1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thể loại khoa học nhận thức

45 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, bộ môn nghiên cứu về nghĩa trong ngôn ngữ lại làm sáng tỏ cách các ngôn ngữ mã hóa mối quan hệ giữa các thực thể, các tính chất và các khía cạnh khác của thế giới để chuyển tải

Trang 1

ể loại:Khoa học nhận thức

Trang 2

Mục lục

1.1 Chú thích 1

2 Học 2 2.1 Danh ngôn 2

2.2 am khảo 2

3 Khái niệm 3 3.1 Khái niệm (triết học) 3

3.2 Khái niệm (tâm lý học) 3

3.3 uộc tính của Khái niệm 3

3.4 Xem thêm 3

3.5 am khảo 3

3.6 Liên kết ngoài 3

4 Lý thuyết mã kép 4 4.1 Nội dung cơ bản 4

4.2 Chú thích 4

5 Ngôn ngữ học 5 5.1 Phân ngành 5

5.2 Sự đa dạng 6

5.3 Đặc tính của ngôn ngữ 7

5.4 Miêu tả hay quy định 7

5.5 So sánh viết và nói 7

5.6 Lịch sử ngôn ngữ học 8

5.7 Các môn học liên ngành 8

5.7.1 Ngôn ngữ học ngữ cảnh 9

5.7.2 Ngôn ngữ học ứng dụng 9

5.7.3 Ngôn ngữ học lịch đại 9

5.8 Xem thêm 9

5.8.1 Danh sách 9

5.8.2 Các chủ đề liên quan 9

5.9 am khảo 10

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

5.9.1 Các sách giáo khoa 10

5.9.2 Các tác phẩm học thuật 10

5.9.3 Các tác phẩm đại chúng 11

5.9.4 Sách tham khảo 11

5.10 Liên kết ngoài 11

6 Nhận thức 12 6.1 Các giai đoạn của nhận thức 12

6.2 Phân loại nhận thức 13

6.2.1 eo chủ nghĩa duy vật của Mác và Lênin 14

6.2.2 eo các học thuyết khác 14

6.3 Chú thích 14

6.4 am khảo 15

6.5 Liên kết ngoài 15

7 Tâm trí 16 7.1 Xem thêm 16

7.2 am khảo 16

7.3 Liên kết ngoài 16

8 uyết ức năng 17 8.1 Chú thích và tham khảo 17

9 uyết thực hữu 18 9.1 am khảo 18

10 Tinh thần 19 10.1 Từ nguyên 19

10.2 Xem thêm 19

10.3 am khảo 19

10.4 Liên kết ngoài 19

11 Tri giác 20 11.1 am khảo 20

12 Triết học tinh thần 21 12.1 Vấn đề tâm-vật 22

12.2 Các giải pháp nhị nguyên cho vấn đề tâm-vật 22

12.2.1 Các lập luận của nhị nguyên luận 22

12.2.2 Nhị nguyên luận tương tác 23

12.2.3 Các dạng nhị nguyên luận khác 24

12.3 Giải pháp nhất nguyên cho vấn đề tâm-vật 25

12.3.1 Các dạng nhất nguyên luận duy vật lý 25

12.3.2 Những thuyết nhất nguyên phi duy vật lý 28

Trang 4

MỤC LỤC iii

12.4 Phê phán ngôn ngữ về vấn đề tâm-vật 28

12.5 uyết nội tại và thuyết ngoại tại 28

12.6 Tự nhiên luận và các vấn đề của nó 29

12.6.1 Cảm thụ tính 29

12.6.2 Tính chủ định 29

12.7 Triết học tinh thần và khoa học 30

12.7.1 Sinh học thần kinh 30

12.7.2 Khoa học máy tính 30

12.7.3 Tâm lý học 31

12.7.4 Khoa học nhận thức 31

12.8 Triết học tinh thần trong truyền thống lục địa 31

12.9 Triết học tinh thần trong Phật giáo 32

12.10 Các chủ đề liên quan tới triết học tinh thần 32

12.10.1 Ý chí tự do 32

12.10.2 Cái tôi 33

12.11 Chú thích và tham khảo 33

12.12 Xem thêm 35

12.13 Liên kết ngoài 36

13 Tự cảm nhận ngoại hình cơ thể 37 13.1 Trạng thái tích cực 37

13.2 Trạng thái tiêu cực 37

13.2.1 Tính bất nhất, tính cầu toàn và ảnh hưởng tiêu cực 37

13.3 Nguyên nhân từ nhiều phía 38

13.4 Nâng cao cảm nhận tốt về ngoại hình bản thân 38

13.5 Xem thêm 39

13.6 Liên kết ngoài 39

13.7 Chú thích 39

13.8 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 40

13.8.1 Văn bản 40

13.8.2 Hình ảnh 40

13.8.3 Giấy phép nội dung 41

Trang 5

Chương 1

Khoa học nhận thức

Não người được vẽ theo dữ liệu MRI

Khoa học nhận thức (tiếng Anh: cognitive science)

thường được định nghĩa là ngành nghiên cứu về bảnchất củatrí tuệ[1] Hầu như tất cả các giới thiệu chínhthức về khoa học nhận thức nhấn mạnh rằng đây làmột lĩnh vực nghiên cứu là kết hợp của nhiều ngành,trong đótâm lý học,thần kinh học,ngôn ngữ học,triếthọc,khoa học máy tính,nhân loại học, vàsinh họclàcác nhánh ứng dụng hoặc chuyên hóa chính của ngànhkhoa họcnày

1.1 Chú thích

[1] Luger, George (1994) Cognitive science: the science of

intelligent systems.San Diego: Academic Press.ISBN978-0124595705

1

Trang 6

Chương 2

Học

Một phụ nữ đang học cách sử dụng trống

Học hay còn gọi là học tập, học hành, học hỏi là quá

trình tiếp thucái mớihoặc bổ sung, trau dồi cáckiến

thức,kỹ năng,kinh nghiệm,giá trị,nhận thứchoặcsở

thích và có thể liên quan đến việc tổng hợp các loại

thông tinkhác nhau Khả năng học hỏi làsở hữucủa

loài người, một sốđộng vậtvà một số loạimáy móc

nhất định Tiến bộ theo thời gian có xu hướng tiệm cận

theo đường cong học tập

Học tập cũng như việc học tập bài bản không bắt buộc,

tùy theohoàn cảnh Nó không xảy ra cùng một lúc,

nhưng xây dựng dựa trên và được định hình bởi những

gì chúng ta đã biết Học tập có thể được xem như một

quá trình, chứ không phải là một tập hợp các kiến thức

thực tế và các hủ tục giáo điều Việc học tập của con

người có thể xảy ra như là một phần củagiáo dục, đào

tạo phát triển cá nhân.Chơi đùađã được tiếp cận dưới

một số nhà lý luận xem như là hình thức đầu tiên của

việc học Trẻ em thử nghiệm với thế giới, tìm hiểu các

quy tắc, và học cách tương tác thông qua chơi đùa

• Học thầy không tày học bạn

• Đi một ngày đàng học một sàng khôn

• Ngọc không mài không thành ngọc quý/Người

không học không biết đạo lý

• Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người

• Học không hiểu, học không hành là học như vẹt

• Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học

• Người không học như ngọc không mài

• Học ăn, học nói, học gói, học mở

2.2 Tham khảo

• Rogers, Carl (1969) Freedom to Learn: A View

of What Education Might Become (1st ed.)Columbus, Ohio: Charles Merrill

• Holt, John (1983) How Children Learn UK:Penguin Books.ISBN 0-14-022570-6

• Mayer, R.E (2001) Multimedia learning NewYork: Cambridge University Press ISBN 0-521-78749-1

