1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nguyễn trãi quốc âm thi tập

71 631 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây, vào năm Hồng-Tự-Đức thứ II 1480 một bậc tiền nho là Trần-khắc-Kiệm đã biên soạn thi văn của Nguyễn-Trãi theo ý của vua Lê-thánh-Tôn, thu góp lại trong bộ "Ức Trai Di Tập" nhưn

Trang 1

NGUYỄN TRÃI

QUỐC ÂM THI TẬP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN KHOA SAIGON BAN VĂN CHƯƠNG QUỐC ÂM

TÀI LIỆU SỐ 1

TRẦN VĂN GIÁP & PHẠM TRỌNG ĐIỀM phiên âm

Lê Văn Đặng soạn Bản Điện Tử

LỜI NÓI ĐẦU

Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn-Trãi, nguyên bản bằng chữ nôm trong Úc Trai Tập, quyển VII, số hiệu

A 68 hiện lưu trử tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà nội và Thư viện Quốc gia Paris Phòng nghiên cứu

hiện có 1 bộ Ức Trai Tập bằng vi điện ảnh và đã cho in ra thành ảnh hiện lưu trử tại Thư viện của Phòng

Ức Trai Tập (hay Ức Trai Di Tập) do các bậc danh nho biên soạn từ đời Minh-Mạng và đến năm

Tự-Đức thứ 21 (1868 Mùa Thu năm Mậu Thìn) mới đem in và xuất bản Trước đây, vào năm Hồng-Tự-Đức thứ

II (1480) một bậc tiền nho là Trần-khắc-Kiệm đã biên soạn thi văn của Nguyễn-Trãi theo ý của vua

Lê-thánh-Tôn, thu góp lại trong bộ "Ức Trai Di Tập" nhưng toàn bộ này không được lưu truyền đến nay

Vì thế, tài liệu cổ nhất mà chúng ta hiện có về thi văn Nguyễn-Trãi là bộ Ức Trai Tập số hiệu A 68

nói trên Bộ sách này gồm có 7 quyển :

Quyển thứ nhất : Thi Tập Quyển thứ hai : Nguyễn-phi-Khanh Thi Văn Tập Quyển thứ ba : Văn Tập

Quyển thứ tư : Quân Trung Từ Mệnh Tập Quyển thứ năm : Truyện Nguyễn-phi-Khanh và các bài chiếu, bài chế Quyển thứ sáu : Ức Trai Dư Địa Chí

Quyển thứ bảy : Quốc Âm Thi Tập Phòng nghiên cứu hiện đang cho phiên dịch và phiên âm toàn bộ sách này Bản phiên âm Quốc Âm

Thi Tập sau đây là do hai học giả Trần-văn-Giáp và Phạm-trọng-Điềm, nguyên chuyên viên khảo cổ của

Trường Bác Cổ Viễn Đông Hà nội phiên âm, và do phòng nghiên cứu sưu tầm được Trước khi phòng

nghiên cứu hoàn thành công việc phiên dịch và phiên âm toàn thể bộ Ức Trai Tập, chúng tôi thiết nghĩ

nên phát hành ngay tài liệu này (mặc dù có nhiều chữ nôm xưa mà trong lối phiên âm vẫn cò tồn nghi,

nhiều bài thơ vẫn còn nghi vấn vì giống với thơ của Nguyễn-bỉnh-Khiêm), để sinh viên và giáo sư có thể

có ngay một tài liệu quí báu để xử dụng trong lối tìm hiểu một thi hào dân tộc từ thế kỷ thứ XV

Huế, tháng VI năm 1961

PHỤ CHÚ VỀ VĂN BẢN

Bản phiên Quốc Âm Thi Tập, in Roneo, được lưu trử tại thư viện Suzzallo thuộc Trường Đại Học

Washington Trước 75, bản nầy được dùng làm tài liệu cho Trường Đại Học Văn Khoa Saigon, nhưng để

lại khá nhiều lỗi, và chữ dùng không thống nhứt, như: Bui / Vui, trời / giời, trăng / giăng, nghìn / ngàn

[chúng tôi chỉ giữ lại một cách ghi và không thêm phụ chú về việc nầy] ; dấu ? chỉ chỗ tồn nghi

Những chữ chúng tôi đề nghị thay, nếu cần, có kèm theo chữ Nôm dẫn chứng, được so với nguyên bản chữ

Nôm và ghi ở cuối câu để tiện tham khảo LVĐ

Trang 2

A- VÔ ĐỀ I- VÔ ĐỀ

1 Thủ vĩ ngâm 1

1

Góc thành Nam, lều một gian,

No nước uống, thiếu cơm ăn

Con đòi trốn, dễ ai quyến,

Bầy2 ngựa gầy, thiếu kẻ chăn [ bà]

Ao bởi hẹp hòi, khôn thả cá,

Nhà quen xuế xoá ngại nuôi vằn

Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,

Góc thành Nam, lều một gian

PHỤ CHÚ:

1) Thủ vĩ ngâm là một thể thơ theo đó câu cuối [vĩ] lặp lại câu đầu [thủ];

bài thơ nầy không có tên [vô đề]

2)  bà = bầy

CHÚ THÍCH: Theo bài tựa của Trần-khắc-Kiệm đề ở Ức Trai Di tập (ngày3 tháng 2 năm Hồng Đức thứ

II (1480), thì bài thơ này là bài Ức-Trai tiên sinh làm, khi bị người Minh bắt giữ trong thành Chúng thấy tiên sinh là bậc đại tài, muốn dùng làm quan, nhưng biết không thế nào dụ nổi, lại càng kính trọng Sau vì được bỏ lỏng, tiên sinh tìm kế trốn thoát, rồi đi theo Lê-Lợi ở Lỗi-giang

Bản B 4 trong tập thơ không có bài này, nhưng trái lại trong thiên Lịch , sau khi chép việc tiên sinh khi từ biệt phụ thân Phi Khanh bị quân Minh bắt đi, có chua cả bài, có đôi chữ khác, như sau:

Góc thành Nam, lều một căn,

No nước uống, thiếu cơm ăn

Con đòi trốn, dễ ai khiến, Bầy ngựa gầy, thiếu kẻ chăn

Ao vợi hẹp hòi, nào dưỡng cá, Nhà quen thuể thoả, ngại nuôi vằn

PHỤ CHÚ:

3) Ngày lành tháng hai năm Canh Tý, Hồng Đức 11 (1480)

4) Tài liệu không ghi bản B là bản nào

II Ngôn Chí [21 bài]

