1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trang giang tiet 1

7 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 844,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Võng, nếu từng một lần để hồn mỡnh vời theo con nước trong súng Tràng giang, ta sẽ cú cõu trả lời, vỡ sao đõy lại là một trong những bài thơ để đời của nhà thơ Huy Cận và cũng là thi ph

Trang 1

MOON.V N

Khụng mạnh mẽ trào sụi như Xuõn Diệu trong bài thơ Vội vàng, khụng da diết khắc khoải như Hàn Mặc Tử trong Đõy thụn Vĩ Dạ, Huy Cận đó lặng lẽ đưa ta về nơi bến Chốm xưa vào một buổi chiều

thu lượm lặt chỳt buồn rơi rỏc…để rồi người sẽ khiến ta phải kinh ngạc khụng hiểu vỡ sao, “chỉ với

một ớt cỏt bụi tầm thường, thi nhõn đó tỏc thành bao nhiờu chõu ngọc” Liệu tỏc giả của Thi nhõn Việt Nam cú quỏ khụng khi núi những lời này? Võng, nếu từng một lần để hồn mỡnh vời theo con nước trong súng Tràng giang, ta sẽ cú cõu trả lời, vỡ sao đõy lại là một trong những bài thơ để đời của nhà

thơ Huy Cận và cũng là thi phẩm xuất sắc của nền thơ Việt Nam hiện đại Chẳng biết cỏc em cú tỏn đồng với kiến này? Chỳng ta hóy cựng bước vào thi phẩm Tiết 1…2…3… trước hết ta hóy đi vào phần:

I Tỡm hiểu chung

1 Tỏc giả

- Huy Cận sinh ngày 31 thỏng 5 năm 1919, trong một gia đỡnh nhà nho nghốo gốc nụng dõn dưới

chõn nỳi Mồng Gà, bờn bờ sụng Ngàn Sõu (thượng nguồn sụng La) ở làng Ân Phỳ, Hương Sơn, Hà Tĩnh Năm 2001, ụng được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lõm Thơ Thế giới Huy Cận mất ngày 19 thỏng

2 năm 2005 tại Hà Nội, ụng là tr-ờng hợp thành đạt đồng đều trên cả nghệ thuật và chính trị

1.1 Vị trớ

Không phải là ngọn cờ tiên phong của phong trào Thơ mới, nh-ng Huy Cận là một trong những ng-ời

cầm ngọn cờ ấy cắm lên đỉnh cao B-ớc vào làng thơ khi những đối kháng gay gắt Mới - Cũ, Truyền

thống - Cách tân, Ph-ơng Đông - Ph-ơng Tây… đã dần lắng xuống, Huy Cận xứng đáng là một trong

những kết tinh quan trọng trong công cuộc hiện đại hoá thơ ca đầu thế kỉ XX Hơn nửa thế kỉ đó

qua đi, ngọn lửa thiờng đó về chầu vũ trụ, ng-ời ta càng thấy khú cú thể hình dung đầy đủ về diện mạo

và tầm cỡ của Thơ mới nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung nếu thiếu đi g-ơng mặt thơ Huy

Cận Võng, ụng thực sự là một Nhà thơ lớn của thơ ca Việt Nam thế kỉ XX, một trong những trụ cột của phong trào Thơ Mới

Với hơn ba chục đầu sách gồm cả thơ, văn, suy nghĩ về nghệ thuật, in cả trong n-ớc lẫn n-ớc ngoài, tất thảy đã cho thấy Huy Cận có một sức sáng tạo thật dồi dào với một phong cỏch thơ riờng biệt

1.2 Phong cỏch nghệ thuật Nhắc đến HC thời kỡ trước CMT8, người ta nhớ ngay đến một hồn thơ “ảo nóo” bậc nhất của Thơ mới mà ở đú, “cảm giỏc nổi trội nhất là một cảm giỏc khụng

gian”- chỉ cú trong khụng gian trống trải bao la, người mới nghe rừ tiếng lũng mỡnh: Đờm mưa làm

TRÀNG GIANG – HUY CẬN (tiết 1)