• Paivio, A (1971) Imagery and verbal processes.New York: Holt, Rinehart, and Winston.ISBN 978-0-03-085173-5

• Vosniadou, Stella How Children Learn(PDF) UK:UNESCO

[1] “Lênin sống mãi!” Tuổi Trẻ Online Truy cập 4 tháng 6năm 2014

2

Trang 7

Chương 3

Khái niệm

Khái niệm là mộtđối tượng, một hình thức cơ bản của

tư duy(bao gồm mộtý tưởng, mộtý nghĩacủa mộttên

gọi chungtrongphạm trù lôgic, hoặc một sựsuy diễn)

phản ánh nhữngthuộc tínhchung,bản chấtcủa các đối

tượngsự vật,quá trình,hiện tượngtrongtâm lý họcvà

mối liên hệ cơ bản nhất các đối tượng trong hiện thực

khách quan

3.1 Khái niệm (triết học)

Immanuel Kantđã chia các khái niệm ra thành: khái

niệm aprioric (sản phẩm của trí tuệ) và khái niệm

aposterioric (được tạo ra từ quá trình trừu tượng hóa

kết quả thực nghiệm)

3.2 Khái niệm (tâm lý học)

Việc tạo ra một khái niệm là mộtchức năng cơ bảncủa

sựcảm nhậnvà suy nghĩ Các khái niệm cho phép ta

hệ thống hóahiểu biết của ta vềthế giới

Hai dạng khái niệm cơ bản:

1 Khái niệm cổ điển (dập khuôn, mang tính

Aristoteles) – với cácgiới hạnrõ rệt, dựa vào các

định nghĩachính xác, có mang cácđiều kiện cần

và đủ, để đối tượng cho trước có thể được coi như

là một đại diện xứng đáng trong một thể loại cho

trước;

2 Khái niệm tự nhiên (mờ, nhòe) – thay vì dựa vào

các định nghĩa và các điều kiện cần và đủ, thì lại

dựa vào sự đồng dạng so với những đối tượngtiêu

bảnđã được lưu lại trongtrí nhớ

3.3 Thuộc tính của Khái niệm

Một khái niệm có hai thuộc tính là ngoại hàm (hay

ngoại trươnghayngoại diên) vànội hàm

3.4 Xem thêm

Ý tưởng

Tranh luận về universali

Khái niệm luận

Khái niệm phổ biến

Phạm trù

Định nghĩa

3.5 Tham khảo 3.6 Liên kết ngoài

3

Trang 8

4.1 Nội dung cơ bản

eo lý thuyết này, sự nhận thức củacon ngườigồm cóhai hệ thống con Hai hệ thống này cùng xử lý thôngtin được nhận thức Một hệ thống xử lý các đối tượngkhông lời như hình ảnh, biểu tượng, hình tượng, … và

hệ thống còn lại xử lý các đối tượng thuộc về ngôn ngữ.Hai hệ thống con này có chức năng hoàn toàn khácnhau

Hệ thống thứ nhất được gọi là Hệ thống Trực quan(Visual System) xử lý và lưu trữ các thông tin hình ảnh,biểu tượng, hình tượng, …

Hệ thống thứ hai được gọi là Hệ thống Từ ngữ (VerbalSystem) xử lý và lưu trữ các thông tin thuộc ngôn ngữ.Hai hệ thống này có thể được kích hoạt một cách độclập với nhau Sự tương quan và liên hệ của hai hệ thốngnày chính là sự mã hóa kép thông tin

Lý thuyết Mã kép có rất nhiều ứng dụng trong nhiềulĩnh vực nhận thức, bao gồm giải quyết vấn đề, học kháiniệm, ngôn ngữ, …

4.2 Chú thích

4

Trang 9

Chương 5

Ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học hay ngữ lý học[1]là bộ môn khoa học

nghiên cứu vềngôn ngữ Người nghiên cứu bộ môn này

được gọi lànhà ngôn ngữ học Nói theo nghĩa rộng,

nó bao gồm ba khía cạnh: hình thái ngôn ngữ, nghĩa

trong ngôn ngữ và ngôn ngữ trong ngữ cảnh Những

hoạt động miêu tả ngôn ngữ sớm nhất biết tới được

cho là của Panini (thế kỷ IV trước Công nguyên), với

những phân tích về tiếng Phạn (Sanskrit) trong cuốn

Ashtadhyayi.

Ngôn ngữ học phân tích ngôn ngữ con người như một

hệ thống liên kết âm thanh (hay cử chỉ ra hiệu) với ý

nghĩa Ngữ âm học nghiên cứu về âm học và cấu âm

của sự tạo thành và tiếp nhận âm thanh từ lời nói và

ngoài lời nói Mặt khác, bộ môn nghiên cứu về nghĩa

trong ngôn ngữ lại làm sáng tỏ cách các ngôn ngữ mã

hóa mối quan hệ giữa các thực thể, các tính chất và

các khía cạnh khác của thế giới để chuyển tải, xử lý và

gán nghĩa, cũng như điều khiển và giải quyết sự mơ

hồ (ambiguilty) Trong lúc Ngữ nghĩa quan tâm tới các

điều kiện chân trị, Ngữ dụng lại quan tâm tới những

ảnh hưởng của Ngữ cảnh tới ý nghĩa

Ngữ pháp tạo lập nên một hệ thống các luật chi phối

hình thái của phát ngôn trong một ngôn ngữ nhất định

Nó bao gồm cả âm, nghĩa và âm vị (âm thanh có đặc

trưng gì và kết hợp với nhau như thế nào), hình thái

học (cấu tạo vào cách kết hợp các từ)

5.1 Phân ngành

Các nghiên cứu chuyên ngành của ngôn ngữ học được

rất nhiều nhà chuyên ngành theo đuổi; và những nhà

nghiên cứu này ít khi đồng ý với nhau, nhưRuss Rymer

đã diễn tả một cách trào phúng như sau:

Linguistics is arguably the most hotly

contested property in the academic realm It

is soaked with the blood of poets, theologians,

philosophers, philologists, psychologists,

biologists, anthropologists, and neurologists,

along with whatever blood can be got out of

grammarians.