1

2

Thương, Chu bạn cũ các chư đôi,

Sá lánh thân nhàn thủa việc rồi

Gội tục, trà thường pha nước tuyết,

Tầm thanh trong vắt tiễn chè mai

Trang 3

Chim kêu, hoa nở ngày xuân tĩnh,

Hương lọn, cờ tàn tiệc khách thôi

Vui có một niềm chăng nỡ trễ,

Ðạo làm con mấy đạo làm tôi

2

3

Lão thiếu chưa nên tiết trượng phu,

Miễn là phóng dáng đạo tiên nho

Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng,

Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu

Dưới công danh đeo khổ nhục,

Trong dầy dãi có phong lưu

Mấy người ngày nọ thi đỗ,

Lá ngô đồng thủa mạt thu

3

4

Am trúc hiên mai ngày tháng qua,

Thị phi nào đến cõi yên hà

Bữa ăn dù có dưa muối,

Áo mặc nài chi gấm là,

Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt,

Ðất cày ngõ ải luống ương hoa

Trong khi hứng động bề đêm tuyết,

Ngâm được câu thần dửng dửng cả [歌ca]

4

5

Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm,

Dơ 5 tay áo, đến tùng lâm

Rừng chiều cây rợp, hoa chày động,

Ðường ít người đi, cỏ kíp xâm

Thơ đái tục hiềm câu đái tục,

Chủ vô tâm ỷ khách vô tâm

Trúc thông hiên vắng trong khi ấy,

Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm

PHỤ CHÚ:

Trang 4

5

6

Làm người chẳng có đức cùng tài,

Ði, nghỉ đều thì kém hết hai

Hiểm hóc cửa quyền chăng lọt lẫn,

Thanh nhàn án sách hãy đeo đai

Dễ hay ruột biển sâu cạn,

Khôn biết lòng người ngấn dài  chữ hội ý ngắn

Sự thế dữ, lành ai hỏi đến

Bảo rằng ông đã điếc hai tai

6

7

Trường ốc ba thu uổng mỗ danh,

Chẳng tài đâu xứng chức tiên sinh,

Cuốc cùn ước tháo vườn chư tử,

Thuyền mọn khôn đua biển lục kinh

Án sách, cây đèn, hai bạn cũ,

Song mai, hiên trúc, một lòng thanh

Lại mừng nguyên khi vừa thịnh, [氣khí]

Còn cạy vì hay một chữ đinh [cậy]

7

8

Ðã mấy thu nay để lề nhà

Duyên nào đeo đẳng khó chăng tha

Một thân lẩn quất đường khoa mục,

Hai chữ mơ màng việc quốc gia

Tài liệt lạt nhiều, nên kém bạn,

Người còn mỏi, hết phúc còn ta  chữ hình thanh 𤷱 mòn Quân thân chưa báo lòng canh cánh,

Tình phụ cơm trời áo cha

8

9

Túi thơ bầu rượu quản tình suông,

Quẩy dụng đầm hâm may dặm đường  chữ hội ý 𠇍 mấyÐài Tử Lăng cao, thu mắt,  mượn âm 沫(mạt) mát

Bè Trương Khiên nhẹ, khách sang

Trang 5

Tằm ươm lúc nhúc, thuyền đầu bãi

Hào chất so le, khóm cuối làng

Ngâm sách thằng chài trong thủa ấy

Tiếng trào dậy khắp Thương Lang

9

10

Sang cùng khó bởi chưng trời

Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi

Tả lòng thanh, vị núc nác,

Vun đất ải, luống mùng tơi

Liêm, cần thiết cả tua hằng nắm [節tiết]

Trung, hiếu niềm xưa mã nỡ rời

Con cháu chớ hiềm song viết ngặt

Thi thư thực ấy báu Ngàn đời

10

11

Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy,

Có thân chớ phải lợi danh vây

Ðêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,

Ngày vắng xem hoa bợ cây

Cây cớm chồi cành, chim kết tổ,

Ao quang mấu ấu, cá nên bầy

Ít nhiều tiêu sái lòng ngoại thế,

Năng một ông này đẹp thú này

11

12

Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân,

Trúc rợp hiên mai quét tục trần

Nghiệp cũ thi thư hằng một chức,

Duyên xưa hương hỏa tượng ba thân

Nhan Uyên nước chứa bầu còn nguyệt,

Ðổ Phủ thơ nên bút có thần

Nợ quân thân chưa báo được,

Hài hoa còn bện dặm thanh vân

Trang 6

12

13

Thân nhàn dầu tới, dầu lui,

Thua được bằng cờ ai kẻ đôi

Bạn cũ thiếu, ham đèn mấy sách

Tính quen chăng ? kiếm trúc cùng mai

Cày gióng tuyết, ngâm đòi cảnh,

Cuốc chơi xuân, khắp mọi đồi

Con cháu mã hiềm song viết tiện,

Ngàn dầu cam quít ấy là tôi [頭đầu]

13

14

Tà dương bóng ngả thủa hồng lâu,

Thế giới đông nên ngọc một bầu

Tuyết sóc leo cây điểm phấn,

Cõi đông dải nguyệt in câu6 [豸dãi]

Khói chìm thủy quốc quyến phẳng,

Nhạn triện hư không gió thau

Vừa sáu mươi dư tám chín thu,

Lưng gầy da nẻ, tướng lù khù

Lâm tuyền thanh vắng bạn Sào, Hứa,

Lễ nhạc nhàn chơi đạo Khổng, Chu

Bát cơm thoàng, nhờ ơn xã tắc

Gian lều cỏ, đội đức Ðường, Ngu

Tơ hào chẳng có đền ơn chúa,

Dạy láng giềng, mấy sĩ nho

15

16

Am cao, am thấp đặt đòi từng,

Khấp khểnh ba làn trở lại bằng [𠀧 ba làn] Xem 77-3

Trang 7

Quét trúc, bước qua lòng suối,

Thưởng mai, về đạp bóng trăng

Phần du lẽo đẽo thương quê cũ,

Tùng cúc bù trì nhớ việc hằng

Một phút thanh nhàn trong thủa ấy,

Thiên kim ước đổi được hay chăng?

16

17

Tham nhàn lánh đến giang san,

Ngày vắng xem chơi, sách một an

Am rợp chim kêu hoa sẽ động, [sẻ] ?

