Những biện pháp này tuy đơn giản nhưng đem lại hiệu quả rõ ràng.V.Mencl đã tính chỉ cần giảm một thể tích khối lượng đi 4% ở phần trên taluylàm hệ số ổn định bờ dốc tăng thêm 10%: Việc t
Trang 1Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo hướng dẫn, PGS TSTrần Thị Kim Đăng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợicho tôi trong quá trình làm luận văn vừa qua.
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Đường bộ và Công
ty Cổ phần JIVC đã cung cấp cho tôi những tài liệu chuyên sâu để hoàn thiệnluận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôitrong khóa học này
Trang 2Hình 1-1 Làm thoải taluy – Bóc bỏ lớp đất đá trên đỉnh taluy 4
Hình 1-2 Làm ta luy có nhiều bậc nhỏ 5
Hình 1-3 Đắp bệ phản áp phía chân ta luy 5
Hình 1-4 Ta luy đá dùng lưới thép phủ bê tông xi măng ở ngoài 7
Hình 1-5 Ứng dụng Mantay ray trong tường chắn có cốt 8
Hình 1- 6 Tường chắn xếp rọ đá 9
Hình 1-7 Tính toán ổn định theo R.N.Morgenstern 11
Hình 1- 8 Tính toán ổn định theo C.Culmann 13
Hình 1- 9 Tính toán ổn định theo Z.Sobotka 14
Hình 1-11 Phương pháp đa giác lực của G.M.Sakhunhjanxh 19
Hình 1-12 Phương pháp tải trong thừa 20
Hình 1-13 Ta luy có nhiều mặt trượt 21
Hình 1-14 Tính toán ổn định ta luy đất đồng nhất () 22
Hình 1-15 Xác định tâm cung trượt nguy hiểm nhất () 23
Hình 1-16 Tính toán ổn định kể đến ảnh hưởng của khe nứt 24
Hình 1-17 Tính toán ổn định cho ta luy đất đồng nhất (điều kiện ) có kể đến động đất 25
Hình 1-18 Xác định tâm trượt nguy hiểm nhất trong ta luy đất đồng nhất có 26
Hình 1-19 Xác định vùng tâm cung trượt nguy hiểm nhất 27
Hình 1-20 Tính toán ổn định bằng phương pháp phân mảnh thông thường 28
Hình 1-21 30
Hình 1-22 Biểu đồ ổn định của Taylor, khi 31
Hình 1-23 Biểu đồ ổn định của Taylor, khi 32
Hình 2-1 Vật liệu chèn lấp neoweb 38
Hình 2-2 Cấu tạo ô ngăn hình mạng Neoweb 42
Hình 2-3 Phân loại Neoweb theo màu sắc 43
Bảng 2-1 43
Hình 2-4 Các ứng dụng tiêu biểu của ô ngăn hình mạng Neoweb 45
Trang 3Hình 2-6 Dự án gia cố mái dốc Neoweb- Đà Nẵng 48
Hình 2-7 Dự án gia cố mái dốc Neoweb- Mê Linh, Hà Nội 49
Hình 2-8 Dự án gia cố mái kênh tưới - Phú Thọ 51
Hình 2-9 Dự án tường chắn và bảo vệ mái dốc Neoweb- TP Đà Lạt, Lâm đồng .52
Hình 2-10 Dự án tường chắn và bảo vệ mái dốc Neoweb- Tapao, Bình Thuận 55 Hình 2-11 Một số tồn tại trong sạt lở bề mặt ta luy [5] 56
Hình 2-12 Gia cố mái dốc “XANH” [5] 56
Hình 3-1 Kết cấu Neoweb bảo vệ mái dốc 57
Hình 3-2 Mô hình tính toán kết cấu Neoweb bảo vệ mái dốc 58
Hình 3-3 Tính toán mái dốc gia cố đỉnh 60
Hình 3-4 bảo vệ mái dốc với hệ thống neo 61
Hình 3-5 Mô hình kiểm toán ổn định vật liệu chèn lấp 62
Bàng 3-1: Thuộc tính cơ lý - độ cứng và cường độ 63
Bảng 3-2: Độ ổn định hình dạng kích thước 64
Bảng 3-3: Đặc trưng làm việc ở nhiệt độ cao 64
Bảng 3-4: Độ bền Oxi hoá và quang hoá 64
Bảng 3-5 Chọn số lượng ghim 71
Bảng 3-6 Khoảng cách giữa các cọc neo 72
Hình 3-6 Các bước thi công 74
Hình 3.7 Sơ đồ tính hệ số ổn định theo W.Fellenius 77
Bảng 3-7 Bảng tính hệ số ổn định của mái taluy 77
Bảng 3-8 Lựa chọn ô ngăn Neoweb 78
Bảng 3-9 Bảng thống kê vật liệu chèn lấp và mái taluy 78
Trang 4Bảng 2-1 43
Bàng 3-1: Thuộc tính cơ lý - độ cứng và cường độ 63
Bảng 3-2: Độ ổn định hình dạng kích thước 64
Bảng 3-3: Đặc trưng làm việc ở nhiệt độ cao 64
Bảng 3-4: Độ bền Oxi hoá và quang hoá 64
Bảng 3-5 Chọn số lượng ghim 71
Bảng 3-6 Khoảng cách giữa các cọc neo 72
Bảng 3-7 Bảng tính hệ số ổn định của mái taluy 77
Bảng 3-8 Lựa chọn ô ngăn Neoweb 78
Bảng 3-9 Bảng thống kê vật liệu chèn lấp và mái taluy 78
Trang 5Hình 1-1 Làm thoải taluy – Bóc bỏ lớp đất đá trên đỉnh taluy 4
Hình 1-2 Làm ta luy có nhiều bậc nhỏ 5
Hình 1-3 Đắp bệ phản áp phía chân ta luy 5
Hình 1-4 Ta luy đá dùng lưới thép phủ bê tông xi măng ở ngoài 7
Hình 1-5 Ứng dụng Mantay ray trong tường chắn có cốt 8
Hình 1- 6 Tường chắn xếp rọ đá 9
Hình 1-7 Tính toán ổn định theo R.N.Morgenstern 11
Hình 1- 8 Tính toán ổn định theo C.Culmann 13
Hình 1- 9 Tính toán ổn định theo Z.Sobotka 14
Hình 1-11 Phương pháp đa giác lực của G.M.Sakhunhjanxh 19
Hình 1-12 Phương pháp tải trong thừa 20
Hình 1-13 Ta luy có nhiều mặt trượt 21
Hình 1-14 Tính toán ổn định ta luy đất đồng nhất () 22
Hình 1-15 Xác định tâm cung trượt nguy hiểm nhất () 23
Hình 1-16 Tính toán ổn định kể đến ảnh hưởng của khe nứt 24
Hình 1-17 Tính toán ổn định cho ta luy đất đồng nhất (điều kiện ) có kể đến động đất 25
Hình 1-18 Xác định tâm trượt nguy hiểm nhất trong ta luy đất đồng nhất có 26
Hình 1-19 Xác định vùng tâm cung trượt nguy hiểm nhất 27
Hình 1-20 Tính toán ổn định bằng phương pháp phân mảnh thông thường 28
Hình 1-21 30
Hình 1-22 Biểu đồ ổn định của Taylor, khi 31
Hình 1-23 Biểu đồ ổn định của Taylor, khi 32