(Ngôn ngữ học có thể nói là một đấu

trường nóng bỏng nhất trong giới trí thức.Đấu trường đó đẫm đầy máu của các nhà thơ,nhà thần học, nhà triết học,nhà ngôn ngữhọc, nhà tâm lý học, nhà sinh vật học, nhànhân chủng học và nhà thần kinh học, cùngvới tất cả lượng máu có thể lấy ra được củanhững nhà ngữ pháp học.)1

an tâm hàng đầu của ngôn ngữ học lý thuyết là mô

tả bản chất của khả năng ngôn ngữ của loài người, hay

“sự tinh thông"; giải thích cho được khi nói một người

“biết” một ngôn ngữ thì người đó thật sự “biết” đượcgì; và giải thích cho được bằng cách nào con người đã

“biết” được ngôn ngữ đó

Tất cả con người (trừ những trường hợp bị bệnh đặcbiệt) đều đạt tới sự tinh thông ở bất kỳ ngôn ngữ nàođược nói (hoặc ra dấu, trong trường hợpngôn ngữ dấu)xung quanh họ trong quá trình trưởng thành, với rất

ít sự hướng dẫn có ý thức Động vật khác không làmđược như vậy Do đó, có một tính chất bẩm sinh nào đókhiến cho con người có thể biết cách sử dụng ngôn ngữ.Không có một quá trình “di truyền học” rõ rệt nào gắnvới sự khác biệt giữa các ngôn ngữ: một cá nhân có thểlĩnh hội được bất kỳ ngôn ngữ nào mà họ đã được tiếpxúc lâu dài trong môi trường sống khi còn bé, khôngphân biệt xuất xứ cha mẹ hay dân tộc của họ

Các cấu trúc ngôn ngữ là các cặp song hành giữa ýnghĩa và âm thanh (hoặc hình thức ngoại hiện khác).Các nhà ngôn ngữ học có thể chỉ tập trung vào một sốlĩnh vực nhất định củangôn ngữ, có thể sắp xếp nhưsau:

Ngữ âm học(Phonetics), nghiên cứu quy luật của các thể (aspect) của âm

Âm vị học(Phonology), nghiên cứu những khuôn mẫu (paern) của âm

Hình thái học(Morphology), nghiên cứu bản chất

Trang 10

6 CHƯƠNG 5 NGÔN NGỮ HỌC

Ngữ dụng học(Pragmatics), nghiên cứu phát biểu

trong ngữ cảnh giao tiếp (nghĩa đen và nghĩa

bóng)

Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis), phân

tích ngôn ngữ trong văn bản (văn bản nói, viết

hoặc ký hiệu)

Nhiều nhà ngôn ngữ học đồng ý rằng các phân ngành

trùng lắp nhau đáng kể trong nghiên cứu Tuy nhiên,

bất kể quan điểm của họ ra sao, mỗi lĩnh vực đều có

những quan niệm cốt lõi của nó, đòi hỏi sự tìm tòi,

nghiên cứu khoa học kỹ lưỡng

Những lĩnh vực được cho là trùng lắp được phân ra dựa

theo các yếu tố ngoại tại được xem xét Ví dụ như:

Phong cách học, môn nghiên cứu những yếu tố

ngôn ngữ giúp cho ngôn từ phù hợp ngữ cảnh

Ngôn ngữ học phát triển, môn nghiên cứu sự phát

triển khả năng ngôn ngữ của một cá nhân, cụ thể

là sựtiếp thu ngôn ngữtrong giai đoạn ấu thơ

Ngôn ngữ học lịch sửhay Ngôn ngữ học lịch đại,

môn nghiên cứu sự thay đổi trong ngôn ngữ

Ngôn ngữ học tiến hoá, môn nghiên cứu nguồn

gốc và sự phát triển nối tiếp của ngôn ngữ

Ngôn ngữ học tâm lý, môn nghiên cứu các quá

trình nhận thức và trình bày gắn liền với việc sử

dụng ngôn ngữ

Ngôn ngữ học xã hội, môn nghiên cứu các khuôn

mẫu xã hội của sự đa dạng ngôn ngữ

Ngôn ngữ học điều trị, việc ứng dụng lý thuyết

ngôn ngữ học vào lĩnh vựcnói-sửa các tật nói

Ngôn ngữ học thần kinh, môn nghiên cứu các

mạng lưới dây thần kinh gắn liền với văn phạm

và giao tiếp

Ngôn ngữ học vạn vật, môn nghiên cứu các hệ

thống giao tiếp tự nhiên cũng như do con người

truyền dạy cho ở động vật khác so với ngôn ngữ

loài người

Ngôn ngữ học máy tính, môn nghiên cứu những

bổ sung cấu trúc ngôn ngữ bằng khoa học máy

tính

Ngôn ngữ học ứng dụng, môn nghiên cứu những

vấn đề liên quan đến ngôn ngữ trong cuộc sống

hàng ngày, đáng chú ý là chính sách ngôn ngữ và

giáo dục ngôn ngữ

5.2 Sự đa dạng

Một phần lớn công sức của các nhà ngôn ngữ học được

bỏ ra để đi sâu vào tìm hiểu bản chất của sự khác nhaugiữa các ngôn ngữ trên thế giới Bản chất của sự đadạng ngôn ngữ này rất quan trọng để chúng ta hiểuđược khả năng ngôn ngữ của loài người nói chung: nếukhả năng ngôn ngữ của con người bị bó buộc hạn hẹpbởi những đặc điểm sinh học của loài, thì các ngôn ngữphải rất giống nhau Nếu khả năng ngôn ngữ của conngười không bị hạn chế, thì các ngôn ngữ có thể cực kỳkhác nhau

Tuy nhiên, có nhiều cách hiểu khác nhau đối với sựgiống nhau giữa các ngôn ngữ Ví dụ như, tiếng Latinđược người La Mã sử dụng đã phát triển thành tiếngTây Ban Nha và tiếng Ý Sự giống nhau giữa tiếng TâyBan Nha và tiếng Ý, trong nhiều tình huống, là do cảhai đã kế thừa từ tiếng Latin Vậy, về nguyên tắc, nếuhai ngôn ngữ có cùng tính chất nào đó thì tính chấtnày có thể hoặc do có cùng nguồn gốc hoặc do tínhchất nào đó thuộc bộ phận ngôn ngữ của con người(human language faculty) Dĩ nhiên, luôn luôn có thểxảy ra một sự ngẫu nhiên dẫn đến sự giống nhau nào

đó, như là trường hợp từ 'mucho' trong tiếng Tây BanNha và từ 'much' tiếng Anh Cả hai từ không liên quannhau chút nào về mặt lịch sử, mặc dù chúng có nghĩa

và cách phát âm giống nhau

ường thì khả năng có cùng nguồn gốc có thể đượcloại bỏ Ai cũng biết, việc học một ngôn ngữ là rất dễdàng đối với con người, do đó, ta có thể suy đoán rằngcác ngôn ngữ đã được nói ít nhất là từ khi có con ngườihiện đại về mặt sinh học, có thể là tối thiểu năm chụcnghìn năm nay Những phương pháp khách quan quansát sự thay đổi của ngôn ngữ (ví dụ như, so sánh ngônngữ trong các văn bản cổ với ngôn ngữ hậu sinh củachúng được nói ngày nay) cho thấy sự thay đổi là nhanhchóng đến độ chúng ta không thể nào tái dựng lại mộtngôn ngữ đã được nói cách đây thật lâu Từ đây suy rađược rằng, những điểm tương đồng trong các ngôn ngữđược nói ở những nơi khác nhau trên thế giới thôngthường không thể được dùng làm bằng chứng chứngminh chúng có cùng tổ tiên

