1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Truyện ngắn bùi thị như lan

113 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đội ngũ các nhà văn, nhà thơ DTTS này đã có nhiều người được bạn đọc và các nhà nghiên cứu, phê bình biết đến, giới thiệu, nghiên cứu… Tuy nhiên, trong đó cũng còn có nhiều tác giả

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––

BÙI THỊ THANH HUYỀN

TRUYỆN NGẮN BÙI THỊ NHƯ LAN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Việt Trung

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Truyện ngắn Bùi Thị Như Lan” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, hoàn toàn không sao chép của bất cứ ai Các kết quả của đề tài là trung thực và chưa được công bố ở các công trình khác

Nội dung của luận văn có sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thanh Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Việt Trung – công tác tại Đại học Thái Nguyên về sự hướng dẫn tận tình, đầy đủ, chu đáo và đầy tinh thần trách nhiệm của cô trong toàn bộ quá trình em thực hiện và hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ của Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn và các thầy cô giáo Phòng Đào tạo - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ em thực hiện Đề tài luận văn này

Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thanh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Cấu trúc của đề tài 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ NHÀ VĂN NỮ DÂN TỘC TÀY - BÙI THỊ NHƯ LAN 9

1.1 Vài nét khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số thời kì hiện đại 9

1.2 Nhà văn nữ quân đội dân tộc Tày - Bùi Thị Như Lan 22

1.2.1 Vài nét về nhà văn Bùi Thị Như Lan 22

1.2.2 Bùi Thị Như Lan - nữ nhà văn quân đội miền núi 25

TIỂU KẾT 29

Chương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BÙI THỊ NHƯ LAN 31

2.1 Hình tượng người phụ nữ dân tộc thiểu số trong truyện ngắn Bùi Thị Như Lan 31

2.1.1 Người phụ nữ miền núi với vẻ đẹp khỏe mạnh, tự nhiên, rực rỡ, đậm chất dân tộc và miền núi 32

2.1.2 Người phụ nữ DTTS trước khó khăn, thách thức của cuộc sống thời kỳ hiện đại và hội nhập 41

Trang 5

2.2 Hình tượng người lính miền núi - nét riêng trong sáng tác của Bùi

Thị Như Lan 47

2.2.1.Những người lính miền núi trong quân ngũ 48

2.2.2 Người lính miền núi trong cuộc sống đời thường 52

TIỂU KẾT 56

Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT 58

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 58

3.1.1.Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật qua yếu tố ngoại hình 58

3.1.2 Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật qua hành động 63

3.1.3 Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ nhân vật 67

3.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 75

3.2.1 Cốt truyện theo thời gian tuyến tính 76

3.2.2 Cốt truyện theo thời gian gấp khúc, đảo lộn 80

3.2.3 Cốt truyện vừa mang tính hiện thực vừa mang tính huyền ảo 88

3.3 Một số đặc điểm về ngôn ngữ nghệ thuật 91

3.3.1 Ngôn ngữ dung dị, đời thường mang đậm chất dân tộc, miền núi 92

3.3.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất so sánh, liên tưởng mang màu sắc miền núi 97

TIỂU KẾT 99

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học các dân tộc thiểu số (DTTS) là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn học Việt Nam Văn học các DTTS cũng có một vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại - bởi nó là tiếng nói văn học của 53 dân tộc anh em bên cạnh tiếng nói văn học của dân tộc Kinh Hơn nửa thế kỉ qua, mảng văn học này cũng đã có những đóng góp đáng kể đối với nền văn học nước nhà với những thành tựu nổi bật, thể hiện ở sự đông đảo của đội ngũ sáng tác, sự phong phú của các tác phẩm văn học và sự đặc sắc về nội dung phản ánh và nghệ thuật thể hiện

Tuy nhiên, việc nghiên cứu bộ phận văn học này cho đến nay vẫn chưa

có sự tương xứng với vị trí và tầm vóc của nó Rất nhiều nhà văn, nhà thơ cùng các tác phẩm văn chương của họ vẫn chưa được nhiều người biết đến Vì vậy, việc nghiên cứu về bộ phận văn học này là rất cần thiết, nhất là nghiên cứu tác phẩm, tác giả cụ thể Nếu nghiên cứu thành công bộ phận văn học này sẽ góp phần giới thiệu cho đông đảo độc giả của cả nước có thêm sự hiểu biết, sự trân trọng đối với bộ phận văn học này

Trong văn học DTTS Việt Nam hiện đại, ngoài thể loại thơ được đánh giá có nhiều thành tựu nhất bởi hàng loạt các tên tuổi như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Y Phương, Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủi, Pờ Sảo Mìn, Nông Thị Ngọc Hòa, Bùi Tuyết Mai, Inrasara… thì văn xuôi - đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết cũng đã có một quá trình phát triển khá mạnh mẽ, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đáng được tự hào, với các tên tuổi như: Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, La Quán Miên, Hà Thị Cẩm Anh, Cao Duy Sơn, Kha Thị Thường, Sa Phong Ba, Y Phương, Kim Nhất, Hữu Tiến, Linh Nga Niek Đam, Đoàn Thị Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan… Trong đó nổi lên 2 cây bút đã được nhận nhiều giải thưởng cao là: Nhà văn Vi Hồng - Giải

Trang 7

thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật và nhà văn Cao Duy Sơn - Giải thưởng Asean về Văn học

Trong đội ngũ các nhà văn, nhà thơ DTTS này đã có nhiều người được bạn đọc và các nhà nghiên cứu, phê bình biết đến, giới thiệu, nghiên cứu… Tuy nhiên, trong đó cũng còn có nhiều tác giả, tác phẩm chưa được chú ý nghiên cứu

để khẳng định những đóng góp của họ đối với sự phát triển, sự phong phú và sự

đặc sắc của văn học dân tộc thiểu số Tác giả Bùi Thị Như Lan là một trường

hợp nhà văn như thế

Trong các cây bút nữ DTTS - nhà văn Bùi Thị Như Lan là một trong những nhà văn nữ thuộc thế hệ sau, còn khá trẻ và sung sức (sinh năm 1967), và là cây bút nữ hiếm hoi trong quân đội (thuộc Quân khu I - Quân khu miền núi phía Bắc) Do đó, ngoài những đặc điểm chung có thể thấy ở các nhà văn nữ DTTS khác thì các sáng tác của nhà văn quân đội Bùi Thị Như Lan còn có những nét đặc trưng riêng, thể hiện rõ được phong cách nghệ thuật riêng của chị Và đồng thời, đó cũng là những đóng góp riêng,

có ý nghĩa cuả nhà văn dân tộc Tày này đối với văn xuôi nữ DTTS nói riêng và văn xuôi các DTTS nói chung

Bùi Thị Như Lan là một trong những cây bút viết Truyện ngắn xuất sắc của tỉnh Thái Nguyên Tác phẩm của chị cũng đã được đưa vào giới thiệu trong phần Văn học địa phương của tỉnh Thái Nguyên Chị cũng là một trong những

nữ nhà văn đầu tiên của tỉnh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam Chị có

sở trường viết truyện ngắn và chị đã có khá nhiều Tập truyện ngắn đạt Giải thưởng quốc gia và khu vực

Bùi Thị Như Lan là cây bút nữ DTTS có sức viết khỏe, chị đã xuất bản 8 tập truyện ngắn và 1 tập bút kí Tác phẩm của chị đậm màu sắc dân tộc và miền núi (ở đây là dân tộc Tày), lại có “chất lính” khá rõ rệt Do đó, tác phẩm của chị

có một nét rất riêng bên cạnh những nét chung của các cây bút DTTS khác Vì vậy, có một số độc giả đã biết tới tác phẩm của chị, đã yêu mến và bước đầu có người giới thiệu, nghiên cứu về sáng tác của chị Tuy nhiên cho tới nay vẫn

Trang 8

chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về sự nghiệp sáng tác của chị; cũng như chưa chỉ ra được những nét đặc sắc cùng những đóng góp nhiều mặt của chị đối với văn học DTTS nói chung, văn xuôi DTTS nói riêng

Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn việc nghiên cứu về tác giả Bùi Thị Như Lan làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình, bởi nếu giải quyết tốt đề tài này, chúng tôi sẽ đạt được một số mục đích sau:

- Đem đến bạn đọc một sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn và có sự đánh giá chính xác hơn về những đóng góp đáng trân trọng của nhà văn nữ dân tộc Tày - Bùi Thị Như Lan đối với văn học DTTS tỉnh Thái Nguyên nói riêng, văn học DTTS Việt Nam hiện đại nói chung

- Nếu đề tài này thành công sẽ là một tài liệu tham khảo có ích, phục vụ

cho việc học tập và nghiên cứu những tác giả, tác phẩm văn học địa phương tỉnh Thái Nguyên cho đội ngũ giáo viên và học sinh tỉnh Thái Nguyên nói riêng

cũng như của cả khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam

nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS Việt Nam, của Tạp chí Văn nghệ quân đội, của Tổng cục Chính trị và của tỉnh Thái Nguyên…

Tuy nhiên việc nghiên cứu về nhà văn Bùi Thị Như Lan cùng các tác phẩm của chị hiện vẫn còn ở mức độ khiêm tốn Chúng tôi sẽ phác họa cụ thể

về tình hình nghiên cứu, phê bình, tác giả, tác phẩm Bùi Thị Như Lan như sau:

Trang 9

2.1 Tác giả Bùi Thị Như Lan được nhắc tới trong các công trình nghiên

cứu về Văn học DTTS Việt Nam hiện đại nói chung, hoặc về văn xuôi DTTS nói riêng Cái tên Bùi Thị Như Lan đã được các tác giả nhắc đến như là một đại diện tiêu biểu của các cây bút có nhiều đóng góp cho văn xuôi DTTS cuối những năm 90, đầu những năm thế kỉ XXI Có thể kể tên một số công trình,

những bài nghiên cứu đó như: “40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu

số Việt Nam” (của Phong Lê), “Văn học và miền núi” (của Lâm Tiến - Hoàng Văn An), “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” (của Lâm Tiến),“Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại - một số đặc điểm” (của Trần Thị Việt Trung - Cao Thị Hảo), “Hiện đại mà dân tộc” (của Ma Trường Nguyên), “Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam” (của Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng)…

2.2 Đã có một số bài viết đăng trên báo chí, giới thiệu, nhận xét, đánh

giá về tác phẩm, tác giả Bùi Thị Như Lan của một số nhà phê bình, hoặc của các đồng nghiệp của chị Ví dụ như nhà nghiên cứu phê bình: Bùi Việt Thắng

với bài viết: “Những màu sắc của núi rừng”, (Đọc Tiếng kèn pí lè - truyện ngắn

Bùi Thị Như Lan) - được đăng trên Báo Quân đội Nhân dân cuối tuần, 2015 -

viết về Tập truyện ngắn Tiếng kèn Pí lè: “Tiếng kèn pí lè là tập truyện ngắn

thứ tám của Bùi Thị Như Lan trong vòng mười hai năm (2003-2015) Như thế cũng đủ để thấy nữ nhà văn trung thành với thể loại “nhỏ” Cũng có thể nói chính thể loại chọn nhà văn Nữ sỹ quan (trung tá) - nhà báo (công tác tại Báo Quân khu I) - nhà văn này người dân tộc Tày Đọc truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan, riêng tôi, có được cái cảm xúc đặc biệt về những sắc màu, âm thanh, đường nét, mùi vị của không gian rừng núi Hay nói cách khác là một “ngoại cảnh” đặc sắc thường ít thấy xuất hiện trong văn chương/văn xuôi đương đại Mười truyện trong tập Tiếng kèn pílè tôi hình dung như mười ngón tay của của hai bàn tay một người đan quyện bền chặt trong bất kì hành động nào….”[42];

Hồ Thủy Giang có bài viết về “Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Hoa