Hình 2-1 Vật liệu chèn lấp neoweb 38
Hình 2-2 Cấu tạo ô ngăn hình mạng Neoweb 42
Hình 2-3 Phân loại Neoweb theo màu sắc 43
Trang 6Hình 2-5 Dự án tường chắn Neowed -TP Đà lạt, Lâm đồng 46
Hình 2-6 Dự án gia cố mái dốc Neoweb- Đà Nẵng 48
Hình 2-7 Dự án gia cố mái dốc Neoweb- Mê Linh, Hà Nội 49
Hình 2-8 Dự án gia cố mái kênh tưới - Phú Thọ 51
Hình 2-9 Dự án tường chắn và bảo vệ mái dốc Neoweb- TP Đà Lạt, Lâm đồng .52
Hình 2-10 Dự án tường chắn và bảo vệ mái dốc Neoweb- Tapao, Bình Thuận 55 Hình 2-11 Một số tồn tại trong sạt lở bề mặt ta luy [5] 56
Hình 2-12 Gia cố mái dốc “XANH” [5] 56
Hình 3-1 Kết cấu Neoweb bảo vệ mái dốc 57
Hình 3-2 Mô hình tính toán kết cấu Neoweb bảo vệ mái dốc 58
Hình 3-3 Tính toán mái dốc gia cố đỉnh 60
Hình 3-4 bảo vệ mái dốc với hệ thống neo 61
Hình 3-5 Mô hình kiểm toán ổn định vật liệu chèn lấp 62
Hình 3-6 Các bước thi công 74
Hình 3.7 Sơ đồ tính hệ số ổn định theo W.Fellenius 77
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện tượng sạt lở, sụt trượt trên mái ta luy của nền đường ô tô xảy ra kháphổ biến trên các tuyến đường ô tô, đặc biệt trong vùng địa hình miền núi, như
ở miền Bắc Việt Nam Sạt nở mái ta luy nền đường không chỉ làm suy giảmchất lượng khai thác của tuyến đường, gây ách tắc các tuyến đường, mà trongnhiều trường hợp là các rủi ro dẫn đến tai nạn giao thông Sụt trượt mái ta luynền đường là hiện tượng hư hỏng nghiêm trọng, phạm vi ảnh hưởng lớn hơn đốivới tuyến đường, thậm chí có thể dẫn đến việc phá hủy một đoạn tuyến
Sạt trượt trên mái ta luy nền đường đắp làm cho nền đường kém ổn định,gây nên các vết rạn nứt cho nền đường, làm cho nền đường bị biến dạng lànguyên nhân giảm năng lực thông hành Biến dạng của nền- mặt đường gâycảm giác khó chịu cho người tham gia giao thông, hư tổn xe cộ, phá hỏng hànghóa Ngoài ra, biến dạng nền- mặt đường làm phát sinh tải trọng xung kích,trùng phục phụ thêm tác dụng lên mặt đường, gây tốn kém về kinh phí cho côngtác duy tu bảo dưỡng và gây mất an toàn giao thông
Đã có nhiều giải pháp truyền thống được sử dụng để gia cố bề mặt giảmxói, sạt nở ta luy nền đường, từ đơn giản nhất là trồng cỏ đến gia cố bằng lát đá,xây đá, đổ bê tông,… Hiện nay, giải pháp kết hợp kỹ thuật với biện pháp sinhhọc để đồng thời gia cố cơ học bề mặt ta luy, phối hợp với giữ đất bề mặt bằngtrồng cỏ, cây bụi
Trang 83 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn là nghiên cứu, thu thập số liệu củanghiên cứu về ứng dụng của vật liệu Neoweb trong gia cố taluy nền đường
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn sử dụng nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau như : điều tra, khảo sát số liệu, phân tích - tổng hợp,phương pháp chuyên gia
5 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo luận văn kếtcấu gồm 3 chương:
Chương 1: Vấn đề sạt lở mái taluy nền đường và tổng quan về các giải pháp xử
lý ổn định mái dốc ta luy nền đường
Chương 2: Giới thiệu vật liệu neoweb và các ứng dụng trong xây dựng
Chương 3: Ứng dụng vật liệu neoweb trong gia cố ta luy nền đường
Trang 9CHƯƠNG 1:
VẤN ĐỀ SẠT LỞ MÁI TALUY NỀN ĐƯỜNG VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ ỔN ĐỊNH MÁI DỐC TA LUY NỀN ĐƯỜNG
1.1 Vấn đề sạt lở mái dốc taluy nền đường tại Việt Nam.
Các chuyển dịch bờ dốc, ít nhiều ảnh hưởng tới sản xuất, sinh hoạt của conngười và nhiều khi do các chuyển dịch xảy ra mãnh liệt, gây tác hại lớn cho nềnkinh tế quốc dân; phá hủy đất trồng, rừng cây, đồi cỏ; tàn phá nhà cửa, xưởngmáy, các công trình giao thông công cộng…và nhiều khi còn cướp đi mạngsống của nhiều người
Ở nước ta, sạt lở taluy đường giao thông đang là vấn đề thời sự cấp bách,
có sức ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân bởi tầm quan trọng của cáctuyến đường giao thông, cũng như chi phí tu sửa hàng năm sau mỗi vụ sạt lở…Trên các tuyến Quốc lộ 3, Quốc lộ 6, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 12, Quốc lộ4D, Quốc lộ 279…hàng năm xảy ra rất nhiều vụ sạt lở trên nhiều đoạn đường.Đặc biệt là các tuyến đường đi lên vùng núi phía Bắc thường có độ dốc lớn,nền địa chất phức tạp, hệ thống thuỷ văn lớn và không ổn định, như Quốc lộ 6
và Quốc lộ 3 Hai tác nhân chính gây ra các vụ sạt lở trên các tuyến đường miềnnúi chính là do tác động mạnh mẽ của dòng chảy mặt, của mưa lớn và kếtcấu thiếu vững chắc của nền đất đá [12] Vì vậy giải pháp để giảm thiểu nguy
cơ sạt lở là cần giảm tác động của dòng chảy mặt, giảm động năng của hạt mưa,đồng thời cải tạo và gắn kết các hạt đất hai bên ta luy của tuyến đường Trước thực trạng đó đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu đưa ra những biện pháp phù hợp, hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại do sạt lở gây ra