Bất ngờ hơn nữa, người ta đã ghi nhận được nhữngtrường hợpngôn ngữ ký hiệuđược phát triển trong cáccộng đồng người khiếm thính bẩm sinh đã sớm không

có cơ hội được tiếp xúc với ngôn ngữ nói Người ta đãchỉ ra được rằng các tính chất của những ngôn ngữ dấunày nói chung là trùng khớp với nhiều tính chất của cácngôn ngữ nói Điều này củng cố giả thuyết rằng nhữngtính chất giống nhau đó không phải do một nguồn gốcchung mà là do những đặc điểm tổng quát của phươngthức học ngôn ngữ

Nói một cách tự do, tổng hợp các tính chất chung củatất cả các ngôn ngữ có thể được gọi là "ngữ pháp phổquát" (universal grammar) (viết tắt NPTC), một đề tài

có các đặc điểm được bàn cãi rất nhiều Các chuyên gia

Trang 11

5.4 MIÊU TẢ HAY QUY ĐỊNH 7

ngôn ngữ học và phi-ngôn ngữ học cũng sử dụng thuật

ngữ này theo nhiều cách khác nhau

Các đặc tính chung toàn cầu của ngôn ngữ có thể một

phần xuất phát từ các phương diện chung toàn cầu của

những trải nghiệm của con người; Ví dụ như, tất cả mọi

người đều trải nghiệm qua nước, và tất cả ngôn ngữ

của loài người đều có một từ để chỉ nước Tuy nhiên,

trải nghiệm chung không đủ để lý giải những câu hỏi

khó hơn về NPTC Hãy xét một ví dụ thú vị sau: giả

sử tất cả ngôn ngữ loài người đều phân biệt được danh

từ và động từ Nếu đúng như vậy thì hiện tượng này

cần được giải thích thấu đáo hơn, vì danh từ và động từ

không phải là thứ trải nghiệm được trong thế giới vật

chất bên ngoài các ngôn ngữ sử dụng chúng

Nói chung, một đặc điểm của NPTC có thể là xuất phát

từ những đặc tính chung của nhận thức con người hoặc

từ đặc tính nhận thức chung cụ thể nào đó của con

người gắn liền với ngôn ngữ Nhân loại còn hiểu biết

quá ít về nhận thức của con người nói chung, không đủ

để đưa ra phân biệt có giá trị Do đó, những điều tổng

hợp thường được đưa ra trong ngôn ngữ học lý thuyết

mà không khẳng định rõ chúng có mối liên hệ nào đến

các khía cạnh khác của nhận thức hay không.1234

5.3 Đặc tính của ngôn ngữ

Từ thờiHy Lạpcổ đại, người ta đã hiểu rằng ngôn ngữ

có khuynh hướng được tổ chức theo các phạm trù ngữ

pháp như danh từ và động từ,danh cáchvàđối cách,

hay hiện tại và quá khứ Từ vựng và ngữ pháp của một

ngôn ngữ được tổ chức theo những thể loại cơ bản này

Ngoài cách dùng nhiều thể loại cụ thể, ngôn ngữ có

một đặc điểm quan trọng là nó tổ chức các yếu tố thành

những cấu trúcđệ quy; cho phép một ngữ danh từ hàm

chứa ngữ danh từ khác (ví dụ như the chimpanzee’s lips)

hoặc một mệnh đề hàm chứa một mệnh đề khác (Ví dụ

như I think that it’s raining) Mặc dù phép đệ quy trong

ngữ pháp được ngầm công nhận từ rất sớm (bởi nhiều

người nhưJespersen), tầm quan trọng của phương diện

ngôn ngữ này chỉ được nhận thức trọn vẹn sau khi

quyển sách[2]củaNoam Chomskyđược xuất bản năm

1957, trình bày ngữ pháp chính quy của một phần Anh

ngữ Trước đó, những mô tả chỉ tiết nhất về hệ thống

ngôn ngữ chỉ bàn về hệ thống ngữ âm vị học và hình

thái học, có khuynh hướng khép kín và thiếu sáng tạo

Chomsky đã sử dụngngữ pháp phi ngữ cảnhđược bổ

sung thêm nhiều biến đổi Từ đó về sau, ngữ pháp phi

ngữ cảnh đã được viết ra cho rất nhiều bộ phận ngôn

ngữ khác nhau (Ví dụ như,generalised phrase structure

grammar, cho tiếng Anh), nhưng người ta đã chứng

minh rằng ngôn ngữ loài người bao gồm các yếu tố phụ

thuộc lẫn nhau, không thể được giải quyết đầy đủ bằng

ngữ pháp phi ngữ cảnh Việc này đòi hỏi phải có giải

pháp hiệu quả hơn, ví dụ như các biến đổi chẳng hạn

5.4 Miêu tả hay quy định

Những nghiên cứu trong phạm vi ngôn ngữ học hiện

nay đều nằm trong lãnh vực “miêu tả" (descriptive); các

nhà nghiên cứu tìm cách làm sáng tỏ các bản tính củangôn ngữ mà không đưa ra các phán xét hay tiên đoánhướng đi của nó trong tương lai Tuy vậy, có nhiều nhàngôn ngữ học và các người nghiên cứu nghiệp dư đã

cố gắng đưa ra các luật lệ cho ngôn ngữ theo kiểu “quy

định” (prescriptive), họ cố gắng đưa ra các “chuẩn” để

mọi người theo

Những người theo lối đi “quy định” thường là nhữngngười trong lãnh vựcgiáo dụcvàbáo chí, họ thường ítkhi nằm trong lãnh vực ngôn ngữ học hàn lâm Nhữngngười này có một khái niệm khá rõ về những điều mà

họ cho là "đúng” hay “sai”, họ có thể tự cho họ nhiệm

vụ làm cho các thế hệ tương lai dùng một loại ngôn ngữ

có thể dẫn đến “thành công” hơn “thất bại”, thường làmột lối nói, một cách phát âm mà họ cho là “chuẩn”.Các lý do làm cho họ không chấp nhận được các “cáchdùng sai” có thể bao gồm sự ngờ vực cho cáctừ mới

(neologism), các lý do liên quan đến các phương ngôn (dialect) bị xã hội chê bai, hay đơn giản là vì các mâu

thuẫn với các lý thuyết họ ưa chuộng Một hình thứccực đoan của hình thái “quy định” là hình thứckiểmduyệt; những nhà kiểm duyệt thường cho họ một nghĩa

vụ diệt trừ các từ, các cách dùng, các lối phát âm… màtheo các giá trị xã hội, đạo đức, chính trị… của họ cóthể dẫn đến một xã hội xấu

Trong khi đó, những người theo lối “miêu tả" khôngchấp nhận khái niệm “cách dùng sai” của những người

đi theo lối “quy định” Họ có thể gọi cách dùng đó như

một “cách dùng riêng” (idiosyncratic) hay họ có thể tìm

cách khám phá ra một “luật” mới cho cách dùng đó đểmang nó trở vào trong hệ thống (thay vì tự động chocác lối dùng “sai” là nằm ngoài hệ thống như các ngườitheo lối "điển chế" làm) Trong phạm vi điều tra điền

dã (fieldwork), cácnhà ngôn ngữ học miêu tảnghiêncứu ngôn ngữ bằng cách dùng một đường lối diễn tả.Phương pháp của họ gần với phương pháp khoa họcđược dùng trong các ngành khác