Song âm hương tạn khói sơ tàn

Mưa thu tưới ba đường cúc

Gió xuân đưa một luống lan

Ấn cả lọ chi thành thị nữa, [隐Ẩn]

Nào đâu là chẳng đất nhà quan

17

18

Ðột xung biếng tới áng can qua,

Ðịch lều ta, dưỡng tính ta

Song viết hằng lề phên sách cũ

Hôm chiều đủ bữa bát cơm xoa [遥dao]

Ðêm thanh nguyệt hiện ngoài hiên trúc

Ngày vắng chim kêu cuối khóm hoa

Quân tử hãy lăm bền chí cũ,

Chẳng âu ngặt, chẳng âu già

18

19

Thương Lang mấy khảm một thuyền câu,

Cảnh lạ đêm thanh hứng bởi đâu?

Nguyệt mọc đ ầu non, kình dõi tiếng,

Khói tan mặt nước, thận không lầu

Giang sơn dạm dược đồ hai bức,  mượn âm 特(đặc) được

Thế giới đông nên ngọc một bầu

Ta ắt lòng mừng Văn Chính nữa, [chính] ?

Vui, xưa chẳng quản đeo âu

Trang 8

19

20

Nếu có ăn thì có lo,

Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho

Ngày nhàn mở sách xem Chu Dịch,

Ðêm vắng tìm mai bạn Lão Bô

Ðã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc,

Cho hay đường lợi cực quanh co

Tuồng ni cộc được bề hơn thiệt,

Chưa dễ bằng ai đắn máy đo

20

21

Dấu người đi, là đá mòn,

Ðường hoa vắng vẻ trúc luồn

Cửa song dãi, xâm hơi nắng,

Tiếng vượn vang kêu, cách non,

Ngày tháng bằng thoi một phút cười

Thế sự người no ổi tiết bảy,

Nhân tình ai ủ cúc mồng mười

Thuyền chèo đêm nguyệt, sông biếc,

Cây đến ngày xuân, lá tươi

Phú quí chẳng tham, thanh tựa nước,

Lòng nào vây mỗ hơi hơi

III MẠN THUẬT [14 bài]

Trang 9

Lòng thế tin chi mặt nước bằng

Trì cỏ, được câu ngâm gió,

Hiên mai, cầm chén hỏi trăng

Thề cùng viên hạc trong hai ấy,

Thấy có ai han chớ đãi đằng

2

24

Ngẫm ngượi sơn lầm mấy thị triều, [吟𠮾 ngẫm ngột] [ 林lâm]

Nào đâu là chẳng đất Ðường Nghiêu

Người tham phú quí, người hằng trọng,

Ta được thanh nhàn, ta sá yêu

Nô bộc ắt còn hai rặng quít,

Thất gia chẳng quản một con lều

Miễn là tiêu sái qua ngày tháng,

Lộc được bao nhiêu ăn bấy nhiêu TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-51

3

25

Có mống tự nhiên lại có cây,

Sự làm vương vất ắt còn chầy,

Thủy chung mỗ vật đều nhờ chúa,

Ðộng tĩnh nào ai chẳng bởi thày

Hỉ nộ cương nhu tuy đã có,

Nghĩa, nhân, lễ, trí mã cho khuây

Hay văn, hay võ, thời dùng đến,

Chẳng đã, khôn ngay, khẻo đầy

4

26

Ðủng đỉnh chiều hôm dắt tay,

Trông thế giới, phút chim bay

Non cao, non thấp, mây thuộc,

Cây cứng, cây mềm gió, hay [cây mềm, gió hay]

Nước mấy trăm thu còn vậy,

Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẵn nay [nhẫn]

Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,

Vui một lòng người cực hiểm thay

Trang 10

5

27

Sơn thủy nhàn chơi phận khó khăn,

Cửa quyền hiểm hóc ngại chôn chân

Say minh nguyệt, chè ba chén,

Dịch thanh phong, lều một gian [迪 Ðịch]

Ngỏ cửa nho, chờ khách đến,

Trồng cây đức, để con ăn

Ðược thua phú quí dầu thiên mạng,

Chen chóc làm chi cho nhọc nhằn ? TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-94

6

28

Ðường thông thủa gióng một cày,

Sự thế bao nhiêu vuỗn đã khuây

Bẻ cái trúc, hòng phân suối,

Quét con am, để chứa mây

Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá,

Rừng tiếc chim về ngại phát cây

Lánh mình cho khỏi áng phong trần

Chim kêu cá lội yên đòi phận,

Câu quạnh cày nhàn dưỡng mỗ thân

Nhà ngặt túi không tiền mẫu tử,

Tật nhiều thuốc biết vị quân thần

Ấy còn lẵng đẵng làm chi nữa,

Sá tiếc mình chơi áng thủy vân

8

30

Chân chăng lọt đến cửa vương hầu,

Ấy tuổi nào thế đã bạc đầu

Liệu cửa nhà xem bằng quán khách,

Ðem công danh đổi lấy cần câu,

Trang 11

Thân đà hết lụy thân nên nhẹ,

Bụt ấy là lòng, bụt há cầu

Vui một quân thân, ơn cực nặng

Tơ hào chưa báo hãy còn âu

9

31

Am quạnh thiêu hương đọc ngũ kinh,

Linh đài sạch một đường thanh

Nhà còn thi lễ, âu chi ngặt,

Ðời phạp văn chương, uỗng mỗ danh [枉uổng]

Ðầu tiếc đội mòn khăn Ðỗ Phủ,

Tay còn lựa hái cúc Uyên Minh

Chi là của, tiêu ngày tháng ?

Thơ một hai thiên, rượu một bình

10

32

Tưởng thân hư ảo nổi bằng hài, [bào]

Chí cũ công danh, uốn lưỡi dao

Viện có hoa tàn chăng quét đất,

Nước còn nguyệt hiện sá thôi chèo

Lòng người tựa mặt, ai ai khác,

Sự thế bằng cờ, bước bước nghèo

Không hết kể chi tay trí thuật,

Ðể đòi khi ngã, mất khi yêu

11

33

Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân,

Lẳng thẳng chưa lìa lưới trần

Ở thế những hiềm qua mỗ thế,

Có thân thì sá cộc chưng thân

Vườn còn, thông trúc đáng năm mẫu,

Câu ước, công danh đổi một cần

Miệt bẻ, hài gai, khăn cóc,

Thênh thang làm mỗ đứa thôn dân

Trang 12

12

34

Trường văn nằm ngả mấy thu dư,

Uổng tốn công, nhàn biện lỗ, ngư

Còn miệng tựa bình đà chỉn giữ,

Có lòng bằng trúc mỗ nên hư

Yên từ nẻo lạc nhà Vương, Tạ,

Quạt đã hầu thu lòng Tiệp Dư

Chỉn sá lui mà thủ phận,

Lại tu thân khác, mức thi thư

13

35

Quê cũ nhà ta thiếu của nào,

Rau trong nội, cá trong ao

Cách song, mai tỉnh hồn Cô-dịch,

Kề nước, cầm đưa tiếng Cửu-cao

Khách đến, vườn còn hoa lác,

Thơ nên, cửa thấy nguyệt vào

Cảnh thanh nhường ấy chăng về nghỉ ?

