eo các nhà bản đồ: Bản đồ là sự miêu tả khái quát, thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc bề mặt thiên thể khác trên mặt phẳng trong một phép chiếu xác định, nội dung của bản đồ được biểu thị bằn
Trang 1Các trang trong thể loại “Trắc địa”
Trang 2Mục lục
1.1 Các chuyên ngành chủ yếu 1
1.2 Các cơ sở đào tạo nghề trắc địa ở Việt Nam 1
1.3 ực trạng ngành trắc địa tại Việt nam 2
1.4 am khảo 2
2 Bản đồ 3 2.1 Tỉ lệ 3
2.2 Liên kết ngoài 3
3 Bản đồ địa hình 4 3.1 Lịch sử 5
3.2 Các quy ước 5
3.3 Tỷ lệ và độ chính xác 5
3.4 Nguồn dữ liệu lập bản đồ 5
3.5 Nội dung 6
3.5.1 Ngôn ngữ 6
3.6 Ứng dụng 7
3.6.1 Tác động của bản đồ tới địa danh 7
3.7 Số hóa bản đồ 7
3.8 OpenStreetMap 7
3.9 Đối tượng nghiên cứu 7
3.10 am khảo 7
3.11 Xem thêm 8
3.12 Liên kết ngoài 8
4 Cửa sông 9 4.1 Liên kết ngoài 10
4.2 am khảo 10
5 Địa động lực học 11 5.1 Tổng quan 11
5.2 Biến dạng của đá 11
5.2.1 Đàn hồi 11
i
Trang 3ii MỤC LỤC
5.2.2 Biến dạng dẻo 11
5.2.3 Biến dạng giòn 12
5.2.4 Cấu trúc biến dạng 12
5.3 Nhiệt động lực học 12
5.4 Động lực của trái Đất 12
5.5 Phương pháp 12
5.6 Xem thêm 13
5.7 am khảo 13
5.8 Đường dẫn ngoài 13
6 Đường đồng mức 14 6.1 am khảo 14
7 Geoid 15 7.1 Hình dạng Trái Đất 15
7.2 Mô tả 16
7.3 Nguyên nhân của sự bất thường Geoid 16
7.4 Biến thiên theo thời gian 16
7.5 Các thiên thể 16
7.6 Đối tượng nghiên cứu 16
7.7 am khảo 16
7.8 Xem thêm 17
7.9 Liên kết ngoài 17
8 GNSS 18 8.1 am khảo 18
9 Hệ quy iếu 19 9.1 Cơ học cổ điển 19
9.1.1 Lực 19
9.2 uyết tương đối 20
9.2.1 uyết tương đối hẹp 20
9.2.2 uyết tương đối rộng 20
9.3 Xem thêm 20
9.4 am khảo 20
10 Hệ thống Định vị Toàn cầu 21 10.1 Phân loại 21
10.2 Sự hoạt động của GPS 21
10.3 Độ chính xác của GPS 21
10.4 Các thành phần của GPS 22
10.4.1 Phần không gian 22
10.4.2 Phần kiểm soát 22
Trang 4MỤC LỤC iii
10.4.3 Phần sử dụng 22
10.5 Tín hiệu GPS 22
10.6 Nguồn lỗi của tín hiệu GPS 23
10.7 Ứng dụng GPS 23
10.7.1 Dân dụng 23
10.8 y định pháp lý tại Việt Nam về GPS 24
10.9 Các thiết bị ứng dụng GPS 24
10.9.1 Trong quân sự 24
10.10 Các hệ thống định vị khác 24
10.11 Xem thêm 24
10.12 am khảo 24
10.13 Liên kết ngoài 25
11 Hệ tọa độ địa lý 26 11.1 Chiều thứ nhất và thứ hai: vĩ độ và kinh độ 26
11.2 Chiều thứ ba: độ cao, chiều cao, chiều sâu 27
11.3 Tọa độ địa tĩnh 27
11.4 Xem thêm 28
11.5 am khảo 28
11.6 Liên kết ngoài 28
12 Hiệp hội ốc tế về Trắc địa 29 12.1 Lịch sử 29
12.2 Mục tiêu 29
12.3 Hoạt động 29
12.4 Tổ chức 29
12.5 am khảo 29
12.6 Xem thêm 29
12.7 Liên kết ngoài 29
13 Hình cầu dẹt 30 13.1 Diện tích bề mặt 30
13.2 Xem thêm 30
13.3 am khảo 30
14 Khảo sát xây dựng 31 14.1 Những người làm khảo sát nổi tiếng 31
14.2 Xem thêm 32
14.3 am khảo 32
14.4 Liên kết ngoài 32
15 Kinh độ 33 15.1 Lịch sử 33
Trang 5iv MỤC LỤC
15.2 Lưu ý và tính toán kinh độ 34
15.3 am số elip 34
15.4 Chiều dài một độ cung 34
15.5 Kinh độ và vĩ độ hoàng đạo 35
15.6 Kinh độ trên các thiên thể không là Trái Đất 35
15.7 Xem thêm 36
15.8 Ghi chú 36
15.9 Liên kết ngoài 36
16 Liên đoàn ốc tế về Trắc địa và Địa vật lý 37 16.1 Mục tiêu 37
16.2 Các thành viên 37
16.3 Các đối tác 37
16.4 Hoạt động 37
16.5 am khảo 37
16.6 Xem thêm 37
16.7 Liên kết ngoài 37
17 Máy kinh vĩ 38 17.1 am khảo 38
18 Máy toàn đạc 39 18.1 Các chế độ 39
18.1.1 Đo khoảng cách 39
18.1.2 Đo góc 39
18.1.3 Đo tọa độ 39
18.1.4 Xử lý dữ liệu 39
18.2 Ứng dụng 39
18.2.1 Khảo sát khai thác mỏ 39
18.2.2 Xây dựng công trình 39
18.3 Các hãng sản xuất 39
18.4 am khảo 39
19 Mực nước biển 40 19.1 am khảo 41
19.2 Xem thêm 41
19.3 Liên kết ngoài 41
20 Ống bọt nước 42 20.1 Nguyên lý 42
20.2 Lịch sử 42
20.3 Các dạng 43
20.4 Xem thêm 43
Trang 6MỤC LỤC v
20.5 am khảo 43
20.6 Liên kết ngoài 43
21 Ra đa khẩu độ tổng hợp giao thoa 44 21.1 Chú thích 44
21.2 Liên kết ngoài 44
22 Ellipsoid quy iếu 45 22.1 Các tham số ellipsoid Trái Đất 45
22.2 Tọa độ 45
22.3 Các ellipsoid quy chiếu lịch sử của Trái Đất 45
22.4 Ellipsoid quy chiếu cho các thiên thể 46
22.5 am khảo 46
22.6 Xem thêm 46
22.7 Liên kết ngoài 46
23 ăm dò trọng lực 47 23.1 Cơ sở phương pháp 47
23.1.1 Các biến thiên 47
23.2 iết bị đo đạc 47
23.3 Bố trí quan sát 48
23.3.1 Đo đường bộ 48
23.3.2 Đo trên tàu biển 48
23.3.3 Đo trên máy bay 48
23.4 Vi trọng lực 48
23.5 Xử lý phân tích 48
23.5.1 Khử trường bình thường 48
23.5.2 Khử biến thiên 48
23.5.3 Hiệu chỉnh độ cao điểm đo 49
23.5.4 Hiệu chỉnh địa hình 49
23.5.5 Khử sai số khớp tuyến 49
23.5.6 Lập bản đồ trường dị thường 49
23.6 Đối tượng nghiên cứu 49
23.7 Xem thêm 49
23.8 am khảo 49
23.9 Liên kết ngoài 50
24 í nghiệm Cavendish 51 24.1 Lịch sử 51
24.2 Liên hệ giữa G và khối lượng Trái Đất 52
24.3 Xem thêm 52
24.4 am khảo 52
24.5 Liên kết ngoài 53
Trang 7vi MỤC LỤC
25.1 Bối cảnh 54
25.2 Tìm ngọn núi thích hợp 55
25.2.1 Chimborazo, 1738 55
25.2.2 Schiehallion, 1774 55
25.3 Các đo đạc 56
25.3.1 iên văn học 56
25.3.2 Khảo sát 56
25.4 Các thí nghiệm lặp lại 57
25.5 Cơ sở toán học và vật lý 57
25.6 Chú thích 58
25.7 am khảo 58
26 ủy triều 60 26.1 Đặc điểm 60
26.2 Nguyên nhân 60
26.3 Phân loại 61
26.3.1 Nhật triều 61
26.3.2 Bán nhật triều 61
26.4 Con người dựa vào thủy triều 61
26.5 ủy triều và danh từ trong tiếng Việt 62
26.6 am khảo 62
27 Trường hấp dẫn 63 27.1 Cơ học cổ điển 63
27.2 uyết tương đối rộng 64
27.3 Xem thêm 64
27.4 Chú thích 64
28 Vĩ độ 65 28.1 Vĩ tuyến 65
28.1.1 Các vĩ tuyến quan trọng 65
28.2 Phân chia 65
28.3 Tác động của vĩ độ 66
28.4 Các tham số elip 66
28.5 Chiều dài của một độ cung 66
28.6 Các kiểu vĩ độ 67
28.6.1 “Vĩ độ" thông thường 67
28.6.2 Vĩ độ rút gọn 67
28.6.3 Vĩ độ bảo toàn diện tích 67
28.6.4 Vĩ độ cầu trường 67
28.6.5 Vĩ độ bảo toàn góc 67
Trang 8MỤC LỤC vii
28.6.6 Vĩ độ địa tâm 67
28.6.7 So sánh các loại vĩ độ 68
28.6.8 Vĩ độ thiên văn 68
28.6.9 Vĩ độ cổ 68
28.6.10 Hiệu chỉnh cho cao độ 68
28.7 Đọc thêm 68
28.8 Xem thêm 68
28.9 Ghi chú 69
28.10 Liên kết ngoài 69
29 Vòng cung trắc đạc Struve 70 29.1 Chuỗi 70
29.1.1 Na Uy 70
29.1.2 ụy Điển 70
29.1.3 Phần Lan 71
29.1.4 Nga 71
29.1.5 Estonia 71
29.1.6 Latvia 71
29.1.7 Litva 71
29.1.8 Belarus 71
29.1.9 Moldova 71
29.1.10 Ukraina 71
29.2 Hình ảnh 72
29.3 am khảo 72
29.4 Liên kết ngoài 72
30 Xí đạo 73 30.1 Khí hậu vùng xích đạo 73
30.2 Các quốc gia có đường xích đạo 73
30.3 Xem thêm 74
30.4 am khảo 74
Trang 9Chương 1
Trắc địa
Trắc địa hay trắc đạc hay đo đạc là một ngành khoa
học vềTrái Đất, cụ thể là đo đạc và xử lý số liệu đo
đạcđịa hìnhvà địa vật nằm trên bề mặtTrái Đấtnhằm
vẽ lên mặt phẳng giấy hay còn gọi làbản đồ Trắc địa
là đo đạc vị trítọa độvàđộ cao, hình dạng, kích thước,
phương hướng của địa hình mặt đất và địa vật nằm trên
mặt đất Đây là ngành nghề có từ lâu đời tại các nước
châu Âu, sản phẩm của ngành có đóng góp quan trọng
và liên quan mật thiết đến nhiều lĩnh vực của xã hội
đặc biệt trong lĩnh vực: lậpBản đồ địa hìnhquốc gia,
nghiên cứu và quy hoạch, thiết kế, thi công các công
trình, quản lý đất đai, quản lý tài nguyên khoáng sản,
quản lý rừng, quản lý biến đổi khí hậu, quản lý giao
thông, điện lực, viễn thông, thủy lợi…
1.1 Các chuyên ngành chủ yếu
• Trắc địabản đồ(surveying and maping): đo vẽ các
loại bản đồ phục vụ cho dân dụng như: công tác
địa chính,bản đồ địa hình,quy hoạch xây dựng,…)
và mục đíchquân sự
• Trắc địacông trình: khảo sát thiết kế công trình,
triển khai bản vẽ thiết kế của công trình ra thực
địaset out, phục vụ thi công và giám sát thi công
xây dựng công trình đúng bản vẽ thiết kế,quantrắc chuyển dịch và biến dạng của các công trình
và nền móng công trình trong toàn bộ tuổi đờicủa công trình Công cụ đo chủ yếu bằng các loạimáy đo đạc:máy kinh vĩ,máy thủy bình,máy dọilaser,máy toàn đạc điện tử,máy định vị GPS…vàcác máy láser scan thế hệ mới giúp quét và ghinhận lại toàn bộ hiện trạng các công trình
• Trắc địa mỏ (mining geodesy)
• Trắc địa cao cấp (higher geodesy): đo đạc trên quy
mô toàn cầu
• Viễn thám (remote sensing): đây là phân ngành
trắc địa đo vẽ từ ảnh hàng không (máy bay,…) sauquá trình bay chụp, bằng tàu biển (đo vẽ thềm lụcđịa, đáy đại dương,…) Công cụ đo có thể bằng:máy ảnh, thiết bị siêu âm, ra đa vô tuyến điện,…
• Trắc địa ảnh (photogrammetry): đây là lĩnh vực xử
lý kết quả trắc địa qua ảnh
• định vị vệ tinh(GPS): định vị địa vật và đo vẽ địahình bằng vệ tinh địa tĩnh (là loại viễn thám đặcbiệt)
• Hệ thống thông tin địa lý (GIS): là chuyên ngành
về phần mềm và cơ sở dữ liệu địa lý (công nghệthông tin)
• Trắc địa biển
1.2 Các cơ sở đào tạo nghề trắc địa
ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có các trường đại học đào tạokỹ
sư trắc địanhư:Đại học Mỏ địa chất Hà Nội,Đại họcTài nguyên và Môi trường ành phố Hồ Chí Minh,Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Đại họcGiao thông vận tải Hà Nội,Đại học Bách khoa ànhphố Hồ Chí Minh,Đại học Khoa học Tự nhiên thuộcĐại học ốc gia Hà Nội(chuyên ngành bản đồ viễnthám &GIStại khoa Địa lý),Học viện Kỹ thuật ân
sự,Đại học Xây dựng(chuyên ngành Kĩ thuật Trắc địa)
1
Trang 102 CHƯƠNG 1 TRẮC ĐỊA
Tuy nhiên, trình độ và tay nghề của các kĩ sư/ trung
cấp tốt nghiệp từ những môi trường đào tạo này đang
là một vấn đề lớn Mất quá nhiều thời gian để các kĩ sư
có thể nắm bắt và thực hiện công việc Cần xem lại quy
trình đào tạo và liên kết giữa đào tạo và sản xuất
1.3 Thực trạng ngành trắc địa tại
Việt nam
Dù là một ngành khoa học cơ bản, nhưng hiện nay,
ngành đang mất dần sức hấp dẫn, số lượng sinh viên ra
trường bỏ nghề sau vài năm rất nhiều do tính chất công
việc vất vả, sống xa nhà, thu nhập không tương xứng
và tình trạng nợ lương lâu ngày khiến họ mệt mỏi, do
chưa có mộtHiệp hội đo đạc bản đồhoạt động hiệu quả
và vì lợi ích chung Tình trạng phá giá khá phổ biến gây
mất lòng tin nghiêm trọng đến các đối tác cần cung cấp
dịch vụ
1.4 Tham khảo
Trang 11Chương 2
Bản đồ
Bản đồ thế giới do Johannes Kepler
Bản đồ thế giới năm 2004
Bản đồ là hình thu nhỏ tương đối chính xác về một
khu vực hay cả Trái Đất Bản vẽ đơn giản miêu tả một
không gian, địa điểm và hiển thị những thông số liên
quan trực tiếp đến vị trí ấy có liên quan đến khu vực
xung quanh
eo các nhà bản đồ: Bản đồ là sự miêu tả khái quát,
thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc bề mặt thiên thể khác trên
mặt phẳng trong một phép chiếu xác định, nội dung của
bản đồ được biểu thị bằng hệ thống ký hiệu quy ước
Bản đồ thường dùng nhất trong địa lý eo nghĩa này
bản đồ thường có hai chiều mà vẫnbiểu diễnmột không
gian có ba chiều đúng đắn.Môn bản đồlà khoa học và
nghệ thuật vẽ bản đồ
Bản đồ còn là một khái niệm được sử dụng trong sinh học để biểu thị một hệ thống nào đó, ví dụ như bản đồ gien.