5.5 So sánh viết và nói

Hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều có chung lập trườngrằngngôn ngữ nóimang tính chủ đạo hơn, do đó, quantrọng hơn, cần nghiên cứu hơn làngôn ngữ viết anđiểm này có một số lý do như sau:

• Việc nói năng là đặc tính chung của loài người trên

toàn cầu, trong khi nhiềunền văn hoá và cộngđồng có tiếng nói không có chữ viết;

• Người ta học nói và xử lý ngôn ngữ nói dễ dàng

hơn và sớm hơn ngôn ngữ viết

Trang 12

8 CHƯƠNG 5 NGÔN NGỮ HỌC

• Một sốnhà khoa học nhận thứctranh luận rằng

bộ nãocó một "đặc khu ngôn ngữ" bẩm sinh.Kiến

thứccủa đặc khu này được cho là có được từ việc

học tiếng nói chứ không phải chữ viết, cụ thể là vì

ngôn ngữ nói được tin là sự thích nghi theo luật

tiến hoá, trong khi chữ viết lại là một phát minh

tương đối gần đây

Dĩ nhiên các nhà ngôn ngữ học đồng ý rằng việc

nghiên cứu ngôn ngữ viết là có giá trị và rất nên làm

Đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ học sử dụng các

phương thứcngôn ngữ học tập hợpvàngôn ngữ học

máy tính, ngôn ngữ viết thường dễ dàng hơn khi xử lý

số lượng lớn dữ liệu ngôn ngữ Một tập hợp lớn dữ liệu

ngôn ngữ nói vừa khó tạo được, vừa khó tìm và thường

là đượcký âmvà được viết ra Hơn nữa, các nhà ngôn

ngữ học đã tìm đến dữ liệu ngôn từ dựa trên chữ viết,

dưới nhiều định dạnggiao tiếp qua máy tính để làm

nguồn nghiên cứu

Việc nghiên cứuhệ thống chữ viếtở bất kỳ trường hợp

nào cũng được xem là một nhánh của ngôn ngữ học

5.6 Lịch sử ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học, một môn nghiên cứu ngôn ngữ một cách

hệ thống, khởi nguồn từẤn Độ thời đồ sắtbằng việc

phân tíchtiếng Phạn Những cuốn sáchPratishakhya

(thế kỷ thứ 8 trước công nguyên) có thể xem là một bộ

sưu tập những quan sát về những biến đổi, phân thành

những tổng hợp khác nhau cho từngtrường phái Vệ Đà

khác nhau Việc nghiên cứu các văn bản này một cách

có hệ thống đã làm nền tảng để từ đó hình thành môn

văn phạmVyakarana, với chứng tích sớm nhất còn lại

ngày nay là tác phẩm củaPāṇini(520–460 BC) Pāṇini

đã tổng hợp ra gần 4000 những quy luật cho ra đời một

thứngữ pháp sản sinhhoàn chỉnh và cực kỳ cô đọng

củatiếng Phạn Phương pháp tiếp cận mang tính phân

tích của ông đã nhắc đến những khái niệm nhưâm vị,

hình vịvàgốc từ Do chú trọng đến tính ngắn gọn nên

ngữ pháp của ông đã cho ra một cấu trúc có tính phi

trực giác cao, tượng như “ngôn ngữ máy tính” ngày nay

(khác với các ngôn ngữ lập trình mà con người có thể

đọc được) Những quy tắc logic và kỹ thuật bậc thầy

của ông đã có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong ngôn ngữ

học cổ đại lẫn hiện đại

Ngôn ngữ họcẤn Độđã giữ vững tầm cao trong nhiều

thế kỷ;Patanjaliở thể kỷ thứ hai trước CN vẫn hăng

say chỉ trích Panini Tuy nhiên, trong những thế trước

CN, ngữ pháp của Panini đã được xem làngữ pháp quy

định, và sau đó các nhà bình luận đã trở nên hoàn toàn

phục thuộc vào đó.Bhartrihari (450– 510) cho ra lý

thuyết rằng hành vi nói năng được tạo ra do bốn giai

đoạn: thứ nhất, hình thành ý tưởng; thứ hai, chuyển ý

thành lời và sắp xếp thứ tự; thứ ba, thực hiện truyền

tín hiệu lời nói vào không khí; cả ba giai đoạn này do

người nói thực hiện và giai đoạn cuối cùng là nghe hiểu

lời nói, do người nghe hoặc người thông dịch chịu tráchnhiệm

ỞTrung Á, nhà ngôn ngữ họcBa Tư Sibawayhđã mô

tả tiếng Ả Rập một cách chuyên nghiệp và chi tiết

vào năm 760, trong quyển sách bất hủ của ông,

ngữ pháp), làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của ngôn ngữ.

Trong sách của mình, ông đã phân biệt rõngữ âm họcvớiâm vị học

Ngôn ngữ học Tây phương bắt nguồn từ thời văn minh

Hy Lạp và La Mã cổ đại với việc tự biện ngữ pháp nhưtrong đoạnCratyluscủaPlato, nhưng nhìn chung vẫnkém xa những thành quả đạt được của các nhà ngữpháp Ấn Độ cổ đại cho đến tận thế kỷ 19, khi các tàiliệu học thuật của Ấn Độ bắt đầu có mặt ở châu Âu.Một nhà ngôn ngữ học đầu thế kỷ 19 tênJakob Grimm,

đã hệ thống ra quy luật biến đổi cách phát âm củaphụ âm, được biết đến với tên Luật Grimmvào năm

1822.Karl Vernerđã khám phá raLuật Verner.AugustSchleicherđã tạo rathuyết “Stammbaum”vàJohannesSchmidtđã phát triểnthuyết “Wellen”(“mô hình sóng”)vào năm 1872

Ferdinand de Saussurelà người sáng lập rangôn ngữhọc cấu trúchiện đại.Edward Sapir, một người dẫn đầutrong ngành ngôn ngữ học cấu trúc ở Mỹ, là một trongnhững người đầu tiên khám phá quan hệ giữa nghiêncứu ngôn ngữ và nhân chủng học Phương pháp luậncủa ông có sức ảnh hưởng lớn đối với những người hậubối của ông Mô hình ngôn ngữ chính thức củaNoamChomsky,ngữ pháp sản sinh-chuyển hoá, đã phát triểndưới sự ảnh hưởng của thầy mình,Zellig Harris, ngườilại chịu ảnh hưởng lớn từLeonard Bloomfield Mô hìnhnày đã giữ vị trí chủ chốt từ những thập niên1960.Chomsky vẫn là nhà ngôn ngữ học có sức ảnh hưởnglớn nhất ngày nay Những nhà ngôn ngữ học làmviệc theo những khuôn khổ nhưHead-Driven PhraseStructure Grammar hoặc Ngữ Pháp Chức năng TừVựngnhấn mạnh tầm quan trọng của việc chính thứchoá và tính chính xác chính thức trong việc mô tả ngônngữ học, và có thể phần nào xa rời công trình gần đâyhơn của Chomsky (chương trình "đơn giản tối thiểu”choNgữ pháp chuyển hoá) có liên hệ gần gũi hơn vớinhững công trình trước đây của Chomsky Những nhàngôn ngữ học theo đuổiLý uyết Tối Ưutrình bàynhững điều tổng hợp được theo các quy luật có thể cóngoại lệ, một hướng đi khác xa với ngôn ngữ học chínhquy, và những nhà ngôn ngữ học theo đuổi các loạingữpháp chức năngvàngôn ngữ học nhận thứccó khuynhhướng nhấn mạnh tính phi độc lập của kiến thức ngônngữ học và tính phi toàn cầu của các cấu trúc ngôn ngữhọc, do đó, xa lìa kiểu mẫu Chomsky một cách đáng kể