Trang 10

Mía của Bùi Thị Như Lan” đăng trên Báo Văn nghệ Thái Nguyên:“Hoa mía”

là một câu chuyện buồn, phảng phất phong vị dân gian Chất dân gian đã tạo cho truyện một không khí như nửa thức, nửa mơ; nửa hiện đại, nửa hoang sơ; nửa hiện thực, nửa huyền ảo Đây cũng là một nét mạnh của “Hoa mía” Tuy nhiên, ở bài viết này tôi lại muốn khơi sâu hơn vào phân tích việc sử dụng

không gian truyện đầy hiệu quả của tác giả….”[9] ; Nông Thị Ngọc Hòa với

bài viết “Tiếng kèn pí lè của người gái bản” đăng trên Báo Văn nghệ Thái

Nguyên: “Vẫn những mạch nguồn dào dạt từ những tập trước - Tiếng kèn Pílè

phản ánh cuộc sống mưu sinh vất vả của người miền núi, nhưng cũng đầy sự lãng mạn, nặng tình yêu thương, bao dung,nhân ái và cao thượng

Mở đầu tập truyện là Lá bùa đỏ - Lá bùa định mệnh biến gã trai bản

hồn nhiên như cây cỏ trải những thăng trầm, lĩnh án tù bởi sự thiếu hiểu biết

về pháp luật Sự trở về sau khi thụ án của Lình đã khép lại một trang buồn

để mở tiếp những trang vui

Ngọt ngào những câu dân ca, đắng đót bao số phận: Lời Sli trôi trong trăng như một trò đùa số phận khiến cặp sơn nữ song sinh đẹp như hoa như

mộng, giống nhau như hai giọt nước gặp nhiều oan trái Sự nhầm lẫn tai hại đã khiến Sang (cô chị) được gả cho chàng trai bản khác Đêm tân hôn ngọt ngào tận hiến, qua phút giây nồng nàn, người chồng mân mê bàn tay vợ thấy không có ngón tay thừa - đặc điểm duy nhất để nhận biết sự khác nhau với Sao (cô em), người đã cùng anh trao gửi yêu thương qua bao mùa trăng hò hẹn Cay đắngcủa Sang là duy

nhất sau một lần làm vợ mà với chồng cứ như người xa lạ Cay đắng những đêm Sli

để Sao nuôi con một mình….”[13]

Đó là những lời nhận xét, đánh giá rất đúng, rất trúng và khá tinh tế của các nhà phê bình, các bạn văn của Như Lan về văn chương của chị Tuy nhiên, trong những bài viết này các tác giả trên chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ các tác phẩm của nhà văn quân đội Bùi Thị Như Lan Hầu như

đó mới chỉ là những đánh giá, nhận xét về một tác phẩm, hoặc một khía cạnh

Trang 11

trong các sáng tác của chị, chưa phát hiện ra hết những nét độc đáo cùng những đóng góp kể về nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của chị đối với sự vận động và phát triển của văn xuôi DTTS thời kỳ hiện đại

2.3 Tác giả Bùi Thị Như Lan cũng đã được nhắc đến , được khẳng định

như là một cây bút văn xuôi DTTS tiêu biểu thời kì sau năm 2000 trong các luận văn Thạc sỹ, luận án Tiến sĩ viết về đề tài văn học dân tộc và miền núi Ví

dụ như Luận án Tiến sĩ của Cao Thị Thu Hoài với đề tài “Nửa thế kỷ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam khoảng từ 1960 đến nay”; Luận văn Thạc sĩ của Cao Thị Hồng Vân với đề tài “Con người trong văn xuôi miền núi của các tác giả trẻ đương đại Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy

và Phạm Duy Nghĩa” (2012); Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Lương với đề tài: “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan (2015)…

* Qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu, phê bình về tác giả Bùi Thị Như Lan cùng các sáng tác của chị, chúng tôi có nhận xét như sau: Mặc dù đây

là một tác giả nữ DTTS có nhiều tác phẩm khá đặc sắc, có những đóng góp đáng trân trọng và có phong cách riêng khá độc đáo, nhưng cho đến nay việc nghiên cứu về tác giả nữ DTTS này còn ở tình trạng sơ sài, lẻ tẻ, chưa toàn diện, chưa có tính hệ thống Chính vì vậy chúng tôi thấy rằng, rất cần phải có một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, chỉ ra những đặc điểm, những nét đặc trưng trong sáng tác của nhà văn nữ DTTS Bùi Thị Như Lan; đồng thời qua đó để độc giả có một sự hiểu biết cụ thể hơn và đầy đủ hơn về những tác phẩm cũng như về những đóng góp chung của nhà văn nữ DTTS này đối với văn xuôi DTTS trong quá trình phát triển, nhất là trong giai đoạn đầu

thế kỉ XXI Do đó, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu về Truyện ngắn Bùi Thị Như Lan làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình, với hi vọng: Sẽ góp

phần nghiên cứu một cách hệ thống hơn, toàn diện hơn về nhà văn nữ DTTS đồng thời cũng là nhà văn quân đội vùng miền núi phía Bắc này

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Nghiên cứu những đặc điểm cơ

bản về nội dung và nghệ thuật trong các tác phẩm của Bùi Thị Như Lan (8 tập truyện ngắn)

* Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ truyện ngắn của nhà văn Bùi Thị Như

Lan, bao gồm 8 tập truyện ngắn, cụ thể là các tác phẩm sau:

- Tiếng chim kỷ giàng - Tập truyện ngắn - Nxb Quân đội nhân dân

năm 2003

- Mùa hoa mắc mật - Tập truyện ngắn - Nxb Thanh niên năm 2005

- Hoa mía - Tập truyện ngắn - Nxb Thanh niên năm 2006

- Lời sli vắt ngang núi - Tập truyện ngắn - Nxb Quân đội nhân dân

năm 2008

- Bồng bềnh sương núi - Tập truyện ngắn - Nxb văn hóa dân tộc năm 2009

- Cọn nước đôi - Tập truyện ngắn - Nxb Quân đội nhân dân năm 2012

- Mùa hoa Bjooc phạ - Tập truyện ngắn - Nxb Kim đồng năm 2013

- Tiếng kèn Pí lè - Tập truyện ngắn - Nxb Quân đội nhân dân năm 2015

- Bên cạnh đó, chúng tôi còn khảo sát một số truyện ngắn của một số cây bút

nữ DTTS khác để so sánh đối chiếu (như truyện ngắn của Vi Thị Kim Bình, Hà Thị Cẩm Anh, Kha Thị Thường, Kim Nhất, Linh Nga Niếc Đam, Đoàn Ngọc Minh…)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn có nhiệm vụ chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong sáng tác của Bùi Thị Như Lan (cả phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật ở thể loại Truyện ngắn)

- Đưa ra những nhận xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học về những giá trị của các tác phẩm, cũng như đóng góp đáng trân trọng của nhà văn nữ DTTS Bùi Thị Như Lan đối với văn xuôi các DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại, đặc biệt

ở thời kỳ sau năm 2000 cho đến nay

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp (phân tích tác phẩm, tác giả)

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học, văn hóa, lịch sử )

- Vận dụng một số thao tác nghiên cứu của Thi pháp học

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Vài nét về văn xuôi dân tộc thiểu số và nhà văn nữ dân tộc Tày - Bùi Thị Như Lan

Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Bùi Thị Như Lan nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3: Một số đặc điểm về nghệ thuật

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1 VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ NHÀ VĂN NỮ

DÂN TỘC TÀY - BÙI THỊ NHƯ LAN

1.1 Vài nét khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số thời kì hiện đại

Văn học dân tộc thiểu số (DTTS) hiện đại là một bộ phận nằm trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, bao gồm các sáng tác của tác giả người dân tộc thiểu số và chủ yếu viết về đề tài dân tộc và miền núi

Đầu thế kỉ XX, cùng với sự hình thành và phát triển của nền văn học Quốc ngữ, văn học viết về đề tài dân tộc và miền núi cũng xuất hiện và dần khẳng định vị trí với sự tham gia của nhiều tác giả là người dân tộc Kinh, ví dụ như: Thế Lữ, Lan Khai, Nguyễn Tuân…; giai đoạn sau năm 1945 có: Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Trung Thành…; và từ năm 1975 đến nay có Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Phạm Duy Nghĩa, Đỗ Bích Thúy Những tác phẩm của các tác giả người Kinh này đã khắc họa được bức tranh về con người

và cuộc sống miền núi (Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên ) trong suốt chiều dài lịch sử từ thời chống Pháp, chống Mỹ và thời hòa bình của đất nước ta Sự xuất hiện của các tác giả này với những tác phẩm của họ thực sự là rất quan trọng để những nhu cầu và khát vọng viết về dân tộc mình bằng văn xuôi của các nhà văn DTTS có điều kiện được thực hiện Học tập và kế thừa thành tựu của văn xuôi người Kinh viết về miền núi, được sự quan tâm cụ thể của Đảng và Nhà Nước, từ sau kháng chiến chống Pháp, các cây bút văn xuôi DTTS đã dần xuất hiện và ngày càng khẳng định sự có mặt của mình trong đời sống văn học nước nhà, nhằm đem lại cho độc giả những hiểu biết chân thực, toàn diện và đầy đủ hơn về cuộc sống, về con người, về các phong tục tập quán… của đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng trong cả nước

Trang 15

Như trên đã nói, đầu thế kỷ XX, trên văn đàn văn học Việt Nam đã xuất hiện một số tác phẩm viết về đời sống sinh hoạt của người dân tộc thiểu số ở miền núi Những tác giả đóng góp cho mảng đề tài này đều là người Kinh như:

Thế Lữ với tập truyện Vàng và máu (1934), Lan Khai với Truyện đường rừng (1940) Đương thời, những tác phẩm này đã thu hút sự chú ý của người

đọc bởi sự mới mẻ, kì dị, kích thích trí tò mò khám phá của độc giả trước cảnh sắc của những miền đất xa xôi, hoang dã với những phong tục tập quán lạ kì, hoặc những hủ tục mông muội, thậm chí là man dợ của những con người và cộng đồng các DTTS Nhà văn giống như một người du khách, một lãng tử muốn khám phá những miền đất còn hoang vu, chiêm ngưỡng những tộc người còn nhiều bí ẩn đối với những người miền xuôi, người thành phố - nên tác phẩm thường mang tính chủ quan, không chân thực, giàu tính tưởng tượng và thường được viết với bút pháp lãng mạn (chủ yếu để gợi trí tò mò của độc giả)

Trước năm 1945, văn xuôi của tác giả người DTTS hầu như chưa xuất hiện Từ sau 1945 với các chủ trương, định hướng và đường lối văn nghệ của Đảng, mảng văn học DTTS được quan tâm phát triển cả về lực lượng sáng tác,

số lượng, chất lượng tác phẩm và đã đạt được những thành tựu đáng kể ở thời

kì này Ngoài một số tác giả người Kinh có những sáng tác về đề tài miền núi,

dân tộc như: Nam Cao (Nhật kí ở rừng, 1948), Tô Hoài (Vợ chồng A Phủ, 1952; Cứu đất cứu mường, 1953), Nguyên Ngọc (Đất nước đứng lên,

1954)… thì đã xuất hiện một số tác phẩm của các tác giả người DTTS và từng bước họ đã gia nhập vào dòng chảy chung của văn xuôi Việt Nam hiện đại -

vốn trước đây chỉ là “độc quyền” của những cây bút người Kinh Một thế hệ

nhà văn người dân tộc đã được hình thành trong những năm 50 – 60 (thế kỷ XX) - khi miền Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống Mỹ, miền Bắc xây dựng Xã hội Chủ nghĩa Họ hầu hết là những trí thức DTTS thiết tha muốn đóng góp tiếng nói văn học của mình vào nền văn học chung của dân tộc Việt Nam bằng sức lực và tài năng của chính mình Đó là các tác giả Nông Viết