Lẩn thẩn làm chi áng mận đào

14

36

Án tuyết mười thu uổng độc thư,

Kẻo còn lọt đọt chữ Tương Như

Nước non kẻ khắp quê “hà hữu”, [計kể]

Sự nghiệp nhàn khoe phú “tử hư”

Con mắt hào7 xanh đầu dễ bạc, [hoà] Lưng khôn uốn, lộc nên từ

Trang 13

IV TRẦN TÌNH [9 bài]

1

37

Từ ngày gặp hội phong vân,

Bổ báo chưa hề đặng mỗ phân

Gánh, khôn đương quyền tướng phủ,

Lui, ngõ được đất nho thần,

Ước bề báo ơn minh chúa,

Hết khoẻ phù đạo thanh nhân

Quốc phú binh cường chăng có chước,

Bằng tôi nào thửa ích chưng dân

Suốt mùa hè, kẻo đắp chăn

Ác thỏ tựa thoi, xem lặn mọc,

Cuốc cày là thú, những bon chân

Cậy trời còn có bấy nhiêu nữa,

Chi tuổi chăng hiềm kẻ khó khăn TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-61

3

39

Vầu làm chèo, trúc làm nhà,

Ðược thú vui, ngày tháng qua

Cơm kẻ bất nhân, ăn, ấy8 chớ

Áo người vô nghĩa, mặc, chăng thà

Ngôi triều quan, mấy hay ơn chúa, [買(mãi) mới]

Sinh được con thì cảm đức cha

Mừng thủa thái bình yêu hết tấc,

No lòng tự tại quản chi là

Trang 14

Nào ai chẳng đội ở trên đầu

Song cửa ngọc, vận yên cách, [雲vân]

Dãi lòng đan, nhật nguyệt thâu

Chim đến cây cao, chim nghĩ đỗ,

Quạt hay thu lạnh, quạt sơ thu

Ngoài năm mươi tuổi, ngoài chưng thế, TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-59

Át đã tròn bằng nước ở bầu  mượn âm 乙(ất) Ắt

PHỤ CHÚ:

9) Có thể đọc toàn âm Nôm: Lồng lộng trời, riêng chút đâu [“riêng” đọc nghĩa chữ 私 (tư)]

5

41

Con cờ quẩy, rượu đầy bầu,

Ðòi nước non, chơi quản dầu

Ðạp áng mây, ôm bó củi,

Ngồi bên suối, gác cần câu

Giang sơn mặt thấy nên quen thuộc,

Danh lợi lòng nào ước chuốc cầu

Vương Chất tình cờ ta ướm hỏi,

Lào phới phới thấy tiên đâu?

Làng kia mở cảnh Tiêu Tương

Hàng chim ngủ, khi thuyền đỗ,

Vừng nguyệt lên thủa nước cường

Mua được thú mầu trong thủa ấy,

Thế gian hay một khách văn chương

PHỤ CHÚ:

10) Bản Nôm in thiếu một chữ: 𤼵戈邏。Một phút qua [ ] một lạ dường.

7

43

Chén chăng lọ thuốc rượu La Phù, [祝 chuốc]

Khách đến ngâm chơi, miễn có câu

Lòng một tấc son, còn nhớ chúa,

Trang 15

Tóc hai phần bạc, bởi thương thu

Khó bền, mới phải người quân tử,

Mạnh gắng, thì nên kẻ trượng phu

Cày ruộng, cuốc vườn dầu hết khoẻ,

Tôi Ðường Ngu ở đất Ðường Ngu

8

44

Chớ cậy sang mà ép nề,

Lời chẳng phải vưõn khôn nghe

Quanh co thế bấy, ruột ốc, [抅䂓 Co que]

Khúc khuỷu làm chi, lái hoè11

Hai chữ công danh chăng cảm cộc,

Một trường ân oán những hằm hè

Làm người mã cậy khi quyền thế,

Có thủa bàn cờ tốt đuổi xe

PHỤ CHÚ:

Co que thế bấy, ruột ốc, Khúc khuỷu làm chi, trái hoè

9

45

Bảy tám mươi bằng một bát tay,

Người sinh ở thế mỗ nhàn thay

Lan-đình tiệc họp, mây huyễn,

Kim-cốc vườn hoang, dế cày

Nhật nguyệt soi, đòi chốn hiện,

Ðông hè trải, đã xưa thay

Trúc mai bạn cũ họp nhau quen,

Cửa mận tường đào chân ngại chen

Chơi nước chơi non đeo tích cũ,

Qua ngày qua tháng dưỡng thân nhàn

Trang 16

Thời nghèo sự biến nhiều bằng tóc,

Nhà ngặt, quan thanh lạnh nữa đèn

Lửng vửng công hư tuổi tác nào

Người ảo hoá khoe thân ảo hoá,

Thủa chiêm bao thốt sự chiêm bao

Rừng thiền ắt thấy nên đầm ấm

Ðường thế nào nơi chẳng thấp cao

Ai rằng mai hoa thanh hết tấc,

Lại chăng được phép khúc Ly tao

3

48

Một cày, một cuốc thú nhà quê,

Áng cúc lan chen vãi đậu kê

Khách đến chim mừng hoa xẩy động,

Chè tiên nước kín nguyệt đeo về

Bá-Di người rặng thanh là thú, [浪 rằng] Nhan-tử ta xem ngặt ấy lề

Kệ tiếng dữ lành tai quản lấp,

Cầu ai khen, mấy lệ ai chê?