5.7 Các môn học liên ngành

Trang 13

5.8 XEM THÊM 9

5.7.1 Ngôn ngữ học ngữ cảnh

Ngôn ngữ học ngữ cảnh bao gồm những môn nghiên

cứu sự tác động qua lại giữa ngôn ngữ học và các ngành

học khác Ở môn ngôn ngữ học lý thuyết, ngôn ngữ

được xem xét độc lập trong khi những lĩnh vực đa

ngành trong ngôn ngữ học nghiên cứu việc ngôn ngữ

tương tác với thế giới bên ngoài ra sao

Ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ nhân chủng học, và

nhân chủng học ngôn ngữlà những môn khoa học xã

hội chuyên xem xét sự tương tác giữa ngôn ngữ học và

toàn xã hội

Ngôn ngữ học tâm lývàngôn ngữ học thần kinhliên

kếty họcvới ngôn ngữ học

Những lĩnh vực đa ngành của ngôn ngữ học gồm có

lĩnh hội ngôn ngữ,ngôn ngữ học tiến hoá,ngôn ngữ

học máy tínhvàkhoa học nhận thức

5.7.2 Ngôn ngữ học ứng dụng

Ngôn ngữ học lý thuyết quan tâm đến việc tìm ra và

miêu tảnhững điều khái quát được về một ngôn ngữ

nhất định cũng như về tất cả các ngôn ngữ.Ngôn ngữ

học ứng dụngđem những thành quả đó đi "ứng dụng”

vào những lĩnh vực khác ường thì ngôn ngữ học ứng

dụng được chỉ đến việc sử dụng nghiên cứu ngôn ngữ

học trong việc dạy ngôn ngữ, nhưng kết quả nghiên

cứu ngôn ngữ học còn được dùng trong các lĩnh vực

khác

Nhiều lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng ngày nay liên

quan mật thiết đến việc sử dụngmáy vi tính.Máy nói

vàthiết bị nhận dạng giọng nóisử dụng kiến thứcngữ

âm họcvàâm vị họcđể cung cấp các giao diện giọng nói

cho máy tính Các ứng dụng củangôn ngữ học máy tính

trong việcdịch bằng máy,dịch thuật có sự hỗ trợ của

máy tính, và việcxử lý ngôn ngữ tự nhiênlà những lĩnh

vực ngôn ngữ học ứng dụng gặt hái được nhiều thành

quả và đã tiến lên vị trí dẫn đầu trong những năm gần

đây khi khả năng của máy tính ngày càng nâng cao

Ảnh hưởng của các ứng dụng này đã đem lại sự tác

động tích cực đến các lý thuyết về cú pháp học cũng

như ngữ nghĩa học, vì việc mô phỏng các lý thuyết này

trên máy tính giới hạn chúng trong phạm vi các thao

táctính toán đượcvà nhờ vậy, đem lại cơ sở toán học

vững chắc hơn

5.7.3 Ngôn ngữ học lịch đại

Trong khi cốt lõi của ngôn ngữ học lý thuyết là chú

trọng nghiên cứu ngôn ngữ vào một thời điểm nhất

định (thông thường là ở hiện tại),ngôn ngữ học lịch

đạitìm hiểu xem ngôn ngữ thay đổi như thế nào theo

thời gian, có khi xem xét đến cả hàng thế kỷ Ngôn ngữ

lịch đại vừa đem đến một lịch sử ngôn ngữ phong phú

(môn ngôn ngữ học đã phát triển từ ngôn ngữ học lịch

đại), vừa tạo ra một nền móng lý thuyết vững chắc choviệc nghiên cứusự thay đổi của ngôn ngữ

Ở các trường Đại học Mỹ (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ),khuynh hướng phi lịch đại chiếm ưu thế trong mônngôn ngữ học Nhiều khoá ngôn ngữ học nhập mônchỉ đề cập ngôn ngữ học lịch đại một cách qua loa Việcchuyển trọng tâm sang hướng phi lịch đại đã bắt đầuvớiSaussurevà trở nên phổ biến vớiNoam Chomsky.Các nhánh ngôn ngữ học có tính lịch đại gồm cóngônngữ học lịch đại so sánhvàtừ nguyên học

5.8 Xem thêm 5.8.1 Danh sách

Danh sách các chủ đề ngôn ngữ học cơ bản

Danh sách các chủ đề khoa học tri giác

Danh sách các chủ đề ngôn ngữ học

Danh sách các chuyên ngành ngôn ngữ học

Danh sách các trường dạy ngôn ngữ học khoá hè

Ngôn ngữ học khối liêu

Critical discourse analysis

Cryptanalysis

Phân tích hội thoại

Trang 14

[1] Trần Ngọc Ninh Cơ-cấu Việt-ngữ Westminster, CA:

Viện Việt-học, 2007 Tr xviii

[2] Chomsky, Noam 1957 “Syntactic Structures” Mouton,

• Lyons, John (1995), Linguistic Semantics,

Cambridge University Press (ISBN 43877-2)

0-521-• Napoli, Donna J (2003) Language Maers A Guide

to Everyday estions about Language Oxford

University Press

• O'Grady, William D., Michael Dobrovolsky & Francis Katamba [eds.] (2001), Contemporary Linguistics, Longman (ISBN 0-582-24691-1) -Lower Level

• Taylor, John R (2003), Cognitive Grammar, Oxford

University Press (ISBN 0-19-870033-4)

• Trask, R L (1995) Language: e Basics London:

Routledge

• Ungerer, Friedrich & Hans-Jorg Schmid (1996),

An Introduction to Cognitive Linguistics, Longman.

• (1995), Mental Spaces, 2nd ed., Cambridge

University Press (ISBN 0-521-44949-9)

• (1997), Mappings in ought and Language,

Cambridge University Press (ISBN 59953-9)

0-521-• & Mark Turner (2003), e Way We ink,

Basic Books (ISBN 0-465-08786-8)

• Rymer, p 48, quoted in Fauconnier and

Turner, p 353

Sampson, Geoffrey(1982), Schools of Linguistics,

Stanford University Press (ISBN 0-8047-1125-9)

• Sweetser, Eve (1992), From Etymology to Pragmatics, repr ed., Cambridge University

Press (ISBN 0-521-42442-9)

Trang 15

5.10 LIÊN KẾT NGOÀI 11

• Van Orman ine, Willard (1960), Word and

Object, MIT Press (ISBN 0-262-67001-1)

• Deacon, Terrence (1998), e Symbolic Species,

WW Norton & Co (ISBN 0-393-31754-4)

• Deutscher, Guy, Dr (2005), e Unfolding of

Language, Metropolitan Books (ISBN

0-8050-7907-6) (ISBN 978-0-8050-7907-4

• Harrison, K David (2007) When Languages Die:

e Extinction of the World’s Languages and the

Erosion of Human Knowledge New York and

London: Oxford University Press

• Hayakawa, Alan R & S I (1990), Language in

ought and Action, Harvest (ISBN

• Sapir, Edward Language.