Trang 2

MOON.V N

nhớ khụng gian, lũng riờng mang nặng nỗi hàn bao la, tai nương giọt nước mỏi nhà, nghe trời nằng

nặng nghe ta buồn buồn…"Nghe đi rời rạc trong hồn - những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi" (Buồn

đêm m-a)- lắng nghe trở thành động thái th-ờng trực để thi sĩ đi vào những miền quạnh vắng hoang liêu của hồn mình và hồn tạo vật Tràn ngập trong thơ là cảm giỏc về cảnh lụi tàn, bơ vơ,

hoang vắng, chia lỡa

- Sau Cỏch mạng thỏng Tỏm: Huy Cận sỏng tỏc dồi dào và cú nhiều đổi mới, tỡm thấy sự hoà điệu

giữa con người và xó hội Thơ ụng lỳc này là Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963)…vũ trụ đã trở thành ngôi nhà ấm cúng của con ng-ời, mà mặt trời làm lửa ấm,

sóng cài then cho cánh cửa màn đêm, mưa khụng xúa nhũa khụng gian mà tươi tốt cả cõy buồm Từ

buồn đến vui, từ lạnh lẽo đến ấm cỳng, từ lạc điệu đến hũa điệu là con đường của nhà thơ lóng mạn đến thi sĩ cỏch mạng Tuy nhiờn, dự là trước hay sau CM thỡ

- Cảm hứng chớnh: Cảm hứng Vũ trụ với t- duy nghệ thuật là sự kết hợp giữa cảm xúc và suy t-ởng, hồn thơ mang đậm chất cổ điển truyền thống

Trong Thơ mới, nếu Xuõn Diệu nghiờng về vẻ tõn kỡ, Hàn Mặc Tử mang nột tượng trưng siờu thực,

Nguyễn Bính đi tiếp dòng dân gian, thì Huy Cận lại tiếp nối mạch cổ điển để khi “động tiên đã khép,

tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở lại hồn ta cùng

Huy Cận" Nh- thế, Huy Cận với mạch sầu vạn kỉ của Lửa thiêng đ-ợc xem nh- điểm đến cuối

cùng của cảm xúc Thơ mới

2 Tỏc phẩm: Với hơn ba chục đầu sách gồm cả thơ, văn, suy nghĩ về nghệ thuật, in cả trong

n-ớc lẫn n-ớc ngoài, tất thảy đã cho thấy Huy Cận có một sức sáng tạo thật dồi dào Trong đú,

Tràng giang được coi là bài tiờu biểu, thể hiện rừ nhất phong cỏch nghệ thuật thơ Huy Cận

2.1 Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời: Lửa thiờng (1940) là tập đầu tay có một vị trí hết sức quan trọng

đối với sự nghiệp thi ca Huy Cận Vừa ra đời, nó lập tức đ-ợc công chúng đón chào nồng nhiệt Còn tác giả thì đ-ợc tôn vinh nh- một trong những tài năng đã đ-a Thơ mới đến thời thịnh trị nhất của nó Ngòi bút của ông còn tiếp tục vận động và hoàn thiện cùng với con đ-ờng sáng tác sau này, nh-ng

những nét thuộc về hạt nhân của cừi thơ Huy Cận thì đã định hình ngay từ Lửa thiêng

- Theo tỏc giả, bài thơ được gợi cảm hứng từ một buổi chiều mựa thu năm 1939, khi một mỡnh đứng

ở bờ nam bến Chốm nhỡn cảnh sụng Hồng mờnh mụng súng nước Trong khụng gian ấy, thời gian

ấy, hoàn cảnh ấy, lũng người ta dễ nảy sinh cảm giỏc cụ đơn, nhớ nhà, nhớ quờ da diết Tuy vậy,

Tràng giang khụng phải bài thơ viết về một dũng sụng nào cụ thể Cảm xỳc trong bải đó được nõng

lờn, mở rộng và cú nghĩa phổ biến Đõy là nỗi lũng của một cỏ thể cụ đơn trước vũ trụ vụ cựng vụ tận, trước dũng đời vụ định, mờnh mang