1.2 Các giải pháp xử lý ổn định bề mặt mái ta luy nền đường.
Hiện nay để đề phòng và chống trượt mái taluy có thể dùng nhiều biệnpháp khác nhau và người ta thường phân chúng thành từng nhóm như các cáchphân loại của K.Terzaghi (1948), X.K.Abramov (1951), E.P.Iemelianova(1968); I.Taniguchi (1972); T.Mahr (1973)…
Trang 10Theo nguyên tắc thực hiện và nguyên lý tác dụng thì các phương phápchống trượt mái taluy có thể chia làm 6 nhóm: sửa mặt bờ dốc; thoát nước bờdốc; giữ bờ dốc không bị phong hóa, làm chắc đất đá, làm các công trình chốngtrượt, các biện pháp đặc biệt Trong mỗi nhón lại có nhiều biện pháp cụ thể khácnhau, ở đây chỉ trình bày những biện pháp thường dùng và có hiệu quả nhất [1]
1.2.1 Sửa mặt mái taluy.
Sửa mặt mái taluy tức là làm thay đổi hình dáng bên ngoài của taluy đểmái taluy được ổn định Việc làm này thường làm theo nguyên tắc làm giảm nhẹtrên đỉnh taluy và làm nặng thêm trọng lượng ở phần chân taluy [1] Muốn vậyngười ta có thể dùng một số biện pháp sau:
- Làm thoải taluy (hình 1-1a)
Trang 11Hình 1-2 Làm ta luy có nhiều bậc nhỏ.
Hình 1-3 Đắp bệ phản áp phía chân ta luy.
Những biện pháp này tuy đơn giản nhưng đem lại hiệu quả rõ ràng.V.Mencl đã tính chỉ cần giảm một thể tích khối lượng đi 4% ở phần trên taluylàm hệ số ổn định bờ dốc tăng thêm 10%: Việc thực hiện các biện pháp này cóthể tiến hành bằng các phương tiện thủ công hay cơ giới Với taluy đá có thểdùng phương pháp nổ mìn tạo biên như người ta đã làm ở nhà máy sửa chữa tàubiển Phà Rừng hay nhà máy thủy điện Hòa Bình…
1.2.2 Thoát nước cho taluy.
Trang 12Nước mặt và nước ngầm ảnh hưởng rất lớn đến độ ổn định của mái dốctaluy Để giữ cho taluy ổn định, phải làm sao để cho nước không thấm vào khuvực taluy hoặc phải hướng nước ngầm chảy ra xa taluy [1]
- Thoát nước mặt
Để ngăn chặn nước thấm vào taluy, phải nhanh chóng dẫn nước mưa hay nướcmặt từ vùng cao hơn chảy xuống ra khỏi taluy Muốn vậy có thể thực hiện một
số biện pháp sau:
+ Làm mương, rãnh thoát nước
+ Lấp chặt các khe nứt, lỗ rỗng để ngăn nước vào
+ Che phủ các khe nứt bằng màng chất dẻo
+ Tạo màng chống thấm phủ lên mái taluy để chống nước thấm vào taluy
- Thoát nước ngầm
Việc thoát nước ngầm chỉ có hiệu quả khi nắm vững được điều kiện địa chấtthủy văn và cấu trúc địa chất khu vực mái taluy
Để thoát nước ngầm có thể dùng một số biện pháp sau:
+ Khoan các giếng khoan tập trung nước, sau dùng bơm hút nước đi.+ Dùng các lỗ khoan nghiêng là biện pháp có hiệu quả và hay được dùngnhất Tuy mới bắt đầu áp dụng từ năm 1939 ở Mỹ, nhưng sau đó đã được nhanhchóng áp dụng tại rất nhiều nước và tỷ lệ sử dụng tới 90% các trường hợp chốngtrượt
Khoan lỗ khoan nghiêng với độ nghiêng khoảng 3 – 20% so với phươngnằm ngang, đặt trong đó các ống lọc đường kính từ 50 – 170mm, sẽ làm giảmđược mực nước ngầm rất nhiều Tuy nhiên hiệu quả của phương pháp này cũngphụ thuộc vào nhiều hệ số thấm của đất đá Khi hệ số thấm k > 1m/ngày đêm,hiệu quả thoát nước mới thể hiện rõ ràng
+ Kết hợp giữa lỗ khoan nghiêng với giếng thu nước có thể rút ngắn đượcchiều dài các lỗ khoan nghiêng Từ giếng thu nước, nước được hút lên hay lạiđược chảy theo các lỗ khoan nghiêng khác
1.2.3 Giữ cho taluy khỏi bị phong hóa.
Trang 13Biện pháp này nhằm giữ cho các đặc trưng cơ học của đất đá trên mặt taluykhông bị giảm đi do đất đá không bị phong hóa dần dần dưới tác động của cáctác nhân phong hóa [1]
Với ta luy đất có thể dùng các lớp phủ thực vật
Với ta luy đá có thể dùng lớp phủ bằng bi tum, xi măng hay đôi khi còndùng cả các lớp lưới thép nhỏ ở bên trong gắn chặt với đá bằng các bu lôngngắn rồi phủ xi măng ở ngoài
Hình 1-4 Ta luy đá dùng lưới thép phủ bê tông xi măng ở ngoài.
Biện pháp này đơn giản, dễ làm nhưng cần phải chú ý tới nước khe nứt bêntrong đất đá Với lưu lượng lớn, chúng có thể làm cho mái taluy bị trượt cùngvới cả lớp phủ
1.2.4 Làm chắc đất đá.
Trang 14Nguyên tắc của biện pháp này là làm tăng sức chống trượt của đất đá, gópphần làm tăng các lực bị dộng, do vậy làm mái taluy được ổn định thêm.
Để các khối lượng đất đá nhiều lỗ rỗng, nứt nẻ được ổn định, phải lấp kíncác lỗ rỗng, khe nứt bằng các vật liệu liên kết, tạo nên một sự liên kết nhân tạogiữa các khối với nhau
Tùy theo tính chất đất đá , mức độ lỗ rỗng và nứt nẻ, khối lượng đất đá cầnphải làm chắc mà người ta có thể dùng các hỗn hợp bi tum, silicat hay các hỗnhợp xi măng, cát, sét để bơm vào lỗ khoan Các hỗn hợp này được chọn với tỷ
Hình 1-5 Ứng dụng Mantay ray trong tường chắn có cốt.