Saussure, Ferdinand de Cours de linguistique

générale.jhipouhoup

• White, Lydia (1992), Universal Grammar and

Second Language Acquisition.

5.9.4 Sách tham khảo

• Aronoff, Mark & Janie Rees-Miller (Eds.) (2003)

e Handbook of Linguistics Blackwell Publishers.

(ISBN 1-4051-0252-7)

• Asher, R (Ed.) (1993) Encyclopedia of Language

and Linguistics Oxford: Pergamon Press 10 vols.

• Bright, William (Ed) (1992) International

Encyclopedia of Linguistics Oxford University

Press 4 Vols

• Brown, Keith R (Ed.) (2005) Encyclopedia of

Language and Linguistics (2nd ed.) Elsevier 14

• Graffi, G 2001 200 Years of Syntax A Critical

Survey, Amsterdam, Benjamins, 2001

• Frawley, William (Ed.) (2003) International Encyclopedia of Linguistics (2nd ed.) Oxford

“Linguistics” sectionof A Bibliography of Literary

eory, Criticism and Philology, ed J A GarcíaLanda (University of Zaragoza, Spain)

• Linguistics and language-relatedwikiarticles onScholarpediaandCitizendium

Trang 16

Chương 6

Nhận thức

Nhận thức (tiếng Anh: cognition) là hành động hay

quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông

qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các

qui trình nhưtri thức, sự chú ý,trí nhớ, sựđánh giá,

sựước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết

vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử

dụngngôn ngữ eo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”,

nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế

giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con

người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể

eo quan điểmtriết học Mác-Lênin, nhận thức được

định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực

khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích

cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.[1]

Sự nhận thức của con người vừa ý thức, vừa vô thức,

vừa cụ thể, vừa trừu tượng và mang tính trực giác á

trình nhận thức sử dụng tri thức có sẵn và tạo ra tri

thức mới

Các qui trình được phân tích theo các góc nhìn khác

nhau ở tùy các lĩnh vực khác nhau nhưngôn ngữ học,

gây mê,thần kinh học,tâm thần học,tâm lý học,giáo

dục,triết học, nhân loại học, sinh học, logic vàkhoa

học máy tính Trong tâm lý học và triết học, khái niệm

về nhận thức liên quan chặt chẽ đến các khái niệm trừu

tượng như trí óc vàtrí tuệ, bao gồm các chức năng tâm

thần, các quá trình tâm thần (tâm trí) và các trạng thái

của các thực thể thông minh (như cá nhân, nhóm, tổ

chức, máy tự động cao cấp và trí tuệ nhân tạo)

Cách sử dụng khái niệm này khác nhau trong từng

ngành học Ví dụ như trong tâm lý học vàkhoa học

nhận thức, “nhận thức” thường đề cập đến việc các chức

năng tâm lý của một cá nhân xử lý thông tin Nó còn

được sử dụng trong một nhánh củatâm lý học xã hội

-ý thức xã hội, để giải thích về những thái độ, sự phân

loại và động lực nhóm Trong tâm lý học nhận thức và

kỹ thuật nhận thức, “nhận thức” thông thường được coi

là quá trình xử lý thông tin của tâm trí người tham gia

hay người điều hành hoặc của bộ não

6.1 Các giai đoạn của nhận thức

eo quan điểm của phéptư duy biện chứng, hoạt độngnhận thức của con người đi từtrực quan sinh độngđến

tư duy trừu tượng, và từtư duy trừu tượngđến thựctiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua cácgiai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ

cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bảnchất bên trong, như sau:

1 Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận

thức Đó là giai đoạn con người sử dụng các giácquan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật

ấy[2] Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau:

• Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính

phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của các sựvật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếpvào các giác quan của con người Cảm giác

là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quảcủa sự chuyển hoá những năng lượng kíchthích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức.Leninviết: “Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan” Nếu dừng lại ở cảm giác thìcon người mới hiểu được thuộc tính cụ thể,riêng lẻ của sự vật Điều đó chưa đủ; bởi vì,muốn hiểu biết bản chất của sự vật phải nắmđược một cách tương đối trọn vẹn sự vật Vìvậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhậnthức cao hơn”[2]

• Tri giác: hình thức nhận thức cảm tính phản

ánh tương đối toàn vẹn sự vật khi sự vật đóđang tác động trực tiếp vào các giác quancon người Tri giác là sự tổng hợp các cảmgiác So với cảm giác thì tri giác là hìnhthức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn.Trong tri giác chứa đựng cả những thuộctính đặc trưng và không đặc trưng có tínhtrực quan của sự vật Trong khi đó, nhậnthức đòi hỏi phải phân biệt được đâu là thuộctính đặc trưng, đâu là thuộc tính không đặctrưng và phải nhận thức sự vật ngay cả khi

nó không còn trực tiếp tác động lên cơ quan12

Trang 17

6.2 PHÂN LOẠI NHẬN THỨC 13

cảm giác con người Do vậy nhận thức phải

vươn lên hình thức nhận thức cao hơn[2]

• Biểu tượng: là hình thức nhận thức cảm tính

phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự

hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không

còn tác động trực tiếp vào các giác quan

Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực

tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp Bởi vì,

nó được hình thành nhờ có sự phối hợp, bổ

sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sự

tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp Cho

nên biểu tượng phản ánh được những thuộc

tính đặc trưng nổi trội của các sự vật[2]

Giai đoạn này có các đặc điểm:

• Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác

quan của chủ thể nhận thức[1]

• Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên

và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản

chất Giai đoạn này có thể có trong tâm lý

động vật[1]

• Hạn chế của nó là chưa khẳng định được

những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất

yếu bên trong của sự vật Để khắc phục, nhận

thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai

đoạn lý tính

2 Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu

tượng) là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng,

khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức

như khái niệm, phán đoán, suy luận

• Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy

trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản

chất của sự vật Sự hình thành khái niệm

là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện

chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật

hay lớp sự vật Vì vậy, các khái niệm vừa có

tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có

mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa

thường xuyên vận động và phát triển Khái

niệm có vai trò rất quan trọng trong nhận

thức bởi vì, nó là cơ sở để hình thành các

phán đoán và tư duy khoa học[2]

• Phán đoán: là hình thức tư duy trừu tượng,

liên kết các khái niệm với nhau để khẳng

định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc

tính của đối tượng í dụ: “Dân tộc Việt

Nam là một dân tộc anh hùng” là một phán

đoán vì có sự liên kết khái niệm “dân tộc Việt

Nam” với khái niệm “anh hùng” eo trình

độ phát triển của nhận thức, phán đoán được

phân chia làm ba loại là phán đoán đơn nhất

(ví dụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặc thù

(ví dụ: đồng là kim loại) và phán đoán phổ

biến (ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện) Ở

đây phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện

sự phản ánh bao quát rộng lớn nhất về đốitượng[2]

