” trong tiếng La-tinh: Xã hội

+ “Logos” trong tiếng Hy Lạp: Học thuyết

A.Comte đã ghép hai chữ này để cho ra đời thuật ngữ “Sociology” – Xã hội học (bộ môn nghiên cứu xã hội) mà ngày nay chúng ta sử dụng

+ Định nghĩa của A.Comte: Khoa học xã hội học là tìm hiểu các quy luật xã hội giống như các quy luật vật

lý cho phép tìm ra hệ quả của sự liên kết những hiện tượng xã hội

+ Theo E.Durkheim: Xã hội học là khoa học nghiên cứu về những sự kiện xã hội

+ Theo M Weber: Xã hội học là khoa học nghiên cứu các hành động xã hội

Tuy có những hướng nghiên cứu khác nhau như vậy, nhưng nhìn chung các nhà xã hội học thống nhất với nhau ở một điểm đó là: Xã hội học là một ngành khoa học nghiên cứu một cách hệ thống các nhóm người Nó tập trung nghiên cứu các mối quan hệ hỗ tương và hành vi chung của các nhóm người

2) Những điều kiện và tiền đề ra đời của xã hội học với tư cách là một ngành khoa học độc lập:

Trước hết, sự ra đời của xã hội học là nhu cầu khách quan Chúng ta thấy rằng, từ thời cổ đại những vấn

đề lớn của cá nhân và xã hội đã ảnh hưởng đến các nhà triết học Theo đà phát triển của xã hội, các vấn

đề xã hội mới nảy sinh ngày một nhiều, sự phát triển của công nghệ đã hình thành nên các đô thị, tạo ra các làn sóng di cư ồ ạt từ nông thôn vào trong các thành thị gây ra nhiều hậu quả xã hội Điều đó làm nảy sinh một nhu cầu khách quan là phải có một ngành khoa học độc lập để nghiên cứu logic biện chứng giữa con người và xã hội, xã hội và con người nhằm xây dựng một xã hội ổn định và phát triển vì sự phát triển phồn vinh và hạnh phúc cho nhân dân

Mặc dù vậy, do nhiều yếu tố chi phối nên xã hội học chưa thể ra đời trong xã hội truyền thống Chỉ đến khi

xã hội phát triển ở một cấp độ cao hơn hay còn gọi là xã hội công nghiệp thì xuất hiện nhiều tiền đề và động lực mạnh mẽ, xúc tiến cho sự ra đời của xã hội học Trong xu thế mới mẻ này, Auguste Comte (1798 – 1857) với những cống hiến của mình được xem là “nhà sáng lập” ra xã hội học

Đi sâu vào phân tích những những điều kiện, tiền đề của sự ra đời khoa học xã hội học đã cho thấy: Thứ nhất, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thì nền kinh tế - xã hội ở Châu Âu và Mỹ đã có những bước tiến mạnh mẽ hệ quả là nó đưa đến một sự thay đổi mạnh mẽ ở các quốc gia này đặc biệt nổi lên là các vấn đề của kinh tế - xã hội Sự phát triển đó đã làm thay đổi mạnh mẽ mọi lĩnh vực của đời sống con người từ phong cách, lối sống, điều kiện và môi trường sống cho đến vị thế, vai trò của cá nhân trong đời sống xã hội, quan hệ chính trị - xã hội v.v đều có sự thay đổi đáng kể

Từ những tiền đề kinh tế - xã hội và sự phát triển xã hội kể trên đã đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng nghiên cứu, phát hiện, tìm kiếm các quy luật, xu thế phát triển của xã hội và con người, góp phần định hướng cho sự phát triển của xã hội tương lai

Thứ hai, xã hội học cũng giống như bất kỳ một khoa học nào khác, sẽ không thể nào phát triển được nếu chỉ xuất phát, căn cứ vào các nhu cầu thực tiễn mà thiếu những tiền đề lý thuyết, cơ sở khoa học nhất định

Tiền đề lý luận và phương pháp luận làm nảy sinh xã hội học bắt nguồn từ những tư tưởng khoa học và văn hóa thời đại Phục Hưng, khoa học của thế kỷ “Khai sáng” – thế kỷ XVIII Trong giai đoạn này, khoa học đi sâu nghiên cứu mặt xã hội đời sống con người – một thực thể sinh động và rất phức tạp là cơ sở tiền đề cho quá trình hình thành lý luận trong quá trình nghiên cứu của xã hội học

Tóm lại, sự phát triển nhanh chóng của xã hội Tây Âu cho đến thế kỷ XIX đã đòi hỏi sự xuất hiện của khoa học chuyên nghiên cứu về sự vận động và phát triển của xã hội Ngày nay xã hội học đã được áp

Trang 2

dụng vào tất cả các mặt của đời sống xã hội, có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của các ngành khoa học khác, ngày càng trở thành một khoa học có cách tiếp cận xã hội “đa diện” có giá trị cao

cả về ý nghĩa lý luận cũng như là trong thực tiễn đời sống xã hội

0

-o ‘/\’

o -Câu 2 Phân tích những đóng góp của Auguste Comte, Spencer cho sự ra đời của khoa học xã hội học Trả lời

1) Auguste Comte (1798-1857):

Nói đến A.Comte, mọi người đều ghi nhận ông là người khai sinh ra xã hội học bằng với việc đóng góp các lý luận mang tính nền tảng vàđặt tên cho bộ môn khoa học này là Xã hội học

Theo A.Comte, ông chia các ngành khoa học thành hai loại: Khoa học cơ bản: toán, lý, hoá và khoa học

cụ thể như: sinh, sử, địa Mục đích của ông không phải chỉ để phân loại mà để tìm chỗ đứng riêng biệt cho xã hội học nhằm đề cao xã hội học, vì theo ông “các khoa học cơ bản và cụ thể đều không thể lý giải được xã hội hiện đại, chỉ có Xã hội học mới có thể làm được điều đó” Nói như vậy là vì bởi ông quan niệm về đối tượng của Xã hội học là khoa học nghiên cứu quy luật khái quát, phản ánh mối quan hệ căn bản nhất của các sự vật, hiện tượng xã hội và xây dựng xã hội học dựa trên nguyên tắc chủ nghĩa kinh nghiệm để tạo nên lý thuyết xã hội học và chủ nghĩa thực chứng để chuẩn hóa các hoạt động xã hội, hiện tượng xã hội Vì vậy thuyết của ông còn gọi là thuyết “Vật lý học xã hội”

Học thuyết xã hội học của Comte, gồm các nội dung chính:

Một là, tĩnh học xã hội: Đặt xã hội trong trạng thái tĩnh và từ đó đi mổ xẻ, tìm hiểu Tĩnh học xã hội là bộ phận của xã hội học, nghiên cứu về trật tự xã hội, cơ cấu xã hội, các thành phần và mối liên hệ với chúng Ông cho rằng, tĩnh học xã hội đầu tiên phải đi nghiên cứu vấn đề cá nhân

Thực thể chứa đựng các nhu cầu, các năng lực có sẵn trong con người (thực thể tự nhiên) Tiếp đó, nó tồn tại các năng lực, các nhu cầu được tiếp thu từ bên ngoài (thực thể xã hội) Ông nhấn mạnh yếu tố thứ nhất, nhu cầu đó hình thành từ đâu, tại sao lại có nhu cầu Yếu tố thứ nhất cấu tạo từ trái tim: chứa đựng tình cảm; trong khi đó khối óc: kiểm soát hành vi cá nhân Ông cho rằng, hành vi, hành động sinh ra từ trái tim