2.1 Tỉ lệ
Tỉ lệ của một bản đồ địa lý làtỉ sốgiữa một khoảngcách đo trên bản đồ và khoảng cách ngoàithực địa.Chẳng hạn, nếu 1cmtrên bản đồ ứng với 1kmngoàithực địa thì bản đồ đó có tỉ lệ 1:100000, vì 1 km = 100000cm
Ký hiệu của tỉ lệ có dạng 1:M, trong đó số M chỉ khoảngcách thực tế lớn gấp bao nhiêu lần khoảng cách tươngứng đo trên bản đồ
Bản đồ có tỉ lệ lớn thì càng chi tiết và tương ứng với số
M nhỏ Bản đồ tỉ lệ nhỏ kém chi tiết hơn và có số Mlớn
2.2 Liên kết ngoài
• Bản đồ chi tiết địa hình Việt Nam nguyên khổ,
tỷ lệ 1:50.000 và 1:250.000thực hiện bởi Bộ ốcphòng Hoa Kỳ thập kỷ1960
3
Trang 12Chương 3
Bản đồ địa hình
Bản đồ địa hình với các đường đồng mức
Phần của bản đồ nói trên được biểu diễn kiểu địa hình bóng
shaded relief , minh họa các đường đồng mức thể hiện địa vật
Bản đồ địa hình trong đồ bản hiện đại, là loạibản đồ
biểu diễn chi tiết và định lượng các đặc trưng củađịa
hìnhđịa vật theo mộthệ tọa độ địa lýxác định
Định nghĩa truyền thống đòi hỏi một bản đồ địa hình
phải hiển thị các chi tiết của cả thiên nhiên và con người
tạo ra Định nghĩa hiện đại thì do Trung tâm ông tin
Canada đưa ra: Bản đồ địa hình là biểu diến đồ họa đầy
đủ và chính xác các chi tiết văn hóa và tự nhiên trên mặt
đất.[1]
Hệ thống Chỉ số Bản đồ Toàn cầu đầu tiên, hiện đang được
dùng ở Việt Nam, Liên Xô cũ, và nhiều nước khác.
Phần Bản đồ địa hình vùng Nablus ở West Bank , Trung Đông , với Khoảng cao đều 100 m, vùng cao được tô mã màu
4
Trang 133.3 TỶ LỆ VÀ ĐỘ CHÍNH XÁC 5
Trên Bản đồ địa hình, bề mặt đất liền và đáy biển của
Trái Đấtđược biểu diễn bằng cácđường đồng mức, là
đường nối các điểm có cùngđộ cao xác định, và các
đường đồng mứckhác nhau thì không giao nhau Các
chi tiết khác thì biểu diễn bằng ký hiệu theo một quy
ước nào đó, và ở các nước khác nhau thì thường không
hẳn được thống nhất iếu thống nhất cũng xảy ra
trong lựa chọnhệ tọa độ địa lývà phương pháp chiếu,
tức là cách chuyển tải tọa độđối tượng trên mặt đất
vốn cong lên mặt giấy phẳng
Bản đồ địa hình thường được công bố như là một loạt
tờ bản đồ, có thể gồm nhiều tấm bản đồ ghép lại Các
tấm này được đánh chỉ số (Index) sao cho nó đơn nhất
trên toàn thế giới
Bản đồ địa hình cũng có thể được lập cho cáchành tinh
vàvệ tinh, tùy theo mức độ số liệu thu thấp được
3.1 Lịch sử
3.2 Các quy ước
Phần chính của bản đồ địa hình làđịa hìnhbiểu diễn
bằngđường đồng mức, cókhoảng cao đềutùy thuộcđịa
hìnhvà tỷ lệ bản đồ Đường đồng mức gián đoạn ở các
sườn dốc, núi đá,… Tại vùng đồng bằng có thể thêm các
đồng mức phụ, chẳng hạn mức +2,5 m biểu diễn bằng
nét đứt[2] Các điểm cao hoặc điểm đặc trưng thường
có giá trị độ cao ghi kèm
Cácvùng nướcđược xác định theođộ caocủa mực nước
trung bình, ví dụ mặtBiển Chếtlà−429 m, mặthồ Ba
Bể ở Việt Nam là +145 m, và từ đó xác định ra ranh
giới vùng nước, hay đường bờ vùng nước Vùng nước
thường được tô màu lam nhạt (lam sáng màu), đôi chỗ
có ghi giá trịđộ cao Mảng vùng nước không gắn với
độ cao xác định, tức là mảng của một con sông thì độ
cao mực nước có thể khác nhau, ví dụ như mực nước
sông Hồngkhác nhau tại Lào Cai và tại Nam Định
Các đối tượng khác nhau được thể hiện trên bản đồ
bằng các dấu hiệu hoặc biểu tượng, đôi khi kèm theo
chữ tên hay kiểu đối tượng Ví dụ, phân loại đường sá
bằng kiểu vẽ đường và màu vẽ Các suối có phân biệt
theo mùa nước Độ che phủ thực vật thì là mảng màu
và biểu tượng nhóm cây kèm theo tên loại cây phổ biến
ở đó, ví dụ "khộp".
Các dấu hiệu hoặc biểu tượng được chú giải ở ô chú
giải, lập cho nhóm tấm bản đồ cho những đối tượng có
trong nhóm đó, tức là có thể không có ở một vài tấm
ường thì không đưa vào biểu tượng cho đối tượng
không có ở vùng đó Điều này dẫn đến thực tế biên tập
biểu tượng đôi khi là theo thói quen của phái những
người tham gia biên soạn Ví dụ tại Việt Nam trên bản
đồ 1:50000 đối tượngmiếu thờ được biên tập chi tiết ở
các tờ phía nam, nhưng ít thấy ở các tờ phía bắc
3.3 Tỷ lệ và độ chính xác
Tỷ lệ của bản đồ là tỷ số giữa một khoảng cách đo trên
bản đồ và khoảng cách ngoài thực địa Nó thường biểu
diễn ở dạng 1:M, với M chỉ khoảng cách thực tế lớn gấp
bao nhiêu lần khoảng cách tương ứng đo trên bản đồ
Ví dụ bản tỷ lệ 1:50.000 thì 1 cm ứng với 500 m ngoàithực địa
Bản đồ có tỷ lệ lớn thì càng chi tiết và tương ứng với
số M nhỏ Bản đồ tỷ lệ nhỏ kém chi tiết hơn và có số M
lớn
Độ chính xác tọa độ các địa vật được quy ước là 0,3 mmtrên bản đồ, ví dụ ở tỷ lệ 1:100000 là 30 m Tuy nhiênvới đối tượng dạng đường hay đa giác thì ảnh hưởngcủa đồ hình làm nó không mang nhiều ý nghĩa
3.4 Nguồn dữ liệu lập bản đồ
Các bản đồ hiện đại là kết quả của một quá trình sảnxuất phức tạp, bắt đầu với việc lập kế hoạch và thựchiện chuyến bay để chụp ảnh trên không Các máy lậpthể quang học hoặc số hóa, được sử dụng để chuyển đổihình ảnh ra bản đồ theo hệ thống tọa độ ấn định.Ảnhvệ tinhđang thay thế dần ảnh máy bay Kết quảđược kết hợp kế thừa các thông tin bản đồ đã có, để cho
ra phiên bản mới phù hợp thực tế hơn Công nghệ mớicho ra dữ liệu số hóa.[3]
Nguồn dữ liệu tên các đối tượng, trong đó có địa danh,vốn là vấn đề phức tạp Nó được biên tập theo quy tắc
“tốt nhất có thể", và do đó được chia ra các nhóm nguồn:
1 Các điều tra trực tiếp, là nguồn cho tên lần đầutiên được đưa lên bản đồ, hoặc hiệu đính tên đãcó
2 Kế thừa từ các biên tập có trước
3 Vay mượn từ những bản đồ nước khác khi không
có điều kiện tiếp cận đối tượng
Tại Việt Nam hiện nay thì quản lý lãnh thổ và hànhchính đã đi vào nề nếp, cơ sở dữ liệu “tên” được coi làđầy đủ cho vùng trong nước Tuy nhiên trước đây cáctên phần lớn kế thừa từ bản đồ dongười Pháplập choĐông Dươngthời những năm 1940 về trước
Tại Việt Nam có hai cơ sở chính đảm trách thu thập vàbiên tập bản đồ:
• Cục Bản đồ ân đội Nhân dân Việt Nam
• Công ty Đo đạc ảnh địa hìnhthuộcCục Đo đạc vàBản đồ Việt Nam,Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 146 CHƯƠNG 3 BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
Nội dung Bản đồ địa hình của Việt Nam
3.5 Nội dung
Bản đồ địa hình gồm phần đồ họa chính, khung tọa độ
và các chỉ dẫn Nội dung chính thiên về mục đích quân
sự và quản lý lãnh thổ, nên các địa vật ảnh hưởng tới
tác chiến được ưu tiên thể hiện
• Phần đồ họa chính, hay tự thân của bản đồ, biểu
diễn đồ họađịa hìnhtheođường đồng mức, ranh
giới quốc gia và hành chính, khu dân cư, mạng lưới
giao thông, mức độ và loạithực vậtche phủ đất,
các khối nhà hay công trình xây dựng,… Các vách
dốc như núi đá vôi thì thường có ký hiệu riêng
và ghi chú Trên biển và vùng nước thì có đường
đồng mức đáy, các tuyến đường thủy, luồng lạch,
loại vật liệu đáy và thực vật đáy nếu có, cũng như
các chướng ngại Một số ký hiệu địa vật có thể
to hơn kích thước thật theo tỷ lệ bản đồ Các tên
hay ký hiệu chữ thì cỡ chữ đại diện cho mức quan
trọng cần quan tâm
• Lưới tọa độ thường không có dạng chữ nhật, do
biểu diễn theo hình chiếu Bản đồ tỷ lệ nhỏ cho
vùng rộng lớn thì méo dạng càng lớn Khung bản
đồ thường cắt theo lưới tọa độ, nhưng khi cần trình
bày cho đẹp, ví dụ bản ghép toàn bộ quốc gia, thì
Bản đồ thường được biên soạn bằng ngôn ngữ chính
thức của quốc gia xuất bản và lưu hành Tuy nhiên khi
hệ ký tự của ngôn ngữ có thể gây khó khăn trong sử
dụng quốc tế, nhưtiếng Hoa,Lào,ái,… hoặc khi biên
soạn phần lãnh thổ của nước khác nhưng có để ý đến
tính đa dụng, thì thường biên soạn đa ngữ Phần lớn
thường ghi kèm tên hoặc chỉ dẫn bằngchữ Latin, với
cách chuyển tự do nước biên soạn quy định
• Bản đồ của Việt Nam xuất bản là đơn ngữ tiếng
Việt[4] Hầu hết tên đối tượng trong nước Việt đã
Tên bản ở xã Nghĩa Thuận, Quản Bạ
Bản đồ của Lào xuất bản có ghi các tên chuyển tự Latin cùng với chữ Lào.