Trang 16

Toại (với tác phẩm :Boỏng tàng tập éo, 1952), Nông Minh Châu (với: Ché Mèn được đi họp, 1959), Y Điêng (với: Em chờ bộ đội Awa Hồ, 1960), Hoàng Hạc (với: Ké Nàm, 1963), Triều Ân (với: Tiếng khèn A Pá, 1968), Vi Thị Kim Bình (với: Những bông huệ trắng, 1968) Cách mạng, nhân dân và văn hoá dân gian

chính là ba nguồn mạch cảm hứng chủ yếu nuôi dưỡng các cây bút văn xuôi người dân tộc thiểu số trong những năm tháng cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Sáng tác của họ luôn bám sát công cuộc cách mạng của dân tộc, thể hiện sâu sắc ý chí, tình cảm, tâm trạng của người dân miền núi trong những tháng ngày gian khổ đầy mất mát, hi sinh, nhưng cũng rất oanh liệt, oai hùng Phạm vi đề tài phản ánh khá rộng, họ không chỉ viết về miền núi

mà còn viết về miền xuôi, về miền Nam, thậm chí quan tâm cả tới những vấn

đề có tính quốc tế, ngợi ca sự đổi đời của nhân dân các dân tộc và cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà của cả nước

Văn xuôi thời kỳ này chủ yếu viết về con người, quê hương miền núi Đây là giai đoạn mà ý thức về tiếng nói văn học của cộng đồng các DTTS đã phát triển khá mạnh mẽ Họ háo hức khám phá với tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và cũng chính vì thế, văn xuôi DTTS Việt Nam đã dần được định vị và góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng (cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng Xã hội Chủ nghĩa) của đất nước, và đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam thời kì hiện đại

Từ sau năm 1975 và đặc biệt là từ sau năm 1986, trong không khí hoà bình, xây dựng cuộc sống mới trên cơ sở đổi mới tư duy - văn xuôi DTTS phát triển khá mạnh mẽ Các tác giả người DTTS ngày càng đông đảo hơn và gặt hái được nhiều thành tựu sáng tác rực rỡ hơn Thời kỳ này văn xuôi dân tộc thiểu

số phát triển mạnh về số lượng cũng như chất lượng, giúp chúng ta có thể nhận diện một cách rõ ràng, khẳng định nó như một thực thể riêng, độc đáo trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại

Trang 17

Vào những năm cuối thế kỉ XX, ngoài những tác giả người Kinh vẫn không ngừng trăn trở về đề tài miền núi, dân tộc như: Mạc Phi, Xuân Thiều, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khắc Trường, Sơn Nam, Vũ Hạnh, Phạm Duy Nghĩa…,thì đội ngũ những cây bút người dân tộc cũng đang được phát triển với một tốc độ nhanh chóng trên toàn quốc - không chỉ ở phía Bắc mà cả miền Trung, miền Nam của đất nước Ở Tây Nguyên có Hlinh Niê

(Êđê) với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập kí Trăng Xí Thoại (1999) , Kim Nhất(Ba na) với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn

ma núi (2002) ,và Niê Thanh Mai (Êđê) với tập truyện Về bên kia núi(2007) ; Ở phía Nam - lần đầu tiên xuất hiện văn xuôi của một số dân tộc như: Truyện kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994) của Lý Lan (Hoa), tiểu thuyết Chân dung cát (2006) của Inrasara Ở khu vực miền Trung xuất hiện các tác giả: La Quán Miên (Thái) với tập truyện Hai người trở

về bản (1996) , Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003), Lang Quốc Khánh với tập kí Những miền thương nhớ (2005), Hà Thị Cẩm Anh (Mường) với Gốc gội xù xì Ở vùng Việt Bắc và Tây Bắc, các tác giả người Tày luôn

chiếm số đông bên cạnh các nhà văn của các dân tộc khác (Thái, Mông, Dao, Mường, Hmông…), ngoài các nhà văn như: Vi Hồng, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Hà Lâm Kỳ , còn có Nguyễn Hữu Tiến, Đoàn Lư, Hoàng Hữu Sang, Cao Duy Sơn, Đoàn Thị Ngọc Minh Trong đó nổi bật là hiện tượng nhà văn

Vi Hồng – nhà tiểu thuyết người dân tộc Tày, quê Cao Bằng, nhưng lập nghiệp

và thành danh ở Thái Nguyên Từ 1980 - 1997, tác giả Vi Hồng đã cho ra đời

14 cuốn tiểu thuyết: Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng

đã rơi (1985), Vào hang (1990), Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Lòng dạ đàn bà (1992), Dòng sông nước mắt (1993), Ái tình và kẻ hành khất (1993), Tháng năm biết nói (1993), Chồng thật vợ giả (1994), Phụ tình (1994),

Đi tìm giàu sang (1995), Đọa đày (1997) Ngoài ra ông còn có các tập truyện ngắn: Đuông Thang (1988), Người làm mồi bẫy hổ (1990), Thách đố (1995),

Trang 18

Đường về với mẹ chữ (1997) Ông là một hiện tượng văn học rất đáng được

trân trọng về sức làm việc phi thường và những hiểu biết về con người, phong tục tập quán, thiên nhiên miền núi mang đậm sắc thái Tày vùng Việt Bắc

Trong những sáng tác trên, có những tác phẩm khá xuất sắc thể hiện được bản sắc dân tộc và phong cách nghệ thuật của tác giả qua cách miêu tả cảnh vật thiên nhiên và con nguời miền núi, qua cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật và lối tư duy nghệ thuật độc đáo Theo nhận xét của PGS.TS Cao Thị Hảo

trong bài viết “Bước đầu phác thảo diện mạo văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” thì: Thời kì này cũng đã có nhiều tác phẩm đã kết hợp được bút

pháp tự sự theo kiểu truyền thống ảnh hưởng từ các sử thi, truyện cổ, truyện thơ với bút pháp văn xuôi hiện đại tạo nên sự đa dạng, nhiều vẻ, nhiều giọng điệu, trở thành “vườn hoa nhiều hương sắc”, làm phong phú bức tranh của đời

sống văn học hiện đại nước ta, ví dụ như: Mã A Lềnh với bút kí Cao Nguyên trắng mang giọng điệu sôi nổi hào hứng đã ghi lại những đổi mới trên quê

hương trong thời kỳ kinh tế thị trường với văn phong lôi cuốn, hấp dẫn, linh hoạt, phong phú, quê hương miền núi hiện ra như một bức tranh với những nét hoa văn khác nhau nhưng luôn có gam màu chủ đạo là rực rỡ sôi động; Cao

Duy Sơn với Người lang thang, Cực lạc, Hoa mận đỏ…, đặc biệt là Đàn trời đã tái hiện một bức tranh xã hội phong phú với những mảnh đời và lối sống

khác nhau ở miền núi Tác giả đã miêu tả những xung đột trong cuộc sống, trong tâm hồn mỗi cá nhân với một ngòi bút tinh tế, sinh động, đậm chất hiện thực nhưng cũng không kém phần lãng mạn Kim Nhất (Ba Na) thể hiện khá

phong phú những phong tục tập quán của dân tộc mình qua Chuyện buôn làng, Nối dây, Phạt kơ đi…; còn qua tập kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn Lý Lan đã khắc hoạ chân thực, cảm động “chân dung” của

một bộ phận người Hoa sống ở thành phố hiện đại nhất nước ta trong một thời gian dài và một không gian rộng, gắn liền với từng bước thăng trầm của lịch sử dân tộc Hình ảnh những con người lao động vất vả trong mưu sinh, lập nghiệp

Trang 19

luôn có ý chí vươn lên làm chủ cuộc sống, bên cạnh những ông chủ tham lam xảo quyệt bon chen làm giầu hiện lên thật sinh động… Nhưng điều được thể hiện nổi bật ở đây là tinh thần đoàn kết gắn bó của người Hoa đối với dân tộc Việt trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc; Hlinh Niê đã biết kết hợp hài hoà, hiệu quả giữa chất huyền thoại và sử thi khi viết về con người, cuộc sống ở Tây Nguyên Tác giả giới thiệu kho tàng folklore độc đáo với những ngôi nhà rông, hình hoa văn chim thú được lưu giữ trên nóc các nhà mồ, nghệ thuật ẩm thực kiểu Tây Nguyên…; miêu tả sắc nét lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng, những nét hoa văn thổ cẩm phối hợp hài hoà giữa các gam: xanh, vàng, đỏ để làm nổi

bật hai màu chủ đạo: đen và trắng (Về đâu hỡi thổ cẩm Tây Nguyên, Trăng Xí Thoại) Tác giả còn ngợi ca cuộc sống mới đang chuyển mình của dân tộc Tây

Nguyên Một bộ phận người dân đã vươn lên trong làm kinh tế, thoát khỏi cuộc

sống thiếu thốn nghèo khổ, được thụ hưởng cuộc sống có điện, có tiện nghi (Du xuân Tây Nguyên, Làng mặt trời, Bình minh người Dao Cư Suê, Buôn Yung mùa hoa trắng…)

Có thể nói, tuy chưa có được những tài năng thật xuất sắc, nhưng những cây bút người dân tộc thiểu số đã phần nào thực hiện được sứ mệnh cũng như khát khao cháy bỏng của những người con không quên nguồn cội - đó là việc: gìn giữ và thổi bùng lên ngọn lửa văn chương của dân tộc mình Nếu không có

sự hoà nhập máu thịt, cộng sinh giữa chủ thể và khách thể thì các nhà văn DTTS không thể viết về con người, cuộc sống của dân tộc mình đầy cảm xúc như thế Hầu hết các nhà văn dân tộc thường có cảm xúc mãnh liệt, cháy bỏng da diết về con người, cuộc sống của dân tộc mình, quê hương mình Bởi những người cầm bút chính là con em các dân tộc miền núi, nên họ có những thế mạnh nhất định của những người trong cuộc viết về chính mình – điều mà những tác giả người Kinh không có được

Trong sự phát triển chung của đất nước, bức tranh về cuộc sống miền núi

và cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số đã và đang có bước phát triển

Trang 20

đa dạng về mọi mặt Nhiều tác phẩm hướng về công cuộc xây dựng đời sống,

phát triển kinh tế ở miền núi, ví dụ như: Tiểu thuyết Gió hoang của Ma Trường Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng của Mã A Lềnh và các tập truyện ngắn

của Sa Phong Ba Những vấn đề nhạy cảm, những góc trái của hiện thực trước đây từng bị né tránh nay phần nào đã được phản ánh ở những tác phẩm văn học Trong những năm 90, các tiểu thuyết của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi những vấn đề về góc trái đó của hiện thực Tác giả đề cập đến sự băng hoại đạo đức của một số người, một số trí thức người DTTS có địa vị trong xã hội

nhưng ham tiền, theo đuổi danh vọng bất chấp đạo lý (Người trong ống, Gã ngược đời)…; cùng những sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu

trĩ của việc ngăn cấm cá nhân làm giàu trong xã hội thời hiện đại ở miền

núi(Chồng thật vợ giả, Thung lũng đá rơi,…)