2.2 Cảm hứng chủ đạo

Trang 3

MOON.V N

Nếu cú thể coi Lửa thiêng là "bản ngậm ngùi dài" thỡ Tràng giang lại là sợi tơ buồn đó ngõn lờn với

đủ mọi cung bậc, trong đú, tỡnh điệu chớnh là cảm giỏc cụ đơn tr-ớc không gian vô cùng vô tận và lạc loài trong thời gian vô thuỷ vô chung Giữa thế giới ấy, ta thấy phận ng-ời thật là phù du,

nhỏ nhoi trôi dạt Đú cũng là Cảm hứng chủ đạo của Tràng giang Cảm hứng ấy thể hiện rừ trong

bốn khổ thơ, cú vẻ cõn xứng sự đĩnh đạc, khoan thai như một bức tứ bỡnh, nhưng thực ra bờn trong là

một thế giới bị cắt chặt, xẻ chia, vỡ vụn, bao nhiờu sự vật được nhắc đến là bấy nhiờu mảnh cụ đơn

Đến nỗi, nhà thơ Xuõn Diệu phải thốt lờn: “Thơ Huy Cận đú ư? Ai nhắc làm chi những nỗi thờ thiết của ngàn đời, ai động đến cỏi lớp sầu dưới đỏy hồn nhõn thế; những lời muụn năm than thầm trong lũng vạn vật, ai thuật lại mà nóo nuột lắm sao! ”

2.3 Bố cục

Khổ 1 là cảnh trờn sụng với con súng "buồn điệp điệp", dũng nước "sầu trăm ngả" và một cành củi

khụ bơ vơ lạc lừng

Khổ 2 là cảnh xung quanh sụng với khụng gian ba chiều rộng mờnh mụng, sõu thăm thẳm: nắng xuống trời lờn, sụng dài trời rộng càng làm cho cảnh vật thờm bộ nhỏ, hiu hắt; cụ đơn: cồn nhỏ lơ

thơ, giú đỡu hiu, vón chợ chiều và bến cụ liờu Đặt tờn: cảnh sụng nước mờnh mang và nỗi buồn, sầu miờn man, chồng chất

Khổ 3: hiện ra trước mắt ta hỡnh ảnh con sụng khụng búng người, khụng sự sống (mờnh mụng khụng một chuyến đũ ngang - khụng cầu gợi chỳt niềm thõn mật) mà chỉ cũn lại những cụm bốo trụi giạt trờn sụng hay chớnh là hỡnh ảnh những cuộc đời chỡm nổi, bơ vơ, bế tắc Đặt tờn: cảnh thiờn nhiờn hoang sơ và nỗi cụ đơn, niềm khỏt khao hũa nhập với cuộc đời

Khổ 4: nỗi buồn dõng lờn trong cảnh hoàng hụn trờn sụng và biến thành nỗi nhớ nhà sõu thăm thẳm trong lũng tỏc giả.

II Đọc hiểu văn bản

1/ Nhan đề: Bài thơ mới lại có nhan đề rất cũ “Tràng” (một âm đọc khác của “tr-ờng”) gợi sự cổ kính; “giang” là tên chung để chỉ các dòng sông Hai chữ này gợi một không gian cổ kính, trang trọng, bát ngát như trong Đường thi, gợi nhớ câu thơ nổi tiếng của Lý Bạch: “Duy kiến tr-ờng giang

thiên tế l-u” ( Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)

- Tràng giang: từ Hỏn Việt→ cổ điển, gợi khụng gian mờnh mụng bỏt ngỏt- độ mở, sự vang xa

2/ Lời đề từ: Đề từ tuy nằm ngoài văn bản của tỏc phẩm, nhưng thường thõu túm nội dung cảm xỳc

cả bài, thể hiện tập trung ý đồ nghệ thuật của tỏc giả và một phần hồn cốt của thi phẩm Nú gần như là cặp mắt thơ hay vầng trỏn, hay tấm biển chỉ đường, giỳp ta hỡnh dung vẻ đẹp toàn bài