Các loại tường chống và tường chắn được dùng để chống trượt nhờ trọnglượng bản thân của chúng Tường chống có thể là dạng cột hay dạng khối vàthường bằng bê tông cốt thép Tường chắn có thể làm bằng gạch, đá, bê tông
Trang 15thường, bê tông cốt thép hay bê tông đúc sẵn và phải được tính toán sao cho đểbản thân tường chắn cũng phải được ổn định, không bị lật, đất dưới tườngkhông bị lún, không bị phá hủy do tác dụng của ngoại lực…
Gần đây người ta còn làm tường chắn bằng cách xếp rọ đá, tường chắn kếthợp với cọc khoan nhồi hay vải địa kỹ thuật
Hình 1- 6 Tường chắn xếp rọ đá.
- Các loại cọc đường kính lớn bằng gỗ hay bê tông cốt thép được đóng sátnhau tạo thành một lớp hàng rào bảo vệ, ngăn không cho đất đá bị trượt cũngđược sử dụng ở một số nơi, trên một quãng hẹp
Các loại cọc ván bằng gỗ, bê tông cốt thép hay các loại ván bằng thép đãđịnh hình (kiểu Larsen ) cũng được đóng trong đất giữ cho đất đá được ổn định
- Các loại neo ngày nay cũng rất hay được dùng để chống trượt tùy theo kếtcấu mà có thể có loại neo thường hay neo ứng suuaats trước, neo tác dụng tạmthời hay neo vĩnh cửu lực căng neo sẽ làm taluy thêm ổn định Dùng neo đemlại hiệu quả kinh tế rất lớn do giảm được từ 30 – 90% công tác làm đất so vớibiện pháp khác, khối lượng vật liệu công trình cũng giảm từ 40 – 85% Việc thicông neo cũng không đòi hỏi mặt bằng lớn
Trang 161.2.6 Các biện pháp đặc biệt.
Khi chống trượt ở những vùng quá khó khăn, gây nhiêu tốn kém thì đôikhi, để kinh tế hơn, người ta phải dùng các biện pháp đặc biệt như nắn lại tuyếnđường (để tránh xa vùng trượt) làm cầu vượt hay tunel (để vượt hay chui quavùng trượt)
Tuy nhiên việc áp dụng biện pháp cuối cùng này phải được tính toán kỹlưỡng về mọi phương diện kỹ thuật, kinh tế, mỹ quan…
Đối với tất cả các biện pháp đề phòng và chống trượt bờ dốc đã nêu trên,tùy theo phạm vi sử dụng của từng biện pháp mà khi áp dụng, có thể đem lạihiệu quả nhiều hay ít Nhưng nguyên nhân gây ra trượt taluy thường không phảichỉ do một yếu tố mà nhiều yếu tố đồng thời tác dụng Vì vậy, hợp lý hơn, khichống trượt taluy phải đồng thời kết hợp nhiều biện pháp với nhau như dùngneo kết hợp với tường chắn, neo kết hợp với các cọc bê tông , sửa mặt taluy kếthợp với thoát nước bằng các lỗ khoan nghiêng và giếng thu nước và cọc théphay neo kết hợp với thát nước bằng các lỗ khoan nghiêng, làm chắc đất đá [1]
Việc kết hợp các biện pháp chống trượt một cách hợp lý sẽ tăng hiệu quảchống trượt taluy lên rất nhiều
1.3 Các phương pháp tính toán ổn định chống sụt trượt mái dốc taluy nền đường
Để đánh giá ổn định mái taluy, phải tính được mức độ ổn định của nó.Mức độ ổn định của một mái ta luy lại được xác định qua hệ số an toàn ổnđịnh hay thường gọi tắt là hệ số ổn định Hệ số này thường được tính toán theotương quan giữa các lực (hay mômen lực) có xu hướng làm mái taluy không bịchuyển dịch – cũng được gọi là các lực bị động như độ bền của đất đá , lực masát tạo thành trên mặt trượt, các lực bổ sung khác có tác dụng giữ taluy khôngdịch chuyển…và các lực (hay mô men lực) gây trượt có xu hướng làm dịchchuyển mái taluy – cũng được gọi là các lực chủ động như trọng lực, áp lựcthủy động, các lực bổ sung khác làm tăng chuyển dịch của mái dốc taluy…
Trang 17Để tính toán ổn định mái dốc taluy, từ hàng trăm năm nay, người ta có thểdùng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng có thể phân làm hai nhóm chính:nhóm thứ nhất đánh giá sự ổn định dựa trên sự phân tích ở trạng thái cân bằnggiới hạn các lực tác dụng lên mái dốc taluy theo một mặt trượt nào đó Nhómthứ hai dựa trên sự phân tích trạng thái ứng suất – biến dạng của khối trượt.Thực tế hiện nay thường sử dụng phương pháp cân bằng giới hạn để tínhtoán ổn định mái dốc taluy Trong phương pháp này, bài toán phẳng để tínhtoán lại thường được sử dụng hơn cả Tùy theop dạng của mặt trượt là thẳng, trụtròn hay các dạng bất kỳ khác mà người ta lại có các phương pháp tính khácnhau
1.3.1 Tính toán ổn định trong bài toán phẳng, mặt trượt thẳng.
1.3.1.1 Mái ta luy có một mặt trượt.
- Trường hợp mặt trượt song song với mặt nghiêng của mái taluy
Giả sử có một bờ dốc đá phân lớp, mặt phân lớp song song với mặtnghiêng của mái taluy (hình 1-7) Để tính toán ổn định có thể dùng phươngpháp tính của R.N.Morgenstern (1974) [1]
Xét một mảnh mái dốc taluy có chiều cao h, chiều rộng là b, chiều dài 1đơn vị Các lực tác dụng lên mảnh được thể hiện như hình vẽ
E
Hình 1-7 Tính toán ổn định theo R.N.Morgenstern.
Trang 18Khi đất đá bị chuyển dịch trên mặt trượt, vì là chuyển động tịnh tiến nên sẽkhông xảy ra những biến dạng bên trong Do vậy, có thể bỏ qua những lựctương tác theo phương thẳng đứng và nằm ngang, nghĩa là: dX = dE = 0.