Hai là, động học xã hội (thay đổi xã hội): Theo Comte, động học trước hết là tìm hiểu những nhân tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, là bộ phận nghiên cứu hệ thống xã hội trong trạng thái vận động biến đổi theo thời gian Ông phân thành hai lọai: Kinh tế, khí hậu, dân số (không quan trọng)

và nhận thức, tư tưởng của con người (có ý nghĩa quyết định)

Trên cơ sở phân chia đó ông chia lịch sử phát triển trí thức của loài người làm 3 giai đoạn theo quy luật 3 trạng thái là: Giai đoạn thần học, giai đoạn siêu hình học và giai đoạn thực chứng Theo đó, loài người ban đầu chỉ có biểu hiện tư duy thần học, tiếp theo là những tư tưởng siêu hình thống trị cho đến khi các môn khoa học thực chứng phát triển đã làm kết thúc hệ thống đầu cơ tư tưởng tôn giáo cũng như triết học Trong thời kỳ này, khoa học tự nhiên thống trị xã hội, nghiên cứu khoa học theo nguyên tắc chủ nghĩa kinh nghiệm thực chứng luận và thuyết vật lý Đây là giai đoạn mà con người hiểu hết đời sống xã hội một cách rõ nhất so với trước đây

Ba là, phương pháp quan sát: A.Comte đưa ra 3 phương pháp cụ thể:

Thứ nhất, phương pháp quan sát: ông cho rằng, nghiên cứu ngoài xã hội rất khó tiến hành quan sát bởi đời sống xã hội biểu thị trong một số quá trình nhất định Ông đã đề ra các nguyên tắc quan sát như sau: Quan sát trong một thời điểm nhất định; dựa trên những tiền đề lý luận nhất định; phải chú ý đến những quy luật thống kê, chọn mẫu, chọn đối tượng và phải biết kế thừa những quan sát của người đi trước Thứ hai, phương pháp thực nghiệm Có hai loại: phương pháp trực tiếp là nghiên cứu xã hội trên cơ sở những hiện tượng xã hội ta đã chọn ra, được nghiên cứu một cách dứt điểm trong trạng thái khách quan của nó và phương pháp gián tiếp: nghiên cứu những hiện tượng xã hội lớn hơn đã có những nguyên nhân chung và riêng mà đa số chúng ta nghiên cứu bằng cách gián tiếp

Thứ ba, phương pháp so sánh: theo ông, so sánh phải dựa trên 2 nguyên tắc: trục thời gian và vòng không gian

Tóm lại, A.Comte là người đặt cơ sở nền tảng cho xã hội học, ông đã đưa thuật ngữ Xã hội học vào kho tàng khoa học nhân loại Ông có nhiều lập trường quan điểm có tầm quan trọng ảnh hưởng lớn lao đến

sự phát triển của xã hội học cổ điển: chủ nghĩa bảo thủ, thuyết cải cách, thuyết khoa học và quan điểm về thế giới tiến hoá của ông

A Comte xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp luận cho xã hội học (đòi hỏi các nhà xã hội học phải vận dụng sự quan sát thực nghiệm và phép phân tích so sánh lịch sử) Xã hội học của Comte chứa đựng nhiều tư tưởng tiến bộ, tìm ra con đường tiếp cận mới đối với sự phát triển xã hội - tức là ông vạch ra quy luật phát triển, mô hình phát triển, mô tả quy trình phát triển Ông tách xã hội học ra khỏi Triết học tự biện,

Trang 3

giáo điều và đem đến cho nó sức sống mãnh liệt của khoa học thực chứng, đặt nền móng vững chắc cho

sự phát triển bộ môn khoa học này

Tuy nhiên, trong học thuyết của ông cũng bộc lộ nhiều hạn chế như nhận định sự vận động xã hội tinh thần có trước rồi mới phản ánh sự vận động của xã hội hiện thực, vì thế ông bị phê phán là duy tâm Mặc

dù vậy tư tưởng xã hội học của A.Comte để lại nhiều nội dung và phương pháp quý giá được thế hệ sau

kế thừa và phát triển

2) Herbert Spencer (1820 – 1903):

Là người có ảnh hưởng lớn trong xã hội học hiện đại kể cả về mặt lý luận và thực tiễn Spencer nêu ra định nghĩa về Xã hội học: là khoa học về các quy luật và các nguyên lý tổ chức xã hội, tức là xã hội học nghiên cứu sự trưởng thành và phát triển xã hội, xây dựng, điều khiển, tập hợp xã hội với tính cách chúng sinh ra từ tương tác các cá nhân và nhóm xã hội

* Về học thuyết cơ bản:

Spencer coi xã hội mà chúng ta đang sống là cơ thể sống, sống động như một cơ thể con người, các bộ phận cơ thể xã hội có khả năng ý thức và tính tích cực tác động lẫn nhau qua ngôn ngữ Ông cũng đi tìm

sự giống nhau giữa cơ thể sinh học và cơ thể xã hội qua 4 đặc điểm:

- Sinh tồn và phát triển

- Đều tuân theo những quy luật nhất định: quy luật của sự tiến hoá, quy luật của sự suy tàn

- Có sự chuyên môn hoá về hoạt động

- Có khả năng tự đều tiết, tự hấp thu thích nghi với môi trường

Nhận xét về học thuyết của A.Comte, Ông phê phán thuyết tĩnh học xã hội của Comte và cho rằng: tĩnh học xã hội là trạng thái, là động lực cân bằng, còn động lực là hoàn hảo Sự tiến hoá của xã hội tất yếu sẽ đưa xã hội từ trạng thái giản đơn đến phức tạp, trạng thái cân bằng và hoàn hảo, nhưng bên cạnh đó ông lại sử dụng các thuật ngữ dựa trên thuyết động học và tĩnh học của Comte

* Về phương pháp nghiên cứu:

Ông không đưa ra phương pháp nghiên cứu cụ thể nào nhưng ông đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải sử dụng nhiều số liệu khác, thu thập số liệu vào nhiều thời điểm và nhiều nơi khác, nắm vững những tri thức và phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau (tính chất liên ngành)

Ông cho rằng, trong mọi ngành khoa học thì nghiên cứu xã hội học là khó khăn nhất vì:

- Yếu tố khách quan: Do tính phức tạp của đời sống xã hội, do tính đặc thù của xã hội; mỗi xã hội đều có những nét riêng biệt Vì vậy, các nhà Xã hội học cần phải hết sức thận trọng tìm ra đâu là khuynh hướng đặc biệt, đâu là khuynh hướng phổ quát

- Yếu tố chủ quan: bản thân các nhà Xã hội học nghiên cứu xã hội chịu nhiều áp lực, định kiến cá nhân, làm xã hội học thì phải lạnh lùng để nhận xét một cách khác quan

* Tóm lại, lý thuyết xã hội học của Spencer tuy không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của chủ nghĩa duy lý trong khoa học nhưng các quan niệm tiến hóa xã hội của Spencer gợi ra nhiều ý tưởng quan trọng, được tiếp tục phát triển trong các trường phái, lý thuyết xã hội học hiện đại