4

49

Văn này ngâm thấy mỗ thôn viên,

Thương hải hay khô thiết thạch mòn

Chí cũ ta liều nhiều sự hóc,

Người xưa, lại chép thấy ai còn

Nguyệt xuyên, há dễ thâu lòng trúc

Nước chảy, âu khôn siết bóng non

Song viết lại toan nào của tích,

Bạc mại vàng cúc để cho con [梅 mai]

Trang 17

5

50

Ðến trường đào mận ngạt chẳng thông,

Chúa cũ ưa làm chúa cúc thông

Sầu nặng Thiếu-lăng biên đã bạc,

Hứng nhiều Bắc-hải chén chưa không

Mai chăng bẻ, thương cành ngọc,

Trúc nhặt vun, tiếc chiéu rồng

Vui một tấc lòng ưu ái cũ,

Ðêm ngày cuồn cuộn nước triều đông

6

51

Cảnh cũ non quê nhát chốc mồng,

Chiêm bao ngờ đã đến trong

Trà tiên, nước kín, bầu in nguyệt,

Mai rụng, hoa đeo, bóng cách song

Gió nhặt đưa qua trúc ổ,

Mây tuồn phủ rợp thư phòng

Thức nằm nghĩ ngợi còn mường tượng,

Lá, chưa ai quét cửa thông

7

52

Con lều mòn mọn đẹp sao,

Trần thế chăng cho bén mỗ hào

Khách lạ đến ngàn hoa chưa rụng,

Câu màu ngâm, dạ nguyệt càng cao

Những màng lẩn quất vườn lan cúc,

Át ngại lanh tranh áng mận đào [乙 Ắt]

Tới lui mặc phận tự nhiên

Thân xưa hương hoả chăng còn ước,

Chí cũ công danh đã phỉ nguyền

Trang 18

Trẻ12 hoà sang, ấy phúc,

Già được trọn, là tiên

Cho về, cho ở đều ơn chúa,

Lọ phải bon chen đến cửa quyền TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-56 PHỤ CHÚ:

12) QÂTT có ba chữ đọc "trẻ": 𥘷 53-5 ; 󰇬 78-5 ;  ? 104-6

9

54

Cột cây là đá lấy làm nhà,

Lân các ai hầu mạc đến ta

Non lạ, nước thanh làm náu13,

Ðất phàm, cõi tục cách xa

Thiên-thai hái thuốc, duyên gặp,

Vị-thủy gieo câu tuổi già

Cốt lạnh, hồn thanh chăng khứng hoá,

Âu còn nhớ chúa cùng cha

PHỤ CHÚ:

13) Bản Nôm viết chữ 鬪 (đấu) thay vì chữ 鬧 (náo, náu) ;

âm Nôm phải là :  [mượn âm] 鬪 (đấu) dấu

10

55

Kim-cốc phong lưu, nữa để hoang,

Hôm mai uổng chịu nhục toan đang

Giàu mấy kiếp, tham lam bấy,

Sống bao lâu, đáo để màng

La ỷ dập dìu, hàng chợ họp,

Cửa nhà bịn rịn tổ ong tàng Chấm câu : rịn, tổ

Thiên thơ, án sách qua ngày tháng,

Một khắc cầm nên mấy lạng vàng

11

56

Ruộng đôi ba khảm, đất con ong,

Ðầy tớ cười cày kẻo muộn mùng

Sự có cầu người, nên lé mặt,

Phận tuy rằng khó, miễn yên lòng

Thu êm, cửa trúc, mây phủ,

Trang 19

Xuân tĩnh, đường hoa, gấm phong

Ai có cửa thông phòng thết khách,  chữ hình thanh 𧵑 của

Một ao niềng niễng mấy đòng đong TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-57

12

57

Nhà ngặt bằng ta, ai kẻ vì,

Khó khăn phải lụy đến thê nhi

Ðắc thời, thân thích chen chân đến,

Thất sở, láng giềng ngảnh mặt đi

Lu tiện, Nhan Uyên tìm tới đỗ, [󰄕 Lều]

Ðường cùng, Nguyễn Tịch khóc làm chi

Thư song vắng vẻ nhàn vô sự,

Tai chẳng còn nghe tiếng thị phi

13

58

Buồng văn khép cửa lọn ngày thu,

Ðèn sách nhàn làm song viết nho

Thua được, toan chi cơ Hán Sở,

Nên chăng, đành lẽ kiện Thương Chu

Say mùi đạo, trà ba chén,

Tả lòng phiền, thơ bốn câu

Khó, miễn vui, chăng thửa trách,

Vì chưng đời có chúa Ðường, Ngu

14

59

Am quê vè ở dưỡng nhàn chơi, [𧗱 về]

Yên phận, yên lòng kẻo tiếng hơi

Ta quản tiêu dao, qua mỗ thế,

Ai từng phú quí mấy trăm đời ?

Thân nhàn đến chốn dầu tự tại,

Xuân muộn, nào hoa chẳng rụng rời

Nhẫn thấy Ngu-công tua sá hỏi :

Non từ nay má tốn công dời [馬 mã]

15

60

Ngại ở nhân gian lưới trần,

Trang 20

Thời nằm thôn dã, miễn yên thân

Trúc mai chẳng phụ lòng quân tử,

Viên hạc đà quen bạn dật dân

Hái cúc, ương lan, hương bén áo,

Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn

Ðàn cầm suối, trong tai dõi,

Còn một non xanh là cố nhân

16

61

Già chơi dầu có của no dùng,

Chén rượu câu thơ ấy hứng nùng

Ngủ đành hanh nằm cửa trúc,

Say lểo đểu đứng đường thông

Làm quan thơ dại tài chăng đủ,

Về ở thanh nhàn hẹn đã nung14

Dăng dẳng người rằng chuông ấy thạch,

Ðóng, thời cũng có tiếng “coong coong”

PHỤ CHÚ:

14) 烘 (hồng) nung; chữ GIẢ TÁ  mượn nghĩa

17

62

Thân nhàn dạo khắp tày đông, [西tây]

Ðường tới mười thu khỏi bụi hồng

Dịp, huyện hoa còn quến khách,

Rày, biên tuyết đã nên ông

Ðành hay thương hải đòi thời biến,

Ðà biết nhân gian mọi sự không

Chẳng phạp giang hồ nơi vắng vẻ,

Cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng

18

63

Phú quí bao nhiêu người thế gian,

Mơ mơ bằng thủa giấc Hoè-an

Danh thơm, một áng mây nổi,

Bạn cũ, ba thu lá tàn

Lòng tiện soi dầu nhật nguyệt,

Trang 21

Thề xưa, hổ có giang san

Ấy còn cậy cục làm chi nữa,

Nếu cốt chưa nòng chẩm chửa toan

19

64

Chiếm15 tự nhiên một thảo am, [站(trạm) chụm ?]