Hầu hết văn xuôi dân tộc thiểu số miền núi đều hướng ngòi bút của mình

về việc phản ánh thực trạng còn nhiều khó khăn và nghèo đói của người dân vùng cao, phản ánh những lối sống thực dụng, vô đạo đức của một bộ phận người dân miền núi làm cho những giá trị văn hóa, sự trong trẻo bình yên ngàn đời của núi rừng đang bị tổn thương và ngày càng mai một Bên cạnh những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã đi vào những câu chuyện tình yêu (nhiều sóng gió, trắc trở), với những số phận cá nhân chứa đầy bi kịch…Trước năm 1975, văn xuôi dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung phản ánh cuộc đấu tranh cứu quốc vĩ đại của dân tộc, có nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, ca ngợi quê hương, đất nước, con người mới, nhưng đến nay, biên độ sáng tác đã mở rộng hơn Văn xuôi dân tộc thiểu số đã từng bước bắt nhịp vào đời sống của đất nước, ca ngợi cái mới, cái tốt đẹp, đồng thời cũng phê phán cái xấu, cái lạc hậu, cái ác; cổ vũ, động viên đi sâu miêu tả thân phận con người miền núi với những

số phận mới, khát vọng mới, đặc biệt là thân phận, số phận người phụ nữ miền núi Họ chính là tiêu điểm của bức tranh toàn cảnh về số phận con người ngàn đời trên vùng núi cao cùng với bao hủ tục lạc hậu, bao khó khăn thách thức của

Trang 21

cuộc sống phong phú, phức tạp hôm nay Nhưng ở họ vẫn sáng lên những phẩm chất tốt đẹp, những khát vọng chính đáng, những hoài bão về một tương lai tươi sáng Hầu hết các nhà văn DTTS đều chịu ảnh hưởng của thi pháp dân gian về cả nội dung phản ánh lẫn nghệ thuật thể hiện, ví dụ như: Với quan niệm

“Ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”, với lối kết thúc có hậu (kẻ ác bị trừng trị,

người tốt được hạnh phúc), nhân vật lí tưởng thường được mô tả với những người tốt đẹp nhất, nên hay được “thần hóa”, “tiên hóa” Người con gái đẹp

miền núi thường được ví như “Những bông hoa trên vách núi”, “Đẹp như một

nàng tiên”… Họ thường là những con người giàu lòng nhân ái, giàu khát vọng

về tình yêu tự do, có sức sống bền bỉ, mãnh liệt Và đó cũng chính là khát vọng muôn đời mà các nhà văn người dân tộc gửi gắm, kì vọng ở những nhân vật đại diện cho vẻ đẹp của dân tộc mình, cộng đồng mình

Dù cho tới nay, nhiều DTTS vẫn chưa có tiếng nói trong đời sống văn học nước nhà nhưng so với khoảng thời gian hơn 30 năm của công cuộc Đổi mới, văn xuôi DTTS đã có sự phát triển mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng Tuy còn thiếu những tác phẩm có tầm cỡ, có thể khái quát được những vấn đề trọng tâm của dân tộc - miền núi trong quá trình chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, thực hiện “xóa đói giảm nghèo”, đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như một số vấn đề “thời sự” ở các vùng miền núi (như: An ninh, quốc phòng ) chưa được phản ánh toàn diện, triệt để….; những vấn đề như: Tình trạng đói nghèo, thất học, mù chữ, hoặc tái mù chữ ở nhiều nơi đến nay mới chỉ được đề cập trong một số rất ít truyện ngắn Về đội ngũ sáng tác,

sự kế tục của thế hệ người viết trẻ tuy đã được chú ý, nhưng vẫn còn nhiều bất cập – khi đa số thế hệ nhà văn trẻ miền núi đều không sáng tác được bằng tiếng

mẹ đẻ, và hầu hết họ đều đã được “bứng” ra khỏi môi trường sống miền núi Đây cũng là một trong những vấn đề đang được nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn quan ngại khi nhìn về tương lai phát triển của văn xuôi miền núi trong thời kì mới – thời kì đương đại, thế kỷ XXI

Trang 22

Một điểm rất đáng được lưu ý là trong đội ngũ các nhà văn DTTS đã xuất hiện khá nhiều các cây bút nữ Các cây bút văn xuôi nữ dân tộc thiểu số xuất hiện chậm hơn một chút so với các cây bút nam người DTTS Phải đến những năm 1968-1970 mới xuất hiện một số cây bút văn xuôi nữ, và đặc biệt là

từ sau Đổi Mới đến nay thì các nhà văn nữ DTTS mới xuất hiện nhiều hơn và

đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng Nhà văn nữ DTTS thuộc thế hệ đầu tiên phải kể đến là như: Vi Thị Kim Bình - bà chính là cánh chim đầu đàn của làng văn nữ các dân tộc thiểu số Việt Nam Vốn sinh ra từ quê hương miền núi, người dân tộc Tày, lại là một lương y - bà đã viết về đề tài ngành Y với tất

cả tâm huyết của mình Chính nhờ sự cố gắng không mệt mỏi bên cạnh việc chăm lo sức khỏe cho mọi người mà bà đã có được những thành quả đáng phục

trong sự nghiệp cầm bút Tác phẩm “Đặt tên” in trên Tạp chí Văn Nghệ Việt Bắc năm 1962 (đạt Giải thưởng) và Truyện ngắn “Những bông Huệ trắng” (đã

được trao Giải thưởng của Báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam) - là hai tác phẩm tiêu biểu bên cạnh 49 tác phẩm truyện ngắn và ký khác của chị Vi Thị Kim Bình xứng đáng là một nhà văn đàn chị của các nhà văn nữ Việt Nam Hầu hết các tác phẩm của bà đều viết về người phụ nữ, trong đó phần nhiều là những người phụ nữ dân tộc mang bản tính dịu dàng, mộc mạc, giản dị, dù mỗi cuộc đời với những hoàn cảnh khác nhau, số phận khác nhau nhưng điều nổi bật ở họ là những phẩm chất cao quý, sự hi sinh, lòng vị tha, luôn sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh, thiệt thòi và luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho những người thân yêu của mình, cho xã hội

Tiếp theo phải kể đến nhà văn Hà Thị Cẩm Anh, người dân tộc Mường,

với các tác phẩm như: “Người con gái Mường Biện (2002)”; “Những đứa trẻ mồ (2003)”;“Bài xường ru từ núi(Tập truyện ngắn),2004”; “Gốc gội xù xì (Truyện ngắn)2004”; “Một nửa của người đàn bà (2013)” Nhà văn Hà Thị

Cẩm Anh viết bằng tất cả những gì quan sát được, bằng cả trái tim và tâm hồn của người phụ nữ Mường Các tác phẩm của bà đều hướng vào việc phản ánh

Trang 23

thân phận của những người phụ nữ Mường Mỗi người có một hoàn cảnh riêng, một số phận riêng, nhưng đằng sau những số phận ấy luôn toát lên vẻ đẹp của lòng vị tha, của đức hi sinh Hình ảnh người phụ nữ với vẻ đẹp thủy chung son sắt, với sự hi sinh, sự yêu thương hết lòng trong tình yêu dù gặp bao éo le, trắc trở - luôn là một hình ảnh trở đi trở lại như một sự “ám ảnh” không dứt trong lòng người đọc khi tiếp cận với các sáng tác của nhà văn Mường – Thanh Hóa này

Nhà văn Lý Lan - nhà văn người dân tộc Hoa cũng nằm trong đội ngũ nhà văn nữ tiêu biểu thời kì này Bên cạnh những đàn chị xuất sắc thì Lý Lan cũng xứng đáng đứng vào đội ngũ cây bút văn xuôi nữ DTTS tiêu biểu, với

hàng loạt những truyện ngắn như: “Cơlút(1983)”; “Ngôi nhà trong cỏ(1984)”;

“Nơi bình yên chim hót(1986)”; “Chút lòng mang trong mưa(1987)”; “Chiêm bao thấy núi(1991)”; “Hội đèn lồng(1991)”; “Những người lớn(1992)”;

“Mưa chuồn chuồn(1993)”; “Chân dung người Hoa(1994)”; “Đất khách (1995)”; “Lệ Mai(1998)”; “Sài Gòn Chợ Lớn Rong chơi (1998)”; “Dị mộng (1999)”; “Khi nhà văn khóc(1999)”; “Dặm Đường lang thang(1999)”;“Qúa chén (2000)”; “Quán bạn (In chung với Thanh Nguyên, Lưu Thị Lương và Chim Trắng, 2001)”; “Một Góc Phố Tàu(2001)”; “Ba người và ba con vật(2002)”; “Là mình(2005)”; “Người đàn bà kể chuyện(2006)”; “Bí mật giữa tôi và thằn lằn đen(2008)”; “Hồi xuân(2009)”

Là người mang hai dòng máu Việt - Hoa, Lý Lan có cái lợi thế hưởng được hai nền văn hóa từ khi còn nhỏ Cầm bút trong tâm thế của một con người

có hai quê hương, nhà văn đã khai thác thành công những khía cạnh mà chị quan sát tỉ mỉ bởi một con mắt của người vừa ở bên trong lại vừa đứng ở bên ngoài, quê hương mà chị đang sống là Việt Nam nhưng trong chị luôn luôn ẩn

chứa những tình cảm sâu sắc dành cho quê nội mà có thể chị chưa hề biết đến

Qua nhiều tác phẩm, Lý Lan có khuynh hướng miêu tả cuộc sống đời thường dưới cái nhìn của một nhà báo hơn là một nhà văn Chị ghi nhận sự kiện và sắp

Trang 24

xếp chúng bằng những trình tự mà sự kiện liên tục xảy ra (ít sự hoa mỹ và hư cấu) Trong nhiều tác phẩm, Lý Lan lấy bối cảnh của đồng bằng Nam bộ làm

nền cho câu chuyện của mình, vì vậy văn phong miệt vườn không khỏi ảnh

hưởng đến lối viết của chị Nhà văn Sơn Nam có lẽ ảnh hưởng đến chị nhiều nhất, nhưng khác với Sơn Nam, Lý Lan đằm thắm một cách phụ nữ trong cách diễn tả nội tâm và cũng chi ly hơn khi nhìn những chi tiết xem ra rất nhỏ trong cuộc sống đời thường dưới góc nhìn phụ nữ

Kha Thị Thường - nữ nhà văn dân tộc Thái của tỉnh Nghệ An cũng cũng

là một cây bút sôi nổi Bà đã cho ra đời hàng loạt những tác phẩm như: “Kí ức xanh(1998)”; “Đêm canh ba(2000)”; “Văn học dân tộc thiểu số Nghệ An(2001)”; “Lũ núi(2002)”… Kha Thị Thường - một phụ nữ miền núi lãng

mạn, đa cảm có những tác phẩm với lối viết nhẹ nhàng về hình ảnh quê hương

và gương mặt thân quen của những con người “ở bản” với cả điều tốt đẹp lẫn tầm thường cứ hiện lên, trở đi trở lại trong các tác phẩm của chị Chị từng tâm

sự: “…Những câu chuyện của những người tôi từng biết, từng chứng kiến, cũng có khi chỉ từ một chi tiết nhỏ tôi hư cấu ra Nhân vật của tôi không bị đẩy xuống tận cùng xấu xa, cũng không được nâng lên đến độ vô trùng, suy cho cùng cuộc sống vẫn luôn luôn tồn tại hai mặt và mỗi người nên biết chấp nhận,

cảm thông với điều đó ”[15,tr597] Người ta nhận thấy trong các trang văn

của chị, cuộc sống đời thường ở miền núi luôn hiện ra một cách vừa đơn giản, nhẹ nhàng, vừa phong phú, phức tạp, không “đao to búa lớn” nhưng chân thực

và sống động

Hay nhắc đến nhà văn nữ Kim Nhất - người con gái được sinh ra ở vùng đất Tây Nguyên kiên cường và giàu bản sắc văn hóa Người ta nói: Chị giống như con chim được xổ ra khỏi lồng, cứ cất cánh bay miết không muốn dừng lại Kim Nhất khẳng định vị trí của mình ở làng Văn nghệ Đăk Lăk với hàng loạt

truyện ngắn nối tiếp nhau ra đời như:“Mụ Xoại(1995)”; “Ly hôn(1998)”;

“Truyện cổ Ba Na(2000)”; “Bắt chồng(1994)”; “Về với Ban Mê(1996)”;