Xã hội học của Spencer đã đặt ra những ý tưởng lớn, trên nhiều lĩnh vực, trên nhiều trường phái (trường phái Sinh thái học nhân văn, trường phái Chicago phát triển mạnh trong thế kỷ XX ở xã hội học Mỹ) Lý thuyết Xã hội học của ông in đậm nét trong cách tiếp cận hệ thống xã hội và các nghiên cứu xã hội học về chính trị, tôn giáo, nhất là xã hội học về các thiết chế xã hội Quan niệm xã hội học của ông có ảnh hưởng lớn trong xã hội học hiện đại kể cả về mặt lý luận và thực tiễn

0

-o ‘/\’

o -Câu 3: Phân tích những đóng góp của Emile Durkheim cho lý luận của xã hội học

Trả lời

Emile Durkheim (1857- 1917)

Là một trong những nhà sáng lập xã hội học kinh nghiệm và hình thành xu hướng nghiên cứu xã hội học kinh nghiệm của Pháp, E Durkheim có những đóng góp trong lĩnh vực Xã hội học như sau:

Theo E Durkheim thì đối tượng của xã hội học là nghiên cứu những sự kiện xã hội hình thành nên quan

hệ xã hội Tất cả các quan hệ đều phụ thuộc vào ý thức tập thể, đó là luật tục và luật pháp Khái niệm về

sự kiện xã hội: có hai ý nghĩa cơ bản:

Thứ nhất, sự kiện xã hội vật chất: nhóm, dân cư và tổ chức xã hội;

Thứ hai, sự kiện xã hội phi vật chất: hệ thống giá trị, chuẩn mực, phong tục, tập quán xã hội Sự kiện phi vật chất gồm cả các sự kiện đạo đức (moral facts), tức là các cách thức hành động, suy nghĩ và trải nghiệm

* Sự kiện xã hội có các đặc điểm và tính chất:

+ Tính khách quan: thể hiện ở chỗ các cá nhân sinh ra trong môi trường đã có sẵn các sự kiện như các thiết chế xã hội, chức năng xã hội, chuẩn mực, giá trị, niềm tin

Trang 4

+ Tính phổ biến: sự kiện xã hội là cái được cộng đồng chia sẻ, chấp nhận coi chúng là của mình.

+ Tính cưỡng chế: Nó có sức mạnh kiểm soát, thậm chí hạn chế, kiềm chế, gây áp lực đối với hành động, hành vi của các cá nhân

Ngoài các khái niệm cơ bản là sự kiện xã hội như: Khái niệm khối lượng xã hội, đậm độ vật chất, đậm độ

về đạo đức; khái niệm đấu tranh vì cuộc sống, sinhh tồn, khái niệm tự tử (có 4 loại gồm: Tự tử vị kỉ, tự tử

vị tha, tự tử phi chuẩn mực và tự tử vì cuồng tín) …, xã hội học của Durkheim còn bao gồm một hệ thống các khái niệm cơ bản khác như đoàn kết xã hội, ý thức tập thể, cơ cấu học xã hội (còn gọi là cấu tạo học

xã hội), đoàn kết hữu cơ, đoàn kết cơ học, biến đổi xã hội, chức năng xã hội, dị biệt học xã hội (còn gọi là bệnh lý học xã hội), v.v

Khái niệm đoàn kết xã hội của Durkheim có nội dung gần giống với khái niệm hội nhập xã hội đang sử dụng hiện nay Ông đã dùng khái niệm đoàn kết xã hội để chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm xã hội Nếu như không có sự đoàn kết xã hội thì các

cá nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành xã hội với tư cách là một chỉnh thể

Khái niệm đoàn kết cơ học là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự thuần nhất, đơn điệu của các giá trị và niềm tin Sức mạnh của ý thức tập thể có khả năng chi phối và điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành động của các cá nhân Xã hội gắn kết kiểu cơ học thường có quy mô nhỏ, nhưng ý thức cộng đồng cao, các chuẩn mực, luật pháp mang tính chất cưỡng chế

Khái niệm đoàn kết hữu cơ là kiểu đoàn kết dựa trên sự phong phú, đa dạng của các mối liên hệ, tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên xã hội Xã hội đoàn kết hữu cơ thường có quy mô lớn, ý thức cộng đồng yếu, nhưng tính độc lập, tự chủ cá nhân được đề cao; Các quan hệ xã hội chủ yếu mang tính chất trao đổi và được luật pháp, khế ước kiểm soát và bảo vệ

Durkheim cho rằng xã hội truyền thống chủ yếu dựa vào đoàn kết cơ học, xã hội hiện đại tồn tại và phát triển trên cơ sở đoàn kết hữu cơ Sự biến đổi xã hội từ dạng này sang dạng khác bắt nguồn từ những thay đổi có tính quy luật thể hiện qua các sự kiện xã hội vật chất và phi vật chất

* Về mặt phương pháp luận, quan niệm của Durkheim cho rằng: có thể định nghĩa khái quát xã hội học là khoa học nghiên cứu các sự kiện xã hội (social facts) Xã hội học sử dụng các phương pháp thực chứng (quan sát) để nghiên cứu, giải thích nguyên nhân và chức năng của các sự kiện xã hội Theo đó, chỉ khi nào xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học như là sự vật thì xã hội học mới thực sự tách ra khỏi triết học, mới thoát khỏi chủ nghĩa giáo điều, kinh viện để trở thành khoa học cụ thể, mới có thể vận dụng các phương pháp khoa học để nghiên cứu xã hội Xã hội tồn tại bên ngoài cá nhân và có trước cá nhân với nghĩa là cá nhân được sinh ra trong xã hội, và phải tuân thủ các chuẩn mực, phép tắc xã hội Vì vậy,

xã hội học cần phải xem xét hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội và các hiện tượng xã hội với tư cách là các sự vật, các bằng chứng, các sự kiện

* Về phương pháp của khoa học xã hội học, Durkheim cho rằng phải bao gồm những yếu tố sau đây: nghiên cứu sự kiện xã hội từ bên ngoài, định nghĩa chặt chẽ các khái niệm, tiến hành phân loại và cuối cùng là giải thích sự kiện bằng hoàn cảnh xã hội

* Kết luận: Học thuyết xã hội học của E Durkheim quy tụ rất nhiều ngành xã hội học khác nhau Ông là một trong những nhà sáng lập xã hội học kinh nghiệm và hình thành xu hướng nghiên cứu xã hội học kinh nghiệm của Pháp

Với lý luận và phương pháp khoa học, khách quan, ông đã xây dựng, phát triển những quy tắc phương pháp xã hội và các khái niệm cơ bản của xã hội học như sự kiện xã hội và đoàn kết xã hội Lý thuyết của ông làm sáng tỏ nhiều chủ đề quan trọng như: chức năng xã hội và cấu trúc xã hội, phân loại xã hội bình thường và sai lệch xã hội, trật tự xã hội và biến đổi xã hội Tuy nhiên, điểm hạn chế của ông đó là giải thích các vấn đề của xã hội học dựa trên cơ sở duy tâm khách quan, thiếu tính biện chứng duy vật 0

-o ‘/\’

o -Câu 4: Phân tích những đóng góp của Max Weber và K.Marx cho lý luận của xã hội học

Trả lời

1) Max Weber ( 1864-1920)