Dầu lòng đi bắc mấy về nam

Trường thiền định, hùm nằm chực,

Trái thì trai vượn nhọc đem

Núi láng giềng, chim bầu bạn,

Mây khách khứa, nguyệt anh tam

Tào-khê rửa, ngàn tầm suối,

Non Phú-xuân cao nước Vị thanh,

Mây quen nguyệt, khách vô tình

Ðất thiên-tử dưỡng tôi thiên-tử,

Ðời thái bình ca khúc thái bình

Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị,

Tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh

Rày mừng thiên hạ hai của,

Tể tướng hiền tài chúa thánh minh

21

66

Khó khăn thì mặc, có màng bao,

Càng khó bao nhiêu chí mấy hào

Ðại địa dầy, Nam-nhạc khoẻ,

Cửu tiêu vắng, Bắc thần cao

Lấy khi đầm ấm pha khi lạnh,

Chứa thủa khô khao có thủa dào

Trang 22

Kìa nếu Tô Tần ngày trước,

Chưa đeo tướng ấn có ai chào! TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-47

22

67

Chiếm tự nhiên một tấm lều,

Qua ngày tháng, lấy đâu nhiều

Gió tiễn rèm, thay chổi quét,

Trăng kề cửa, kẻo đèn khêu

Cơn ăn chẳng quản dưa muối,

Áo mặc nài chi gấm thêu

Tựa gốc cây, ngồi hóng mát,

Đìu hiu ta hãy một đìu hiu16 TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-73

PHỤ CHÚ:

16) Bản Nôm viết “󰄕 lều hiu”; NVS đọc "leo heo"

QATT-67: 𢭸核𡎢烘𠖾、 Tựa cội cây ngồi hóng mát,

󰄕囂些矣󰄕囂。 Lều hiu ta hãy một lều hiu

NBK-73: 條些咳條。 Đìu hiu ta hãy một đìu hiu

23

68

Bình sinh nhiễm được tật sơ cuồng,

Con cháu chiều ngày chịu khó dương

La, ỷ lấy đâu, chăng lướt thướt,

Hùng, ngư khôn kiếm, phải thèm thuồng

Ao quan, thả gửi hai bè muống,

Ðất Bụt, ương nhờ một luống mùng

Còn có một lòng âu việc nước,

Ðêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung

24

69

Công danh đã được hợp về nhàn,

Lành dữ âu chi thế ngợi khen

Ao cạn, vớt bèo cấy muống,

Trì thanh, phát cỏ ương sen

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,

Thuyền chở yên hà năng với then [ nặng]

Vui có một lòng trung mấy hiếu,

Trang 23

Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen

25

70

Lánh trần, náu thú sơn lâm,

Lá thông đàn, tiếng trúc cầm

Sách cũ, ngày tìm người hữu đạo,

Trì thanh, đêm quến, nguyệt vô tâm

Say, hết tấc lòng hồng hộc,

Hỏi, làm chi sự cổ cầm [今câm/kim]

Thế sự, dầu ai hay buộc bện,

Người hiềm rằng cúc qua trùng cửu,

Kẻ hãy bằng quì hướng thái-dương

Trà thủa tiên, thời mình kín nước,

Cầm khi đàn, khiến thiếp thiêu hương

Non quê này ngọ chiêm bao thấy,

Viên, hạc, chăng hờn, lại những thương

2

72

Non hoang tranh vẽ chập hai ngàn

Nước mấy dòng thanh, ngọc mấy hàn

Niềm cũ sinh linh, đeo ắt nặng17,

Cật trưng hồ hải, đặt chư an

Những vì chúa thánh âu đời trị,

Há kể thân nhàn, tiếc tuổi tàn

Trang 24

3

73

Dương trường đường hiểm khúc cong queo18,

Quê chợ bao nhiêu khách để xe

Phú quí liều19, sương ngọn cỏ,

Công danh gửi, kiến cành hoè

Phong lưu mòn mỏi ba đường cúc,

Ngày tháng tiêu ma một bát chè

Chân chạy, cánh bay ai mỗ phận;

Thiên công nào có thửa tư che

Non nước cùng ta đã có duyên,

Ðược nhàn sá dưỡng tính tự nhiên

Trường-canh hỏi nguyệt tay dừng chén,

Pha-lão chơi thu khách nổi thuyền

Lòng chẳng mắc tham là của báu,

Người mà hết lụy ấy thần tiên

Vua Nghiêu, Thuấn, dân Nghiêu, Thuấn,

Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền

5

75

Thiếu niên trường ốc tiếng hư bay,

Phải lụy vì danh đã hổ thay

Đám cúc, thông quen vầy bầu bạn,

Cửa quyền quí ngại lượm chân tay

Qua đòi cảnh, chép câu đòi cảnh,

Nhàn một ngày, nên quyển một ngày

Tuổi đã năm mươi đầu đã bạc,

Ý còn bừu rịn lấy chi vay

6

76

Ở thế, thường hiềm khác tục ngươi,

Trang 25

Ðến đây rằng hết tiếng chê cười

Kể ngày con nước tính triều lạc,

Vị chúng thằng chài chác cá tươi

Rượu đối cầm, dâm thơ một thủ, [đâm]

Ta cùng bóng mấy nguyệt bá người [巴 ba]

Tai thường phỏng dạng câu ai đọc,

"Ít20 nhân sinh bảy tám mươi"

Danh lợi lòng đà ắt dửng dưng

Dò trúc, xông qua làn suối, [𤂬 làn suối] Xem 16-2

Tìm mai, theo đạp bóng trăng

Giang sơn bát ngát kìa quê cũ,

Tùng cúc bù trì ấy của hằng

Một phút thanh nhàn trong thủa ấy,

Ngàn vàng ước đổi được hay chăng

8

78

Tiêu sái tự nhiên nhẹ hết mình,

Nài bao ngôi cả áng công danh

Vô tâm, trì có trăng bạc,

Ðắc ý, kho đầy gió thanh21

Trẻ22, dầu chơi con tạo hoá,

Già, nọ phục thuốc trường sinh [ lọ]

Dưỡng nhàn miễn được qua ngày tháng,

Non nước còn ghe chốn hữu tình TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-91

Nắng quáng, thưa thưa bóng trúc che,

Cây im, thưa thớt sáng bằng the

Trang 26

Tỏ tường phiến sách con Chu Dịch,

Bàn bạc lòng nhàn cái quất chè

Ðời thủa khó khăn chăng chút ngại,

Thấy nơi xao xác đã mày nề

Ngày nhàn, gió khoan khoan đến,

Sàn sạt cài song giấc hoè

10

80

Tơ tóc chưa hề báo sở sinh,

Già hoà cũ, tủi nhiều hàng

Chông gai, nhẹ đường danh lợi,

Mặn lạt, no mùi thế tình

Sách một hai phiến làm bầu bạn,

Rượu năm ba chén đổi công danh

Ngoài chưng phận ấy cầu đâu nữa :