Trang 25

“Hoan hô Ama Yi(1997)”; “Động rừng(1999)”… Kim Nhất thường viết dưới

dạng kể chuyện những người thật, việc thật mà chị gặp trong cuộc sống hàng ngày Hầu hết là những nhân vật ở tầng lớp lao động chân tay, lam lũ, thậm chí

là những kẻ tật nguyền, bất hạnh như người ăn xin, kẻ làm thuê, làm mướn, cô gái bán hoa Hình như tác giả đã từng chịu sự tác động bởi chính sự khốn khó của cuộc sống, nên đã tái hiện lại rất sinh động với lòng yêu thương, sự cảm thông với những con người, kiếp người, những mảnh đời vất vả… ở môi trường

này Chính chị đã từng tâm sự: “…Kết hợp đi thực tế nhiều vùng để tận mắt nhìn thấy, tai nghe mà thu lượm ít nhiều những gì ở đời thường của mỗi con người, mỗi gia đình rồi đưa vào văn học một cách trung thực và trong sáng Có những cái xảy ra ở đời thường kết thúc vô hậu, nhưng khi đưa vào văn học tôi

đã kết thúc có hậu, để người đọc, nhất là bà con Tây Nguyên cùng đồng cảm với tôi phần nào - một nhà văn nữ người dân tộc đầy trắc trở ”[15,tr481]

Cũng trên mảnh đất Tây Nguyên đầy bản sắc ấy chúng ta không thể không nhắc đến là nữ nhà văn Linh Nga Niếk Đam Là một nghệ sĩ - nhà văn, nhưng ở cả hai “vai” bà đều có những tác phẩm mà khiến người đọc nhớ và khắc sâu vào tiềm thức Ở thể loại văn xuôi bà có những tác phẩm ghi dấu ấn

như: “Con rắn màu xanh da trời(1997), Trăng xí thoại(1998), Đi tìm hồn chiêng(2003), Gió đỏ(2004)” Đọc những tác phẩm của Linh Nga NiếK Đam

người ta đều có thể nhận thấy một tâm hồn say đắm, một sự tự hào cao độ về quê hương của bà, nhưng cũng nhận ra sự lo lắng, xót xa của bà trước một Tây Nguyên đang dần phai nhạt bản sắc, tình người trong cuộc sống thời kì hiện đại, trong cơ chế thị trường hôm nay

Nói về các nhà văn nữ DTTS còn có thể nhắc đến nhà văn Đoàn Ngọc Minh -nữ nhà văn dân tộc Tày của Cao Bằng Những năm tháng đầu tiên cầm bút, nhà văn Ngọc Minh chủ yếu viết cho thiếu nhi với những tác phẩm như:

“Dòng sông kỉ niệm”, “Phía sau đỉnh Khau Khoang”, “Cánh chim” Các tập

truyện ngắn của chị đều được xuất bản với số lượng lớn và phát cho trẻ em dân

Trang 26

tộc thiểu số trong cả nước Ngoài ra, Ngọc Minh cũng có nhiều tác phẩm đoạt

giải trong các cuộc thi viết như: “Lời hẹn(1997)”; “Dòng sông kỉ niệm(1997)”; “Cánh chim(1999)”; “Sông ngàn lau(2001)”; “Gió xoáy(2004)”; “Gọi nắng(2004)”; “Núi Bó Phạ trở về(2003)”; “Thằng bạn tôi(1995)”; “Mùa lá rụng(2000)”; “Chuyện của đại tá Thi(2001)”… Đoàn

Ngọc Minh sáng tác cả thơ và văn xuôi, và ở cả hai thể loại này, chị đều được ghi nhận bởi bạn đọc Truyện của Đoàn Ngọc Minh luôn phảng phất một nỗi buồn, một sự day dứt trăn trở nhưng vẫn tràn đầy niềm nhân ái, bao dung Tác phẩm của chị không có sự ồn ào, to tát, nhưng với lòng nhiệt tình, sự hiểu biết, vốn kiến thức về quê hương, con người miền núi chị đã chắt chiu, dồn hết tình cảm vào trang văn nên tác phẩm của chị cứ lặng lẽ ngấm dần vào tâm hồn người đọc

Nhìn vào đội ngũ các nhà văn nữ dân tộc thiểu số như đã nói ở trên có thể thấy: Trong khoảng hơn nửa thế kỉ qua, bên cạnh đội ngũ nhà văn nam DTTS thì các nhà văn nữ cũng đã xuất hiện và trưởng thành nhanh chóng cùng với sự lớn mạnh về số lượng và chất lượng tác phẩm Hàng loạt những tác phẩm được ra đời bởi những cây bút thuần thục của các nhà văn DTTS như: Vi Thị Kim Bình, Hà Thị Cẩm Anh, Kim Nhất, Linh Nga Niếk Đam, Kha Thường, Đoàn Thị Ngọc Minh, Niê Thanh Mai, Bùi Thị Như Lan những nữ nhà văn này đã rất tích cực sáng tác và đã có đóng góp vào việc phát triển đội ngũ nhà văn nữ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Những tác phẩm của họ đã góp phần tạo nên một bộ phận văn xuôi giàu tiềm năng, giàu bản sắc trong nền văn học các DTTS Việt Nam hiện đại

Nhà văn nữ DTTS Bùi Thị Như Lan là một trường hợp khá đặc biệt, chị thuộc thế hệ thứ 3 (xuất hiện đầu thế kỷ XXI), và xuất thân từ một quân nhân

Là một nhà văn quân đội, nên những tác phẩm của chị phản ánh những vấn đề

từ cuộc sống đời thường của những người miền núi, đặc biệt là những người phụ nữ có chồng là người lính và bản thân họ là những người lính Là một nhà

Trang 27

văn nữ nhưng Bùi Thị Như Lan đã đi rất nhiều trên mọi miền vùng biên giới phía Bắc Chị viết đều, viết nhiều, chủ yếu là truyện ngắn(8 tập truyện ngắn) Chị rất xứng đáng xếp vào hàng các nhà văn nữ có nhiều đóng góp cho văn xuôi DTTS trong thời kì Đổi Mới

1.2 Nhà văn nữ quân đội dân tộc Tày - Bùi Thị Như Lan

1.2.1 Vài nét về nhà văn Bùi Thị Như Lan

Nhà văn Bùi Thị Như Lan người dân tộc Tày, sinh năm 1967, tại Chợ Đồn, Bắc Kạn Chợ Đồn nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Kạn Chợ Đồn có vị thế chiến lược quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của vùng Việt Bắc Với địa hình hiểm trở, chạy dài suốt phía Bắc và Tây Bắc, có cánh cung sông Gâm với nhiều ngọn núi cao trên 1000 mét Dãy núi Phja Bjóoc hùng vĩ trở thành mái nhà chung của ba huyện: Chợ Đồn, Phủ Thông, Ba Bể Ngoài ra, nơi này còn là căn cứ địa cách mạng quan trọng, được chọn làm nơi xây dựng an toàn khu (ATK) Chợ Đồn là nơi hội tụ, sinh sống của sáu dân tộc anh em, bao gồm: Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Kinh - trong đó dân tộc Tày chiếm 71,3% tổng số dân trong huyện Cộng đồng Tày sống chủ yếu ở vùng thấp và là một dân tộc có bản sắc văn hóa đa dạng phong phú, có truyền thống văn hóa lâu đời Chính vì được sinh ra trong “nôi” văn hóa giàu có, phong phú và lâu đời

đó mà các sáng tác của nhà văn Bùi Thị Như Lan luôn thấm đẫm bản sắc Tày

và mang hơi thở của vùng núi Việt Bắc quê hương

Ngay từ khi còn nhỏ, còn ngồi trên ghế nhà trường, chị đã viết tản văn

với các bài: Thiên nhiên thu, Mùa hoa trẩu, Xuân về trên rẻo cao, sương trên núi hoa… (được đăng trên các báo Thiếu niên, Nhi đồng, tạp chí Thanh Niên)

Lớn lên chị đi học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và đến năm 1989, chị được phân công về dạy tại Trường Thiếu sinh quân Quân khu I Và bắt đầu từ

đó chị trở thành nữ quân nhân

Năm 1999 trong đợt tham gia trại sáng tác Quân khu, chị viết truyện

ngắn Bố ơi đã giành được Giải Ba và gây được sự chú ý của một số độc giả

Trang 28

trong vùng Thành công ngay từ tác phẩm đầu tiên, nhà văn Như Lan như được tiếp “ thêm lửa, thêm nghị lực” để dấn thân vào con đường viết văn đầy nhọc nhằn nhưng cũng đầy thú vị, đầy đam mê

Trong hai năm (2000, 2001), chị cho ra đời một loạt tập truyện ngắn: Núi đợi, Mùa mắc mật, Tiếng chim kỷ giàng (được sáng tác và hoàn thiện trong đợt

tham gia Trại sáng tác của quân đội ở Đồ Sơn) và được in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội

Năm 2003 nhà văn Bùi Thị Như Lan trở thành Hội Viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên Năm 2005, chị chuyển công tác lên làm Báo Quân khu I và cũng trong năm này chị đã được kết nạp vào Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Năm 2006 chị trở thành hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam

Nhà văn Như Lan trở thành nữ nhà văn quân đội như là mối “duyên nợ”

Bố chị là bộ đội, thương binh trong kháng chiến chống Mỹ, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm, chị trở thành giáo viên của Trường Thiếu sinh quân Việt Bắc (1990-2005) Ở ngôi trường đặc biệt này, học sinh là những con em dân tộc thiểu số Việt Bắc - những người lính miền núi tương lai, nên chị có dịp tiếp xúc, hiểu sâu sắc về những đối tượng này Ngoài ra, khi làm Báo Quân khu I,

do đặc thù nghề nghiệp nhà văn đi công tác rất nhiều, đặc biệt là công tác tại 6 tỉnh trong địa bàn của lực lượng vũ trang của Quân khu I, đó là: Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh Những chuyến đi công tác dài ngày ở các tỉnh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn… chị luôn được cùng sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào, lắng nghe nhiều chuyện về cuộc sống của đồng bào miền núi và qua đó, nhà văn có thêm những nguồn tư liệu vô cùng quý giá về cuộc sống, con người cùng các phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc vùng cao

Do sinh ra và lớn lên ở miền núi, nhà văn Bùi Thị Như Lan có một tình yêu đặc biệt với quê hương núi rừng, với đồng bào mình, thấu hiểu và thông

Trang 29

cảm cho cuộc sống của họ Thông qua những tác phẩm của chị, tiếng nói, nỗi lòng của đồng bào dân tộc thiểu số được bộc lộ, qua đó để người đọc hiểu hơn

và thông cảm hơn, cũng như tôn trọng hơn với con người và cuộc sống của đồng bào miền núi

Nhà văn Như Lan đã từng viết: “Chặng đường 14 năm cầm bút sáng tác văn xuôi của tôi chưa phải là dài so vói các bậc nhà văn cao niên, những “cây

đa, cây đề” trong làng văn Thái nguyên như Cố nhà văn Vi Hồng, Nhà văn Ma Trường Nguyên, nhà văn Hà Đức Toàn, nhà văn Hồ Thủy Giang… và những cây bút văn xuôi đàn anh đàn chị “lão luyện” như Ngọc Thị Kẹo, Phạm Đức, Hoàng Luận Thế nhưng điều tôi có thể “trải lòng” đó là tôi luôn đam mê, tâm huyết sáng tác về mảng đề tài Dân tộc-Miền núi Trong đó bản sắc văn hóa dân tộc của quê hương Việt Bắc là một “vỉa quặng” quý hiếm, mà tôi càng đi sâu

khai thác càng thấy ngổn ngang những điều muốn nói, muốn viết.” [14]