được điều tra và hiệu đính Tuy nhiên một số vùngtrong nước, và các vùng ngoài nước, vẫn kế thừanhiều tên từ bản đồ cũ, trong đó có cả tên làngbản
• Tên nhiều làng bản ở xãNghĩa uậnhuyện
ản Bạ, Hà Giang, bản đồ 1:50.000 tờ 48-18-D, vẫn ghi phiên âmLatincủa tiếngTrung, như bản “Yi Wan Shui”, “Ku ZhuWan”,… Một số tên buôn làng ở vùngTâyNguyêncũng vẫn còn ghi theo tên cũ
F-• Phần lãnh thổ Trung ốc được ghi bằngphiên âmLatincủa tiếng Trung, ví dụ “YuanJiang” cho Nguyên Giang, là phần đầu nguồncủasông Hồng
• Phần lãnh thổLào,Campuchiathì hỗn tạpcủa kế thừa từ bản đồ cũ lẫn sửa mới theophát âmtiếng Việt
• Bản đồ của Anh, Hoa Kỳ và vùng ảnh hưởngxuất bản thì theo “tiêu chuẩn chuyển ngữ sangchữ Latin" các địa danh của ngôn ngữ phi Latin,tên thường tham chiếu là “chuẩn Latin hóaBGN/PCGN", được hai tổ chức là Ban Địa danh Hoa Kỳ (BGN, United States Board on Geographic Names) và Ủy ban thường trực về Địa danh cho sử dụng chính thức ở nước Anh (PCGN, Permanent
Trang 153.7 SỐ HÓA BẢN ĐỒ 7
Commiee on Geographical Names for British
Official Use) lập ra
• Bản đồ củaLào xuất bản có kèmchữ Latintheo
quy cách phiên âm và chuyển tự do Ủy ban ốc
gia Lào về Địa danh (Lao Commission Nationale
de Toponymie) đưa ra khoảng những năm 1960
Chuẩn Latin hóa BGN/PCGN cho tiếng Lào sử
dụng quy cách này
• Bản đồ củaái Lan xuất bản có kèmchữ Latin
theo quy cách chuyển tự được chính phủ quy định
trong "Hệ thống Chuyển tự Tiếng ái Hoàng gia"
(Royal ai General System of Transcription)
TạiLiên Hiệp ốcthìNhóm chuyên viên về Địa danh
Liên Hiệp ốcđảm trách việc quy chuẩn phiên âm và
chuyển tự địa danh, đưa ra khuyến nghị về sử dụng quy
chuẩn đó[5]
3.6 Ứng dụng
Bản đồ địa hình, đặc biệt là loại tỷ lệ lớn, biểu diễn đầy
đủ và chính xác bề mặtTrái Đất, là dữ liệu cơ bản cho
quản lý đất đai lãnh thổ, cho các nghiên cứu, điều tra
khoa học, quy hoạch kinh tế, thiết kế và xây dựng các
cơ sở kinh tế, giao thông, các đường ống dẫn,…
Bản đồ địa hình chính thức được cơ quan nhà nước xuất
bản phục vụ lợi ích quốc gia, quốc phòng và an ninh
công cộng Tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam, các
bản đồ địa hình được coi là tài liệu mật Tại Việt Nam
dấu “MẬT” hiện vẫn có trong các bản in và bản điện tử
Trước năm 1980 bản đồ được sử dụng theo quy chế tài
liệu mật, các bản hỏng phải được một hội đồng thanh
lý, và các trường hợp đánh mất có thể gây phiền toái
cho người dùng Tuy nhiên hiện nay bản đồ được bán
tràn lan
Các dẫn xuất là bản đồ lược trích, được xuất bản để
làm nền cho bản đồ chuyên đề khoa học kỹ thuật khác,
nhưbản đồ địa chất,thủy văn,thổ nhưỡng,thực vật,
dân cư,… và cả nhu cầu dân sinh như bản đồdu lịch,
giao thôngdân sự,… Các đối tượng lược bỏ là phần hoạt
động quân sự quan tâm: đường đồng mức chi tiết, độ
cao các cao điểm, chỉ dẫn về các đặc điểm địa vật như
độ dốc taluy,…
3.6.1 Tác động của bản đồ tới địa danh
Tên đối tượng do từng nhóm biên tập khác nhau thực
hiện vào thời gian và hoàn cảnh khác nhau, nên khi
đưa lên bản đồ lần đầu tiên thì khó tránh khỏi sự “chưa
chuẩn xác” và thiếu thống nhất Dẫu vậy nếu không
quá sai lệch thì tên đưa lên được thừa nhận, và việc
trích xuất sang bản đồ cho môn học địa lý góp phần
vào phổ biến những tên đó Tại Việt Nam, và ở vùng
Đông Dươngnói chung, bản đồ dongười Pháplập ra
đã tác động đến tên sông và một số địa danh
1 Việc truy tìm thượng nguồn và ghi thống nhấttheo tên điển hình cho nhiều sông, đã làm mất đinhiều tên địa phương của từng đoạn sông Ví dụsông Hồngngày nay được coi là vào đất Việt Nam
ở bản Lũng Po xãA Mú Sung, huyệnBát Xát, bỏ
đi những tên như "sông ao",…
2 Một số ít tên vùng do người Pháp ghi, nay trởthành địa danh chính thức Ví dụ tên "Lào Cai"
Từ những năm 1990 việc số hóa bản đồ địa hình đã được
bắt đầu Ví dụ như tại Cục Trắc địa và Đồ bảnCHLBĐức(Bundesamt ür Kartographie und Geodäsie), vàđến nay đã hoàn thiện ở các tỷ lệ.[7]
Tại Việt Nam, việc số hóa bắt đầu muộn hơn một chút,khi cácphần mềm biên tập bản đồđược nhập khẩu vàqua giai đoạn thử nghiệm.[8] Đến nayBản đồ địa hình
chính thức ở tỷ lệ đến 1:50 000 theo Hệ toạ độ quốc gia Việt NamVN2000 đã hoàn thiện số hóa năm 2004, do
Trung tâm ông tin Dữ liệu Đo đạc và Bản đồthuộcCục Đo đạc và Bản đồViệt Namquản lý và phát hànhcho các mục đích công vụ
3.8 OpenStreetMap
Dựa theo dữ liệu bản đồ thế giới, các dạng trực quan củabản đồ địa hình được đưa ra ở Dự ánOpenStreetMap
vàShule Radar Topography Mission
3.9 Đối tượng nghiên cứu
Frequently Asked estions
Trang 168 CHƯƠNG 3 BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
[2] Topographic Map Symbols United States Geological
Survey Publications Truy cập 01/04/2015
[3] ông tư Số: 05/2012/TT-BTNMT ông tư quy định kỹ
thuật hiện chỉnh bản đồ địa hình quốc gia tỷ lệ 1:25.000
và 1:50.000 bằng ảnh vệ tinh.Truy cập 01/04/2015
[4] Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 các tờ Trung tâm ông tin Dữ
liệu Đo đạc và Bản đồ, 2004
[5] Kerfoot, Helen Role of the United Nations in the
standardization of geographical names: some fiy years
on In: United Nations, Department of Economic and
Social Affairs, Statistics Division (ed.):Manual for the
standardization of geographical names United Nations
Group of Experts on Geographical Names New York
2006: 83-97.ISBN 92-1-161490-2
[6] Bản đồ Bắc Kỳ năm 1879, trongIl etait un Tonkin: Jean
Dupuis forez-info, 2012 Truy cập 22/04/2016
[7] Digitale Karten von Deutschland Bundesamt ür
Kartographie und Geodäsie Truy cập 01/04/2015
[8] yết định Số: 70/2000/QĐ-ĐC y định kỹ thuật số
hóa bản đồ địa hình…Truy cập 01/04/2015
• Trung tâm ông tin Dữ liệu Đo đạc và Bản đồ,
nơi cung cấp bản đồ số hóa
Trang 17Chương 4
Cửa sông
Minh họa cửa sông
Cửa sông là nơi dòng sông chảy ra và đổ vào biển hoặc
hồ lớn
eo Xamoilov I.B (1952), các vùng cửa sông (Устья
рек) gồm hai loại cơ bản là châu thổ (Дельта – delta)
và vùng cửa sông hình phễu (Эстуарий - Estuary)[1]
Pritchard (1967) có một định nghĩa riêng cho vùng cửa
sông hình phễu – estuary: “đó là một thuỷ vực nửa kín
ven bờ thông với biển khơi, trong đó có sự hoà trộn
nhất định giữa nước biển và nước ngọt đưa đến từ lục
địa”[2]
Đến nay, vùng cửa sông hình phễu (estuary) được hiểu
là một vùng hạ lưu sông bị ngập chìm không đền bù
trầm tích và ở đó thuỷ triều thường có vai trò quan
trọng (gốc từ Latin aestus là thủy triều) Những Estuary
điển hình của thế giới gồm: Xen, Jironda (Pháp), ame,
Mersey (Anh), Rein, Maas (Hà Lan), Potomac (Hoa kỳ)
v.v[3]
Châu thổ là thuật ngữ do Herodotus (485 – 425 trước
CN) đưa ra để mô tả hình dạng tam giác của vùng
cửa sông Nil, nó được tạo ra tại vùng cửa sông, nơi
tốc độ bồi tụ vượt tốc độ bào mòn, xâm thực do sóng,
thuỷ triều và dòng chảy Châu thổ được phân loại
thành: châu thổ sông thống trị như Mississippi, Hoàng
Hà, Pô, Đanup v.v.; châu thổ sóng thống trị như Nil,
Rone, Sanfrancisco, Xêngan, Nigeria v.v.; châu thổ triều
thống trị, ví dụ Mê Kông, Trường Giang, Ganga –
Brachmaputra v.v[3]
Về địa lý học và sinh thái học vùng cửa sông nói chungđược dùng với từ estuarine zone hay estuarine area(Устья рек), có thể gồm một hoặc một số cửa sôngnhánh (river mouths) Ví dụ, vùng (cửa sông) châu thổ
Mê Kông (delta) có tới 9 cửa sông (river mouths) Vùngcửa sông hình phễu Bạch Đằng (estuary) có 3 cửa sông(river mouths - Cửa Cấm, Nam Triệu và Lạch Huyện).Cửa sông tạo ra sự chuyển đới giữa môi trường của sông
và môi trường của biển và cả hai đều có khả năng ảnhhưởng đến thành phần của biển như thủy triều, sóng và
độ mặn của nước Nó còn ảnh hưởng đến thành phầncủa sông như sức chảy của nước sạch và trầm tích Với
sự tiếp xúc của cả hai loại nước, nước biển và nước sông(thường là nước sạch không mặn) do đó vùng cửa sôngcung cấp một nguồn chất dinh dưỡng cao trong nước
và trầm tích Điều này đã làm cho cửa sông trở thànhmột trong những nơi có môi trường sống tự nhiên sinhsôi nhất trên thế giới.[4]
Đa số các cửa sông hiện nay được hình thành trong thếHolocentrong biển tiến sau băng hà lần cuối cùng làmngập các thung lũng ven bờ từ khoảng 10.000-12.000năm về trước.[5] Cửa sông thường được phân loại tùytheo đặc trưng của địa mạo hoặc sự lưu thông của nướcdưới một quá trình nhất định nào đó Do đó cửa sôngcòn có thể gọi bằng nhiều cái tên khác nhau tùy theođặc thù của nó
Cửa sông là một trong những môi trường sinh tháiđông đảo nhất trên thế giới Nó chứa tới khoảng 60%các sinh vật trên toàn thế giới Do đó cửa sông đang bịảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như sự đóng cặn do quátrình mòn đất, là hậu quả của phá hoại rừng hay gặm
cỏ bừa bãi của gia súc hoặc những cách trồng cây hạiđất Đánh bắt cá quá mức, hệ thống cống rãnh dơ bẩnđều có thể làm ảnh hưởng tới hệ sinh thái của cửa sông.Nếu như có quá nhiều chất dinh dưỡng từ nước cống
và phân của động vật thì sẽ làm sinh sôi nảy nở nhữngthực vật có hại cho vùng nước đó Những thực vật cóhại có thể lấy hết oxygen và cá sẽ không đủ oxygen đểsống Các loại chất độc hai như các chất kim loại nặng,nuclit phóng xạ,PCB, hydrocarbon Đê cũng nắm vaitrò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến cửa sông.[5]
9
Trang 1810 CHƯƠNG 4 CỬA SÔNG
4.1 Liên kết ngoài
• Animated documentary on Chesapeake Bay
NOAA
• “Habitats: Estuaries - Characteristics” www.onr
navy.mil Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2009
• e Estuary Guide (Based on experience and R&D
within the UK) Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
|accessdate= (trợ giúp)
4.2 Tham khảo
[1] Самойлов И.Б., 1952 устья рек Географиз Мос
стр.1-526
[2] Pritchard, D W (1967) “What is an estuary: physical
viewpoint” Trong Lauf, G H Estuaries A.A.A.S Publ.