Là người xây dựng lý thuyết xã hội học đặc thù trên cơ sở tổng hợp các ý tưởng và kiến thức bách khoa

về Sử học, Triết học, Luật học và nghiên cứu lịch sử so sánh, tạo cơ sở cho sự phát triển của xã hội học

vi mô, xã hội học định tính, thuyết tương tác biểu trưng và một số trường phái lý thuyết khác Những đóng góp của Max Weber về lĩnh vực Xã hội học được thực hiện ở các điểm:

Về đối tượng của Xã hội học: M Weber nhận định xã hội học là khoa học cố gắng giải nghĩa hành động

xã hội và tiến tới cách giải nghĩa nhân quả về đường lối và hệ quả của hành động đó Khái niệm hành động xã hội được hiểu là hành động xã hội khi chủ thể gắn với hành vi của người khác trong quá khứ, trong hiện tại và tương lai và ý nghĩa chủ quan ấy định nghĩa cho hành động Hành động xã hội nó tổ

Trang 5

chức thành quan hệ xã hội quyết định hành vi, tập quán và phong tục hình thành nên trật tự xã hội được quy định bởi hệ thống pháp luật hay các quy tắc xã hội

M Weber đã phân loại hành động xã hội thành:

- Hành động hợp lý so với mục đích: Đó là hành động được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất (kinh tế)

- Hành động hợp lý so với giá trị: Là hành động được thực hiện vì mục đích tự thân của hành động đó (hành vi tín ngưỡng)

- Hành động hợp lý so với một cảm năng: Hành động được truyền phán trực tiếp bởi ý thức của chủ thể, hành động này xảy ra không có sự xem xét cân nhắc của công cụ, phương tiện, mục đích (đám đông)

- Hành động hợp lý so với truyền thống: Là hành động được truyền phán bởi những thói quen, tập quán, tín ngưỡng cũng là một hành động xã hội kế thừa từ truyền thông trước đó

* Tóm lại, Weber là một trong những người có công đầu xây dựng xã hội học với tư cách là một khoa học

có vị trí rõ ràng, độc lập Nhưng khác với Durkheim thúc đẩy xã hội học phát triển theo hướng duy lý - thực chứng - định lượng, thì Weber đẩy mạnh hướng phát triển theo hướng duy lý – thông hiểu – định tính Nhờ vậy, xã hội học hiện đại ngay từ đầu có cơ sở cân bằng giữa định lượng và định tính

Đóng góp quan niệm về bản chất lý thuyết xã hội và phương pháp luận: đánh giá về vai trò của văn hóa, tôn giáo đối với sự phát triển của xã hội phương Tây là rất to lớn Các khái niệm, phương pháp luận xã hội học của ông đang được tiếp tục tìm hiểu, vận dụng và phát triển trong xã hội hiện đại

2) Karl Marx ( 1818- 1883)

Là người nhấn mạnh vai trò của các nhà Xã hội học tiến bộ là không những chỉ giải thích về thế giới mà còn góp phần tạo ra những biến đổi thế giới để xây dựng xã hội phát triển, công bằng, dân chủ và văn minh Do đó K.Marx đã sử dụng lý thuyết xung đột (coi xã hội là một trường xung đột, bất kể các hiện tượng tư duy của chúng ta đều mâu thuẫn), qua lý thuyết này, K.Marx cho rằng phải sử dụng nó để đi vào

xã hội cụ thể

Thứ hai, ông đã sử dụng lý thuyết về hình thái kinh tế - xã hội để đi vào lý thuyết về phương thức sản xuất (LLSX và QHSX) Trong mối tương quan này thì LLSX năng động hơn, QHSX chỉ là cái vỏ Từ đây ông phát hiện ra quy luật, tính chất của trình độ phát triển của LLSX Từ đó ông phân chia lịch sử loài người thành 5 giai đoạn cụ thể với các các phương thức sản xuất và những hình thái xã hội tương ứng

Xã hội loài người xem đây là phương thức nghiên cứu về chính xã hội loài người

Một đóng góp quan trọng khác của K.Marx là lý thuyết về phân tầng xã hội: Ông chỉ ra hai nguyên nhân của sự phân tầng:

Một là, do sự khác nhau trong việc sở hữu LLSX Trong xã hội có hai tầng lớp: có của cải vật chất, thống trị xã hội và không có của cải vật chất nên bị trị Do đó đấu tranh là động lực để phát triển xã hội

Hai là, do phân công lao động xuất hiện khi con người biết tác động vào tự nhiên (săn bắn, hái lượm), do tính chất lao động, nghề nghiệp hình thành nên sự phân công lao động mà hình thành nên các tầng lớp khác nhau

Từ hai nguyên nhân cơ bản trên, về mặt nghiên cứu lý luận và thực nghiệm thì xã hội học cần tập trung phân tích cấu trúc xã hội để chỉ ra ai là người có lợi, ai là người bị thiệt từ cách tổ chức xã hội và cơ cấu

xã hội hiện có Lý luận xã hội học cần tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ cấu vật chất làm nền tảng của ý thức xã hội và cơ cấu tinh thần, ý thức xã hội

* Về phương pháp luận Theo ông, có 3 cơ sở phương pháp luận:

- Duy vật: dựa trên chủ nghĩa duy vật

- Dựa trên phép biện chứng: khi xem xét một sự kiện xã hội thì bắt buộc nhà xã hội học không được lấy một sự kiện để giải thích cho chính nó

- Dựa vào lịch sử cụ thể: mỗi sự kiện xã hội xảy ra đều có không gian và giới hạn thời gian của nó

* Tóm lại, học thuyết của Marx nói chung, có ý nghĩa và tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với xã hội học nói riêng và đối với khoa học xã hội nói chung Các quan điểm của Marx về lịch sử xã hội và cấu trúc xã hội tạo thành bộ khung lý luận và phương pháp luận nghiên cứu xã hội học theo nhiều hướng khác nhau Chẳng hạn, xã hội học Marx ảnh hưởng tới trường phái lý thuyết xã hội phê phán; lý thuyết về mâu thuẫn

và xung đột xã hội; lý thuyết về hệ thống thế giới; lý luận về nhà nước, về văn hóa, tư tưởng; lý thuyết về cấu trúc xã hội và nhiều trường phái lý thuyết khác

Các nhà Xã hội học Mácxít vận dụng phép duy vật biện chứng của Marx để nghiên cứu cấu trúc xã hội, mâu thuẫn xã hội và sự phân tầng xã hội; vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích thực trạng và nguyên nhân của sự biến đổi xã hội Dựa vào quan điểm duy vật biện chứng nghiên cứu sự tác động qua lại giữa các hiện tượng, quá trình xã hội, quan hệ xã hội, hành vi, hoạt động của con người và một bên là phương thức sản xuất, phân công lao động xã hội và cơ cấu kinh tế Các nhà Xã hội học cần phải phân tích ảnh hưởng của chính sách xã hội tới việc cải thiện điều kiện vật chất của con người

Việc nhấn mạnh cấu trúc giai cấp của xã hội mở ra hướng nghiên cứu Xã hội học giai cấp và phân tầng

xã hội theo giai cấp./

Trang 6

-o ‘/\’

o -Câu 5: Hãy nêu các khái niệm: Vai trò xã hội? Vị thế xã hội? Cơ cấu xã hội? Thiết chế xã hội? Các đặc trưng cơ bản của thiết chế xã hội? Chức năng của thiết chế, đặc điểm của thiết chế?