+ Khi không kể đến lực tác dụng của dòng thấm theo hướng chuyển dịchcủa taluy (từ phải sang trái), thì hệ số ổn định được tính theo công thức:
ϕ α
ε γ
ϕ α γ
ϕ
cos sin cos
sin
cos 2
h
c tg
tg hl
cl tg lh
T
C Ntg F
F n
T là lực gây trượt của mảnh
γ là trọng lượng thể tích của đất đắ trên mái dốc tyaluy
l là chiều dài mặt trượt trong mảnh
α là góc nghiêng của mặt trượt so với phương nằm ngang
T
l c tg
N
n= ' ϕ'+ '
(1-3)Trong đó N’= N – U
Với U là lực đẩy của nước :
Trang 19Hệ số oone định được tính theo công thức:
α α γ
ϕ γ α γ
cos sin
' ' cos 2
h
c tg z h
(1-6)Khi đất no nước, mức nước ngầm trùng với mặt đất , thì khi ấy trong côngthức trên, γ được tính theo γnn (trọng lượng thể tích đất đá ở trạng thái
no nước) và z sẽ được thay bằng hcos2α Do vậy, hệ số ổn định sẽ đượctính theo công thức:
α α γ
α γ
ϕ
γ α
α γ
ϕ α γ
α γ
có h
c tg
tg h
c tg h
h n
nn nn
đn nn
n nn
sin
' '
cos sin
' ' cos
+
= +
−
=
(1-7)Trong đó:
γđn là trọng lượng thể tích ở trạng thái đẩy nổi của đất đá
- Trường hợp mặt trượt không song song với mặ nghiêng của mái dốctaluy
Khi mặt trượt có góc nghiêng nhỏ hơn góc nghiêng của mái dốc taluy thìviệc tính toán ổn định có thể theo phương pháp của C.Culmann (1866), dựa trêngiả thiết là sự dịch chuyển mái dốc ta luy xảy ra ứng suất cắt trên mặt trượt lớnhơn sức chống cắt của đất đá tại đó và mặt trượt sẽ là mặt có tỷ số giữa sứcchống cắt của đất đá và ứng suất cắt gây chuyển dịch bờ dốc là nhỏ nhất [1]Giả sử một mái dốc taluy có chiều cao là h, góc nghiêng của mái taluy là
β, và mặt trượt hợp với phương nằm ngang 1 góc α (hình 1-8)
h
Hình 1- 8 Tính toán ổn định theo C.Culmann.
Hệ số ổn định của mái taluy được tính theo công thức:
Trang 20
β
α α β γ α
ϕ
ϕ α
sin
sin sin
2 cos
sin cos
tg G
ch tg
G
n
(1-8)Chiều cao giới hạn của mái taluy ở trạng thái cân bằng giới hạn:
cos sin
4c
h C
(1-9)Năm 1956, Z.Sobotka đã sử dụng chiều cao giới hạn của mái dốc trongtrường hợp mặt trượt trùng với mặt nghiêng mái dốc công thức (1-2) để tính ổnđịnh cho mái dốc có đá phân lớp
Giả sử mái dốc đá phân lớp như trên hình (1-9): bờ dốc có mặt nghiêng ABhợp với phương nằm ngang một góc β ; mặt hợp với phương nằm ngang mộtgóc α
G
α
β
h h*
B D
F
d
H E
A
C
Hình 1- 9 Tính toán ổn định theo Z.Sobotka.
Trong các đường thẳng song song với mặt trượt ở trong mái dốc, sẽ tìmđược một đoạn thẳng cách chân mái dốc một khoảng h* được tính từ công thức( 1-2) Đường thẳng EC này sẽ chia khối trượt thành hai phần: Phần phía trên làthiếu ổn định ( phần tam giác BEC), phầnphía dưới ( phần tam giác AEG) sẽthừa ổn định Nếu cho rằng phần thừa và thiếu ổn định là bằng nhau, bù đắp chonhau thì khối đá trên mái dốc sẽ ổn định
Mặt khác, về mặt diện tích thì ΔAEG = ΔAEF cho nên, về mặt hình học,mái dốc sẽ ổn định khi: ΔDCF = ΔDAB
Trang 21Thay các giá trị của diện tích tam giác DCE và DAB sẽ được :
h h gα h cotgβ
2
cot 2
β α α
g g
g g g
h
h c
cot cot
cot cot cot
vẽ có thể tính:
β α
g h g g
h
g h g h
h DB DC
d
cot
* cot
cot
cot cot
2
(1-15)
Trang 22Tuy nhiên, cách tính của Z.Sobotka cũng chỉ là gần đúng vì các thông sốtrên được tính trên cơ sở hình học chứ không phải dựa trên sự phân tích lực tácdụng trên khối trượt Mặc dù vậy, những kết quả này lại mang gái trị rất thực tế,giúp cho người thiết kế có những số liệu sơ bộ về sự ổn định, sự an toàn của máidốc.
Thực ra, với các mái dốc đá phân lớp hay có một hệ thống khe nứt thì do
bề mặt phân lớp, mặt khe nứt không bằng phẳng, nên để tính sức chống trượt,một số tác giả đã đề nghị nên làm chính xác hơn bằng cách kể đến bề mặt củakhe nứt, áp lực nén lên thành khe nứt
F.D Patton (1968) cho rằng trên mặt khe nứt, có những gờ xù xì làm tănggóc nghiêng khi trượt
Trong đó:
i – là góc nâng của khối đá khi trượt theo mặt khe nứt Giá trị của iphụ thuộc vào góc nâng ban đầu i0 Khi ứng suất pháp càng tăng, các gờ bị sanbằng nên góc nâng i se giảm dần và có thể biểu diễn:
m
n i
Trang 2310
0 1
n i
tg
(1-18)
Và như vậy, quan hệ giữa τ = f( )σ sẽ không phải biểu diễn bằng mộtđường thẳng như theo lý thuyết Coulomb – Mohr nữa, mà nó có dạng mộtđường cong
Nhưng theo D.Krsmannovic thì đoạn cong cũng chỉ thể hiện ở phần đầu,còn khí σ đạt khoảng 30 - 40% σn thì đường biểu diễn lại gần như thẳng
P.D.Evdokimov và D.D.Xapegin đã dùng công thức trên để biểu thị cho độbền của đá ddiabass trên công trường nhà máy thủy điện Bratxkaja:
σ
τ tg
(1-21)
N.Barton và S.C.Bandis (1990) đã đưa ra một công thức khác để xác định
độ bền cắt của đá trong khe nứt, có dạng:
τ
n
JCS JRC
(1-22)Trong đó:
Trang 24JRC là hệ số nhám của khe nứt, được xác định bằng cách so sánh
gồ ghề thực tế của mặt khe nứt với các kiểu gồ ghề mẫu đã cho sẵn, từ đó sẽđược các giá trị tương ứng của JRC
JCS là độ bền nén của thành khe nứt, được xác định bằng các thiết
bị hiện trường cầm tay đơn giản như búa Schmidt, máy thí nghiệm độ bền tảitrọng tập trung…