“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”- thuần Việt- rất hiện đại Trời rộng gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ Sông dài tạo ấn t-ợng về cái vô cùng của không gian Chiều cao của bức tranh là khoảng

cỏch giữa trời rộng với sụng dài, làm nờn khụng gian ba chiều Điều này rất sớm giới thiệu với chỳng

Trang 4

MOON.V N

ta về Huy Cận, nhà thơ của cỏm hứng khụng gian Trời rộng và sông dài mở ra không gian mờnh

mụng gợi cảm giác rợn ngợp của con ng-ời cô đơn, bé nhỏ tr-ớc cái bất tận của trời đất Và trong khụng gian mờnh mang ấy, nhà thơ đó thả vào một nỗi buồn nhớ nhẹ nhàng, man mỏc mà qua những

từ nhớ, bõng khuõng được đặt ở đầu mỗi vế cõu

Tâm trạng này từng đ-ợc diễn tả một cách sâu sắc trong những vần thơ cô đọng, đầy ám ảnh của Trần

Tử Ngang trong Đăng U Châu đài ca: Tiền bất kiến cổ nhân/ Hậu bất kiến lai giả/ Niệm thiên địa chi

du du/ Độc th-ơng nhiên nhi thế hạ (Ai người trước đó qua, ai người sau chưa đẻ, ngẫm trời đất vụ

cựng/ một mỡnh tuụn giọt lệ- Ng-ời tr-ớc không thấy ai/Ng-ời sau thì ch-a tới/ Ngẫm trời đất thật vô cùng/ Một mình xót xa mà rơi lệ) bõng khuõng tức là cú những cảm xỳc ngỡ ngàng, luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nhau) trước cảnh vũ trụ bao la, bỏt ngỏt (trời rộng, sụng dài)

Cú thể núi, Tràng giang đó triển khai một cỏch tập trung cảm hứng nờu ở cõu thơ đề từ

• Cảnh: trời rộng, sụng dài

•Tỡnh: bõng khuõng, nhớ = > cảm xỳc chủ đạo của bài thơ

3/ Cảm nhận, phõn tớch

Khổ 1: Cảnh sụng nước mờnh mang và nỗi buồn, sầu, cụ đơn, lạc lừng

Phần ghi bảng:

- Khụng gian: sụng nước mờnh mụng- dũng tõm trạng

+ Súng nước: gợn - buồn điệp điệp- (TTBB/BTT)- miờn man khụng dứt

+ Luồng nước: song song- (BBBT/TBB)- trụi chảy miờn viễn

+ Dũng nước: sầu trăm ngả- ngổn ngang trăm mối

- Sự vật: bộ nhỏ, trụi xuụi, nổi chỡm, vụ định

+ thuyền xuụi, trụi xuụi, phú mặc cho dũng nước, để lại sau mỡnh những rẽ nước song song + thuyền về/ nước lại/ sầu trăm ngả: chuyển động trỏi chiều, gợi sự chia lỡa, tan tỏc

+ củi lạc mấy dũng: thõn phận chỡm nổi, cụ đơn, lờnh đờnh, lạc loài giữa sụng nước mờnh

mụng

- Cả bốn câu là cảnh tràng giang mênh mông sóng n-ớc, cảnh vật không còn là cảnh vật thuần tuý nữa mà đã nhuốm màu tâm trạng, nhập vào với hồn thơ thành dũng tõm trạng

- Nghệ thuật đối của thơ Đường đã được vận dụng linh hoạt Cách sử dụng láy từ “điệp điệp, song song” kết hợp với hai từ “tràng giang” đã có hiệu quả nhất định trong việc tạo nên âm h-ởng và gợi cảnh bát ngát, mênh mông có phần cổ kính, gần với thơ x-a