Trả lời

1) Vai trò xã hội: Theo Ralph Linton (1936), coi vai trò là những lối ứng xử đã được qui định sẵn và áp đặt, tương ứng với những vị trí cụ thể nhất định

Theo Jean Stoetzel, “Vai trò như là tập hợp ứng xử của mỗi cá nhân mà mọi người khác chờ đợi” Theo I Robertsons, vai trò là tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định

Theo J.H Fischer, sự phối hợp và tương tác qua lại của các khuôn mẫu được tập trung thành một nhiệm

vụ xã hội gọi là vai trò Nói một cách khác, vai trò là những hành động, hành vi ứng xử, những khuôn mẫu tác tác phong mà xã hội chờ đợi, đòi hỏi một người hay một nhóm xã hội nào đó phải thực hiện trên cơ

sở vị thế của họ

Từ nhiều cách nhìn nhận về vai trò xã hội như đã nêu, cho ta thấy cần phải lưu ý một số điểm khi nghiên cứu vai trò xã hội, đó là:

- Một vai trò xã hội có thể có nhiều mức độ biểu hiện, hay những sắc thái khác nhau về khuôn mẫu tác phong

- Vai trò không chỉ bao gồm những khuôn mẫu tác phong biểu hiện ra bên ngoài mà còn bao hàm cả những khuôn mẫu nội dung tinh thần ở bên trong

- Nội dung của bất kỳ vai trò xã hội nào cũng luôn được liên hệ với những vai trò xã hội khác

- Một người không chỉ có một vai trò mà có thể có nhiều vai trò, phụ thuộc vào mức độ tham gia nhiều hay

ít của một người nào đó vào các đoàn thể, tổ chức xã hội

- Lưu ý phân biệt giữa những vai trò chung trừu tượng với vai trò cụ thể

- Các vai trò xã hội khác nhau thì có động cơ xã hội khác nhau

2) Vị thế xã hội: Vị thế xã hội hay địa vị xã hội là một trong những khái niệm cơ bản trong nghiên cứu xã hội học, ở đó là việc xác định hay định vị một cá nhân trong một đơn vị xã hội nhất định Các nhà xã hội học đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa, khái niệm thế nào là “vị thế xã hội” Khái niệm

“vị trí” hay “vị thế” (status) được R Linton định nghĩa như một “vị trí trong hệ thống xã hội” Hay chúng ta

có thể nói ngược lại là: xã hội là một mạng lưới được dệt nên bởi các vị trí và vai trò

Từ khái niệm trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm của vị thế xã hội như sau:

- Vị thế xã hội không nhất thiết gắn với người có uy tín và địa vị xã hội cao

- Vị thế không thuần túy phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của mỗi người về chính mình

- Vị thế của mỗi người cần đối chiếu hay gắn với những tiêu chuẩn khách quan của xã hội

- Vị thế của mỗi người là vị trí xã hội mà những người đang sống trong cộng đồng với người đó dành cho

họ, đánh giá hay suy tôn họ Đây là tiêu chuẩn khách quan nằm ngoài mong muốn chủ quan của con người

- Vị thế xã hội của mỗi người có tính ổn định tương đối; nó không đơn giản phụ thuộc vào những ý kiến đánh giá thay đổi thất thường của những người xung quanh

Ngoài ra, vị thế xã hội còn có ba đặc trưng cơ bản mà thông qua đó vị thế xã hội của mỗi người được thể hiện, đó là: quyền lực xã hội, quyền lợi và trách nhiệm, đó là:

- Quyền lực xã hội là quyền lực của một vị thế xã hội nào đó được xã hội thừa nhận hoặc trao cho cá nhân để thực hiện vai trò của mình trong xã hội

- Quyền lợi xã hội là những điều kiện vật chất và tinh thần mà mỗi vị thế xã hội có được từ xã hội

- Trách nhiệm xã hội là những quy định của xã hội đối với kết quả và hậu quả của việc thực hiện quyền lực xã hội ở mỗi vị thế xã hội nhất định

Trong một xã hội, luôn có nhiều loại vị thế xã hội khác nhau, xuất phát từ các nguồn gốc và các yếu tố tạo thành vị thế xã hội khác nhau Đó có thể là vị thế có sẵn, vị thế giành được, vị thế then chốt hoặc là vị thế không then chốt Mỗi một vị thế có một vai trò cơ bản, chủ đạo trong việc quy định đặc điểm và hành vi xã hội của cá nhân đặt vào trong vị thế đó

Nói tóm lại, vị thế xã hội là vị trí xã hội của các cá nhân cùng với những trách nhiệm và quyền lợi được gắn kèm theo vị trí đó Tuy nhiên, ứng với mỗi một xã hội mỗi thời đại đều có những thể chế xã hội khác nhau, do vậy thang bậc phân định giá trị xã hội cũng rất khác nhau Đặc biệt là sự không giống nhau ở những tiêu chí dùng để thẩm định vị trí cao - thấp của mỗi cá nhân trong xã hội Một vị thế được tôn vinh trong xã hội này hay thời đại này, nhưng rất có thể bị coi thường trong xã hội khác hay thời đại khác, hoặc ngược lại Do vậy, khi nghiên cứu xã hội học về vị thế xã hội, chúng ta cần có sự đánh giá toàn diện về những tiêu chuẩn như: dòng dõi xuất thân (sang / hèn); tài sản, của cải của gia đình và bản thân; nghề nghiệp, chức vụ và những lợi ích quyền lực, vật chất do những điều đó đưa lại; trình độ văn hoá, giáo

Trang 7

dục, đào tạo mà người đó được hấp thụ, kể cả văn bằng, học hàm, học vị cao thấp; thái độ chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, chủng tộc, giới tính … có như vậy ta mới có sự nhìn nhận một cách khách quan nhất về con người, trên cơ sở đó mới đưa ra hình thức giao tiếp, cung cách đối xử, mức độ quan hệ

… một cách tốt nhất

3) Cơ cấu xã hội: Cơ cấu xã hội được coi là một khái niệm cơ bản và then chốt của xã hội học, cho đến nay giữa các nhà lý luận họ cũng đã đưa ra nhiều cách hiểu về khái niệm này, như theo T Parson thì cơ cấu xã hội là tổng thể các mối quan hệ tiêu chuẩn hóa, bền vững của các chủ thể xã hội Ở đây Parson muốn nhấn mạnh đến vị thế, vai trò và chức năng của các phần tử tồn tại trong xã hội Còn theo

J.H.Fischer thì cơ cấu xã hội của xã hội là sự sắp đặt các thành phần hoặc các đơn vị xã hội, nghiên cứu

cơ cấu xã hội phải xem xét các trạng thái tĩnh và trạng thái động, nghĩa là xem xét sự sắp đặt các địa vị

xã hội tạo nên sự biến đổi bên trong của hệ thống xã hội; hoặc như quan niệm của Ian Robertsons thì cơ cấu xã hội là mô hình của các mối quan hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị thế, vai trò, nhóm và các thiết chế

Từ những quan niệm trên đây, chúng ta có thể tạm rút ra một quan niệm chung về cơ cấu xã hội như sau:

Cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội nhất định, biểu hiện như

là sự thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất của

hệ thống xã hội Những thành phần này tạo ra bộ khung cho xã hội., những thành tố cơ bản nhất của cơ cấu xã hội là nhóm xã hội với vai trò, vị thế của nó và các thiết chế xã hội

Như vậy theo quan niệm trên, cơ cấu xã hội có những đặc trưng cơ bản sau:

- Cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội nhất định Nghiên cứu

cơ cấu xã hội cho ta biết được xã hội được cấu thành từ những bộ phận nào; cách thức tổ chức xã hội ra sao, mối liên hệ giữa các bộ phận, các thành tố thế nào; xã hội được cấu thành như thế nào, sắp xếp ra sao

- Cơ cấu xã hội là sự thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản của một hệ thống xã hội nhất định Thành phần xã hội và liên hệ xã hội là 2 mặt cơ bản của cơ cấu

xã hội, hai mặt này gắn bó chặt chẽ vói nhau tạo thành cơ cấu xã hội Muốn hiểu cơ cấu xã hội phải hiểu các thành phần xã hội và mối liên hệ của chúng

- Cơ cấu xã hội là “bộ khung” để xem xét xã hội cho phép chúng ta hiểu được một xã hội cụ thể nào đó được cấu thành từ những nhóm xã hội nào Việc coi nhóm xã hội là thành tố cơ bản, là đơn vị phân tích

để hiểu được cơ cấu xã hội, là nét đặc trưng của tiếp cận xã hội học về cơ cấu xã hội Cũng thông qua sự phân tích này mà chúng ta biết được vị thế, vai trò của từng cá nhân, từng nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội Cũng thông qua sự phân tích này cho ta biết về các thiết chế xã hội bảo đảm cho hoạt động, hành vi của cá nhân phù hợp với giá trị, chuẩn mực xã hội mà các thiết chế xã hội đặt ra

Trên bình diện nhận thức khoa học, nghiên cứu cơ cấu xã hội là một trong những nghiên cứu mang tính

lý luận và phương pháp luận cho toàn bộ những nghiên cứu về xã hội Nhận thức đúng đắn về cơ cấu xã hội cho ta cơ sở khoa học khách quan để nhận biết toàn bộ sự kiện và hiện tượng xã hội, các chiều cạnh tương tác và quan hệ giữa chúng với nhau trong tổng thể xã hội Nghiên cứu về cơ cấu xã hội cũng là điều kiện cần thiết để các nhà chiến lược và hoạch định chính sách có được những luận cứ khoa học cần thiết trong quá trình xây dựng các phương thức và giải pháp phát triển xã hội, hướng tới tương lai

Sự biến đổi của cơ cấu xã hội qua các thời kỳ khác nhau chính là phông nền để các biến đổi xã hội khác diễn ra, sự biến đổi của cơ cấu xã hội tất yếu sẽ dẫn đến sự biến đổi của cấu trúc xã hội và cả hệ thống

xã hội Nghiên cứu xã hội học về cơ cấu xã hội vì vậy có một ý nghĩa quan trọng, thể hiện qua các khía cạnh sau:

1- Nghiên cứu cơ cấu xã hội cho phép chúng ta phác họa được một bức tranh tổng quát về các thành phần cơ bản, các yếu tố cấu thành cũng như các mặt, các khía cạnh khác nhau của cơ cấu xã hội tối ưu, phù hợp với thực tiễn xã hội, đảm bảo sự vận hành có hiệu quả, thực hiện tốt các vai trò xã hội theo chiều hướng tiến bộ

2- Nghiên cứu cơ cấu xã hội, đặc biệt là nghiên cứu sự phân hóa, phân tầng xã hội cho phép chúng ta đi sâu vào phân tích thực trạng cấu trúc bên trong của xã hội, thực trạng của từng mặt, từng tiểu cấu trúc, trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội Qua đó góp phần nhận diện một cách chân thực những đặc trưng và xu hướng biến đổi của cấu trúc xã hội, khuynh hướng vận động và phát triển của một xã hội nhất định Kết quả đó sẽ là cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách để ổn định và phát triển của xã hội

3- Việc nghiên cứu các phân hệ của cơ cấu xã hội cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết cặn kẽ về những

sự khác biệt trong mỗi tiểu cơ cấu Qua đó giúp xã hội có thể tác động điều chỉnh đến từng cơ cấu cụ thể, góp phần vào xây dựng một cơ cấu xã hội tối ưu cho sự phát triển

Trang 8

4) Thiết chế xã hội: Thiết chế, theo nghĩa đen, là cái gì đã được thiết lập, đã được đặc định sẵn Hiểu trong khuôn khổ xã hội học, thì thiết chế không phải là một nhóm người, cũng không phải là một tổ chức hay một hiệp hội, như người ta thường dùng trong một số lĩnh vực khác Ở đây, chúng ta hiểu thiết chế là một hệ thống bao gồm những vai trò đã được thiết lập theo những chuẩn mực nhất định mà xã hội thừa nhận

Cũng như cơ cấu xã hội, thiết chế xã hội cũng có nhiều luồng quan điểm khác nhau Theo I Robersons, thiết chế là một tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội

Theo J.H Fischer, thiết chế xã hội chính là một đoạn của văn hóa đã được khuôn mẫu hóa Những khuôn mẫu tác phong của nền văn hóa đó được xã hội đồng tình, khuyến khích sẽ có xu hướng trở thành các

mô hình hành vi được mong đợi, tức là các vai trò Do vậy, thiết chế xã hội là một tập hợp các khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận nhằm thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của nhóm xã hội

Theo N Smelser, thiết chế là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm thỏa mãn những nhu cầu

xã hội quan trọng

Theo G.V Oxipov, thiết chế xã hội là tổ chức nhất định của hoạt động xã hội và các quan hệ xã hội, được thực thi bằng hệ thống phối hợp của những qui chuẩn về hành vi, chuẩn mực và giá trị, được định hướng một cách hợp lý

Như vậy, qua các định nghĩa trên ta có thể thấy: thiết chế xã hội là hình thức cộng đồng và hình thức tổ chức của con người trong quá trình tiến hành các hoạt động xã hội Thiết chế xã hội chính là các ràng buộc được mọi cá nhân, nhóm cộng đồng và toàn thể xã hội chấp nhận và tuân thủ Thiết chế xã hội biểu hiện là một tập hợp bền vững của các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội Thực chất của thiết chế xã hội chính là hệ thống các quy định xã hội tạo thành khuôn mẫu chuẩn mực cho hành động xã hội, nó có những đặc trưng cơ bản như sau:

Thứ nhất, các thiết chế xã hội đều không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của từng cá nhân, mà ngược lại đều được áp đặt lên cá nhân qua quá trình xã hội hóa cá nhân

Thứ hai, mỗi vai trò, khi đã được thiết chế hóa, đều bao gồm một loạt chuẩn mực mà xã hội đã đề ra và

cá nhân phải tuân theo, dù muốn hay không Mục tiêu của thiết chế xã hội được đại đa số các thành viên của xã hội thừa nhận, cho dù thành viên đó có tham gia trực tiếp hay không vào trong thiết chế