1.3.1.2 Mái ta luy có hai mặt trượt (mặt trượt gãy khúc).
Trong trường hợp này, mặt trượt bao gồm hai mặt phẳng Thực tế, có thểgặp các loại mặt trượt này khi trong đá có hệ thống khe nứt với các góc nghiêngkhác nhau
Để tính ổn định có thể dủng một số phương pháp sau: [1]
- Phương pháp phân mảnh đơn giản
Giả sử mái ta luy có hai mặt trượt thẳng hợp với phương nằm ngang cácgóc là α1 và α2 chia khối trượt thành hai mảnh bằng mặt phẳng thẳng đứng điqua giao điểm hai mặt trượt, giữa các khối không có sự tương tác với nhau
Cho rằng trọng lượng hai mảnh khối trượt G1 và G2 (hình 1-10)
Phân tích trọng lượng G1 và G2 thành các lực có phương vuông góc vàsong song với mặt trượt Hệ số ổn định của mái taluy được xác định:
2 2 1 1
2 2 1 1 2 2 2 1 1 1
sin sin
cos cos
α α
ϕ α ϕ
α
G G
l c l c tg G
tg G
n
+
+ + +
Trang 25- Phương pháp đa giác lực của G.M.Sakhunhjanxh.
Chia khối trượt thành hai khối ở trạng thái cân bằng giới hạn bằng một mặtphẳng ở bên trong khối trượt và đi qua giao điểm hai mặt trượt Giữa hai khốiđược chia ra có tương tác với nhau (các phản lực R3 và lực dính c3l3 trên mặtphẳng chia ở hình 1-11)
K H
Hình 1-11 Phương pháp đa giác lực của G.M.Sakhunhjanxh.
Trọng lượng hai khối được chia ra là G1 và G2 Do tương tác, nên trên cácmặt trượt có các phản lực R1, R2, R3 hợp với phương pháp tuyến của các mặttrượt tương ứng những góc φ1, φ2, φ3 Lực dính trên các mặt trượt lần lượt là
c1l1, c2l2 và c3l3
Để giải bài toán, nếu lập các phương trình hình chiếu hay mô men thì sẽ rấtphức tạp Để đơn giản và nhanh chóng, G.M.Sakhunhjanxh đã dùng phươngpháp đa giác lực: Khi vẽ đa giác lực thể hiện tất cả các lực tác dụng vào vật, nếuvật ở trạng thái cân bằng thì đa giác lực sẽ khép kín
Trên hình (1-11), giả sử khối 2 ở trạng thái cân bằng, vẽ được đa giác lựcABDEF, với các lực c2l2 = BD; c3l3 = DE
Khi xét khối 1, để tận dụng các lực c3l3 và R3, người ta bắt đầu vẽ từ D, lựctác dụng G1, rồi c1l1 = HK Nếu khối 1 ở trạng thái cân bằng thì từ K, vẽ hướngsong song với R1, hướng này sẽ đi qua F và đa giác lực tự khép kín
Nhưng vì khối 1 không ổn định, nên đường thẳng song song với hướng R1
lại không đi qua F Khoảng cách từ F tới đoạn thẳng theo hướng của R1 là giá trị
Trang 26nhỏ nhất của phần lực bị thiếu (đoạn FM) Đây cũng chính là lực giữ cần thiếtphải bổ sung để giữ bờ dốc ở trạng thái cân bằng giới hạn.
Phương pháp này đơn giản nhưng kếm chính xác Mặt khác, do các phầntrượt có độ nghiêng không như nhau nên chúng không thể coi giống nhau trongquá trình phá hủy sự ổn định của mái ta luy và không thể có một trạng thái cânbằng giới hạn đồng thời xảy ra tại hai khối đá được chia ra từ 3 mặt phẳng khácnhau
- Phương pháp tải trọng thừa
Người ta quan sát thấy khi mái taluy có hai mặt trượt bị phá hủy ổn địnhthì sự phá hủy sẽ xảy ra ở mặt trượt dốc hơn, khi các lực tác động lên nó gần đạttới trạng thái cân bằng giới hạn Do khối đá không phải là vật rắn tuyệt đối nênkhi phần trên của mái ta luy bị dịch chuyển , chúng sẽ truyền xuống phía dướicác tải trọng thừa để tạo nên một trạng thái cân bằng giới hạn mới Vì vậy, khitính toán, nên kể tới hiện tượng này
Giả sử mái ta luy có hai mặt trượt như hình (1-12)
Hình 1-12 Phương pháp tải trong thừa.
Chia khối trượt thành hai khối bằng mặt phẳng thẳng đứng đi qua giaođiểm của hai mặt trượt Phân tích các lực tác dụng lên khối 2 như phân tíchtrong một bài toán có một mặt trượt
Lực gây trượt của khối đất 2 truyền xuống cho khối đất 1 một lực S, đượctính:
Trang 27S =G2(sin α 2 − cos α 2tgϕ 2)−c2l2 (1-24)
Vì khối 2 đã mất ổn định nên c2l2 có thể bỏ qua Do vậy:
S =G2(sin α 2 − cos α 2tgϕ 2) (1-25)Cuối cùng hệ số ổn định của mái ta luy được tính:
( 2 2 2) ( 2 1)
2 1 1
1 1 1 1 2 2
2 2
2 1 1
cos cos
sin sin
sin cos
sin cos
α α ϕ
α α
α
ϕ α α ϕ
α α
α
−
− +
+
−
− +
=
tg G
G
l c tg tg
G G
n
(1-26)Trong ba phương pháp trên phương pháp sau cùng là đáng tin cậy hơn
1.3.1.3 Mái taluy có nhiều mặt trượt.
Giả sử có một mái ta luy gồm nhiều mặt trượt hợp với phương nằm ngangcác góc αi Mặt trên cùng có góc α lớn nhất (hình 1-13) [1]
Hình 1-13 Ta luy có nhiều mặt trượt.
Áp dụng phương pháp tải trọng thừa, tính từ trên xuống dưới và lưu ý rằngphải bỏ qua những giá trị âm của tải trọng thừa S vì đất đá không có khả năngtiếp nhận lực kéo
Hệ số ổn định có thể tính tại các mặt trượt hay chỉ tính tại mặt trượt cuốicùng theo công thức (1-26)
Nếu kể đến ảnh hưởng của nước thì cách tính sẽ phức tạp hơn một chút vìphải cộng thêm các thành phần áp lực nước được chiếu lên các mặt trượt tươngứng
1.3.2 Tính toán ổn định trong bài toán phẳng, mặt trượt trụ tròn.
Trang 28Với đất dính đồng nhất, người ta coi rằng mặt trượt có dạng mặt trụ tròn vàtrên mặt cắt là một cung tròn Mặt trượt này có thể đi qua mặt nghiêng, quachân hay hạ thấp xuống dưới chân dốc.