Cầu một, ngồi coi đời thái bình

11

81

Con lều mòn mọn cách hồng trần,

Vướng vất tư mùa những bạn thân

Trúc Tưởng Hủ, nên thêm tiết cứng;

Mai Lâm Bô đâm được câu thần

Trượng phu, non vắng là tri kỷ,

Tiên khách, nguồn êm ấy cố nhân

Mấy của yêu đương đà chiếm được,

Lại mong chiếm cả hết hoà xuân

12

82

Lọ chi tiên, bụt nhọc tầm phương,

Ðược thú an nhàn, ngày tháng trường

Song có hoa mai, trì có nguyệt,

Án còn phiến sách, triện còn hương

Tôi ngươi một tiết bền bằng đá,

Biên tóc mười phần chịu những sương

Chữ học ngày xưa quên hết dạng;

Chẳng quên, có một chữ "cương thường"

Trang 27

13

83

Phú quí lòng, hơn phú quí danh

Thân hoà tự tại, thú hoà thanh

Tiền sen tích để bao nhiêu thúng,

Vàng cúc đem cho biết mấy bình

Ngoài cửa mận đào là khách đỗ;

Trong nhà cam quít ấy tôi mình

Ai hay, ai chẳng, hay thì chớ,

Vui một ta khen ta hữu tình

14

84

Lều nhàn, vô sự; ấy lâu đài,

Nằm, ở, chẳng từng khuất nhiễu ai

Tuyết đượm trà mai, câu dễ động,

Trì in bóng nguyệt, hứng thêm dài

Quyển Thi Thư những mang quen mặt,

Tiếng thị phi chẳng đụng đến tai

Chẳng thấy phồn hoa trong thủa nọ:

Ít nhiều gửi kiến cành hoè

15

85

Lòng người man xúc nhọc đua hơi;

Chẳng cộc nhân sinh gửi chơi

Thoi nhật nguyệt đưa qua mỗ phút,

Áng phồn hoa họp mấy trăm đời

Hoa càng khoe tốt, tốt thời rữa,

Nước chớ có đầy, đầy ắt vơi

Mới biết doanh hư đà có số,

Ai mà cãi được lòng trời TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-52

16

86

Chước toan chưa đẹp nẻo bình sinh,

Ðến thủa già lại trách mình

Khổ trúc chăng ưa lòng khách bạc,

Lão mai sá học nết người thanh

Trang 28

Công danh lỡ đường vô sự,

Non nước ghi chốn hữu tình [ghe] Nào của cởi buồn trong thủa ấy:

Có thơ đầy túi, rượu đầy bình

17

87

Ngẫm hay múi đạo cực chưng ngon,

Ngàn kiếp dù ăn vuỗn hãy còn

Nhật nguyệt dễ qua bên sáng,

Cương thường khôn biến tấc son

Chĩnh vàng chẳng tiếc, danh thì tiếc,

Bia đá hay mòn, nghĩa chẳng mòn [羅la]

Giữ khăng khăng ai nỡ phụ,

Phù trì mạ khá để thon von

18

88

Lân la mến cảnh sơn khê,

Sự thế nên vong hết mọi bề

Ngòi, thửa triều cường chờ nguyệt mọc,

Cây, khi ác lặn rước chim về

Giàu mặc phận, nguôi lòng ước,

Chật yên bần ấy cổ lề

Ắt muốn đến chơi thành thị nữa,

Âu là non nước nó đàn chê

19

89

Tài tuy chẳng ngỏ trí chẳng cao,

Quyền đến trong tay chí mới hào

Miệng khiến tửu binh phá lũy khúc,

Mình làm thi tướng đánh đàn tao

Cầm khua hết ngựa, cờ khua tượng,

Chim bắt trong rừng, cá bắt ao

Còn có anh hùng bao nả nữa,

Ðòi thời vậy, dễ hơn nào

Trang 29

20

90

Thế những cười ta rằng đánh thơ,

Dại hoà vụng nết lừ khừ

Lừa tìm ngàn bá như mai bảo;

Thuyền nổi dòng thu có nguyệt đưa

Ngoài cửa mừng người dầu cái vẹt,

Trong nhà thết khách mặc con cờ

Áo đành một tấm, cơm hai bửa, [bữa]

Phận ấy chưng ta đã có thừa

21

91

Làm người hay một hoạ hay hai,

Mã cậy sang mã cậy tài

Tiết trực cho bằng đá, sắt,

Ðường đi sá tránh chông gai

Miệng người tựa mật, mùi qua ngọt,

Ðạo thánh bằng tơ, mối hãy dài

Ðương cơ ai kẻ khứng nhường ai,

Thua, được tình cờ có một mai

Gạch quẳng nào bày mấy ngọc,

Sừng hằng những mọc qua tai

Làm lành mới cậy chớ làm dữ,

Có đức thì hơn nữa có tài

Mấy kẻ tư văn người đất Việt,

Ðạo này nối nắm để cho dài

23

93

Nẻo xưa nay cũng một đường,

Ðây xong xóc nẻo tam cương

Trang 30

Đạo này để trong trời đất,

Nghĩa ấy bền chưng đá vàng

Gió kíp hay là cỏ cứng,

Ðục nhiều dễ biết đường quang

Tôi người thì một lòng trung hiếu, [󰕘 ngươi]

PHỤ CHÚ:

24) Bản Nôm chép: 馨 hang, han

24

94

Ngồi thừ tháng trọn mấy ngày qua,

Luống phụ triều đình, luống phụ nhà

Ðầu kết lăng căng những hổ,

Thân nhà lục cục mỗ già

Giang sơn cách đường ngàn dặm,

Sự nghiệp, buồn đêm trống ba

Nợ cũ chước nào báo bổ,

Ơn thày, ơn chúa mấy ơn cha

25

95

Xin làm mỗ bộ quản giang san,

Có biết đâu là sự thế gian

Gối giải mây, dầu trúc múa,

Cầm đưa gió, mặc thông đàn

Ngày xem hoa động chăng cài cửa,

Tối rước chim về mã lạc ngàn

Gửi tính ngư tiều hai đứa lẫn,

Của ai non nước khiến ta bàn

26

96

Lể phú tính uốn nên hình, [𠅜 Lề]

Ắt đã trừng trừng nẻo thủa sinh

Há chẳng biến dời cùng thế thái,

Những câu tư túi có thần minh [謳 âu]