Thứ ba, các quan hệ được thiết lập trong thiết chế phải tương đối bền vững để các khuôn mẫu hành vi được hình thành trong thiết chế trở thành một phần truyền thống văn hóa của một cộng đồng xã hội Khác với các tổ chức xã hội cụ thể thường sử dụng văn bản nội quy hay điều lệ để điều phối hoạt động của mình, thì thiết chế xã hội thường chỉ dựa trên những quy định và luật lệ bất thành văn, những cái mà chúng ta thường gọi là phong tục, là truyền thống, là nề nếp… Phát triển ở mức độ cao các thiết chế được luật hóa thành văn bản pháp luật để kiểm soát hoạt động của xã hội

Mỗi một thiết chế xã hội có tính độc lập tương đối, có tầm bao quát trong phạm vi hoạt động nhất định và trở thành vị trí trung tâm trong phạm vi đó

Mặc dù các thiết chế xã hội có tính độc lập tương đối, nhưng giữa chúng có mối quan hệ tương tác với nhau rất chặt chẽ Khi có một sự thay đổi về cơ cấu tổ chức hay khuôn mẫu hành vi của một thiết chế nào

đó, có thể kéo theo sự thay đổi của các thiết chế ở lĩnh vực khác

Từ khái niệm và các đặc trưng cơ bản của thiết chế đã nêu, ta thấy được thiết chế xã hội có hai chức năng chủ yếu:

Thứ nhất, khuyến khích, điều chỉnh, điều hòa hành vi của con người phù hợp với quy phạm và chuẩn mực của thiết chế và tuân thủ thiết chế;

Thứ hai, ngăn chăn, kiểm soát, giám sát những hành vi lệch lạc do thiết chế quy định

Việc nghiên cứu xã hội học đối với thiết chế xã hội đóng vai trò quan trọng đối với các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Dựa trên kết quả nghiên cứu đó mà các cơ quan có thẩm quyền có thể biết được các thiết chế đề ra có phù hợp với yêu cầu giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội hay không? Có được coi là quan trọng đối với lợi ích của cá nhân và xã hội hay không? để từ đó có những điều chỉnh, uốn nắn bảo đảm tính phù hợp và sự tiến bộ của xã hội

0

-o ‘/\’

o -Câu 6: Lệch lạc xã hội? Các thành phần và nguyên nhân của lệch lạc xã hội?

Trả lời

1) Lệch lạc xã hội: Về khái niệm, người ta gọi bất kỳ hành vi nào không phù hợp với mong đợi của một nhóm hoặc của xã hội là hành vi lệch chuẩn Nói cách khác, hành vi lệch chuẩn là hành vi lệch khỏi các quy tắc chuẩn mực của nhóm hay xã hội Hiện nay, chưa có một phương thức đơn giản hay phổ quát nào

Trang 9

để phân loại các hành vi lệch lạc Tuy nhiên có thể phân biệt sự lệch lạc ở cấp độ cá nhân, sự lệch lạc của một nhóm và sự lệch lạc ở cấp độ định chế:

- Lệch chuẩn cá nhân: Hành động của cá nhân không phù hợp với quy tắc văn hoá của nhóm đã được xác lập trong thực tế đã bác bỏ các quy tắc đó gọi là lệch chuẩn cá nhân Ví dụ hành vi hư hỏng, trộm cắp… trong gia đình có nền nếp văn hoá Hành vi hư hỏng này một mặt lệch ra khỏi chuẩn mực của giáo dục gia đình, mặt khác đã phủ nhận giá trị của văn hoá gia đình

- Lệch chuẩn nhóm: Một nhóm thành viên có hành động trái với quy tắc mà đã được xã hội thừa nhận là lệch chuẩn nhóm Chẳng hạn, nhóm trẻ em hư, bụi đời, băng đảng Mafia… hành động trái với những quy tắc, giá trị văn hoá chung nhưng họ còn định ra và hành động theo một giá trị riêng (văn hoá nhóm) được mọi thành viên trong nhóm tán thành Điều đáng lưu ý là các quy tắc này của nhóm không phù hợp với các tiêu chuẩn chung của xã hội

2) Thành phần và nguyên nhân của lệch chuẩn xã hội

Thành phần cơ bản trong các lệch chuẩn xã hội bao gồm 4 yếu tố:

Một là, giá trị xã hội: Đây là yếu tố của ý thức xã hội bao hàm và tích tụ các quan niệm, quan điểm chính trị, đạo đức, tôn giáo, văn hóa …của con người, định hướng nhận thức và hành động của con người nó được coi là nguồn gốc của động cơ và việc hình thành cơ chế hành động Đồng thời làm mẫu kiểm tra khi hành động trong thực tế Giá trị là cơ sở để chỉ ra cho con người hiểu cái gì là phù hợp và cái gì là không phù hợp với cá nhân với cộng đồng xã hội

Hai là, thiết chế xã hội: Các thiết chế xã hội được hình thành và tác động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (như chính trị, kinh tế, tôn giáo….) Nó chính là tổng hợp của các môi trường quan hệ

xã hội đã được hợp thức hóa thành các chuẩn mực đã được ổn định và được đảm bảo bằng những phương tiện nhân lực và vật chất nhằm thực hiện một chức năng xã hội nhất định Tuy nhiên trong thực

tế, sự rối loạn các thiết chế xã hội cũng là nguyên nhân gây ra những lệch chuẩn xã hội Điều đó được thể hiện như sau:

- Biến dạng các thiết chế gây ra sự căng thẳng xã hội và tạo ra xung đột vì thiết chế xã hội không thực hiện được chức năng xã hội của nó, ví dụ: chính sách quản lý đất đai

- Sự rối loạn hoặc sự suy yếu các chức năng kiểm tra của thiết chế kéo dài, ảnh hưởng xấu đến đạo đức

và hệ thống định hướng xã hội, dẫn đến phát sinh những kẻ vi phạm chuẩn mực xã hội

Ba là, chuẩn mực xã hội: chuẩn mực xã hội quy định những mục tiêu cơ bản, những điều kiện và những hình thức ứng xử trong những lĩnh vực quan trọng nhất của đời sống xã hội hoặc đối với nhóm xã hội Do

đó chuẩn mực xã hội giữ một vị trí rất quan trọng của lệch chuẩn xã hội Chuẩn mực xã hội không còn phù hợp hoặc bị thay đổi sẽ dẫn đến những hành vi sai lệch

Bốn là, quan hệ xã hội: Quan hệ xã hội chính là quan hệ giữa người và người đã được hình thành và phù hợp với bản chất kinh tế - xã hội của một xã hội nhất định Khi các quan hệ xã hội bị biến dạng có thể dẫn đến hành vi sai lệch của cá nhân

Nguyên nhân của lệch chuẩn xã hội bao gồm có nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài Nguyên nhân bên trong: bao gồm các yếu tố tâm lý cá nhân, các yếu tố tâm lý xã hội và các yếu tố sinh học Nguyên nhân bên ngoài: Bao gồm các yếu tố và điều kiện kinh tế - xã hội, lối sống và quan hệ xã hội của con người

Việc nghiên cứu xã hội học về hiện tượng lệch chuẫn xã hội có ý nghĩa rất trọng đối với các cơ quan quản lý xã hội, các đoàn thể xã hội và một số ngành chức năng như: Y tế, giáo dục …Kết quả nghiên cứu các hành vi lệch chuẫn không chỉ là một cơ sở quan trọng để các nhà quản lý đưa ra các chính sách điều chỉnh kịp thời mà còn có ý nghĩa đối với những nhà lập pháp, họ phải có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá lại các thiết chế xã hội, các văn bản quy phạm pháp luật cái nào còn phù hợp, cái nào đã lỗi thời, cái nào gây tác dụng ngược … để sớm có biện pháp khắc phục, tránh tình trạng lệch lạc tràn lan, gây rối ren và nhiều hệ lụy không tốt cho xã hội