Để tính ổn định bờ dốc này, người ta có thể sử dụng phương pháp toànkhối, phương pháp phân mảnh hay phương pháp dùng các biểu đồ, tra bảng [1]
1.3.2.1 Phương pháp toàn khối
Trong phương pháp này, người ta coi khối trượt là một khối đồng nhất vàtùy theo trạng thái của đất mà người ta cũng có cách tính khác nhau
- Mái ta luy đất dính đồng nhất có φ = 0 (điều kiện không thoát nước)
Giả sử có một mái dốc ta luy đất dính đồng nhất Sức chống cắt khôngthoát nước của đất là không đổi theo chiều sâu và có thể biểu diễn τ = c Mặttrượt là hình trụ tròn tâm O, bán kính R (hình 1-14)
E
O
c c
c
N θ
Hình 1-14 Tính toán ổn định ta luy đất đồng nhất (ϕ = 0).
Hệ số ổn định của mái ta luy sẽ được tính theo công thức:
2 2 1
2
l W l W
cR M
Trang 29mặt trượt ấy sẽ tìm được các hệ số ổn định tương ứng với từng tâm cung trượt.Chọn trong đó giá trị bé nhất của hệ số ổn định n sẽ ứng với tâm cung trượtnguy hiểm nhất.
Cách làm như trên mất rất nhiều thời gian Để nhanh chóng tìm được vị trícủa tâm cung trượt nguy hiểm nhất, W.Fellenius (1927) đã nêu ra cách xác địnhnhư sau: Với mái dốc ta luy đất có φ ≈ 0, mặt trượt nguy hiểm nhất sẽ đi quachân bờ dốc, tâm cung trượt này là giao điểm của hai đoạn thẳng hợp vớiphương mặt nghiêng mái ta luy và phương nằm ngang trên đỉnh mái ta luynhững góc β1 và β2 (hình 1-15) Giá trị của những góc này phụ thuộc gócnghiêng của mái ta luy β
O
β 1
β 2
β
Hình 1-15 Xác định tâm cung trượt nguy hiểm nhất (ϕ = 0).
Trong đất dính, khi mái dốc ta luy đạt tới trạng thái cân bằng giới hạn, trênmặt đỉnh mái ta luy thường xuất hiện khe nứt thẳng đứng với chiều sâu có thểxác định bằng công thức:
= = +
2 45
2 90
2
ϕ γ
π h c tg
h
(1-28)Khi φ ≈ 0 thì công thức trên sẽ trở thành đơn giản hơn và có thể biểu diễnnhư trên hình 1-16:
γ
c
h90 = 2
(1-29)
Trang 30Khe nứt phát triển càng sâu, khi gặp cung trượt, làm sức chống cắt trên mặttrượt giảm đi, đồng thời trong khe nứt chứa đầy nước thì trong thành phần mô
men gây trượt phải kể đến mô men do lực thủy tĩnh Pw có giá trị bằng 2
0 2
1
Z w
γgây ra, nghĩa là:
y P Wl
O
c c
Hình 1-16 Tính toán ổn định kể đến ảnh hưởng của khe nứt.
Năm 1984, S.D Koppula đã tính toán ổn định mái dốc ta luy đất sét nonước (điều kiện φ ≈ 0) với tác dụng của lực động đất Trên hình (1-17) mô tảmái dốc có mặt trượt tâm O, bán kính R Trọng lượng khối trượt W, lực độngđất gây ra có hướng nằm ngang và giá trị của nó được tính theo công thức:
W
g
a W
k s =
(1-31)Trong đó:
ks là hệ số động đất
A là gia tốc của sóng động đất
G là gia tốc rơi tự do
Trang 31K s W
l 2
h Dh
c R AED
n
s
.
2
=
(1-32)Trong đó: M là yếu tố ổn định
Các giá trị của M đã được Koppula phân tích và lập thành bảng tra theogóc nghiêng của mái ta luy β, tỷ số D (tỷ số giữa khoảng cách thẳng đứng từtâm O tới chỗ sâu nhất của mặt trượt và tới chân mái ta luy) và hệ số động đất ks
hay theo góc nghiêng của mái ta luy β, (với góc nghiêng ≥ 55 0) và hệ số độngđất ks
- Mái ta luy đất dính đồng nhất, có φ > 0
Cũng như mái ta luy đồng nhất có φ = 0, trong trường hợp xác định hệ số
ổn định trên, khi thay đổi vị trí tâm của cung trượt thì giá trị của hệ số ổn địnhmái dốc ta luy cũng bị thay đổi theo Để tìm một cách nhanh chóng vị trí củatâm cung trượt nguy hiểm nhất, ứng với hệ số ổn định thấp nhất, W Felleniuscho rằng với các mái ta luy đồng nhất có φ > 0, tâm cung trượt nguy hiểm nhất
sẽ nằm trên đường kéo dài của đoạn 2-3 (hình1-18): điểm 2 nằm bên trong mái
ta luy; điểm 3 xác định giống như khi tìm tâm cung trượt nguy hiểm nhất củamái dốc ta luy đồng nhất có φ = 0 Trên đoạn đường kéo dài này, phải lấy thử
Trang 32vài tâm (O1, O2, …O5) để vẽ các cung trượt Tính ổn định mái dốc ta luy theocác cung này sẽ được các hệ số ổn định tương ứng n1, n2,…, n5 Để tìm được trị
số bé nhất của n, người ta đặt về một phía của đường 2-3 kéo dài những đoạnthẳng vuông góc tương ứng với các giá trị của n theo một tỷ lệ nào đó tại cáctâm Oi Nối các đầu nút của các đoạn thẳng vuông góc sẽ được một đường cong
mà trên đó sẽ tìm được chỗ lõm nhất, ứng với giá trị bé nhất của hệ số ổn định.Chân của đoạn thẳng ngắn nhất này sẽ ứng với tâm cung trượt nguy hiểm nhất
Trang 33Sau đó xét sự cân bằng lực tại mỗi mảnh được chia ra, rồi làm tổng của chúng,
áp dụng công thức tính hệ số ổn định n, sẽ đánh giá được độ ổn định của bờ dốc
- Petterson (1916) và sau đó W.Fellenius (1927) là những kỹ sư Thụy Điển
đã dùng phương pháp phân mảnh sớm nhất để tính ổn định của mái dốc ta luy
Để đơn giản, các ông cho rằng giữa các mảnh đất chia ra, không hề có các lựctương hỗ lẫn nhau [1]
- Giả sử có mái dốc đất, cung trượt AC tâm O, bán kính R (hình 1-20).Chia khối trượt thành nhiều mảnh bằng những mặt phẳng thẳng đứng cóchiều rộng là b Các cung trượt của từng mảnh vì nhỏ, nên có thể coi như thẳng.Xét cân bằng của mảnh thứ n
Trang 34α n
W n
b n
α n
Hình 1-20 Tính toán ổn định bằng phương pháp phân mảnh thông thường.