Khi hỏi về con đường cũng như nguồn cảm hứng nào đưa chị tới văn

chương? Nhà văn cho rằng: “Tôi sinh ra và lớn lên trong gia đình người dân tộc Tày Tuổi thơ tôi đằm trong tiếng ru, lời hát “lượn khắp”, “lượn cọi” của

bà của mẹ Bà ngoại đã thổi vào tâm hồn tôi những câu truyện cổ tích “ Cổ tích thổ công Bản Mạc” “ Pjạ lấy vợ tiên”, “ Cô quý, cô chèn”… và kể chuyện thơ nôm như “ Slam Péc-Anh Tài, Nam Kim Thị Đan, Khảm Hải, Bjoóc Râm…mang đậm văn hóa vùng miền Những đứa trẻ núi chúng tôi, từ bé đến khi trưởng thành, được sống trong âm hưởng của nền ca dao tục ngữ, thành ngữ phong phú, đậm đà bản sắc, phản ánh những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh của nhân dân lao động chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, chống bất công trong xã hội, cũng như tình yêu đôi lứa, gia đình… đó chính là cái

nôi nuôi dưỡng ước mơ sáng tác văn học của tôi”[14]

Qua lời bộc bạch, Bùi Thị Như Lan đã nói rõ con đường và nguồn cảm hứng để đi đến sự nghiệp văn chương của mình Đó là nguồn cội văn hóa dân

Trang 30

tộc, là tình yêu quê hương miền núi và ý thức trách nhiệm của người cầm bút đối với cuộc sống, con người miền núi chân chính

1.2.2 Bùi Thị Như Lan - nữ nhà văn quân đội miền núi

Nhà văn nữ dân tộc Tày - Bùi Thị Như Lan là mô ̣t nhà văn quân đội (Quân khu Việt Bắc) Vì thế, chị hay viết về đề tài cuộc sống con người miền núi phía Bắc, và nhất là những số phận, cảnh ngộ của những người phụ nữ (có chồng tham gia quân đội) và những người lính DTTS trong đời sống quân ngũ

và cuộc sống đời thường Là một nhà văn nữ còn khá trẻ, khỏe, Bùi Thị Như Lan đã đi và lăn lộn trên khắp mọi miền thuộc biên giới phía Bắc Với niềm đam mê nghiệp văn chương, chị đã viết đều, viết đa dạng các thể loại và chủ

đề, nhưng viết nhiều hơn và thành công hơn cả là thể loại truyện ngắn Chính ở thể loại này chị đã gặt hái được nhiều thành công, được đánh giá cao và đạt được nhiều Giải thưởng từ Trung ương đến địa phương

Năm 1999, với truyê ̣n ngắn đầu tay Bố ơi được in trang tro ̣ng trong Ta ̣p

chí Văn nghệ quân đô ̣i, bước đầu cái tên Bùi Thị Như Lan đã xuất hiện và in dấu trong lòng đô ̣c giả Thành công đầu tiên ấy đã thôi thúc chị dấn thân sâu hơn vào con đường văn chương đầy vất vả, nhọc nhằn nhưng cũng đầy ý nghĩa Nhà văn Như Lan say sưa, miệt mài với sự nghiệp văn chương của mình nên chị đã có một số lượng tác phẩm đáng nể trọng Chă ̣ng đường gần 20 năm cầm

bú t - nhà văn đã cho ra đời một số tác phẩm cụ thể như sau:

+ Tiếng chim ky ̉ giàng,Tâ ̣p truyê ̣n, Nhà xuất bản Quân đô ̣i, 2004

+ Mu ̀ a hoa mắc mật, Tập truyện, Nhà xuất bản Thanh niên, 2005

+ Hoa mi ́a,Tâ ̣p truyê ̣n , Nhà xuất bản Thanh niên, 2006

+ Lơ ̀ i sli bay cao, Tập truyện, Nhà xuất bản Quân đô ̣i, 2007

+ Bồng bềnh sương núi, Tập truyện, Nhà xuất bản Dân tộc 2009

+ Cọn nước đôi, Tập truyện, Nhà xuất bản Quân đội 2012

+ Mùa hoa Bjoóc phạ, Tập truyện, Nhà xuất bản Kim đồng 2013

+ Tiếng ke ̀ n pílè, Tâ ̣p truyê ̣n, Nhà xuất bản Quân đội năm 2015

Trang 31

+ Tập ký : Những con đường lặng im sau tiếng súng (2016)

Các tác phẩm của chị đã đa ̣t đươ ̣c nhiều Giải thưởng như:

- Giả i Ba, Truyê ̣n ngắn Bố ơi! Cuô ̣c thi viết truyê ̣n ngắn trong đời bộ

đội của Tổng cu ̣c Chính tri ̣ (1999)

- Giả i Ba (Không có giải Nhất), truyê ̣n ngắn Núi đợi,(Cuô ̣c thi viết

truyê ̣n ngắn, Ta ̣p chí Văn nghệ Quân đô ̣i (2001-2002)

- Giả i Nhì, truyê ̣n ngắn Gió hoang, (cuô ̣c thi sáng tác truyê ̣n ngắn và

bu ́ t kí, Ta ̣p chí văn hóa các dân tô ̣c (2004))

- Giả i C, Tâ ̣p truyê ̣n Hoa mía, (Hô ̣i Văn ho ̣c nghê ̣ thuâ ̣t các dân tô ̣c

thiểu số Việt Nam (2006))

- Giả i A, Tâ ̣p truyê ̣n ngắn Tiếng chim kỷ giàng,(Tổng kết 5 năm truyê ̣n

ngắn Tha ́ i Nguyên (2007))

- Giải Ba truyện ngắnMùa hoa Bjoóc phạ,(cuộc thi viết truyện ngắn,

bút ký do Hội Nhà văn phối hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo tổ chức,(Năm 2013)…

- Trong tập truyện Tiếng kèn pílè có mô ̣t số truyê ̣n được phát trên đài

phát thanh Việt Nam như: Lời sli trôi trong trăng, Bạn toồng… Ngoài ra chị

còn một số tác phẩm được in trên Ta ̣p chí văn nghệ Quân đô ̣i (như: Gió thổi qua rư ̀ ng, Tiếng kèn pílè…) và in trên Báo văn nghệ Công an (như: Hắn, Lá bùa đỏ…)

Là nhà văn quân đội, Bùi Thị Như Lan cũng những quan điểm riêng, cách viết riêng để có được những tác phẩm mang nét riêng, độc đáo Theo nhà văn thì vấn đề quan thiết nhất đối với các nhà văn và các cây bút đó chính là tư duy,

là tài năng, sự tâm huyết và sự lựa cho ̣n đề tài Tài năng của nhà văn là yếu tố hàng đầu để có tác phẩm hay Đó là ha ̣t giống, nhưng để ha ̣t giống đó nảy mầm, ra hoa, kết trái, phải phu ̣ thuô ̣c vào mảnh đất gieo trồng Mảnh đất ấy chính là cô ̣i nguồn văn hóa, là môi trường sáng tác của mỗi nhà văn, để rồi bằng vốn sống được tích

lũy bằng tình cảm sâu sắc và cách tiếp câ ̣n và khai thác các đề tài miền núi tâm đắc

Trang 32

nhất Có lối tư duy đầy sáng tạo thì nhà văn sẽ cho ra đời tác phẩm mang hơi thở, hương sắc và đặc trưng của cuô ̣c sống vùng miền với những con người cụ thể trong những hoàn cảnh sống cụ thể

Vớ i Bùi Thị Như Lan, cô ̣i nguồn và môi trường sống của chị chính là thiên nhiên núi rừng và cuộc sống của đồng bào các DTTS vùng cao Viê ̣t Bắc Trong đó, tinh hoa văn hóa và nét đe ̣p truyền thống nằm trong ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc; là phong tu ̣c tâ ̣p quán và trong các tín ngưỡng dân gian, trong các lễ hội cổ truyền và trong vốn văn hóa văn nghê ̣ dân gian phong phú đặc sắc của các dân tộc vùng miền núi… Đó chính là nguồn sữa nuôi dưỡng sự đam mê, sự trưởng thành trong sự nghiệp văn chương của nhà văn

Khi sáng tác điều mà nhà văn luôn phải quan tâm đó là việc phải bám sát sự đổi thay của cuộc sống ở miền núi, của con người vùng cao trong các giai đoạn lịch

sử cụ thể, đặc biệt là trong thời kì Đổi Mới và hội nhâ ̣p quốc tế Các sáng tác văn

học nếu “bám rễ” vào cuộc sống mới thì mới nêu bật được cái hay, cái đe ̣p, những thành quả của khoa học kĩ thuật, mối giao thoa giữa các nền văn hóa trong cô ̣ng đồng và cả cái khiếm khuyết, cái mặt trái của cuộc sống hiê ̣n ta ̣i đang trên đà chuyển động, đổi mới và phát triển Đó là nhiê ̣m vụ và trách nhiệm của người cầm

bú t Và khi tác phẩm đi sâu vào đời sống của đồng bào vùng cao, khám phá cái hay, cái đẹp, cái được, cái mất… trong sự đổi thay xã hội đối với từng số phận con người vùng cao - thì khi ấy mới có giá trị, mới có sự đóng góp vào việc giữ gìn phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, sức sống của dân tộc trong thời kỳ hiện đại và hội nhập

Để phản ánh thực tra ̣ng cuộc sống và sự phát triển của thời đa ̣i, khi sáng tác Bùi Thị Như Lan đi sâu vào nhiều khía ca ̣nh, góc độ của cuộc sống, khai thác các hoàn cảnh, các thân phận của nhiều đối tượng con người khác nhau với các tính cách, phẩm chất khác nhau, tạo nên sự đa dạng, phong phú trong thế giới nhân vật Bên cạnh đó chị luôn chú ý đến cách miêu tả, cách xây dựng nhân vật, cách sử dụng ngôn ngữ mang đậm màu sắc dân tộc miền núi… nên tác phẩm của chị luôn có cái mới, cái lạ, bên cạnh cái quen, nên luôn có sức hấp dẫn đối với người đọc

Trang 33

Đề tài xuyên suốt trong các sáng tác của chị số phận của những người dân miền núi thời kì sau chiến tranh và thời kì hiện đại hóa, hội nhập quốc tế Vấn đề

mà nhà văn thường đề cập là sự khó khăn, sự éo le trong cuộc sống, trong tình yêu, trong gia đình củ a con người sau chiến tranh Ví dụ như các tác phẩm: Chiếc vòng

ba ̣c hình đôi chim nộc phầy, Mùa hoa gắm, Bố ơi, Hoa mía, Gió hoang,… viết về

các nội dung: những đôi trai gái miền núi yêu nhau, chưa lấy nhau thì phải chia tay nhau để người con trai ra chiến trường, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đến khi trở về thì

có thể chỉ còn là: một cơ thể không lành lặn, hoặc là họ không thể trở về, hoă ̣c người yêu (vợ) lại đi lấy người khác…; hoặc có sự bất trắc, éo le trong cuộc sống thường ngày với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và sự mê muội, mê tín của con

người miền núi Ví dụ như: Câu chuyện nhà Ké Pản đang sống rất ha ̣nh phúc,

nhưng do ha ̣n hán liên miên, do hủ tục và sự mê muội của người dân, người vợ xinh đẹp của Ké Pản bỗng trở thành na ̣n nhân, làm vâ ̣t tế thần, dẫn đến gia đình li tán; hoặc có sự éo le bởi sự yếu đuối, không vượt qua nổi thử thách của lòng người (do không thắng được dục vo ̣ng tầm thường mà người anh rể quan hê ̣ với em vợ) để rồi cuối cù ng gia đình đổ vỡ, tan nát như trong truyện “Hoa Mía”…