83 Washington, DC tr 3–5.
[3] http://i1.rgstatic.net/publication/258627850_Cc_
thu_vc_ven_b_bin_Vit_Nam_-_Coastal_bodies_of_
water_in_Vietnam/links/00463528b8260bf99d000000/
smallpreview.png (1 tháng 3 năm 2007) “Các thuỷ
vực ven bờ biển Việt Nam - Coastal bodies of water
in Vietnam” ResearchGate Truy cập 29 tháng 9 năm
2015
[4] McLusky, D S.; Ellio, M (2004) e Estuarine
Ecosystem: Ecology, reats and Management New York:
Oxford University Press.ISBN 0-19-852508-7
Amsterdam: Elsevier.ISBN 978-0-444-53066-0
Trang 19Chương 5
Địa động lực học
Địa động lực học là một nhánh nhỏ của địa vật lý
nghiên cứ về động lực họccủa trái Đất Nó áp dụng
vật lý, toán học, hóa học để tìm hiểu làm thế nàoĐối
lưu mantidẫn đếnkiến tạo mảngvà các hiện tượng địa
chất nhưTách giãn đáy đại dương,sự hình thành của
núi,núi lửa,động đất,đứt gãy, và vân vân Nó cũng
nghiên cứu về hoạt động bên trong lòng đất bằng cách
đo từ trường, trọng lực, và sóng địa chấn, cũng như
nhữngkhoáng chấtcủa đá và của họĐịa hóa đồng vị
Phương pháp của địa động lực học cũng được áp dụng
để thăm dò của các hành tinh khác
5.1 Tổng quan
Địa động lực học thường nghiên cứu về các quá trình di
chuyển mọi vật trongTrái Đất Ởbên trong trái đất, di
chuyển xảy ra khi đátanhoặc biến dạng và chảy do tác
động của trường ứng suất Biến dạng này có thể là biến
dạnggiòn,đàn hồihoặcdẻo, tùy thuộc vào độ lớn của
áp suất và các đơn vị vật lý khác, đặc biệt làsự giảm áp
lựctheo thời gian Đá có cấu trúc và thành phần không
đồng nhất, vì vậy nó là thường phụ thuộc vào các áp
lực khác nhau Khi làm việc với các quãng thời gian địa
chất, sẽ thuận tiện hơn khi dùng ước lượng môi trường
liên tiếp và trường ứng suất cân bằng để nghiên cứu
phản ứng với áp lực trung bình
Các chuyên gia trong địa động lực học thường sử dụng
dữ liệu từtrắc địa,GPS,InSAR, vàđịa chấnhọc, cùng
với các mô hình toán học để nghiên cứu sự tiến hóa của
ạch quyển,Lớp phủvàlõiTrái Đất
Công việc thực hiện bởi nhà địa động lực học có thể
• an sát biến dạng bề mặt do băng và giãn nở lục
địa sau thời kỳ băng hà, và làm các phỏng đoán
liên quan đến độnhớtcủaquyển manti
• Tìm hiểu cơ chế hoạt động củakiến tạo mảng
5.2 Biến dạng của đá
Dá và các chất liệu địa chất trải qua độ biến dạng với 3mức độ khác nhau, đàn hồi, dẻo, và giòn tuỳ thuộc vàotính chất của chất liệu và độ mạnh của trườngứng suất
Áp lực được định nghĩa là lực trung bình tác động vàomột phần của đá.Áp suấtlà một phần của áp lực làmthay đổi thể tích của một chất rắn;Ứng suất cắtthayđổi hình dạng Nếu không có lực cắt, các chất lỏng ởtrạng tháicân bằng thủy tĩnh Do đó, sau thời gian dài,
đá dễ bị biến dạng dưới áp lực, Có thể ước lượng TráiĐất được đặt trong thủy tĩnh cân bằng Áp lực lên đáchỉ phụ thuộc vào trọng lượng của đá nằm phía trên, vàđiều này phụ thuộc vào trọng lực vàkhối lượng riêngcủa đá Trong một vật thể như mặtTrăngkhối lượngriêng gần như không đổi, nên thông tin về áp suất dễtính Ở trái Đất, những lực nén của đá với độ sâu làquan trọng, và cần một phương trình trạng thái để tínhtoán những thay đổi khối lượng riêng của đá kể cả khi
nó có thành phần đồng nhất
5.2.1 Đàn hồi
Biến dạng đàn hồiluôn có thể đảo ngược, có nghĩa lànếu trường ứng suất liên kết với biến dạng đàn hồi đượcloại bỏ, vật liệu sẽ trở lại trạng thái trước đó Các vậtliệu chỉ cư xử đàn hồi khi sắp xếp tương đối dọc theotrục của vật liệu của các thành phần như nguyên tửhay tinh thể được giữ nguyên Điều này có độ lớn của
áp lực không thể vượt quá sức mạnh tối đa của vật liệu,
và khoảng thời gian áp lực tác động không bằng vớikhoảng thời gian thả lỏng của vật liệu Nếu áp suất vượtquá giới hạn sẽ dẫn đến biến dạng dẻo hoặc giòn
5.2.2 Biến dạng dẻo
Biến dạng dẻoxảy ra khi nhiệt độ của một hệ thống
đủ cao để cho một phần của vật liệu lỏng ra, có nghĩa
là một phần lớn của các liên kết hóa học đang trongquá trình bị phá vỡ và tái tạo Trong biến dạng này quátrình của nguyên tử sắp xếp lại phân phối lại áp lực và
độ biến dạng về cân bằng nhanh hơn chúng có thể tíchlũy Ví dụ như sự uốn thạch quyển dướiĐảo núi lửa
11
Trang 2012 CHƯƠNG 5 ĐỊA ĐỘNG LỰC HỌC
hoặcbồn trầm tích, vàrãnh đại dương Sự biến dạng
dẻo sẽ xảy ra khi quá trình vận chuyển như khuếch tán
vàbình lưudựa trên liên kết hóa học bị phá vỡ và tái
tạo phân phối lại áp lực nhanh như cách nó tích lũy
5.2.3 Biến dạng giòn
Khi áp lực tập trung nhanh hơn sự thả lỏng của thể
phân bố nó,biến dạng giònxảy ra Cơ chế của biến dạng
giòn liên quan phản ứng giữa sự tích tụ hoặc du chuyển
của sự khiếm khuyết đặc biệt là những khiếm khuyết
tạo ra bởi sự biến dạng làm cho vật bị rối loạn và vỡ
Nói cách khác, tất cả những đứt vỡ, dù nhỏ thế nào,
cũng thường tập trung và làm vết vỡ to ra
Nói chung, trạng thái của sự biến dạng được kiểm soát
không chỉ bởi mức độ áp lực, mà còn bởi sự phân bố
của áp lực và độ biến dạng
5.2.4 Cấu trúc biến dạng
Các nhà địa chất cấu tạo học nghiên cứu kết quả của
sự biến dạng bằng quan sát đá, đặc biệt là các chế độ
và hình dáng của sự biến dạng để tái tạo lại trường ứng
suất đã gây ra tác động với đá.Địa chất cấu tạolà một
bổ sung quan trọng cho địa động lực học bởi vì nó cung
cấp nguồn dữ liệu trực tiếp nhất về các chuyển đổi của
trái đất Các chế độ khác nhau của sự biến dạng tạo ra
các cấu trúc địa chất khác biệt
5.3 Nhiệt động lực học
Các đặc điểm của đá mà kiểm soát tốc độ và mức độ
của sự biến dạng nhưĐộ bền uốnhoặc độnhớt, tuỳ
thuộc vào các trạng thái nhiệt của đá và thành phần
Đại lượng quan trọng nhất trong nhiệt động lực học là
nhiệt độ và áp suất Cả hai đều tăng cùng với độ sâu, vì
thế ước lượng đầu tiên về mức độ biến dạng có thể suy
ra từ độ sâu Trong phần trên của thạch quyển, biến
dạng giòn thường xảy ra vì dưới áp suất thấp đá có sức
mạnh tương đối thấp, trong khi đồng thời, nhiệt độ thấp
làm giảm khả năng dễ uốn dòng vật chất Sau khu vực
ranh giới dữa biến dạng giòn-dẻo, biến dạng dẻo thống
trị Biến dạng đàn hồi xảy ra khi khoảng thời gian của
áp lực ngắn hơn thời gian thả lỏng của vật chất Sóng
địa trấn là một ví dụ điển hình của loại biến dạng này
Ở nhiệt độ cao đủ để làm tan đá, sức mạnh so với biến
dạng dẻo tiến đến 0, đó là lý do tại biến dạng đàn hồi
cắt (sóng S) sẽ không di chuyển qua được chất nóng
chảy
5.4 Động lực của trái Đất
Động lực chính đằng sau áp lực ở trái Đất được cung
cấp bởi nhiệt lượng từ đồng vị phóng xạ phân hủy, ma
sát, và nhiệt dư Sự làm mát ở bề mặt và sự sản xuấtnhiệt trong trái Đất tạo ra một građien nhiệt độ từ lõinóng cho đến thạch quyển tương đối mát Nhiệt năngnày được chuyển thành cơ năng bởi sự lan toả nhiệt
Đá nằm sâu hơn thường nóng hơn và có tốc độ lan toảnhiệt lớn hơn và khối lượng riêng thấp hơn đá nằmtrên Ngược lại, đá nguội ở bề mặt có thể trở nên ít nổihơn đá nằm dưới Cuối cùng việc này có thể dẫn đếnsựmất ổn định Rayleigh-Taylor(ảnh 1)
Ảnh 1: cho thấy sự mất ổn định Rayleigh-Taylor 2 chiều sử dụng
mô hình Shan-Chen Các chất lỏng màu đỏ lúc đầu nằm ở tầng trên chất lỏng màu xanh, chất lỏng, và ít nổi hơn so với chất lỏng màu xanh Sau một thời gian, sự mất ổn định Rayleigh-Taylor xảy ra, và những chất lỏng màu đỏ thâm nhập vào chất màu xanh.
Sự nổi âm nhiệt của mảng kiến tạo đại dương là nguyênnhân chính tạo ra sự hút chìm và kiến tạo mảng, trongkhi sự nổi dương nhiệt có thể dẫn đếnchùm manti,giải thích nguyên nhân kích hoạt núi lửa Tầm quantrọng của sản xuất nhiệt so với mất nhiệt cho đối lưunổi trong cả trái Đất vẫn còn là điều không chắc chắn
và đối lưu nổi còn là một mối quan tâm chính của địađộng lực học
5.5 Phương pháp
Địa động lực học là một rộng lĩnh vực rộng kết hợpquan sát từ nhiều nhánh khác nhau của địa chất họctạo thành một bức tranh về hoạt động của Trái Đất.Gần với bề mặt của trái Đất, dữ liệu bao gồmtrắc địa,Định tuổi bằng đồng vị phóng xạ,ạch luận, khoángchất học, khoanhố khoan, và kỹ thuậtviễn thám Tuynhiên, vượt qua độ sâu vài km, hầu hết các cách quansát trở không thực tế Các nhà địa chất nghiện cứ địađộng lực học của quyển manti và lõi trái đất phải hoàntoàn dựa trên máy cảm biến, đặc biệt là địa chấn, và táitạo điều kiện tìm thấy bên trong ở trái Đất bằng các thínghiệm với áp suất cao nhiệt độ cao.(xemphương trìnhAdams–Williamson) Vì sự phức tạp của hệ thống địachất, mô hình máy tính được sử dụng để kiểm tra lýthuyết dự đoán về địa động lực học sử dụng dữ liệu từcác nguồn
Trang 21• Ismail-Zadeh, Alik; Tackley, Paul J (2010).
Computational methods for geodynamics.
Cambridge University Press.ISBN 9780521867672
• Jolivet, Laurent; Nataf, Henri-Claude; Aubouin,
Jean (1998) Geodynamics.Taylor & Francis.ISBN
9789058092205
• Turcoe, D.; Schubert, G (2002) Geodynamics (ấn
bản 2) New York: Cambridge University Press
• NASA hành Tinh địa động lực
• Dữ Liệu Nhân vật–Địa Động Lực Và An Ninh
ốc gia
• Tính toán cơ sở hạ Tầng địa động lực
Trang 22Chương 6
Đường đồng mức
Một ví dụ về đường đồng mức.
Đường đồng mức hay còn gọi là đường bình độ là
đường thể hiện trênbản đồ địa hìnhquỹ tích của các
điểm trên mặt đất tự nhiên tùy theo tỷ lệ của bản đồ
so với địa hình thực tế, mà khoảng cao đều có thể là 1
m, 5 m, 10 m, (bản đồ tỷ lệ càng lớn, càng chi tiết, thì
khoảng cao đều càng nhỏ) Khoảng cách thưa hay mau
của các đường đồng mức trong bản đồ địa hình nói lên
độ dốc hay thoải của vùng địa hình mà bản đồ thể hiện,
càng mau càng dốc và ngược lại
Cao độ của một điểm nằm ở khoảng giữa hai đường
đồng mức trên bản đồ địa hình (không nằm trên đường
đồng mức nào), được xác định gần đúng bằng cách
dựng từ điểm này một đường vuông góc nhất với cả
hai đường đồng mức Khoảng cách hai giao điểm của
đường này với hai đường đồng mức nói trên, được xem
là khoảng cách giữa hai đường đồng mức tại vị trí điểm
đang xét Dùng tam giác đồng dạng, để xác định độ
chênh cao của điểm đang xét với đường đồng mức thấp
trong hai đường đồng mức, qua khoảng cách của điểm
đó tới đường đồng mức thấp và khoảng cách giữa hai
đường đồng mức a đó xác định được cao độ tuyệt
đối của điểm
Có bốn loại đường bình đượcm
đường bình độ con: nét liền mảnhđường bình độ cái: nét liền đậmđường bình độ giữa 1/2:
đường bình độ phụ: nét đứt, thêm vào khi cần thiết
Cứ 2 đường bình độ cái liên tiếp chứa 4 đường bình độcon.Hiểu đường đồng mức một cách đơn giản là đườngđồng mức là đường nối liền các điểm có cùng độ cao
6.1 Tham khảo
14
Trang 23Chương 7
Geoid
Geoid là hình dạng bề mặt củađại dương giả định khi
chỉ có ảnh hưởng củaTương tác hấp dẫncủaTrái Đất
và sự tự xoay, mà không có những ảnh hưởng khác như
thủy triềuvàgió
Bản đồ mức nhấp nhô của Geoid tính ra mét (theo mô hình trọng
trường EGM96 ) so với Ellipsoid quy chiếu WGS84 [1]
Tất cả các điểm trên Geoid có cùngthế năng hấp dẫn,
tức là Geoid là một trong cácmặt đẳng thếcủaTrọng
trường Trái Đất, mà ở đại dương nó trùng với mực
nước biểntrung bình Lực hấp dẫn tác dụng ở khắp
mọi nơi vuông góc với Geoid, nghĩa là đường thẳng
đứng thì vuông góc còn mực nước thì song song với
mặt Geoid.[2]
1 Đại dương 2 Ellipsoid quy chiếu 3 Đường thẳng đứng địa
phương 4 Lục địa 5 Geoid
Khác với thế năng hấp dẫn, trên geoidgia tốc trọng
trườngg thay đổi do gia tốc ly tâm thay đổi, dẫn đến g
ởđịa cựclà 9,83 giảm tới ởxích đạolà 9,78 m/s2
Geoid là một mô hình vật lý củahình dạng Trái Đất,được Carl Friedrich Gauß phát triển vào năm 1828
uật ngữ “geoid” doJohann Benedict Listingđưa ra
để mô tả nó như là một bề mặt đẳngthế năng hấp dẫnvào năm 1871
7.1 Hình dạng Trái Đất
Geoid là một trong các định nghĩa vềhình dạng TráiĐất(Figure of the Earth) dựa trên trọng trường, liênquan đến cấp độ chính xác khi nêu về hình dạng nhằmphục vụ các nghiên cứukhoa học Trái Đất
• Ở dạng khái quát cao nhất, thì coiTrái Đấtcó dạnghình cầu
• Sự quay quanh trục dẫn đến lực ly tâm, làmTráiĐất phình ra ở xích đạo Vì vậy nó được kháiquát là một ellipsoid Các bán trục ellipsoid đượcchọn để trên đại dương bề mặt ellipsoid là xấp
xỉ của Geoid Nó được gọi làEllipsoid quy chiếu
(Reference ellipsoid) và là nền tảng trongTrắc địa
để lập raHệ tọa độ địa lýgồmvĩ độ(latitude),kinh
độ(longitude),cao độ(elevation)
• Sự phân bố không đồng đều củamật độvật chấttrong cáclớp phủvàlớp vỏ, dẫn đếntrọng trườngtại các vị trí địa lý khác nhau là khác nhau Geoid
được định nghĩa ở đây, theo khái niệm vật lý "mặt đẳng thế " củatrọng trường
• Hình dạng đầy đủ nhất củaTrái Đất, chính là bềmặt vật lý, gồm có địa hình trên đất liền và bề mặtcácvùng nước (sông hồ biển và đại dương) xác
định theo mực nước trung bình, tức là bề mặtthạch
-thủy quyểnvà bỏ quakhí quyển
Như vậy các biểu diễn hình dạng đều đòi hỏi xác định
chính xác về Geoid Điểm kỳ dị nằm ở chỗ, phải làm trơn mặt đẳng thế để bỏ qua các tiểu tiết cục bộ do thạch
quyển gây ra Phương cách làm trơn khác nhau cho
ra kết quả khác nhau, nên việc hiệu đính geoid và cảEllipsoid quy chiếudiễn ra liên tục từ xưa đến mai sau
15
Trang 2416 CHƯƠNG 7 GEOID
7.2 Mô tả
Bề mặt của Geoid không đều, cao hơn so với mặt
Ellipsoid quy chiếuở nơi códị thường trọng lựcdương
(mật độ dư) và thấp hơn ở nơi códị thường trọng lực
âm (mật độ hụt)
Geoid mượt mà hơn hơn nhiều so với bề mặt vật lý (tức
địa hình) củaTrái Đất Ví dụ trên đất liền bề mặt vật lý
Trái Đấtthay đổi từ 8.848 m ởĐỉnh Everestđến−429 m
ởBiển Chết, còn biến thiên của Geoid khoảng từ−106
đến 85 m, thấp hơn so với mô hình ellipsoid toán học
hoàn hảo có biến thiên là 200 m
Lưu ý rằng nhiềumáy định vị GPSthực hiện tính toán
vớiEllipsoid quy chiếuđịa tâm, nên trong một hành
trình dài trên tàu biển, với giả định không cóthủy triều
vàsóng, thì GPS cho ra độ cao khác nhau dù tàu vẫn
trên mặt Geoid Đó gọi là số liệu GPS thô Để thu được
độ cao geoidal, số liệu được hiệu đính bằng quan sát
thủy triềuđể xác địnhmực nước biểntrung bình (Mean
sea level) Một sốmáy thu GPShiện đại có mạng lưới
giá trị Geoid cài sẵn (ví dụ từEGM96), có thể tính ra độ
cao geoidal.
Hình dung 3 chiều mức nhấp nhô của Geoid tính ra Gal
7.3 Nguyên nhân của sự bất
thường Geoid
Những biến đổi độ cao bề mặt Geoid có liên quan đến
phân bố mật độ bất thường trong lòng đất Đo đạc
Geoid cho phép hiểu được cấu trúc bên trong của hành
tinh này Tính toán lý thuyết cho thấy rằng dấu hiệu
ở Geoid của mộtlớp vỏdày (ví dụ trong vành đai tạo
núi do va chạm lục địa) là dương, còn nơi chờ đợithạch
quyểndày lên thì là âm
7.4 Biến thiên theo thời gian
Trái Đấtluôn luôn vận động, kể cả trong lòng đất như
đối lưu mantivà ởthạch-thủy quyển Nó dẫn đến phân
bố lại mật độ đất đá trong các lớp và tương ứng là sự
thay đổi củaTrọng trường Trái Đất
Các chương trình khảo sát vệ tinh gần đây, nhưGOCE
vàGRACE, cho phép nghiên cứu của các tín hiệu Geoidbiến thiên theo thời gian Các sản phẩm đầu tiên dựatrên dữ liệu vệ tinh GOCE trở thành có sẵn trong tháng
6 năm 2010, và doCơ quan Vũ trụ châu Âu(EuropeanSpace Agency, ESA) cung cấp dịch vụ trực tuyến quansát Trái Đất.[3] Ngày 31 tháng 3 năm 2011, mô hìnhGeoid mới đã được công bố tại Hội thảo quốc tế lầnthứ tư do GOCE tổ chức tạitrường Đại học Kỹ thuậtMünchenởMunich,Đức.[4]
Nghiên cứu sử dụng các biến thiên thời gian Geoid từ
dữ liệu GRACE đã cung cấp thông tin về lưu thông thủyvăn toàn cầu[5], về sự cân bằng khối lượng của tảngbăng (Ice sheets)[6], và sựphục hồi sau thời kỳ băng hà(Postglacial rebound) Từ việc đo hồi phục sau thời kỳbăng hà, dữ liệu GRACE có thể được sử dụng để suy ra
độ nhớt của Lớp vỏ Manticủa Trái Đất.[7]
7.5 Các thiên thể
Các khái niệm về Geoid được mở rộng tới các hànhtinh khác, cũng như mặt trăng và các tiểu hành tinh(Asteroid).[8]
7.6 Đối tượng nghiên cứu
• Trái Đất
7.7 Tham khảo
[1] “NGA: (U) WGS 84, N=M=180 Earth GravitationalModel (UNCLASSIFIED)” nga.mil.
[2] Fowler C.M.R., 2005 e Solid Earth; An Introduction
to Global Geophysics United Kingdom: CambridgeUniversity Press p 214.ISBN 9780521584098
[3] GOCE giving new insights into Earth’s gravity
European Space Agency Truy cập 10 Mar 2015.[4] Earth’s gravity revealed in unprecedented detail
European Space Agency Truy cập 10 Mar 2015.[5] Schmidt R., Schwintzer P., Flechtner F et al., 2006
GRACE observations of changes in continental waterstorage Global and Planetary Change 50, p 112.Truycập 10 Mar 2015
[6] Ramillien G et al., 2006 Interannual variations of themass balance of the Antarctica and Greenland ice sheetsfrom GRACE Global and Planetary Change 53 (3), p198
[7] Paulson A., Zhong S J., Wahr J., 2007 Inference ofmantle viscosity from GRACE and relative sea leveldata Geophysical Journal International 171 (2), p 497
Trang 257.9 LIÊN KẾT NGOÀI 17
[8] Wieczorek M A., 2007 Gravity and Topography
of the Terrestrial Planets Treatise on Geophysics
p 165 doi:10.1016/B978-044452748-6.00156-5 ISBN
9780444527486
7.8 Xem thêm
• EGM96(Earth Gravitational Model 1996)
• Ellipsoid quy chiếu
• International Terrestrial Reference System
• World Geodetic System, (WGS)
• International Geoid Service (IGeS)
• EGM96 NASA GSFC Earth gravity model
• Earth Gravitational Model 2008 (EGM2008,
Released in July 2008)
• NOAA Geoid webpage
• GeographicLibcung cấp ứng dụngGeoidEval(có
source code) để đánh giá độ cao geoid so với
các mô hình trọng trường EGM84, EGM96, và
EGM2008
• Kiamehr’s Geoid Home Page
• A free windows calculator which yields, among
other calculation, the height difference between
EGM96 geoid and mean sea level at every point
on earth
• Geoid tutorial at GRACE website
• View EGM2008, EGM96 and EGM84 on Google
Maps
Trang 26Chương 8
GNSS
Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (tiếng Anh: Global
Navigation Satellite System - GNSS) là tên dùng chung
cho cáchệ thống định vị toàn cầusử dụngvệ tinhnhưGPS(Hoa Kỳ),Hệ thống định vị Galileo (Liên minhchâu Âu) vàGLONASS(Liên bang Nga) vàHệ thốngđịnh vị Bắc Đẩu(Trung ốc)
8.1 Tham khảo
18
Trang 27Chương 9
Hệ quy chiếu
Trongcơ học, hệ quy iếu là mộthệ tọa độ, dựa vào
đó vị trí của mọi điểm trên các vật thể và vị trí của các
vật thể khác được xác định, đồng thời có một đồng hồ
đothời gianđể xác định thời điểm của các sự kiện
Cùng một sự kiện vật lý, khi ta thay đổi hệ quy chiếu
thì vị trí và thời gian xảy ra sẽ khác nhau
9.1 Cơ học cổ điển
Khi thay đổi hệ quy chiếu thì việc ghi nhận thời gian và
vị trí sẽ thay đổi Tuy nhiên, chênh lệch thời gian giữa
các sự kiện trong cơ học cổ điển là “bất biến”, không
phụ thuộc vào hệ quy chiếu ời gian trong cơ học cổ
điển được gọi là thời gian tuyệt đối Cũng vậy, khoảng
cách giữa các điểm trong không gian của cơ học cổ điển
không thay đổi với sự biến đổi hệ quy chiếu
Việc thay đổi ghi nhận về vị trí trong cơ học cổ điển dẫn
đến việcvận tốc,gia tốc,động lượngvà các loạilựchay
đại lượng vật lý phụ thuộc vào vận tốc hay vị trí mang
“tính tương đối” dưới phép biến đổi hệ quy chiếu Đặc
biệt, tính tương đối của lực trước biến đổi hệ quy chiếu
có thể giúp phân loại lực và hệ quy chiếu ra làm hai
9.1.1 Lực
Các lực mà vật thể chịu tác động có thể không phụ
thuộc vào hệ quy chiếu (ví dụ như lực chỉ phụ thuộc
vào khoảng cách, một đại lượng không thay đổi khi hệ
quy chiếu thay đổi) hoặc có phụ thuộc vào hệ quy chiếu
(ví dụ nhưlực từ, phụ thuộc vào vận tốc các hạt mang
điện)
Có thể phân loại lực ra làm hai theo tính chất tương đối
của chúng Các lực mà không phụ thuộc vào biến đổi
hệ quy chiếu, hoặc không bao giờ biến mất dưới phép
biến đổi hệ quy chiếu đều có thể quy về cáclực cơ bản
Các lực mà phụ thuộc biến đổi hệ quy chiếu và luôn
tìm được hệ quy chiếu mà lực này biến mất gọi làlực
quán tính
Hệ quy chiếu trongcơ học cổ điểncũng được phân ra
hai loại, hệ quy chiếuquán tínhvà hệ quy chiếu phi
quán tính
Hệ quy iếu quán tính được định nghĩa là hệ quy
chiếu trong đó không xuất hiệnlực quán tính(Có một
định nghĩa khác: Hệ quy iếu quán tính là hệ quy
chiếu mà trong đó chuyển động của hạt tự do (hạtkhông chịu tác động của lực nào) là chuyển động thẳngđều.) Điều này có nghĩa là mọi lựctác động lên cácvật thể trong hệ quy chiếu này đều có thể quy về cáclực cơ bản eođịnh luật thứ nhất của Newton khikhông bao hàm lực quán tính, một vật trong hệ quychiếu quán tính sẽ giữ nguyên trạng thái đứng yên haychuyển động thẳng đều khi tổng các lực cơ bản tácdụng lên vật bằng không Tương tựđịnh luật thứ haicủa Newtonhay các định luật cơ học khác, khi chỉ baohàmlực cơ bản, sẽ chỉ đúng trong hệ quy chiếu quántính, nơi không có lực quán tính Một định nghĩa khác,không dựa vào định nghĩa của lực quán tính, đượcLevLandauđưa ra[1]là:
Hệ quy chiếu quán tính là hệ quy chiếu mô
tả không gian và thời gian một cách đồng nhất , đẳng hướng , và không phụ thuộc vào thời gian.
Hệ quy iếu phi quán tính là hệ quy chiếu có xuất
hiệnlực quán tính Trong cơ học cổ điển, chúng là các
hệ quy chiếu chuyển động cógia tốcso với hệ quy chiếuquán tính Trong hệ quy chiếu này dạng của cácđịnhluật cơ học cổ điểnchỉ chứa các lực cơ bản có thể thayđổi so với trong các hệ quy chiếu quán tính, do có thêmlực quán tính Các định luật cơ học bao gồm cả lực quántính sẽ không cần thay đổi
Trong cơ học cổ điển, một hệ quy chiếuchuyển độngkhông có gia tốc (thẳng đều hoặc đứng yên) so vớimột hệ quy chiếu quán tính khác thì cũng sẽ là hệ quychiếu quán tính.Nguyên lý Galileophát biểu trong cơhọc cổ điển coi mọi hiện tượng cơ học đều xảy ra nhưnhau trong các hệ quy chiếuquán tính Sau nàyAlbertEinsteinmở rộng tính chất này và cho rằng tất cả cácquá trìnhvật lýđều xảy ra như nhau trong hệ quy chiếuquán tính(lý thuyết tương đối hẹp) rồi rộng hơn nữa
là mọi quá trìnhvật lýđều xảy ra như nhau trong mọi
hệ quy chiếu (lý thuyết tương đối rộng)
Trong thực tế hầu như không có một hệ quy chiếu nàogắn với các vật thể là hệ quy chiếuquán tínhhoàn toàn
19
Trang 2820 CHƯƠNG 9 HỆ QUY CHIẾU
cả do mọi vật thể đều chuyển động có gia tốc so với
nhau Hệ quy chiếu gắn vớiTrái Đấtcũng không phải
là hệ quy chiếu quán tính thực sự Ví dụ,trọng lượng
biểu kiếncủa mọi vật trênTrái Đấtcũng thay đổi do
sự chuyển động quay củaTrái Đất ông thường một
vật ở xích đạo sẽ nhẹ hơn vật ở hai cực 0.35%, dolực ly
tâmtrong hệ quy chiếu quay của bề mặt Trái Đất tại
xích đạo Tuy nhiên, ta có thể xem là hệ quy chiếu này
là gầnquán tínhnếu cáclực quán tínhlà rất nhỏ so với
cáclựckhác
9.2 Thuyết tương đối
Trongthuyết tương đối, việc thay đổi hệ quy chiếu làm
chênh lệch thời gian giữa các sự kiện và khoảng cách
giữa các điểm có thể thay đổi Không gian và thời gian
không bị tách rời nhau mà nhập thành một khái niệm
duy nhất không-thời gian Khái niệm “khoảng cách”
được mở rộng cho không-thời gian để nó bất biến trước
phép biến đổi hệ quy chiếu
9.2.1 Thuyết tương đối hẹp
Xem thêm tại Lý thuyết tương đối hẹp
9.2.2 Thuyết tương đối rộng
Xem thêm tại Lý thuyết tương đối rộng
Trang 29Chương 10
Hệ thống Định vị Toàn cầu
Hệ thống Định vị Toàn cầu (tiếng Anh: Global
Positioning System - GPS) là hệ thống xác định vị trí
dựa trên vị trí của cácvệ tinh nhân tạo, doBộ ốc
phòng Hoa Kỳthiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý
Trong cùng một thời điểm, tọa độ của một điểm trên
mặt đất sẽ được xác định nếu xác định được khoảng
cách từ điểm đó đến ít nhất ba vệ tinh
Tuy được quản lý bởiBộ ốc phòng Hoa Kỳ, chính
phủHoa Kỳcho phép mọi người trên thế giới sử dụng
một số chức năng của GPS miễn phí, bất kể quốc tịch
nào
Các nước trongLiên minh châu Âuđang xây dựngHệ
thống định vị Galileo, có tính năng giống như GPS của
Hoa Kỳ, dự tính sẽ bắt đầu hoạt động năm 2014.[1]
10.1 Phân loại
Hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ là hệ dẫn đường dựa
trên một mạng lưới 24 quả vệ tinh được Bộ ốc phòng
Hoa Kỳ đặt trênquỹ đạo không gian
Các hệ thống dẫn đường truyền thống hoạt động dựa
trên các trạm phát tín hiệu vô tuyến điện Được biết
đến nhiều nhất là các hệ thống sau: LORAN – (LOng
RAnge Navigation) – hoạt động ở giải tần 90-100kHz
chủ yếu dùng cho hàng hải, hay TACAN – (TACtical
Air Navigation) – dùng choquân đội Mỹvà biến thể với
độ chính xác thấp VOR/DME – VHF (Omnidirectional
Range/Distance Measuring Equipment) – dùng cho hàng
không dân dụng
Gần như đồng thời với lúc Mỹ phát triển GPS,Liên
Xôcũng phát triển một hệ thống tương tự với tên gọi
GLONASS Hiện nay Liên minh châu Âu đang phát
triển hệ dẫn đường vệ tinh của mình mang tênGalileo
Trung ốcthì phát triển hệ thống định vị toàn cầu
của mình mang tên Bắc Đẩu bao gồm 35 vệ tinh.
Ban đầu, GPS và GLONASS đều được phát triển cho
mục đích quân sự, nên mặc dù chúng dùng được cho
dân sự nhưng không hệ nào đưa ra sự đảm bảo tồn
tại liên tục và độ chính xác Vì thế chúng không thỏa
mãn được những yêu cầu an toàn cho dẫn đường dân
sựhàng khôngvàhàng hải, đặc biệt là tại những vùng
và tại những thời điểm có hoạt động quân sự của nhữngquốc gia sở hữu các hệ thống đó Chỉ có hệ thốngdẫn đường vệ tinh châu Âu Galileo (đang được xâydựng) ngay từ đầu đã đặt mục tiêu đáp ứng các yêucầu nghiêm ngặt của dẫn đường và định vị dân sự.GPS ban đầu chỉ dành cho các mục đích quân sự, nhưng
từ năm 1980 chính phủ Mỹ cho phép sử dụng trong dân
sự GPS hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, mọi nơitrênTrái Đất, 24 giờ một ngày Không mất phí thuê baohoặc mất tiền trả cho việc thiết lập sử dụng GPS nhưngphải tốn tiền không rẻ để mua thiết bị thu tín hiệu vàphần mềm nhúng hỗ trợ
10.2 Sự hoạt động của GPS
Cácvệ tinhGPS bay vòng quanh Trái Đất hai lần trongmột ngày theo một quỹ đạo rất chính xác và phát tínhiệu có thông tin xuống Trái Đất Các máy thu GPSnhận thông tin này và bằngphép tính lượng giáctínhđược chính xác vị trí của người dùng Về bản chất máythu GPS so sánh thời gian tín hiệu được phát đi từ vệtinh với thời gian nhận được chúng Sai lệch về thờigian cho biết máy thu GPS ở cách vệ tinh bao xa Rồivới nhiều quãng cách đo được tới nhiều vệ tinh máythu có thể tính được vị trí của người dùng và hiển thịlên bản đồ điện tử của máy
Máy thu phải nhận được tín hiệu của ít nhất ba vệ tinh
để tính ra vị trí hai chiều (kinh độvàvĩ độ) và để theodõi được chuyển động Khi nhận được tín hiệu của ítnhất 4 vệ tinh thì máy thu có thể tính được vị trí bachiều (kinh độ, vĩ độ vàđộ cao) Một khi vị trí ngườidùng đã tính được thì máy thu GPS có thể tính cácthông tin khác, như tốc độ, hướng chuyển động, bámsát di chuyển, khoảng hành trình, quãng cách tới điểmđến, thời gianMặt Trờimọc, lặn và nhiều thứ khác nữa
10.3 Độ chính xác của GPS
Các máy thu GPS ngày nay cực kì chính xác, nhờ vàothiết kế nhiều kênhhoạt động song song của chúng.Các máy thu 12 kênh song song (của Garmin) nhanh
21
Trang 3022 CHƯƠNG 10 HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU
chóng khóa vào các quả vệ tinh khi mới bật lên và
chúng duy trì kết nối bền vững, thậm chí trong tán lá
rậm rạp hoặc thành phố với các toà nhà cao tầng Trạng
thái củakhí quyểnvà các nguồn gâysai sốkhác có thể
ảnh hưởng tới độ chính xác của máy thu GPS Các máy
thu GPS có độ chính xác trung bình trong vòng 15 mét
Các máy thu mới hơn với khả năng WAAS (Wide Area
Augmentation System) có thể tăng độ chính xác trung
bình tới dưới 3 mét Không cần thêm thiết bị hay mất
phí để có được lợi điểm của WAAS Người dùng cũng có
thể có độ chính xác tốt hơn vớiGPS vi sai(Differential
GPS,DGPS) sửa lỗi các tín hiệu GPS để có độ chính xác
trong khoảng 3 đến 5 mét.Cục Phòng vệ Bờ biển Mỹ
vận hành dịch vụ sửa lỗi này Hệ thống bao gồm một
mạng các đài thu tín hiệu GPS và phát tín hiệu đã sửa
lỗi bằng các máy phát hiệu Để thu được tín hiệu đã sửa
lỗi, người dùng phải có máy thu tín hiệu vi sai bao gồm
cả ăn-ten để dùng với máy thu GPS của họ
10.4 Các thành phần của GPS
GPS hiện tại gồm 3 phần chính: phần không gian, kiểm
soát và sử dụng.[2]Không quân Hoa Kỳ phát triển, bảo
trì và vận hành các phần không gian và kiểm soát Các
vệ tinh GPS truyền tín hiệu từ không gian, và các máy
thu GPS sử dụng các tín hiệu này để tính toán vị trí
trong không gian 3 chiều (kinh độ, vĩ độ và độ cao) và
thời gian hiện tại.[3]
10.4.1 Phần không gian
Phần không gian gồm 27 vệ tinh (24 vệ tinh hoạt động
và 3 vệ tinh dự phòng) nằm trên các quỹ đạo xoay
quanh trái đất Chúng cách mặt đất 20.200 km, bán kính
quỹ đạo 26.600 km Chúng chuyển động ổn định vá
quay hai vòng quỹ đạo trong khoảng thời gian gần 24
giờ với vận tốc 7 nghìn dặm một giờ.[4]Các vệ tinh trên
quỹ đạo được bố trí sao cho các máy thu GPS trên mặt
đất có thể nhìn thấy tối thiểu 4 vệ tinh vào bất kỳ thời
điểm nào
Các vệ tinh được cung cấp bằngnăng lượng Mặt Trời
Chúng có các nguồnpindự phòng để duy trì hoạt động
khi chạy khuất vào vùng không có ánh sángMặt Trời
Cáctên lửanhỏ gắn ở mỗi quả vệ tinh giữ chúng bay
đúng quỹ đạo đã định
10.4.2 Phần kiểm soát
Mục đích trong phần này là kiểm soát vệ tinh đi đúng
hướng theo quỹ đạo và thông tin thời gian chính xác
Có 5 trạm kiểm soát đặt rải rác trên trái đất Bốn trạm
kiểm soát hoạt động một cách tự động, và một trạm
kiểm soát là trung tâm Bốn trạm này nhận tín hiệu liên
tục từ những vệ tinh và gửi các thông tin này đến trạm
kiểm soát trung tâm Tại trạm kiểm soát trung tâm, nó
sẽ sửa lại dữ liệu cho đúng và kết hợp với hai an-tenkhác để gửi lại thông tin cho các vệ tinh Ngoài ra, cònmột trạm kiểm soát trung tâm dự phòng và sáu trạmquan sát chuyên biệt
Trạm trung tâm cũng có thể truy cập từ các ăng-ten mặt
đất của U.S Air Force Satellite Control Network (AFSCN)
và các trạm quan sát NGA (National Intelligence Agency) Các đường bay của vệ tinh được
Geospatial-ghi nhận bởi các trạm quan sát chuyên dụng củaKhông quân Hoa Kỳ đặt ở Hawaii, Kwajalein, ĐảoAscension,Diego Garcia,Colorado Springs, Colorado
vàCape Canaveral, cùng với các trạm quan sát NGAđược vận hành ở Anh, Argentina, Ecuador, Bahrain,
Úc và Washington DC.[5]ông tin đường bay của vệ
tinh đi được gởi đến Air Force Space Command’s MCS
ởSchriever Air Force Base25 km đông đông nam củaColorado Springs, do2nd Space Operations Squadron(2 SOPS) của U.S Air Force vận hành Sau đó 2 SOPSliên lạc thường xuyên với mỗi vệ tinh GPS thôngqua việc cập nhật định vị sử dụng các ăng-ten mặtđất chuyên dụng hoặc dùng chung (AFSCN)(các ăng-ten GPS mặt đất chuyên dụng được đặt ở Kwajalein,đảo Ascension, Diego Garcia, và Cape Canaveral) Cácthông tin cập nhật này đồng bộ hóa với các đồng hồnguyên tử đặt trên vệ tinh trong vòng một vài phần
tỉgiâycho mỗi vệ tinh, và hiệu chỉnhlịch thiên văncủa mô hình quỹ đạo bên trong mỗi vệ tinh Việc cậpnhật được tạo ra bở bộ lọc Kalmansử dụng các tínhiệu/thông tin từ các trạm quan sát trên mặt đất, thôngtin thời tiết không gian, và các dữ liệu khác.[6]
• Vệ tinh GPS đầu tiên được phóng năm 1978.
• Hoàn chỉnh đầy đủ 24 vệ tinh vào năm 1994.
• Mỗi vệ tinh được làm để hoạt động tối đa là 15
năm
• Vệ tinh GPS có trọng lượng khoảng 1500 kg và dài
khoảng 17 feet (5 m) với các tấm năng lượng MặtTrời mở (có độ rộng 7 m²)
• Công suất phát bằng hoặc dưới 50 was.
10.5 Tín hiệu GPS
Các vệ tinh GPS phát haitín hiệu vô tuyến công suấtthấp dải L1 và L2 (dải L là phầnsóng cực ngắncủaphổđiện từtrải rộng từ 0,39 tới 1,55 GHz) GPS dân sự dùng
Trang 3110.7 ỨNG DỤNG GPS 23
tần số L1 1575.42 MHz trong dảiUHF Tín hiệu truyền
trực thị, có nghĩa là chúng sẽ xuyên quamây,thuỷ tinh
và nhựa nhưng không qua phần lớn các đối tượng cứng
như núi và nhà
L1 chứa hai mã “giả ngẫu nhiên” (pseudo random), đó là
mã Protected (P) và mã Coarse/Acquisition (C/A) Mỗi
một vệ tinh có một mã truyền dẫn nhất định, cho phép
máy thu GPS nhận dạng được tín hiệu Mục đích của
các mã tín hiệu này là để tính toán khoảng cách từ vệ
tinh đến máy thu GPS
Tín hiệu GPS chứa ba mẩu thông tin khác nhau – mã
giả ngẫu nhiên, dữ liệuthiên vănvà dữ liệulịch Mã giả
ngẫu nhiên đơn giản chỉ là mã định danh để xác định
được quả vệ tinh nào là phát thông tin nào Có thể nhìn
số hiệu của các quả vệ tinh trên trang vệ tinh của máy
thu Garmin để biết nó nhận được tín hiệu của quả nào
Dữ liệu thiên văn cho máy thu GPS biết quả vệ tinh ở
đâu trên quỹ đạo ở mỗi thời điểm trong ngày Mỗi quả
vệ tinh phát dữ liệu thiên văn chỉ ra thông tin quỹ đạo
cho vệ tinh đó và mỗi vệ tinh khác trong hệ thống
Dữ liệu lịch được phát đều đặn bởi mỗi quả vệ tinh,
chứa thông tin quan trọng về trạng thái của vệ tinh
(lành mạnh hay không), ngày giờ hiện tại Phần này
của tín hiệu là cốt lõi để phát hiện ra vị trí
10.6 Nguồn lỗi của tín hiệu GPS
Những yếu tố có thể làm giảm tín hiệu GPS và vì thế
ảnh hưởng tới chính xác bao gồm:
• Giữ chậm củatầng đối lưuvàtầng ion– Tín hiệu
vệ tinh bị chậm đi khi xuyên qua tầng khí quyển
• Tín hiệu đi nhiều đường – Điều này xảy ra khi tín
hiệu phản xạ từ nhà hay các đối tượng khác trước
khi tới máy thu
• Lỗiđồng hồmáy thu – Đồng hồ có trong máy thu
không chính xác như đồng hồ nguyên tử trên các
vệ tinh GPS
Lỗiquỹ đạo– Cũng được biết như lỗi thiên văn, do vệ
tinh thông báo vị trí không chính xác
Lỗi do ảnh hưởng của bão từ, đã được thử nghiệm nhiểu
lần, tùy theo cường độ của bão từ mà sai số của GPS sẽ
sai từ vài chục đến hơn 100 m
• Số lượng vệ tinh nhìn thấy – Càng nhiều quả vệ
tinh được máy thu GPS nhìn thấy thì càng chính
xác Nhà cao tầng, địa hình, nhiễu loạn điện tử
hoặc đôi khi thậm chí tán lá dày có thể chặn thu
nhận tín hiệu, gây lỗi định vị hoặc không định
vị được Nói chung máy thu GPS không làm việc
trong nhà, dưới nước hoặc dưới đất
• Che khuất về hình học – Điều này liên quan tới
vị trí tương đối của các vệ tinh ở thời điểm bất kì.Phân bố vệ tinh lý tưởng là khi các quả vệ tinh ở vịtrí tạo các góc rộng với nhau Phân bố xấu xảy rakhi các quả vệ tinh ở trên mộtđường thẳnghoặccụm thành nhóm
• Sự giảm có chủ tâm tín hiệu vệ tinh – Là sự làm
giảm tín hiệu cố ý do sự áp đặt của Bộ ốc phòng
Mỹ, nhằm chống lại việc đối thủ quân sự dùng tínhiệu GPS chính xác cao Chính phủ Mỹ đã ngừngviệc này từ tháng 5 năm 2000, làm tăng đáng kể
độ chính xác của máy thu GPS dân sự (Tuy nhiênbiện pháp này hoàn toàn có thể được sử dụng lạitrong những điều kiện cụ thể để đảm bảo gậy ôngkhông đập lưng ông Chính điều này là tiềm ẩnhạn chế an toàn cho dẫn đường và định vị dân sự.)
10.7 Ứng dụng GPS 10.7.1 Dân dụng
Quản lý và điều hành xe
1 Giám sát quản lý vận tải, theo dõi vị trí, tốc độ, hướng
di chuyển,… 2 Giám sát mại vụ, giám sát vận tải hànhkhách, 3 Chống trộm cho ứng dụng thuê xe tự lái,theo dõi lộ trình của đoàn xe 4 Liên lạc, theo dõi định
vị cho các ứng dụng giao hàng GPS có nhiều ứng dụngmạnh mẽ trong quản lý xe ô tô, đặc biệt là các loại xenhư: Xe taxi, xe tải, xe công trình, xe bus, xe khách, xe
tự lái Với nhiều tính năng như:
• Giám sát lộ trình đường đi của phương tiện theo
thời gian thực: vận tốc, hướng di chuyển và trạngthái tắt/mở máy, quá tốc độ của xe…
• Xác định vị trí xe chính xác ở từng góc đường (vị
trí xe được thể hiện nháp nháy trên bản đồ), xácđịnh vận tốc và thời gian xe dừng hay đang chạy,biết được lộ trình hiện tại xe đang đi (real time)
• Lưu trữ lộ trình từng xe và hiển thị lại lộ trình của
Trang 3224 CHƯƠNG 10 HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU
Khảo sát trắc địa, môi trường
Dùng trong điều tra, khảo sát, thiết kế các công trình
lâm sinh
Các hạn chế trong ứng dụng dân dụng
Chính phủ Hoa Kỳ kiểm soát vệc xuất khẩu một số máy
thu dân dụng Tất cả máy thu GPS có khả năng hoạt
động ở độ cao trên 18 kilômét (11 mi) và 515 mét một
giây (1.690 /s)[7]được phân loại vào nhóm vũ khí theo
đó cần phải có phép sử dụng củaBộ ngoại giao Hoa Kỳ
Những hạn chế này nhắm mục đích ngăn ngừa việc sử
dụng các máy thu trongtên lửa đạn đạo, trừ việc sử
dụng trongtên lửa hành trìnhdo độ cao và tốc độ của
các loại này tương tự như các máy bay
10.8 Quy định pháp lý tại Việt Nam
• ông tư số 69/2011/TT-BNNPTNT Hướng dẫn
thực hiện một số nội dung y ế quản lý đầu
tư xây dựng công trình lâm sinh ban hành kèm
theo yết định số 73/2010/QĐ-TTg ngày 16
tháng 11 năm 2010 của ủ tướng Chính phủ
10.9 Các thiết bị ứng dụng GPS
10.9.1 Trong quân sự
• Vũ khí hạt nhân
• Bom thông minh JDAM
• Tên lửa không đối đất
• Tên lửa tấn công đất liền
• Tên lửa hành trình
• Tên lửa đất đối đất
• Máy bay huấn luyện Mikoyan MiG-ATcủaNga
• Beidou (Bắc Đẩu) – là hệ thống riêng củaCHDNND Trung Hoa phát triển, phủ ở châu Á vàtây ái Bình Dương[8]
• COMPASS – Hệ thống toàn cầu của CHDNNDTrung Hoa, dự kiến đưa vào sử dụng năm
2020[9][10]
• GLONASS– Hệ thống địa vị toàn cầu của Nga
• IRNSS– Hệ thống định vị khu vực của Ấn Độ, dựkiến đưa vào sử dụng năm 2012, phủ Ấn Độ và bắc
Ấn Độ Dương[11]
• QZSS– Hệ thống định vị khu vực của Nhật Bản,phủ châu Á và châu Đại Dương
[2] John Pike “GPS III Operational Control Segment(OCX)” Globalsecurity.org Truy cập ngày 8 tháng 12năm 2009
[3] “Global Positioning System” Gps.gov Truy cập ngày 26tháng 6 năm 2010
[4] Agnew, D.C and Larson, K.M (2007) “Finding the
repeat times of the GPS constellation” GPS Solutions
(Springer) 11 (1): 71–76.doi:
10.1007/s10291-006-0038-4 is article from author’s web site, with minorcorrection
[5] United States Coast GuardGeneral GPS News 9–9–05
[6] USNO NAVSTAR Global Positioning System Truy cậpngày 14 tháng 5 năm 2006
[7] Arms Control Association.Missile Technology ControlRegime Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2006
[8] Beidou coverage
Trang 3310.13 LIÊN KẾT NGOÀI 25
[9] “Beidou satellite navigation system to cover whole
world in 2020” Eng.chinamil.com.cn Truy cập ngày 15
tháng 10 năm 2010
[10] New York Times
[11] “ASM, News on GIS, GNSS, spatial information, remote
sensing, mapping and surveying technologies for Asia”
Asmmag.com Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2009
10.13 Liên kết ngoài
• Trang web chính thức
• Mua bán thiết bị định vị tại Việt Nam
Trang 34Chương 11
Hệ tọa độ địa lý
Bản đồ Trái Đất cho thấy các vĩ tuyến (ngang) và kinh tuyến
(dọc), phép chiếu Eckert VI; phiên bản lớn (pdf, 1.8MB)
Hệ tọa độ địa lý là một hệ tọa độ cho phép tất cả mọi
điểm trênTrái Đấtđều có thể xác định được bằng một
tập hợp các số có thể kèm ký hiệu Các tọa độ thường
gồm số biểu diễn vị trí thẳng đứng, và hai hoặc ba số
biểu diễn vị trí nằm ngang Hệ tọa độ phổ biến hiện
dùng là hệhệ tọa độ cầutương ứng với tâmTrái Đất
với các tọa độ làvĩ độ,kinh độvàcao độ.[1]
11.1 Chiều thứ nhất và thứ hai: vĩ
độ và kinh độ
Dựa theo lý thuyết của nhữngngười Babyloncổ đại,
rồi được nhà hiền triết và địa lý học nổi tiếngngười Hy
Lạp Ptolemymở rộng, một đường tròn đầy đủ sẽ được
chia thành 360độ(360°)
• Vĩ độ(ký hiệu: φ) của một điểm bất kỳ trên mặt
Trái Đất là góc tạo thành giữa đường thẳng đứng
(phương của dây dọi, có đỉnh nằm ở tâm hệ tọa
độ-chính làtrọng tâmcủa địa cầu) tại điểm đó và mặt
phẳng tạo bởixích đạo Đường tạo bởi các điểm
có cùng vĩ độ gọi làvĩ tuyến, và chúng là những
đường tròn đồng tâm trên bề mặt Trái Đất Mỗi
cựclà 90 độ:cực bắclà 90° B;cực nam là 90° N
Vĩ tuyến 0° được chỉ định là đường xích đạo, một
đường thẳng tưởng tượng chia địa cầu thành Bán
cầu bắc và Bán cầu nam
Vĩ độ phi(φ) và Kinh độ lambda (λ)
• Kinh độ(ký hiệu: λ) của một điểm trên bề mặt TráiĐất là góc tạo ra giữamặt phẳng kinh tuyếnđi quađiểm đó vàmặt phẳng kinh tuyến gốc Kinh độ cóthể là kinh độ đông hoặc tây, có đỉnh tại tâm hệ tọa
độ, tạo thành từ một điểm trên bề mặt Trái Đất vàmặt phẳng tạo bởi đường thẳng ngẫu nhiên nốihai cực bắc nam địa lý Những đường thẳng tạobởi các điểm có cùng kinh độ gọi làkinh tuyến.Tất cả các kinh tuyến đều là nửa đường tròn, vàkhông song song với nhau: theo định nghĩa, chúnghội tụ tại hai cực bắc và nam Đường thẳng đi quaĐài iên văn Hoàng gia Greenwich(gần London
ở Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland) làđường tham chiếu có kinh độ 0° trên toàn thế giớihay còn gọi làkinh tuyến gốc Kinh tuyếnđối cựccủa Greenwich có kinh độ là 180°T hay 180°Đ.Bằng cách phối hợp hai góc này, ta có thể xác định được
vị trí nằm ngang của bất kỳ điểm nào trên Trái Đất
Ví dụ,Baltimore, Maryland(ởHoa Kỳ) có vĩ độ 39,3°Bắc, và kinh độ là 76,6° Tây (39°18′B 76°36′T / 39.3°B76.6°T) Do đó, một vector vẽ từ tâm Trái Đất đếnđiểm 39,3° phía bắc xích đạo và 76,6° phía tây đườngGreenwich sẽ đi qua Baltimore
26
Trang 3511.2 CHIỀU THỨ BA: ĐỘ CAO, CHIỀU CAO, CHIỀU SÂU 27
“Mạng” vĩ độ/kinh độ này gọi là lưới địa lý Cũng có
một lưới ngang bổ sung (có nghĩa là bộ lưới được dịch
chuyển một góc 90°, sao cho địa cực trở thành đường
xích đạo ngang), trên đó tất cả cáclượng giác cầuđều
dựa vào
Từ trước đến nay, độ được chia thànhphút(1 phần 60
độ, ký hiệu là ′ hoặc “m”) vàgiây(1 phần 60 phút, ký
hiệu là ″ hoặc “s”) Có nhiều các viết độ, tất cả chúng
đều xuất hiện theo cùng thứ tự Vĩ độ - Kinh độ:
• DMS (Degree:Minute:Second) Độ:Phút:Giây (Ví
dụ: 49°30'00"−123d30m00s)
• DM (Degree:Minute) Độ:Phút (Ví dụ:
49°30.0'−123d30.0m)
• DD (Decimal Degree) Độ thập phân (Ví dụ:
49.5000°−123.5000d), thường với 4 số thập phân.
Để chuyển từ DM hoặc DMS sang DD,độ thập phân
= số độ cộng với số phút chia cho 60, cộng với số giây
chia cho 3600 DMS là định dạng phổ biến nhất, và là
tiêu chuẩn trên tất cả các biểu đồ và bản đồ, cũng như
hệ định vị toàn cầuvàhệ thông tin địa lý
Trên mặt cầu tạimực nước biển, một giây vĩ độ bằng
30.82 mét và một phút vĩ độ bằng 1849 mét Cácvĩ tuyến
cách nhau 110,9 kilômét Các kinh tuyến gặp nhau tại
cực địa lý, với độ rộng một giây về phía đông-tây phụ
thuộc vào vĩ độ Trên bề mặt cầu tại mực nước biển,
một giây kinh độ bằng 30,92 mét trênxích đạo, 26,76
mét trên vĩ tuyến thứ 30, 19,22 mét tạiGreenwich(51°
28' 38” B) và 15,42 mét trên vĩ tuyến thứ 60.
Chiều rộng của một độ kinh độ tại vĩ độϕcó thể được
tính toán bằng công thức sau (để có được chiều rộng
theo phút và giây, lần lượt chia cho 60 và 3600):
π
180◦ cos(ϕ)Mr ,
trong đóbán kính độ kinh trung bình của Trái ĐấtM r
xấp xỉ bằng 6.367.449 m Do sử dụng giá trị bán kính
trung bình, công thức này dĩ nhiên không chính xác do
độ dẹt của Trái Đất Bạn có thể có được độ rộng thực
của một độ kinh độ tại vĩ độϕbằng:
Xích đạo làmặt phẳng cơ bảncủa tất cả các hệ tọa độ
địa lý Tất cả các hệ tọa độ cầu đều định nghĩa một mặt
phẳng cơ bản như vậy
Giá trị vĩ độ và kinh độ có thể dựa trên vàihệ đo đạchoặcmốc tính toánkhác nhau, phương pháp phổ biếnnhất làWGS 84mà tất cả các thiết bị GPS đều dùng.Nói một cách nôm na, một điểm trên bề mặt Trái Đất
có thể được mô tả bởi nhiều giá trị vĩ độ và kinh độkhác nhau tùy thuộc vào mốc tính toán đang dùng.Trong phần mềm GIS phổ biến, mốc được chiếutheo vĩ độ/kinh độ thường được xác định thông qua'Hệ tọa độ địa lý' Ví dụ, mốc theo vĩ độ/kinh độtheo như Mốc Bắc Mỹ năm 1983 được chỉ ra trong'GCS_North_American_1983'
11.2 Chiều thứ ba: độ cao, chiều
cao, chiều sâu
Yếu tố độ cao, chiều cao AB, chiều sâu BC và các yếu tố khác trong Hệ toạ độ địa lý
Để xác định hoàn toàn một vị trí nằm trên, ở trong hoặc
ở phía trên Trái Đất, ta cần phải xác định độ cao củađiểm, được định nghĩa bằng vị trí của điểm theo chiềuthẳng đứng so với trung tâm của hệ thống tham chiếuhoặc một vài định nghĩa bề mặt Trái Đất Điều này được
mô tả theo thuật ngữ khoảng cách theo chiều thẳngđứng đến Trái Đất bên dưới, nhưng, do sự nhập nhằngcủa chữ “bề mặt” và “chiều thẳng đứng”, nó thườngđược mô tả phổ biến hơn bằng cách so sánh với nhữngmốcđược định nghĩa chính xác hơn nhưmặt nước biểntrung bình(chính xác hơn nữa làgeoid, một mặt có thếnăng trọng trường không đổi) Khoảng cách đến trungtâmTrái Đấtcó thể được dùng cho cả vị trí rất sâu hoặcmột nơi nào đó trên không gian
Những thuật ngữ khác được dùng tương ứng vớikhoảng của một điểm từ mặt đất hoặc một cột mốc khác
làđộ cao,chiều cao, vàđộ sâu
11.3 Tọa độ địa tĩnh
Vệ tinhđịa tĩnh(như vệ tinh truyền hình) nằm ở phíatrên xích đạo Do đó, vị trí của nó so với Trái Đất được
Trang 3628 CHƯƠNG 11 HỆ TỌA ĐỘ ĐỊA LÝ
biểu diễn bằng độ vĩ Độ vĩ của chúng không thay đổi,
và luôn luôn là zero đối với xích đạo
11.4 Xem thêm
• Hệ thống dẫn đường tự động
• Hệ thống thông tin địa lý(GIS)
• Chuyển đổi tọa độ địa lý
• Mã địa lý
• ẻ địa lý
• Hệ thống định vị toàn cầu(GPS).
• Khoảng cách toàn vòng trònkhoảng cách ngắn
nhất giữa hai điểm trên mặt cầu, và giải thích cách
tìm khoảng cách nếu đã biết hai vĩ độ và kinh độ
• Phép chiếu bản đồ
• Hạ chí tuyến
• Đông chí tuyến
• Hệ tọa độ Mercator ngang toàn cầu
• Cực hiệu dụng#Tọa độ trên các nhãn cực
11.5 Tham khảo
[1] A Guide to coordinate systems in Great Britain v1.7
October 2007 Truy cập 01 Jun 2014
• Portions of this article are from Jason Harris’
“Astroinfo” which is distributed with KStars , a
desktop planetarium for Linux / KDE See
11.6 Liên kết ngoài
• Mathematics Topics-Coordinate Systems
• Geographic coordinates of countries (CIA World
Factbook)
Trang 37Chương 12
Hiệp hội Quốc tế về Trắc địa
Hiệp hội ốc tế về Trắc địa, viết tắt là IAG (tiếng
Anh: International Association of Geodesy) là mộttổ
chức phi chính phủ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực
nghiên cứu Trắc địa và ứng dụng của nó.[1]
IAG thành lập năm 1946[2], là một trong 8 hiệp hội hợp
thành củaLiên đoàn ốc tế về Trắc địa và Địa vật lý
(IUGG)[3]
IAG hiện có 80 quốc gia thành viên
Ban thư ký điều hành IAG đặt tại Viện Nghiên
cứu trắc địa Đức (DGFI, Deutsches Geodätisches
Forschungsinstitut) của Trường Đại học Tổng hợp
Kỹ thuật München (TUM, Technischen Universität
München),Đức[4]
12.1 Lịch sử
IAG có một lịch sử lâu dài, đánh dấu bởi sự
thành lập của “Trắc địa Trung Âu” (Mieleuropäische
Gradmessung) năm 1862 Tổ chức này được thành lập
để thúc đẩy công việc khoa học chuyên ngành Trắc địa
ở Trung Âu, theo đề nghị của J J Baeyer năm 1861[5]
Năm 1867, tên của tổ chức đã được đổi thành “Trắc
địa châu Âu” (Europäische Gradmessung), vì theo sau
đó nước từ tất cả các châu Âu đã gia nhập tổ chức
Năm 1886, tên được đổi thành “Trắc địa quốc tế"
(Internationale Erdmessung), nhấn mạnh sự cần thiết
phải hợp tác quốc tế để giải quyết các nhiệm vụ khoa
học về Trắc địa Các bản dịchtiếng Phápvàtiếng Anh
của tên này dẫn đến tên hiện tại “Hiệp hội ốc tế về
Trắc địa (IAG)"[2]
Như vậy, IAG là một tổ chức khoa học quốc tế trở lại
năm 1886 và là một trong những tổ chức quốc tế lâu
đời nhất của loại hình này
12.2 Mục tiêu
Mục tiêu của Hiệp hội là sự tiến bộ về đo đạc trong
trắc địa IAG thực hiện sứ mệnh của mình thông qua
phát triển lý thuyết và ứng dụng, nghiên cứu và giảng
dạy, bằng cách thu thập, phân tích, mô hình hóa dữ
liệu quan sát Từ đó cung cấp một biểu diễn phù hợpcho hình thể, sự quay, trọng trường,… củaTrái Đấtvàcáchành tinh, cũng như sự biến thiên của nó
12.3 Hoạt động
IAG có 4 Uỷ ban
12.4 Tổ chức 12.5 Tham khảo
[1] About IAG.Truy cập 11/05/2015
[2] A Note on the History of the IAG 07/11/2003 Truy cập01/07/2015
[3] Associations of the IUGG: International Association ofGeodesy IAG.Truy cập 11/05/2015
[4] IAG Office - Secretary General Truy cập 01/07/2015.[5] Festveranstaltung: 150 Jahre MieleuropäischeGradmessung Ngày 12/09/2012 Truy cập 11/05/2015.[6] IAG History: Photos of the Presidents and Secretaries
Trang 38Chương 13
Hình cầu dẹt
Hình cầu dẹt, hay phỏng cầu tròn xoay là một hình
không gian được tạo ra, khi một hìnhelipphẳng xoay
quanh trục ngắn của nó Đây là một trường hợp đặc
biệt của hìnhellipsoid
Reference ellipsoid, một trong nhiều định nghĩa của
hìnhTrái Đấtlà một điển hình của hình cầu dẹt.Bán
kính cực, b , nhỏ hơnbán kính xích đạo, a , khoảng 21
km Hình này là hậu quả củalực li tâmtrong chuyển
động xoay của Trái Đất quanh trục sinh ra
Hình cầu dẹt trongHệ tọa độ Descartes, với tâm ở gốc
tọa độ, sinh ra từ một elip chính tắc trên mặt phẳng
13.1 Diện tích bề mặt
Diện tích mặt của hình cầu dẹt là một trường hợp suy
biến củamặt ellipsoid, được tính bởi công thức sau:
b
)(dạng dài) là góc modular, hayđộ lệ tâm
góc
m = a2−b2
a2sin(oε)2 và E(oε, m) , F (oε, m) là các
tích phân elipchưa hoàn thành bậc nhất và
Trang 39Chương 14
Khảo sát xây dựng
Một nhóm người làm khảo sát
Các thiết bị đo đạc 1728
Khảo sát xây dựng gồm có khảo sátđịa hình, khảo sát
địa chấtcông trình, khảo sátđịa chất thủy văn, khảo
sát hiện trạng công trình và các công việc khảo sát
khác phục vụ cho hoạt động xây dựng để nâng cao chất
lượng công trình
Khảo sát địa hình là bước đầu tiên, tại đó các kỹ sư khảosát thu thập các yếu tố về địa hình, địa vật, thể hiện lênbản vẽ theo tỉ lệ với độ chi tiết cần thiết Sản phẩm củakhảo sát địa hình là bản đồ địa hình, mô hình số (TIN)địa hình
Phương pháp khảo sát địa hình rất đa dạng, bao gồmcác phương pháp chính như: ảnh vệ tinh, ảnh hàngkhông, quét láser mặt đất, đo vẽ mặt đất bằng các máy
đo đạc
Ở Việt nam, dịch vụ khảo sát địa hình khá phát triển,nhưng nhìn chung chất lượng sản phẩm và dịch vụkhông đồng đều
• AdmiralJohn Bossler
• William Austin Burt
• CaptainJames Cook
Trang 4032 CHƯƠNG 14 KHẢO SÁT XÂY DỰNG
• Carl Friedrich Gauss
• Per Ivar Gjengedal
• ColonelWilliam Light
• Sir Alexander Mackenzie
• Charles MasonvàJeremiah Dixon
• National Geodetic Survey
• National Society of Professional Surveyors
• National Council of Examiners for
Engineering and Surveying
• UK Ordnance Survey
• www.resurvey.org
• U.S Geological Survey
• International Federation of Surveyors
• Spatial Sciences Institute (Australia)
• Royal Institution of Chartered Surveyors
(UK & GB)
• e Survey Association (UK)
• Alberta Land Surveyors Association for a