Hệ số ổn định mái dốc dẽ bằng tỷ số giữa tổng các mô men của lực giữ vàtổng mô men của các lực gây trượt Nhưng chúng cùng cánh tay đòn R, nên hệ
ϕ - là góc ma sát trong của đất tại mảnh thứ n.
cn – là cường độ lực dính của đất trong mảnh thứ n
n l
∆ - là chiều dài của cung trượt trong mảnh thứ n.
Trường hợp đất đồng nhất (ϕ,ckhông đổi) và tổng chiều dài ∑∆l nchínhbằng chiều dài cung trượt L, nên hệ số ổn định có thể viết gọn hơn:
+
=∑
Trang 35Khi tính ảnh hưởng của nước dưới đất trong mái dốc, do có sức đẩy Ác simét của nước, hệ số ổn định của mái dốc sẽ giảm đi vá được tính theo côngthức:
1.3.2.3 Phương pháp biểu đồ và tra bảng
Khi tính ổn định bằng phương pháp trên, đòi hỏi một khối lượng tính toánrất lớn Vì vậy người ta cố gắng lập ra các biểu đồ, các bảng để tính toán ổnđịnh được thuận lợi hơn [1]
Phương pháp biểu đồ của D.W.Taylor
Theo kết quả tính toán ổn định mái dốc bằng phương pháp vòng tròn masát do chính mình đưa ra, D.W.Taylor đã thấy là tùy theo từng loại đất, gócnghiêng của mái dốc và độ sâu của từng nền đất cứng nằm sâu ở bên dưới mà vịtrí của mặt trụ tròn là khác nhau Khi góc ma sát ϕ rất nhỏ gần bằng 0) thì mặttrượt có thể là loại qua mặt mái dốc, (hình 1-21a), qua chân mái dốc (hình 1-21b) hay qua trước chân mái dốc (cũng được gọi là mặt trượt điểm giữa vì trongtrường hợp này, tâm cung trượt nằm trên đường vuông góc với mặt mái dốc và
đi qua điểm giữa của mặt nghiêng mái dốc – hình 1-21c) Khi góc ma sát trong
Trang 36Khi độ sâu tầng cứng rất nhỏ, mặt trượt sẽ đi qua mặt nghiêng mái dốc.
O
A
O O
Hình 1-21
a) Mặt trượt qua mặt nghiêng; b) Mặt trượt qua chân; c) Mặt trượt qua điểm giữa.
Trong phương pháp vòng tròn ma sát của D.Taylor, cường độ lực dính vàchiều cao giới hạn H có mối quan hệ:
Trang 37Hình 1-22 Biểu đồ ổn định của Taylor, khi ϕ = 0
Khi ϕ f 0 quan hệ giữa số ổn định Nc sẽ có dạng như trên hình (1-23) Trên
đó, các đường liền để chỉ trường hợp mặt trượt qua chân dốc Các đường đứtdùng cho trường hợp mặt trượt đi qua phía trước chân mái dốc
Trang 38Hình 1-23 Biểu đồ ổn định của Taylor, khi ϕ > 0.
Phương pháp biểu đồ này chỉ được dùng trong đất đồng nhất, không có ảnhhưởng của nước và cũng chỉ có một mặt trượt Mặt khác việc nội suy giá trị củathông số không có trong biểu đồ cũng sẽ làm kết quả chỉ mang tính gần đúng
- Phương pháp tra bảng của M.N.Goldstein
Theo M.N.Goldstein hệ số ổn định mái dốc có thể được tính theo côngthức:
f là hệ số ma sát trong của đất, f =tgϕ.
A, B là các hệ số phụ thuộc vào kích thước của năng thể trượt, vàodạng mặt trượt (chiều sâu lõm xuống của mặt trượt e so với mặtchân mái dốc) Các hệ số này được tra bảng
Khi áp dụng phương pháp này cần chú ý một số trường hợp sau:
+ Nếu đất có ma sát trong rất nhỏ (khoảng 5 – 70) và dưới nền đấttại một chiều sâun e nào đó có một lớp đất cứng thì khi tính toán cần giả thiết
Trang 39mặt trượt thuộc mặt điểm giữa cách tính toán vẫn như trên, nhưng có thể bỏqua phần f.A trong công thức (1- 38).
+ Các trường hợp còn lại mặt trượt coi như qua chân bờ dốc vị trímặt trượt nguy hiểm nhất sẽ phải tìm bằng cách vẽ thử nhiều cung trượt Các hệ
số A, B được tra bảng
+ Khi mái dốc không đồng nhất, gồm nhiều lớp khác nhau thì khitính toán sẽ quy về bờ dốc đồng nhất với các đặc trưng c, f lấy theo giá trị trungbình như sau:
i i m
i
c h c
h
= ∑
i i m
i
f h f
h' q
γ
=
(1- 41)Sau đó, vẫn tiếp tục tính bờ dốc bình thường với chiều cao là h+h’
Với phương pháp tra bảng của Goldstein, hệ số ổn định an toàn phải lấybằng 1,5 2 ÷ .
- Phương pháp ta bảng của A.W.Bishop và N.R.Morgentern (1960)
Bishop và Morgentern đã tính cho trọng lượng mảnh thứ n trong phươngpháp phân mảnh theo công thức:
Trong đó:
Trang 40zn – là chiều cao trung bình của mảnh thứ n.
ru là đại lượng không thứ nguyên
Thay (1-42) và (1-43) vào công thức tính ổn định của Bishop sẽ được:
1 sin
n u
n n
bz
c b
r tg
hh hh n
ϕ γ
+ Góc ma sát trong ϕ '.
+ Hệ số không thứ nguyên γc h' .+ Hệ số áp lực nước lỗ rỗng ru.Bishop và Morgentern đã lập bảng để tính hệ số ổn định trong phạm vi
toán của c' 0,075 0,1
h
γ = ÷ và sau đó R.Whitlow còn tính cho trường hợp
' 0,15
c h
1.3.3 Tính toán ổn định trong bài toán không gian.