Nhà văn Bùi Thi ̣ Như Lan là một nhà văn nữ rất hay viết về các nhân

vật là người phụ nữ miền núi với các số phận khác nhau Hàng loạt các nhân vật, với bao số phận, thân phận với các hoàn cảnh khác nhau được hiện lên trong các tác phẩm của chị Các nhân vật phụ nữ miền núi với những tính cách khác nhau, những số phận khác nhau, nhưng ở họ luôn toát lên vẻ đẹp tự nhiên, một vẻ đẹp hồn hậu, khỏe khoắn, luôn khát khao một cuộc sống bình yên, hạnh phúc và luôn sẵn sàng hi sinh hết mình vì những người thân yêu của mình, nhưng cũng sẵn sàng “xù lông như những con nhím” khi bị dồn đẩy vào bước đường cùng của cuộc sống Đây cũng chính là một phát hiện, một đóng góp đáng trân trọng của Bùi Thị Như Lan qua các sáng tác của mình

Ngòi bút của nhà văn Bùi Thị Như Lan đã phác thảo nên bức tranh sinh

đô ̣ng về con người cùng với những nét văn hóa trong cuộc sống của các cộng

Trang 34

đồng dân tộc ở vùng núi phía Bắc Ở đó có những vỉa tầng văn hóa được hun đúc qua nhiều thế hê ̣ với những phong tục tập quán đa dạng, phong phú và đặc sắc của các tộc người miền núi; với những lối sống, nếp sống văn hóa miền núi đươ ̣c ẩn chứa trong những nếp nhà sàn ven núi, trong các hoạt động cộng đồng DTTS, trong cách ứng xử của đồng bào với thiên nhiên, rừng núi quê hương

Với những sáng tạo không ngừng, với những trang viết thấm đẫm tình người miền núi, thấm đẫm lòng tự hào về con người và quê hương miền núi, cùng những trăn trở, băn khoăn, đau đớn, xót xa của một người đã từng gắn bó máu thịt với cuộc sống và con người miền núi trong thời kì hiện đại hóa và hội nhập - nhà văn Bùi Thị Như Lan để có những tác phẩm chân thực, cảm động lòng người – chị đã khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ các nhà văn

nữ DTTS nói riêng, trong đội ngũ các nhà văn DTTS nói chung Chị xứng đáng nhận được sự trân trọng và lòng yêu mến của bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc vùng trung du miền núi phía Bắc; và xứng đáng được đánh giá là một cây bút nữ DTTS có những đóng góp trong văn học DTTS thời kì Đổi Mới ở miền núi hôm nay

TIỂU KẾT

Bức tranh miền núi và cuộc sống của đồng bào dân tộc qua ngòi bút của các nhà văn DTTS đang ngày càng chiếm được ưu thế hơn bao giờ hết Nếu như trước năm 1945 văn xuôi của các tác giả người DTTS hầu như chưa xuất hiện, thì từ sau năm 1945 văn xuôi ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn cả về số lượng và chất lượng Vấn đề được hướng đến ở đây đó là những khó khăn, sự nghèo đói của người dân vùng cao…

Điều đáng quan tâm hơn cả chính là về đội ngũ nhà văn DTTS; hơn 30 năm của công cuộc Đổi mới, đội ngũ nhà văn đã được trẻ hóa và chất lượng cầm bút cũng đạt ở trình độ cao Nếu như trước chủ yếu là những cây bút nam

Trang 35

DTTS thì cho tới thời kì này xuất hiện rất nhiều các cây bút nữ; họ đều là những cây bút tiêu biểu của văn học DTTS Trong đội ngũ nhà văn nữ đó nổi lên nhà văn trẻ Bùi Thị Như Lan – chị là nhà văn quân đội, lăn lộn trên khắp mọi miền thuộc biên giới phía Bắc Với niềm say mê và lòng nhiệt huyết chị đã cho ra đời 8 tập truyện ngắn và 1 tập bút kí; chủ yếu đều viết về con người và cuộc sống miền núi Đó là bức tranh sinh động, nhiều màu sắc về nét văn hóa trong cuộc sống của người DTTS

Chính sự say mê đó đã khiến Bùi Thị Như Lan có được những tập truyện ngắn đặc sắc và cảm động đến độc giả đến vậy Chị xứng đáng là một cây bút văn xuôi DTTS trẻ với nhiều đóng góp cho nền văn học nói chung và văn xuôi DTTS nói riêng

Trang 36

Chương 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BÙI THỊ NHƯ LAN

Trong các sáng tác của Bùi Thị Như Lan xuất hiện nhiều loại nhân vật khác nhau, gồm các thành phần, các lứa tuổi khác nhau( người lớn, trẻ em, phụ

nữ, nam giới, nông dân, bộ đội, người trí thức…), nhưng nhân vật phụ nữ luôn chiếm một tỷ lệ rất cao trong sáng tác của chị Theo khảo sát của chúng tôi thì:

Có đến 60/66 truyện (trong tổng số các truyện trong 8 tập Truyện ngắn của chị) viết về người phụ nữ với các lứa tuổi, với các thân phận khác nhau Có thể khẳng định: Hình tượng người phụ nữ DTTS đã trở thành hình tượng nhân vật chính trong tất cả sáng tác của Bùi Thị Như Lan Chị đã dồn nhiều tâm huyết, tình cảm, tài năng của mình để xây dựng hình tượng nhân vật này Và cũng chính hình tượng nhân vật này đã thể hiện rất rõ tư tưởng nghệ thuật, cũng như tài năng văn chương và tình cảm của chị đối với người phụ nữ DTTS

Khi viết về các nhân vật phụ nữ DTTS, nhà văn Bùi Thị Như Lan đã rất chú ý đến việc khắc họa, miêu tả vẻ đẹp ( bên ngoài cũng như bên trong) của

họ - với sự quan sát sắc sảo, với tình cảm yêu quý, trân trọng và sự cảm thông sâu sắc Có lẽ do chị cũng là một người phụ nữ miền núi, nên sự hiểu biết, sự nhìn nhận, sự miêu tả…những nhân vật này trong tác phẩm của chị trở nên sinh động, chân thật và cảm động Qua ngòi bút của chị, hình tượng người phụ nữ DTTS được hiện lên với những vẻ đẹp, nét đẹp cụ thể, sinh động, chân thật, đáng quý Vẻ đẹp đó trước hết được thể hiện ở việc miêu tả về ngoại hình và nội tâm của các nhân vật phụ nữ này

2.1 Hình tượng người phụ nữ dân tộc thiểu số trong truyện ngắn Bùi Thị Như Lan

Các nhân vật phụ nữ trong tác phẩm của Bùi Thị Như Lan xuất hiện một cách khá đậm đặc với những số phận khác nhau, với những hoàn cảnh khác nhau và chiếm một tỷ lệ rất cao (60/66 truyện) Họ là những người con gái

Trang 37

miền núi xinh đẹp, duyên dáng, hồn nhiên như những bông hoa rừng tươi mát;

họ là những người phụ nữ khỏe mạnh, chịu thương, chịu khó, đảm đang công việc gia đình và công việc làng bản; họ là những người mẹ, người vợ tảo tần, đảm đang, chung thủy Họ xuất thân từ những vùng nông thôn miền núi, những người phụ nữ chỉ biết đến làm ruộng, làm rẫy, quanh quẩn với nếp nhà sàn, với làng bản, núi rừng Và phần lớn trong họ đều là những người có số phận kém may mắn Nhưng điều đáng quý ở những người phụ nữ này là họ chưa bao giờ mất đi niềm tin vào cuộc sống Họ đối mặt với lạc hậu, nghèo nàn, với những khó khăn đang giăng mắc trước mắt nhưng vẫn cố vươn lên và mong muốn có được một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn

2.1.1 Người phụ nữ miền núi với vẻ đẹp khỏe mạnh, tự nhiên, rực rỡ, đậm chất dân tộc và miền núi

Hình ảnh người phụ nữ miền núi trong tác phẩm của Bùi Thị Như Lan luôn được hiện lên với một vẻ đẹp mang đậm màu sắc dân tộc và miền núi - một vẻ đẹp khỏe mạnh, tự nhiên, rực rỡ, tươi mát, trong trẻo Vẻ đẹp ấy làm

rung động lòng người: “… khuôn mặt tròn như trăng rằm, đôi mắt đen láy giấu dưới hàng mi dày lua tua, ngờm ngợp, đến cái miệng đỏ tươi như màu quả mác

lừ trên núi, mỗi khi cười để lại lúm đồng xu xoáy nước cuộn lại mọi điều bí mật ”[20,tr55-56] Vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết đó lôi cuốn, làm say đắm bao chàng trai trẻ miền núi đến độ: “Vẻ đẹp đằm thắm của mé làm cho nhiều thằng trai trong vùng phải ngẩn ngơ, thay hết ống sáo trúc này tới ống sáo trúc

khác để thả lời yêu say đắm” [21,tr66] Trong mắt các chàng trai miền núi, họ đẹp như: “con chim đẹp, nói giỏi, hát hay” [20,tr56]; vẻ đẹp ấy tỏa sáng giữa

núi rừng, rực rỡ, đầy sức cuốn hút: “Cái đẹp thoát ra thầm kín từ lời nói, bước

đi, từ đôi mắt tròn đen thăm thẳm mặn mà Ánh mắt tụi con trai xoáy sâu mãi vào cái cổ ba ngấn trắng ngần mầu hoa bật bông mà mơ tưởng đắm đuối”,

“Trăng đêm dát bạc đổ tràn vào người chị Đôi má chị chín đỏ, mồ hôi, nước mắt tong tả đầy vơi lòng cối ” [20,tr121]…

Trang 38

Bùi Thị Như Lan thường lấy vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng làm chuẩn mực so sánh với vẻ đẹp của người phụ nữ miền núi, nên hình ảnh người phụ nữ

ở đây được hiện ra với những gì bình dị nhất, nhưng cũng rực rỡ, tươi sáng

nhất Ví dụ như khi tác giả miêu tả vẻ đẹp của Dín: “Nước da Dín mịn màng trắng như hoa mơ, hoa mận đến độ nở rộ, mỗi khi khóm lửa bên bếp, lửa cũng

tí tách hờn ghen vì màu hồng trên đôi má Dín Khi cười, Dín khoe hàm răng trắng đều như bắp nếp để lại trên má hai đồng xu duyên dáng mặn mà Dín như con ong cần mẫn Nương ngô, nương lúa nhà Dín, tay Dín làm cả thôi Ngô xanh mướt mát, mập mạp rủ nhau trổ cờ, tung phấn chồi bắp mẹ, bắp con Lúa nặng bông trĩu hạt từ gốc lên ngọn đến độ vàng óng chụm đầu vào nhau, lắc lư theo điệu nhảy của ngọn gió rừng, dắt tay nhau về bíu chặt xà ngang, xà dọc” [20.Tr166-167]; Hay khi miêu tả vẻ đẹp của người mẹ tuy rất vất vả, tảo tần nhưng vẫn sáng lên vẻ đẹp tự nhiên, khỏe mạnh, cuốn hút đến lạ kì: “Mế Ngần nổi tiếng là bông hoa đẹp trong vùng Đôi mắt mế to đen, trong vắt như nước hồ Nặm Poọc Mái tóc đen mượt óng ả, ôm lấy tấm lưng ong mềm mại Khi gội đầu, tóc xõa ra, dài như dòng suối Lùng cuối bản” [17,tr49]