0

-o ‘/\’

o -Câu 7: Phân tầng xã hội? Đặc trưng của phân tầng xã hội? Liên hệ thực tiễn

Trả lời

Phân tầng xã hội là sự sắp xếp, phân chia các thành viên xã hội vào các tầng xã hội khác nhau dựa trên hệ thống các bất bình đẳng cơ bản về kinh tế, chính trị, xã hội, cũng như một số khác biệt về trình độ nghề nghiệp, học vấn, kiểu nhà ở, nơi cư trú, phong cách sinh hoạt Cũng có thể hiểu phân tầng xã hội là sự sắp xếp các cá nhân trong cùng một hệ thống xã hội vào các tầng xã hội khác nhau trên

cơ sở của sự phân chia những ngạch bậc và những tiêu chuẩn chung về giá trị

Để lý giải về sự phân tầng xã hội, các nhà xã hội học có nhiều cách tiếp cận khác nhau; ở đây ta đề cập đến thuyết phân tầng của Max Weber và lý thuyết tổng quát của Các Mác

Trang 10

Max Weber cho rằng nguồn gốc sâu xa của sự phân tầng là do các cá nhân có “cơ may thị trường” khác nhau, trong đó, cơ may thị trường của cá nhân được xác định bởi trình độ năng lực, sở trường, học vấn, và các may rủi có tính chất thị trường mà mỗi cá nhân có thể gặp và tận dụng trong cuộc đời Lý thuyết của M Weber giúp các nhà xã hội học nhận diện được hệ thống phân tầng xã hội trong một xã hội thị trường sớm phát triển (Phương Tây) với những tầng nấc và nhân tố tác động hết sức phức tạp của nó

Theo quan điểm của C Mác, phân tầng xã hội trong xã hội có giai cấp suy cho cùng là do nhân tố kinh tế quyết định, mặc dù những nhân tố khác như chính trị, xã hội cũng có vai trò và cùng tác động C Mác cho rằng, để hiểu sự hình thành nên các tầng lớp xã hội cần phải gắn nó với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống sản xuất xã hội, trong đó, có sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Cốt lõi của mọi sự phân tầng trong các xã hội có sự đa dạng về sở hữu tư liệu sản xuất là kết cấu giai cấp và tầng lớp

Trên cơ sở tổng hợp nghiên cứu, phân tích chọn lọc và tiếp thu một cách có phê phán toàn bộ những quan niệm và các cách kiến giải khác nhau trong lịch sử xã hội học về phân tầng xã hội, các nhà khoa học nước ta cho rằng, sở dĩ có hiện tượng phân tầng xã hội do hai nguyên nhân chủ yếu sau

Thứ nhất, do có sự tồn tại một cách tự nhiên, phổ biến của hiện tượng bất bình đẳng về năng lực, thể

chất, trí tuệ, điều kiện cơ may giữa các thành viên trong các chế dộ xã hội loài người

Thứ hai, do sự phân công lao động xã hội bao gồm cả sự phân công về lao động nghề nghiệp và sự phân

công về những vị thế xã hội chiếm ưu thế Mặt khác, sự khác nhau trong phân công lao động xã hội là sự phân công về mặt vị thế có ưu thế hoặc không có ưu thế trong xã hội Trong xã hội, có lẽ rằng ai cũng muốn có những vị thế cao, có nhiều ưu thế về quyền lực, lợi ích kinh tế và uy tín xã hội, nhưng vị trí này không nhiều và cũng chỉ có một số ít người đạt được Sự thật hiển nhiên này đã khách quan tạo ra sự phân tầng xã hội

Tất nhiên, ngoài những yếu tố khách quan nói trên, trong một mức độ nào đó vẫn có những yếu tố tác động vào quá trình hình thành phân tầng xã hội, chẳng hạn như cha ông ta đã từng nói: “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” trong chừng mực nào đó nó đã tạo ra sự phân tầng xã hội từ trong

tư tưởng xã hội một cách ngẫu nhiên, điều đó có thể làm gay gắt thêm, hoặc làm biến dạng những trật tự

tự nhiên trong phân tầng xã hội

Qua việc phân tích khái niệm và lý giải nguyên nhân phân tầng, ta thấy sự phân tầng xã hội có các đặc trưng sau:

Thứ nhất: phân tầng xã hội là sự phân hoá các cá nhân thành những tầng lớp, thứ bậc khác nhau trong

cơ cấu xã hội (phân chia thành lớp trên, dưới)

Thứ hai: phân tầng xã hội luôn gắn với bất bình đẳng xã hội và phân công lao động

Thứ ba: phân tầng xã hội được lưu truyền qua thế hệ và có sự thay đổi nhất định

Ngoài ra, Nhà xã hội học Mỹ J.Macionis đã chỉ ra hệ thống phân tầng xã hội có một vài đặc tính chung sau đây:

- Có tính phổ quát trên toàn cầu

- Tồn tại dai dẳng theo thời gian

- Tồn tại trong tất cả các tầng lớp dân cư, các giai cấp và tầng lớp

- Được duy trì bền vững trước hết do điều kiện vật chất xã hội, thể chế chính trị và niềm tin xã hội

Về mặt lý luận, việc nghiên cứu phân tầng xã hội có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của

xã hội là vậy, nhưng trong thực tiễn hiện nay, để thực hiện các mục tiêu xã hội, đặc biệt là mục tiêu xóa đói, giảm nghèo thì vẫn là một quá trình còn nhiều khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự chung tay của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Xác định được vấn đề này, Đảng ta đã đề ra nhiều giải pháp

cả về kinh tế, chính trị và văn hóa …để kìm hãm tốc độ phân hóa và thu hẹp khoảng cách phân hóa giàu nghèo Một số giải pháp cụ thể:

* Về chính trị: Giữ vững ổn định chính trị để tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững, nhanh

* Về kinh tế: Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội của Nhà Nước trước xu hướng phân hóa giàu - nghèo ở nước ta hiện nay

* Về văn hóa: Nâng cao trình độ dân trí của nhân dân ở nước ta, phát triển giáo dục nâng cao dân trí trước hết phải xoá mù, tái mù, thực hiện phổ cập giáo dục, đưa lại cho người nghèo quyền "sở hữu trí tuệ"

Liên hệ thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận Được sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự nổ lực của các cấp, các ngành và toàn dân Ninh Thuận Qua 4 năm thực hiện Chương trình 135 (giai đoạn 2005 – 2009),

tỷ lệ hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn đã giảm từ 49,8% còn 40,6%; tỷ lệ hộ nghèo của địa phương giảm từ 21,3% năm 2005 xuống 12,12% Tiếp tục theo đuổi mục tiêu trên, Đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ XII

đã xác định: Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Ninh Thuận phấn đấu mỗi năm giảm từ 1,5% tỷ lệ hộ nghèo

và 2 năm đầu bình quân mỗi năm giảm 2% hộ nghèo, không còn hộ nghèo là đối tượng chính sách,

Ngày đăng: 17/10/2017, 19:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w