Trang 5

MOON.V N

Phần lời: - Mở bài thơ ra, ở ngay khổ thơ đầu, ta đã gặp sóng gợn, thuyền xuôi, thuyền về, nước

lại…dòng nào cũng thấy dập dềnh sóng nước Câu 1 tả sóng nước…gợn; câu 2 tả luồng nước…song song, câu 3 là cảnh thuyền về nước lại, câu 4 là dòng nước Ở xứ sở nóng ẩm mưa nhiều tạo nên

khoảng 2.360 con sông và kênh lớn nhỏ Dọc bờ biển dài 3.260 km nước ta, khoảng 23 km có một cửa sông và theo thống kê có 112 cửa sông ra biển…mấy nghìn con sông lớn nhỏ, trong tim ai chẳng

có một dòng sông bên mình Đó là con sông quê hương xanh biếc trong thơ Tế Hanh, con sông dùng dằng con sông không chảy trong thơ Thu Bồn, con sông lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác

xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc trong thiên tùy bút nổi tiếng của Nguyễn Tuân Nhưng ở

đây có một điều gì đó rất lạ trong cảm giác của người đọc Dường như con sông này đã khước từ

một địa chỉ cụ thể, đã rùng mình thoát khỏi vẻ gần gũi quen thuộc để vươn tới cái vô cùng, vĩnh cửu Bằng các cặp từ gây ấn tượng mạnh: “tràng giang”, “điệp điệp”, “song song”, “mấy dòng” khiến cho sông của Huy Cận không phải là một dòng sông bình thường mà là dòng sông vũ trụ Ta sẽ cùng tìm hiểu kĩ hơn từng câu

- Đầu tiên là hình ảnh của mặt nước Tràng giang với muôn con sóng Chỉ là sóng gợn- rất nhẹ, rất

khẽ, rất êm nhưng không phải là cái hơi gợn tí của mặt ao thu Nguyễn Khuyến Cái gợn của một dòng

sông lớn như từ vạn kỉ chảy về nên trên đầu mỗi con sóng như đang chở nặng nỗi buồn tạo thành nỗi

buồn lan tỏa đến vô tận Điệp điệp là từ láy song thanh tả sự chồng xếp, nối tiếp, miên man, bất tận,

không có điểm dừng Mặt nước tràng giang cổ kính như mang trong mình nỗi buồn tự ngàn xưa hay

sóng gợn tràng giang làm dấy lên nỗi buồn trong lòng nhà thơ suy cho cùng cũng đều là một Từ gợn cùng những từ láy nguyên song thanh điệp điệp vừa miêu tả những con sóng nối tiếp nhau, xô đuổi

nhau đến tận chân trời vừa biểu hiện nỗi buồn thầm lặng, bâng khuâng trong lòng nhà thơ Dòng

sông mùa nước lớn làm sao gợn được? Đó là cái gợn của lòng người Câu thơ vừa giàu chất nhạc,

vừa có tính tạo hình, vừa ngập tràn sắc thái biểu cảm Dòng không gian như đã chở cả dòng thời gian từ vạn thuở chảy về, thành dòng tâm trạng với nỗi sầu vạn kỉ đã khơi lên lớp sầu dưới đáy hồn

nhân thế…Nói thơ Huy Cận hàm súc là vì thế, không ít chữ, nhưng rất giàu sức gợi Nhiều người đã

thấy nó gợi đến cái tứ Đường thi trong thơ Đỗ Phủ: vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ/ bất tận trường giang cổn cổn lai (rào rào lá trút rừng cây thẳm/ cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn)- nhưng không cần nói

vô biên mà vẫn thấy vô biên bởi hai cặp từ láy đặt ở cuối dòng “điệp điệp”, “song song” gợi tả một nỗi buồn thấm thía, xa vắng và mơ hồ Phép đối được sử dụng sáng tạo, chỉ đối ý, đối hình mà vần thơ vẫn cân xứng, hài hoà Con thuyền và cành củi khô đang cùng trôi nổi trên dòng tràng giang

…Một đằng khép, một đằng mở…Trong vẻ cổ kính hoang sơ đã thấm đượm màu sắc hiện đại Vì thơ xưa thường đi từ cảnh đến tình, nửa trên nghiêng về tả cảnh, nửa dưới nghiêng về tả tình Trong

các bài thơ Đường các em được học và đọc ở lớp 10, ta đều thấy như vậy Đi hết Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, ta mới gặp cảnh quê hương khuất bóng hoàng hôn,… đến nửa sau của Thu hứng (Đỗ Phủ)

ta mới gặp cảnh khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ; cùng Lí Bạch chia tay Mạnh Hạo Nhiên, đến hết bài

Trang 6

MOON.V N

thơ ta vẫn ngẩn ngơ cựng thi nhõn khi trụng theo chỉ thấy dũng sụng bờn trời Thơ Đường thường

kiệm lời, kiệm nột Vậy mà ở đõy, cỏi tụi thơ mới như sẵn mang trong lũng mối sầu lớn, chỉ một chỳt

khẽ gợn của mặt sụng mà đó khơi lờn thành dũng buồn điệp điệp! Đỳng là vết nứt của trỏi đất xuyờn

qua trỏi tim nhà thơ…Và khi tõm hồn thi sĩ đó nhập vào cảnh một cỏch trọn vẹn thỡ bất kỡ chi tiết hỡnh ảnh nào, tiếng động nào cũng là tiếng vọng của tõm hồn nhà thơ

- Trờn mặt nước mờnh mụng gợi nỗi buồn sõu thẳm, xuất hiện búng dỏng những sự vật nhỏ bộ, hữu

hạn: một con thuyền, một cành củi Dự là nhỏ nhoi, dự chỉ là con thuyền xuụi mỏi, là một cành củi

khụ, nhưng ớt nhiều cũng gợi búng dỏng sự sống Nhưng hỡi ụi, con thuyền chỉ thoỏng hiện rồi biến mất Cành củi thỡ lờnh đờnh trụi dạt khụng biết đi đõu về đõu Nhịp điệu cõu thơ thứ hai đang thờnh thờnh như cựng con thuyền trụi xuụi, đến cõu thứ ba, cú gỡ như nghẹn ngào, nức nở Hai tiếng thanh

trắc: “nước lại” giữa hai bờn là hai thanh bằng: thuyền về- sầu trăm đó tạo nờn cảm giỏc đú cho

người đọc Võng, dũng sụng và con thuyền là hỡnh ảnh quen thuộc đó trở thành ước lệ trong thi ca

Nhưng ở đõy giữa con thuyền và dũng sụng cú gỡ như lạc lừng, giận hờn Khụng phải thuyền ta ngược thuyền ta xuụi trờn hồ nước đầy nhịp chốo ta bơi như trong ca từ Huyền thoại Hồ Nỳi Cốc của nhạc sĩ Phú Đức Phương, càng khụng phải khụng khớ rộn ràng: thuyền ta lỏi giú với buồm trăng như

Đoàn thuyền đỏnh cỏ sau này Từ cõu thứ nhất đến cõu thứ ba, nỗi buồn điệp điệp của dũng sụng đó chuyển húa thành nỗi sầu trăm ngả của nước Huy Cận từng núi đến nhiều “vạn cổ sầu”, “buồn

thiờn thu”, ở đõy ụng lại viết “sầu trăm ngả” Trăm ngả là trăm ngả nào? Cả cừi dương và cừi õm? Là khụng cũn ngả nào cho niềm vui sống? Là nỗi sầu như tỏa rộng và phủ lờn những kiếp người đau

thương? Cỏc số từ trong ba dũng thơ “củi một cành khụ” mà “lạc mấy dũng” giữa “sầu trăm ngả”

đó làm thấu cỏi ỏm ảnh về kiếp người nhỏ bộ, hữu hạn, cũn sự đau khổ, sầu thương thỡ to lớn, vụ hạn

Nỗi sầu đú như càng lặng thầm, da diết cổ kớnh hơn trong sắc thỏi những từ Hỏn Việt: Tràng giang, điệp điệp, sầu