Sở hữu vẻ đẹp hình thức bên ngoài đến độ “bếp lửa cũng tí tách hờn ghen, nhưng đáng quý hơn là: Ở họ còn có những vẻ đẹp bên trong đầy hấp dẫn, đó là: Vẻ đẹp của đôi bàn tay khéo léo, của sự chăm chỉ, kiên trì của những người phụ nữ vùng cao, những người dệt nên những bộ váy áo, những

tấm chăn, chiếc khăn, chiếc địu đẹp rực rỡ…: “Ở miền núi quê tôi, đàn bà con gái được đo sự khéo tay bằng mền chăn ấm, những bộ quần áo váy sặc sỡ hay tấm vải mịn màng đi chợ thị trấn Khau Luổng Mẹ tôi còn khéo tay hơn những người đàn bà khác trong bản Mẹ lên rừng tìm lá cây, nhuộm sợi nhiều màu đựng đầy các quẩy tấu Mẹ dệt con hươu, con nai, con chim noộc só uống nước suối Nặm Só, mẹ dệt con gấu ngồi trên cây tìm mật ong, mẹ dệt hình ông mặt trời, hình chị mặt trăng đậu trên ngọn núi Phia Sao và cả hình người cưỡi ngựa đi săn ở trong rừng ” [17,tr119]

Trang 39

Người phụ nữ miền núi được miêu tả với vẻ đẹp của đức tính cần cù, chịu khó, của đôi bàn tay khéo léo và óc thẩm mỹ cao Ngoài những công việc nương, rẫy, gia đình, làng bản ra thì người phụ nữ còn rất khéo léo dệt vải để làm chăn, làm váy, áo… Họ lên rừng tìm lá, nhuộm sợi, dệt vải, thêu hoa… để

có được những mảnh vải sặc sỡ và bền màu cho gia đình và cho bản thân Qua việc miêu tả vẻ đẹp trong sáng và hồn hậu, đáng yêu ấy của họ nhà văn đã thể hiện được tình yêu, lòng tự hào của một người con gái miền núi – lúc nào cũng gửi trọn tình cảm của mình về quê hương, về cộng đồng DTTS của mình

Nhà văn còn chú ý khắc họa về vẻ đẹp của giọng hát, của điệu ru, của tiếng kèn lá… ngọt ngào, thánh thót như chim rừng của họ khiến cho con người

và cả thiên nhiên cũng ngây ngất: “Seo Mây như con chim công đẹp cả bộ lông lẫn tiếng hót Cái miệng Seo Mây hút hồn ông hết mùa mía này đến mùa mía khác” [20,tr73-74]; “đầu gối, bàn tay chị trầy trật, rớm máu là lúc tiếng khèn

lá, tiếng hát giao duyên gọi bạn từ bên kia bờ suối thong thả cất lên Khuôn mặt chị tôi thoắt ửng hồng ngời ngợi như được dệt bằng luồng sáng huyền ảo Giây lát ấy, tôi ngỡ tưởng chị là nàng tiên núi vừa bước ra từ thế giới cổ tích chị kể đêm đêm Chị tôi kể nhiều chuyện lắm, giọng chị ấm áp vời vợi”[20,tr107 – 108]

Qua cách miêu tả vẻ đẹp bên ngoài cũng như vẻ đẹp bên trong của người phụ nữ miền núi, ta thấy rõ khả năng quan sát, nghệ thuật miêu tả cùng với lối

ví von, so sánh đậm chất dân tộc và miền núi của tác giả Như Lan Chính những kinh nghiệm sống và sự trải nghiệm từ thực tiễn vô cùng phong phú và phức tạp đã khiến cho chị có được những trang văn đầy cảm xúc và có ý nghĩa hiện thực sâu sắc, đa chiều – thong qua việc miêu tả hình ảnh những người phụ

nữ dân tộc thiểu số với những số phận, hoàn cảnh khác nhau này

Đọc tác phẩm của Bùi Thị Như Lan, ta nhận thấy: những nhân vật phụ

nữ trong tác phẩm của chị dù ở hoàn cảnh nào, dù có số phận khác nhau như

thế nào thì ở họ vẫn luôn ánh lên một vẻ đẹp đáng trân trọng và cảm động Ví

Trang 40

dụ trong tác phẩm “Chiếc vòng bạc hình đôi chim Noộc Phầy”, do hoàn cảnh

chiến tranh tàn khốc nên bao đôi lứa yêu nhau, chưa kịp cưới xin đã phải xa nhau Hoàn cảnh trớ trêu khi người con gái một mình sinh con, nuôi con, bên nhà nội thì không chấp nhận con dâu và không nhận cháu Người mẹ trẻ bị dân làng cười chê, khinh rẻ Người mẹ lúc này đã âm thầm chịu đựng, nén buồn đau, dành tất cả tình yêu cho đứa con nhỏ Chị cô đơn, trống vắng, oan ức mà vẫn phải gánh vác mọi công việc của gia đình, của làng bản – nhưng vẫn không

được đối xử công bằng, vẫn bị khinh bỉ: “Tôi nhận ra sự thiếu vắng đàn ông ngay trong ngôi nhà của mình Cái “lìn” đựng nước bị vỡ một miếng vẫn phải dùng vì không có ai thay, máng dẫn nước từ đầu nguồn về cây đỡ xiêu vẹo, tạm

bợ Cái chuồng ngựa xộc xệch tưởng chừng như một cơn gió chạy qua là đổ ụp xuống….Trong nhà đã khổ rồi, nhưng đối với người cùng họ hay người bản cái khổ mế tôi cõng trên lưng dường như nặng gấp trăm gấp ngàn lần Những lúc có việc lớn họp họ, đàn bà con gái chỉ quanh quẩn lo bếp núc, bát đĩa, nước sôi, đàn ông bảo sao nghe thế, không thuận tai, không ưng cái bụng cũng không được tham gia Tôi biết mế con tôi cái gì cũng phải chịu thua kém người trong họ, ngoài bản…”[20,tr8] Rồi chính những khó khăn chất chồng đè nặng trên đôi vai nhỏ bé của người phụ nữ đã khiến họ trở nên khắc khổ, già nua đi nhanh chóng: “Trên khuôn mặt kín vết nhăn, mái tóc nhuộm màu đá vỡ”, “Đẽo gọt, mài mòn mế tôi đến nỗi còn ra bọc xương Dấu vết khắc nghiệt của tuổi tác đè nặng lên người mế không nấn ná, không buông tha” [20,tr15]

Bùi Thị Như Lan đã biến mỗi một câu chuyện thành một bức tranh phác thảo chân dung về người phụ nữ với những hình hài và dáng dấp khác nhau Những bức tranh nhiều mầu sẫm, tối khiến người đọc luôn xúc động, thương

cảm: “Những ngày bố đi vắng cần cối gãy chỏng chơ nằm đấy Mế không muốn

đi giã gạo nhờ, phiền lắm Mế phải giã gạo bằng tay cả buổi mới được cối gạo Chị Ngải ăn cơm là nuốt cả vị mồ hôi mặn mòi của mế Nhà vắng đàn ông khổ thế, việc gì cũng đến tay mế”[20,tr110]…

Ngày đăng: 13/10/2017, 14:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. La ̣i Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngư ̃ văn học, NXB ĐH quố c gia Ha ̀ Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: La ̣i Nguyên Ân
Nhà XB: NXB ĐH quố c gia Hà Nô ̣i
Năm: 2004
2. Ngọc Bái, Văn học với đề tài miền núi, dân tộc, Nguồn: Nhandan.com.vn 3. Nông Quốc Chấn (1995), Văn học các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hóa dântộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học với đề tài miền núi, dân tộc", Nguồn: Nhandan.com.vn 3. Nông Quốc Chấn (1995), "Văn học các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Ngọc Bái, Văn học với đề tài miền núi, dân tộc, Nguồn: Nhandan.com.vn 3. Nông Quốc Chấn
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1995
4. Nông Quốc Chấn (1998), Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
5. Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các DTTS Việt Nam thế kỷ XX, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các DTTS Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
6. Ha ̀ Minh Đức (2006), Li ́ luận văn học, NXB gia ́o dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Ha ̀ Minh Đức
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2006
7. Ha ̀ Minh Đức, Lê Bá Hán (1995), Cơ sở lí luận văn học tập II, NXB Đa ̣i ho ̣c và Trung ho ̣c chuyên nghiê ̣p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận văn học tập II
Tác giả: Ha ̀ Minh Đức, Lê Bá Hán
Nhà XB: NXB Đại học và Trung ho ̣c chuyên nghiê ̣p
Năm: 1995
8. Hồ Thủy Giang (2004), Tiểu thuyết Thái Nguyên, văn học Thái Nguyên - tác giả và tác phẩm, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Thái Nguyên, văn học Thái Nguyên - tác giả và tác phẩm
Tác giả: Hồ Thủy Giang
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
14. Hội văn học nghệ thuật các DTTS tỉnh Thái Nguyên (2011), Hội văn học nghệ thuật các DTTS tỉnh Thái Nguyên (2011), Hội thảo văn học nghệ thuật các DTTS Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội văn học nghệ thuật các DTTS tỉnh Thái Nguyên (2011)
Tác giả: Hội văn học nghệ thuật các DTTS tỉnh Thái Nguyên (2011), Hội văn học nghệ thuật các DTTS tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2011
15. Hội văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam (2004), Hội văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam - đời và văn, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam - đời và văn
Tác giả: Hội văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
16. Vi Hồng (1980), "Bước phát triển mới của văn học các dân tộc ít người Việt Nam; con đường trữ tình đến văn xuôi kịch bản", Tạp chí văn học, số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước phát triển mới của văn học các dân tộc ít người Việt Nam; con đường trữ tình đến văn xuôi kịch bản
Tác giả: Vi Hồng
Năm: 1980
17. Bùi Thi ̣ Như Lan (2004), Tiếng chim Ky ̉ Giàng , Tâ ̣p truyê ̣n ngắn, NXB QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng chim Kỷ Giàng
Tác giả: Bùi Thi ̣ Như Lan
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 2004
18. Bùi Thi ̣ Như Lan (2005), Mùa hoa mắc mật, Tập truyê ̣n ngắn, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa hoa mắc mật
Tác giả: Bùi Thi ̣ Như Lan
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2005
19. Bùi Thi ̣ Như Lan (2006), Hoa mi ́a, Tâ ̣p truyê ̣n ngắn, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa mía
Tác giả: Bùi Thi ̣ Như Lan
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2006
20. Bùi Thi ̣ Như Lan (2007), Lời Sli vắt ngang núi, Tập truyê ̣n ngắn, NXB QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời Sli vắt ngang núi
Tác giả: Bùi Thi ̣ Như Lan
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 2007
21. Bùi Thi ̣ Như Lan (2011), Bồng bề nh sương núi, Tâ ̣p truyê ̣n ngắn, NXB Văn ho ́a Dân tô ̣c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồng bề nh sương núi
Tác giả: Bùi Thi ̣ Như Lan
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tô ̣c
Năm: 2011
22. Bùi Thi ̣ Như Lan (2012), Cọn nươ ́ c đôi, Tập truyê ̣n ngắn, NXB QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cọn nướ c đôi
Tác giả: Bùi Thi ̣ Như Lan
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 2012
23. Bùi Thị Như Lan (2013), Mùa hoa Bjooc Phạ, Tập truyện ngắn, NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa hoa Bjooc Phạ
Tác giả: Bùi Thị Như Lan
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2013
24. Bùi Thị Như Lan (2015), Những con đường sau lặng im tiếng súng, Bút kí, NXB Giao Thông Vận Tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những con đường sau lặng im tiếng súng
Tác giả: Bùi Thị Như Lan
Nhà XB: NXB Giao Thông Vận Tải
Năm: 2015
25. Bùi Thị Như Lan (2015), Tiếng kèn Pí lè, Tập truyện ngắn, NXB QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng kèn Pí lè
Tác giả: Bùi Thị Như Lan
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 2015
26. Phong Lê (1985), 40 năm văn hóa nghệ thuật các DTTS Việt Nam 1945 - 1985, NXB Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 năm văn hóa nghệ thuật các DTTS Việt Nam 1945 - 1985
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB Văn hóa Hà Nội
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w