Cưu lòng nhụ tử làm thơ dại,

Ca khúc Thương-lang biết trọc thanh

Trang 31

Ðầu non Thiếu-thất đen bằng mực,

Dòng nước Liêm-khê lục nữa lam

Tiêu sái mấy lòng đà mạc được,

Bảo chăng khứng mạc một lòng thơm

28

98

Non tây bóng ác đã màng tang,

Nhận đỉnh tùng thu vắng chừng

Thư nhạn lạc lài khi gió,

Tiếng quyên khắc khoải thủa trăng

Gia sơn cũ, còn mường tượng,

Thân thế già, biếng nói năng

Khó ngặt qua ngày, xin sống,

Xin làm đời trị mỗ thái bình

29

99

Phúc thay, sinh gặp thủa thăng bình,

Nấn ná qua ngày được dưỡng mình

Trong mặt những mừng ơn bậu bạn,

Trên đầu luống đội đức triều đình

Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc,

Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh

Trang 32

Ơn vua luống nhiều phần đội,

Việc nước nào ích mỗ bề

Rắp tới đã chăng hay chốn tới,

Hầu đi lại chửa biết đường đi

Tôi người, hết tấc lòng trung hiếu, [󰕘 ngươi]

Ai há liệu nơi thịnh suy

31

101

Nước xuôi, nước ngược toả đôi chiều, [隊 đòi]

Thuyền khách chơi thu các lái chèo

Mái thác trăng, dường thế hứng,

Buồm nhân gió, mặc khi phiêu

Phơ phơ đầu bạc ông câu cá,

Leo lẻo doành xanh con mắt mèo

Ấu lộ cùng ta dường có ý, [鷗 Âu]

Ðến đâu thì thấy nó đi theo TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-54

32

102

Chiếm tự nhiên lều một gian, [𥿕chụm]

Giũ không thay thảy đám hồng trần

Ngàn hàng cam quít con đòi cũ,

Mấy đứa ngư tiều bầu bạn thân

Thấy nguyệt tròn, thì kể tháng,

Nhìn hoa nở mới hay xuân

Cày ăn, đào uống yên đòi phận,

Sự thế chăng hay đã Hán, Tần ? TRÙNG: Xem Bạch Vân Am NBK-55

33

103

Kẻ thì nên bụt, kẻ nên tiên,

Tượng thấy ba thân đã có duyên

"Bành" được "Thương" thua con tạo hoá,

Diều bay cá nhảy đạo tự nhiên

Có thân mựa lệ phạp bằng hữu,

Ðọc sách thời xem thấy thánh hiền

Ta nếu ở đâu vui thú đấy,

Người xưa ẩn cả lọ lâm tuyền

Trang 33

34

104

Tự nhiên đắp đổi đạo trời,

Tiêu trưởng doanh hư một phút dời

Muối mấy dưa dầu đủ bữa,

Nhiễu cùng gấm mặc chưng đời

Công danh dày dạn già lú,

Tạo hoá đong lừa trẻ chơi

Sự thế đã hay thời vậy,

Có ai cốc được mỗ cười cười

35

105

Nương náu qua ngày chẳng lọ nhiều,

Chân rừng chiếm một gian lều [chụm]

Cửa hèm khách tục nào cho đến,

Song vắng chim phàm chớ tới kêu

Lặt hoa tàn xem ngọc rụng,

Soi nguyệt xấu kẻo đèn khêu

Giàu những của tự nhiên ấy,

Khủng khỉnh dầu lòng ở đất Nghiêu

36

106

Uổng có thân nhàn, cực thửa nuôi,

Ghê đường dại dột mỗ nên xuôi

Nào ai dễ có đường chân thật ?

Ở thế tin gì miệng đải bôi [đãi]

Khóng thẩy kẻ cười cùng kẻ thốt,

Khó khăn người dễ mấy người duôi

Nhân gian mọi sự đều nguôi cả,

Ðình Thấu Ngọc, tiêu đang tuyết nhũ, [煎 tiên]

Song Mai hoa, điểm quyển Hi kinh

Trang 34

Hẹn này nỡ phụ ba đường cúc,

Tiếc ấy vì hay một chữ đinh

Mọi sự đã chăng còn ước nữa;

Nguyện xin một thấy thủa thăng bình

38

108

Phồn hoa một đoạn tỉnh mơ,

Mẩy chuông tàn cảnh xác xơ

Chim có miệng kêu âu lại ngẫm,

Cáo khuyên lòng ở mã còn ngờ

Chẳng cài cửa, tiếc non che khuất,

Sá để thuyền, cho nguyệt chở nhờ

Ta ắt muốn nhàn, quàn muốn lạnh, [官quan]

Lo thay vì lụy phải thờ ơ

39

109

Lấy đâu xuất, xử lọn hai bề,

Ðược thú làm quan, mất thú quê

Ngòi cạn ước ở làm khăn khắn,

Cửa quyền biếng mặc áo thê thê

Mừng cùng viên hạc, quen lòng thắm,

Ðã kẻo thuần lô bảo hạn về

Thong thả dầu ta ngoài thế giới,

La, ngàn non nước một thằng hề

40

110

Ngọ thời nằm, đói lại ăn,

Việc vàn ai hỏi áo bô cần

Tranh treo vách, nài chi bức,

Ðình thưởng liên, năng có gian

Vườn quỳnh, dầu chim kêu hót,

Cõi trần, có trúc đứng ngăn

Già vuỗn lấy rượu phù khoẻ,

Hoạ lại quên lòng khó khăn

Trang 35

41

111

Chớ còn chăng chẳng, chớ quyền quyền,

Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn

Tích đức cho con hơn tích của,

Ðua lành cùng thế mã đua khôn

Một lòng trung hiếu làm lộc cả, [念 niềm]

Hai quyền thi thư ấy báu chôn

Ở thế làm chi câu thúc nữa,

Nhi tôn đã có phúc nhi tôn

VII TỰ THUẬT [11 bài]

1

112

Thế gian đường hiểm há chăng hay,

Càng còn đi, ấy thác vay

Nước kiến phong quang hầu mấy kiếp ?

Rừng nho nấn ná miễn qua ngày

Tóc nên bạc, bởi lòng ưu ái;

Tật được tiếu, nhờ thuốc đắng cay [消tiêu]

Kì kí, nô thai 25 đà có đấy,

Kẻ nhìn cho biết, lại khôn hay

Ngại đòi thời thế, biến nhiều hành

Tuế tàn, cảnh đã về ban muộn,

Tóc bạc biên khôn chước lại xanh

Ở thế thì cho ta những thiệt,

Khoe mình há chịu miệng rằng lành ?

Khiêm nhường ấy mới biều quân tử, [鑣/ miều] tiêu ?

Ai thấy Di Tề có thửa tranh?

Ngày đăng: 23/09/2017, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN