1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trang giang tiet 2

5 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 577,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, không nhất thiết phải nhốt chặt từ lơ thơ cho các cồn nhỏ nhiều cồn ; vì từ láy lơ thơ thường chỉ dùng cho những vật thanh mảnh, có thể có sự dao động nhẹ nhàng...Theo nhà th

Trang 1

MOON.V N

Khæ 2+3: Cảnh thiên nhiên hoang sơ và nỗi cô đơn, niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời

Chuyển: Từ mặt nước tràng giang, không gian thơ càng trở nên rợn ngợp và ám ảnh hơn khi tứ thơ

đột ngột được nhấc bổng lên để toả ra đôi bờ và phía “cồn nhỏ”, “làng xa”, bờ bãi gợi cảm giác về

vũ trụ quá rộng nhưng rỗng và lạnh

Câu 1 Câu thơ đầu là những nét chấm phá về hình ảnh các bãi cồn trên sông Ống kính nghệ thuật

của nhà thơ như hướng về phía xa, vươn tới chiều cao Phải là cái nhìn từ xa và trên cao mới thấy

cảnh lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Cồn vốn đã nhỏ, lại nằm rải rác giữa bốn bề sông nước càng gợi vẻ tiêu điều hoang vắng Từ láy lơ thơ đặt ở đầu câu, dùng theo lối đảo trật tự từ tạo nên ấn tượng về sự

thưa thớt Tuy nhiên, không nhất thiết phải nhốt chặt từ lơ thơ cho các cồn nhỏ (nhiều cồn) ; vì từ láy

lơ thơ thường chỉ dùng cho những vật thanh mảnh, có thể có sự dao động nhẹ nhàng Theo nhà thơ Huy Cận trong Nhà văn nói về tác phẩm, ông muốn nói về những cồn cát chạy nổi dài giữa sông, khi

nước lên, những cồn cát đó chỉ còn lơ thơ vài cây mọc lên trên một gò nổi nhỏ bé (có thể chỉ đặc tả

một cồn, cùng hệ thống với một thuyền, một bến, một củi, một cánh chim) Thực ra mỗi cách hiểu

đều có cái hay và chưa hay của nó, mỗi em có thể có sự lí giải riêng Chỉ biết rằng, bức tranh có thêm đất, thêm người nhưng chẳng hề có thêm hơi ấm Có đất, cát mà chẳng thấy có điểm tựa vững

chãi, có gió mà chẳng thấy xôn xao Có nắng mà chẳng thấy tươi sáng, rực rỡ Những cồn nhỏ chỉ

gợi nên ấn tượng về sự quạnh quẽ trong cái gió đìu hiu, uể oải, phất phơ thổi vật vờ qua những miền

sóng nước Hai từ láy song thanh đặt trên cùng một dòng thơ ở đầu câu và cuối câu càng tạo nên cảm giác mênh mang, trống vắng Vần lưng “nhỏ - gió”, kết hợp với láy âm “lơ thơ” và “đìu hiu” khiến âm hưởng câu thơ như trĩu lòng người về một nỗi buồn hiu hắt cô quạnh Nghệ thuật sử dụng

từ láy gợi lên màu sắc cổ kính, dẫn hồn người đọc về với cổ thi: “Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo – Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” (Chinh phụ ngâm) “Lơ thơ tơ liễu buông mành…”(“Truyện Kiều”) hay

«Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu» (Nguyễn Khuyến) Về ngữ âm, những từ có vần ơ, o, iu được phát âm

khép dần Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu tạo nên sự cô liêu tịch mịch và có gì như u uất, - cảnh như chết

dần và tắt lặng, nơi đây sự sống như bị bỏ quên Nçi buån rầu, cô đơn của nhân vật trữ tình nh- thÊm

s©u vµo trong c¶nh vËt, gợi nhớ khung cảnh chiến trường Tây tiến: rải rác biên cương mồ viễn xứ; lại cũng nhớ đến không khí tang tóc trong cảnh Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, hay ít ra là cảnh tiêu

điều quạnh vắng ta từng gặp trong thơ Bà Huyện Thanh Quan: lác đác bên sông chợ mấy nhà

TRÀNG GIANG – HUY CẬN (tiết 2)

Trang 2

MOON.V N

Cõu 2 Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", giú thỡ "đỡu hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, con người càng trở

nờn đơn cụi, rợn ngợp đến độ phải thốt lờn : "Đõu tiếng làng xa vón chợ chiều" Chỉ một cõu thơ

mà mang nhiều sắc thỏi, vừa gợi "đõu đú" õm thanh xa xụi, khụng rừ rệt, cú thể là cõu hỏi "đõu" như một nỗi niềm khao khỏt, mong mỏi của nhà thơ về một chỳt sự hoạt động, õm thanh sự sống của con người Đú cũng cú thể là "đõu cú", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đõy chẳng hề cú chỳt gỡ sống động để xua bớt cỏi tịch liờu của thiờn nhiờn Vỡ sao nhà thơ phải khỏt khao đến thế một õm

thanh bỡnh thường, xoàng xĩnh ? - õm thanh tiếng chợ, dự là tiếng kỡ kốo mặc cả, eo sốo mặt nước

buổi đũ đụng hay lao xao chợ cỏ làng ngư phủ, tiếng của lam lũ lầm than, mồ hụi và nước mắt thỡ

cũng vẫn là hỡnh ảnh của sự sống, nhịp sống bỡnh yờn Nhưng ở đõy là chợ chiều- đó vón- từ xa vẳng tới- ba lần nhấn vào sự tàn tạ, xỏc xơ (như khung cảnh chợ chiều của phố huyện trong truyện ngắn

Hai đứa trẻ của Thạch Lam) Mà lại cũn hư thoảng khụng biết cú hay khụng ? Từ Đõu đặt ở đầu cõu, như ngơ ngỏc, kiếm tỡm Lắng nghe là cảm giỏc nổi trội trong thơ Huy Cận- người cú lẽ đó sống một

cuộc đời rất bỡnh thường nhưng khỏc chỳng ta ở chỗ luụn biết lắng nghe sự sống trong mỡnh và trong

lũng tạo vật Mong ước biết bao hơi ấm rớu ran của cuộc đời, nhưng khụng cú Rải rỏc- thưa thớt- vắng lặng là đặc điểm chớnh của bức tranh tạo vật ở đõy Cảm giác trống trải tr-ớc một không gian

hoang sơ đ-ợc tô đậm khi tác giả sử dụng nghệ thuật diễn tả cái động để làm nổi bật cái tĩnh: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều…” Một âm thanh vẳng tới mơ hồ nh- có nh- không của phiên chợ vãn ở

làng xa khiến nhân vật trữ tình thấm thía hơn nỗi cô đơn tr-ớc một không gian tĩnh lặng gần nh- tuyệt

đối, một ý nghĩ bất chợt, gần nh- một ảo giác do những mong mỏi thầm kín trong thẳm sâu hồn ng-ời vào khi chiều xế trong thời điểm tâm hồn rơi vào một nỗi cô đơn mang tính muôn thuở

Cõu 3,4- Đụi mắt nhõn vật trữ tỡnh nhỡn theo nắng, theo dũng trụi của sụng:

"Nắng xuống, trời lờn sõu chút vút,

Sụng dài, trời rộng, bến cụ liờu"

- "Nắng xuống, trời lờn" gợi sự chuyển động ngược hướng, vừa mở rộng về khụng gian Cõu thơ

như vẽ lờn hai trục tung (nắng xuống) và trục hoành (sụng dài) Sự đối lập tương phản diễn ra trờn

một dũng thơ và giữa hai cõu thơ Và gợi nờn cả sự chia lỡa rừ rệt: người ta hay núi trời nắng, (trời

nắng thỏ đi tắm nắng)- nắng là của trời và trời cú nắng là sự tồn tại tất yếu của tự nhiờn, cũng như củi phải thuộc về rừng, thuyền phải thuộc về nước, chợ phải gắn kết với con người Vậy mà tất cả lại tỏch

bạch khỏi nhau, rời bỏ nhau một cỏch quyết liệt, phũ phàng Nắng xuống, trời lờn, như anh đi đường anh tụi đường tụi…Tuy nhiờn, mọi sự liờn tưởng phải cú căn cứ từ thực tại Thực tại là vào những

buổi trưa ngả sang chiều, từng vạt nắng trờn cao rọi xuống tạo nờn những khoảng sõu thăm thẳm trờn

bầu trời Trời như được đẩy lờn cao hơn Như Nguyễn Khuyến từng viết về bầu trời mựa thu xanh

ngắt mấy tầng cao Nhưng cú điều lạ là độ cao đó được chuyển húa tài tỡnh thành độ sõu: "sõu chút

vút" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sỏng tạo của Huy Cận, mang một nột đẹp hiện đại Đụi mắt nhà thơ

Trang 3

MOON.V N

không chỉ dừng ở phía bên ngoài của trời, nắng, mà như xuyên thấu vào cả vũ trụ, cả không gian bao

la, vô tận Không gian như bị đập bẹp ở chiều cao và sâu, bất chợt giãn nở ra theo chiều dài và rộng

ở câu thứ 4: Sông dài, trời rộng, bến cô liêu Dấu phẩy ngắt câu thơ thứ tư làm ba phần, biểu thị ba

hình ảnh độc lập Tính phân li càng rõ rệt hơn Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu"

- Nói đến bến là có sự rộn rịp, tụ hội, nơi gặp gỡ nơi xa nhau nơi sung sướng nơi khổ đau…rất thực

và nhân tính Bến đại diện cho con người và sự sống, vì có bến là có sinh hoạt của con người Âm hưởng cô liêu gợi nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn về sự sống quá nhỏ nhoi, hữu hạn mà vũ trụ thì cứ mở mãi đến vô cùng Cũng như củi, thuyền, đặt giữa không gian mang mối sầu vũ trụ mênh mông, cái

bến đó thật côi cút NhÞp 2/2/3 cïng hµm ý nhÊn m¹nh vµo c¸c tÝnh tõ miªu t¶ kh«ng gian: s«ng dµi/ trêi réng/ bÕn c« liªu… nghe tùa nh- mét tiÕng thë dµi ®Çy b©ng khu©ng vµ sÇu muén cña c¸i t«i tr-íc

t¹o vËt h÷ng hê

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng,

và những từ Hán Việt gợi không gian cổ kính: sầu, điệp, cô liêu…hồn dân tộc Việt, linh hồn ngàn xưa

của ông bà vẫn như nương vào những ảnh hình quen thuộc, một bến nước, một dòng sông, hình ảnh những cánh bèo trôi dạt Nhưng tất cả vẫn mang màu sắc hiện đại, mới mẻ, rất khác với thơ xưa Tất nhiên rồi, nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả chỉ là miêu tả…Chẳng hạn như hình ảnh cánh bèo trong câu đầu khổ 3:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng…

Câu 5: Nhắc đến bèo là nói đến loài cây phù du và khốn khổ nhất, vì nó hoàn toàn bị lệ thuộc, chịu

sự đưa đẩy dập vùi bởi dòng nước Nước nổi thì bèo nổi Vì vậy, hình ảnh này thường được dùng ước

lệ cho sự lưu lạc, nổi chìm: Nghĩ mình mặt nước cánh bèo, đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân (Kiều- Nguyễn Du), giữa dòng trong đục cánh bèo lênh đênh (Tố Hữu)…Nhưng cũng có lúc, bèo

hiện lên với vẻ quen thuộc, dân dã từng trìu mến đi vào thơ Nguyễn Trãi: Ao cạn vớt bèo cấy muống, đìa thanh phát cỏ ương sen Và ai có thể quên câu hát dân ca “bèo dạt mây trôi” làm say

đắm lòng người Dù bèo có dạt, mây có trôi, chốn xa xôi em vẫn đợi vẫn chờ Vạn vật thì chảy trôi, biến dời, nhưng lòng người thủy chung ấm áp Đến lượt mình, nhà thơ mới Huy Cận cũng lấy lại hình

ảnh cánh bèo, nhưng cánh bèo truyền thống đã mang linh hồn hiện đại Nó không gợi vẻ đẹp thân thương, cũng không đơn thuần chỉ ẩn dụ cho những kiếp người trôi dạt, nó chỉ gợi cảm giác cô đơn

ớn lạnh đến rùng mình, nó như chở nặng hồn người Hàng nối hàng: nhịp một/hai chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong bài, nhưng ám ảnh suốt hồn thơ Cứ lần lượt, lặng lẽ, không có mối dây liên hệ nào, mỗi cánh bèo là một cá thể cô đơn Chữ “dạt” đứng sau chữ “bèo” như chịu sự xô đẩy chới với, chơi vơi Lần lượt, tất cả đều bị dạt trôi, dồn đẩy về phía tận cùng của nỗi cô đơn đến ngột

thở Đây vừa là nỗi cô đơn cá thể của cái Tôi lãng mạn Thơ mới, giữa biển người vẫn thấy cô đơn,

Trang 4

MOON.V N

phần nào đú cũn là tõm trạng của những người dõn mất nước Một sự trụi dạt tập thể: hàng nối hàng, nhưng khụng làm mất cỏi cỏ thể, trong đú mỗi cỏ nhõn là một mảnh sầu riờng Cho nờn cú Đông

nh-ng không hề Vui Từ kiếp “củi” đến kiếp “bốo” và cuối cựng là kiếp “người” thỡ cũng thế

Cõu 6,7,8: Giữa cỏi bao la đất trời, sụng nước, hầu như khụng cú một búng dỏng con người

“Mờnh mụng khụng một chuyến đũ ngang

Khụng cầu gợi chỳt niềm thõn mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bói vàng”

- Sự thực thỡ vào buổi chiều, đang mựa lũ, nước sụng Hồng dõng to khụng ai dỏm mạo hiểm chốo thuyền Nhưng sự thực đú chỉ gợi để nhà thơ núi đến một điều lớn hơn Nơi này sự sống như bị bỏ

quờn Từ “không“ với hàm nghĩa phủ định được nhấn mạnh hai lần “không một chuyến đò”,

“không một nhịp cầu” nghĩa là không một ph-ơng tiện nào để lòng ng-ời có thể giao l-u, đến đ-ợc với nhau Giữa họ là trựng trựng sông nước Hai chữ “lặng lẽ” được đưa lên đầu câu đã nhấn mạnh và làm nổi bật tính chất của cảnh vật Mỗi cảnh vật là một thế giới riêng Toàn bộ khung cảnh vắng lặng

đến tuyệt đối, nỗi buồn đ-ợc đẩy đến tột cùng, vì thế con ng-ời càng trở nên cô đơn, rợn ngợp

- Những cõu hỏi Đõu tiếng? Về đõu? như khơi sõu thờm nỗi buồn, cảm giỏc hẫng hụt, tỡnh cảnh bơ

vơ của cỏi tụi trước thế giới khụng cũn là nơi nương tựa như nghỡn năm trước

- Sự diễn đạt mang tớnh tăng cấp nhấn vào cỏc ngụn từ mang tớnh phủ định gợi nờn những liờn

tưởng và so sỏnh Từ “khỏch vắng teo” của Nguyễn Khuyến đến Đó vắng người sang những chuyến

đũ trong ĐMTT đến hành loạt cỏi khụng…của HC là cả một quỏ trỡnh “càng đi sõu càng thấy lạnh” của con người khi bước vào thế giới hiện đại

=> Toàn bộ khổ ba là bức tranh cảnh vật thiếu vắng sự sống, có thêm màu sắc nh-ng buồn hơn Hình

ảnh của tràng giang càng trở nên mênh mông, vắng lặng, vẻ hoang vắng, đìu hiu đ-ợc khắc sâu, đậm tô hơn đến mức d-ờng nh- không còn một dấu vết nào của sự sống

- Cảnh sông n-ớc có thêm màu sắc với hình ảnh của cánh bèo, với bờ xanh tiếp nối bãi vàng Một đặc trưng nữa của thơ mới là cỏi buồn gắn với cỏi đẹp, tỏc giả tạo ra một cõu thơ lấp lỏnh vẻ đẹp như

dũng sụng dưới ỏnh trăng, như miền cổ tớch ngày xưa hay từ lời thơ đưa nụi ờm ỏi: Nắng chia nửa bói chiều rồi, vườn hoang trinh nữ xếp đụi lỏ rầu… “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bói vàng” Hai chữ “bờ

xanh” và “bói vàng” khiến cõu thơ đẹp nhưng hoang vắng lạ thường Thực chất đõy là thủ phỏp

dựng cỏi lặng lẽ ở bờn ngoài để dồn tụ, để lắng đọng những cỏi đang nỏo động bờn trong Đú là nỗi khắc khoải, nỗi khỏt khao của tõm hồn ham sống cho ra sống

nghệ thuật tu từ và tạo ra mối tương quan giữa cỏc từ ngữ trong bài thơ “Tràng giang”, Huy Cận đó

Trang 5

MOON.V N

đem đến cho người đọc nhiều khoái cảm thẩm mỹ mới lạ về vũ trụ và con người với ý thức cá

nhân bừng tỉnh mà trước đây chưa từng có Đặc biệt hơn cả là tác giả đã nhẹ nhàng “đánh bẫy” người

đọc vào nỗi ám ảnh không gian dai dẳng lạ thường, để từ đó, không cần đợi nhà thơ phải giãi bày,

gọi, hỏi:

Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm, gió mây ơi còn nhớ đến người chăng?

trong lòng mỗi chúng ta dường như đã có câu trả lời Vâng, nỗi sầu vũ trụ, sầu vạn kỉ và sầu nhân thế, niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời của thi nhân phần nào đã tạo được sợi dây truyền tình cảm trong lòng người đọc.Vì đằng sau nỗi buồn thấm thía được diễn tả qua tầng tầng lớp lớp những vần thơ mĩ lệ, hàm súc, ta nhận ra một tấm lòng thiết tha với tạo vật, một tâm sự yêu nước thầm kín, một tình người yêu quê, nhớ nhà thăm thẳm Điều đó sẽ được thể hiện đặc sắc trong khổ thơ cuối cùng- khổ thơ kết tinh giá trị nội dung và nghệ thuật của toàn bài

Ngày đăng: 12/09/2017, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w