- Chớnh bởi mang trong lũng nỗi sầu thương lớn mà nhà thơ sẵn lũng đồng cảm với một cành củi khụ trụi nổi trờn dũng nước Thi ca truyền thống quen với những hỡnh ảnh tao nhó, thi vị, một cành củi khụ thụ thỏp thỡ làm gỡ cú chỗ trong thơ? Ấy vậy nhưng chớnh cỏi thụ mộc chắc khỏe kia sẽ tạo nờn sự rắn rỏi bền vững cho khổ thơ, và quan trọng hơn, nú gẩy lờn được độ cụ đơn đến ớn lạnh, tờ tỏi đến

xút xa….Cõu thơ 7 chữ đó vỡ ra thành 6 mảnh cụ đơn, 6 chữ miờu tả sự hộo khụ, gầy guộc Củi là cỏi chết của cõy, sự rơi rụng, chia lỡa của cành với cõy; một là sự lẻ loi, đơn chiếc; cành là nhỏ bộ, yếu ớt (khụng phải thõn); khụ là hộo hắt, khụng cũn sự sống; lạc là sự bơ vơ, lưu lạc, giữa mấy dũng là ngơ

ngỏc giữa dũng đời Chỉ một cành khụ mà lạc đến mấy dũng Sự đối lập giữa một và mấy tụ đậm thõn

phận lờnh đờnh, vụ định

- Như vậy, ngay từ khổ thơ đầu, nỗi sầu muộn đã thấm vào cái nhìn cảnh vật Tuy thuyền

và nước “song song” nhưng “thuyền về” ngược hướng với “n-ớc lại” gợi sự ngổn ngang trăm mối

Trang 7

MOON.V N

trong lòng Và hình ảnh gây ấn t-ợng chính là hình ảnh củi trong câu “Củi một cành khô lạc mấy dòng” Theo lời thổ lộ của chính tác giả, trong bản thảo, ông đã băn khoăn nhiều, cân nhắc rất kỹ tr-ớc khi chọn hình ảnh này Đến bản thảo thứ 14 mới bật ra Củi một cành khụ lạc mấy dũng vừa tự nhiờn vừa hàm ý sõu (đó chết khụ rồi mà cũn lạc mấy dũng) Quả nhiên, chi tiết giàu chất thực đó

mang đến cho câu thơ một màu sắc hiện đại Hình ảnh “củi” không chỉ tạo một ấn tượng mới mẻ mà

còn gợi những liên t-ởng và suy ngẫm về kiếp ng-ời lam lũ, tủi cực, lênh đênh…Củi cũn là hỡnh ảnh

gợi nờn sự tàn tạ, bởi từ một cành xanh trờn khỳc thượng nguồn, củi đó trải qua một chặng đường đau thương rơi rụng, chia lỡa, li tỏn, chỡm nổi, hoảng loạn, bị dập vựi ở một khớa cạnh khỏc, củi lẽ ra cũn chứa trong lũng nú sự sống, nú cú thể gợi nghĩ về mỏi ấm, sự sum họp, bếp lửa bữa cơm chiều Nhưng ở đõy, củi cụ đơn ngay giữa lũng sự sống, ngọn lửa ấp iu trong củi đó bị nước nhấn chỡm Như vậy, từ nỗi buồn, sầu cũn cú phần mơ hồ, mang đậm cảm hứng lóng mạn của ba cõu đầu, nhà thơ đó kộo hỡnh ảnh thơ trở về với khung cảnh thực tại của đời sống, chuẩn bị tiếp nối với khổ 2 cú

thờm đất, thờm người với sự xuất hiện của cồn, bến, chợ chiều Sầu vũ trụ đó chuyển sang Sầu nhõn

thế Cú thể núi, với khổ thơ này, Huy Cận đó đốt lên đ-ợc ngọn lửa thiêng trong cảm xúc thơ

mình gợi trong lũng người đọc những suy cảm thẳm sâu và thấm thía tìm kiếm sự hoà điệu giữa

Cá thể và Toàn thể, giữa Con ng-ời và Tạo vật trong sự sống vô biên Điều này sẽ được tiếp tục triển khai trong khổ thơ thứ 2,3 mà chỳng ta sẽ cựng tỡm hiểu trong giờ học tiếp

Ngày đăng: 12/09/2017, 14:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w