Nếu chỉ dừng lại ở phán đoán thì nhận thứcchỉ mới biết được mối liên hệ giữa cái đơnnhất với cái phổ biến, chưa biết được giữacái đơn nhất trong phán đoán này với cáiđơn nhất trong phán đoán kia và chưa biếtđược mối quan hệ giữa cái đặc thù với cáiđơn nhất và cái phổ biến Chẳng hạn qua cácphán đoán thí dụ nêu trên ta chưa thể biếtngoài đặc tính dẫn điện giống nhau thì giữađồng với các kim loại khác còn có các thuộctính giống nhau nào khác nữa Để khắc phụchạn chế đó, nhận thức lý tính phải vươn lênhình thức nhận thức suy luận[2]

• Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng

liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ramột phán đoán có tính chất kết luận tìm ratri thức mới í dụ, nếu liên kết phán đoán

"đồng dẫn điện” với phán đoán "đồng là kimloại” ta rút ra được tri thức mới “mọi kimloại đều dẫn điện” Tùy theo sự kết hợp phánđoán theo trật tự nào giữa phán đoán đơnnhất, đặc thù với phổ biến mà người ta cóđược hình thức suy luận quy nạp hay diễndịch[2]

Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng cóchức năng phát hiện ra tri thức mới một cáchnhanh chóng và đúng đắn[2]

Giai đoạn này cũng có hai đặc điểm:

• Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự

vật, hiện tượng[2]

• Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật,

hiện tượng[2].Nhận thức cảm tính và lý tính khôngtách bạch nhau mà luôn có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau Không có nhậnthức cảm tính thì không có nhận thức

lý tính Không có nhận thức lý tính thìkhông nhận thức được bản chất thật sựcủa sự vật[1]

3 Nhận thức trở về thực tiễn, ở đây tri thức đượckiểm nghiệm là đúng hay sai Nói cách khác, thựctiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thứcđược[2] Do đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý,

là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức[1] Mụcđích cuối cùng của nhận thức không chỉ đểgiảithích thế giớimà đểcải tạo thế giới[1][3] Do đó,

sự nhận thức ở giai đoạn này có chức năng địnhhướng thực tiễn

6.2 Phân loại nhận thức

Trang 18

• Nhận thức kinh nghiệm hình thành từ sự quan sát

trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã

hội hay trong các thí nghiệm khoa học Tri thức

kinh nghiệm là kết quả của nó, được phân làm hai

loại:

1 Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri

thức được hình thành từ sự quan sát trực tiếp

hàng ngày về cuộc sống và sản xuất Tri thức

này rất phong phú, nhờ có tri thức này con

người có vốn kinh nghiệm sống dùng để điều

chỉnh hoạt động hàng ngày

2 Tri thức kinh nghiệm khoa học là loại tri thức

thu được từ sự khảo sát các thí nghiệm khoa

học, loại tri thức này quan trọng ở chỗ đây

là cơ sở để hình thành nhận thức khoa học

và lý luận

Hai loại tri thức này có quan hệ chặt

chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để

tạo nên tính phong phú, sinh động của

nhận thức kinh nghiệm[2]

• Nhận thức lý luận (gọi tắt là lý luận) là loại nhận

thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản chất

và quy luật của các sự vật, hiện tượng Nhận thức

lý luận có tính gián tiếp vì nó được hình thành và

phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh nghiệm

Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát

vì nó chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mang

tính quy luật của sự vật và hiện tượng Do đó, tri

thức lý luận thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính

xác hơn và có hệ thống hơn[2]

Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai

đoạn nhận thức khác nhau, có quan hệ biện chứng với

nhau Trong đó nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của

nhận thức lý luận Nó cung cấp cho nhận thức lý luận

những tư liệu phong phú, cụ thể Vì nó gắn chặt với

thực tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa

chữa, bổ sung cho lý luận và cung cấp tư liệu để tổng

kết thành lý luận Ngược lại, mặc dù được hình thành

từ tổng kết kinh nghiệm, nhận thức lý luận không xuất

hiện một cách tự phát từ kinh nghiệm Do tính độc

lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những sự

kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành tri thức

kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý

để phục vụ cho hoạt động thực tiễn ông qua đó mà

nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể,

riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái khái quát, phổ biến[2]

eo học thuyết củachủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững

bản chất, chức năng của từng loại nhận thức đó cũng

như mối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩaphương pháp luận quan trọng trọng việc đấu tranhkhắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáođiều[2]

Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật

• Nhận thức thông thường (hay nhận thức tiền

khoa học) là loại nhận thức được hình thành một

cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàngngày của con người Nó phản ánh sự vật, hiệntượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết,

cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật

Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phongphú, nhiều vẻ và gắn với những quan niệm sốngthực tế hàng ngày Vì thế, nó thường xuyên chiphối hoạt động của con người trong xã hội ếnhưng, nhận thức thông thường chủ yếu vẫn chỉdừng lại ở bề ngoài, ngẫu nhiên tự nó không thểchuyển thành nhận thức khoa học được[2]

• Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình

thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phảnánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếucủa các sự vật Nhận thức khoa học vừa có tínhkhách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính

hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực Nó vậndụng một cách hệ thống các phương pháp nghiêncứu và sử dụng cả ngôn ngữ thông thường và thuậtngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản chất và quyluật của đối tượng nghiên cứu Vì thế nhận thứckhoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạtđộng thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học

và công nghệ[2]

Hai loại nhận thức này cũng có mối quan hệ biện chứngvới nhau Nhận thức thông thường có trước nhận thứckhoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dungcủa các khoa học Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhậnthức khoa học thì nó lại tác động trở lại nhận thứcthông thường, xâm nhập và làm cho nhận thức thôngthường phát triển, tăng cường nội dung khoa học choquá trình nhận thức thế giới của con người[2]

6.2.2 Theo các học thuyết khác 6.3 Chú thích

[1] Giáo trình của Bộ môn Triết học, Khoa Mác-Lênin,Trường Đại học Khoa học Bách khoa Hà Nội

[2] Chương 5: Lý luận nhận thức của giáo trình khoa Lênin tại trường Đại học Mỏ-Địa chất

Mác-[3]

Trang 19

6.5 LIÊN KẾT NGOÀI 15

6.4 Tham khảo

• Từ điển triết học, Nhà xuất bản Tiến bộ - 1986.

• Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội

- 1988

• Lycan, W.G., (ed.) (1999) Mind and Cognition: An

Anthology, 2nd Edition Malden, Mass: Blackwell

Publishers, Inc

• Coren, Stanley; Lawrence M Ward, James T Enns

(1999) Sensation and Perception Harcourt Brace,

p 9.ISBN 0-470-00226-3

6.5 Liên kết ngoài

Chương 5: Lý luận nhận thức của giáo trình khoa

Mác-Lênin tại trường Đại học Mỏ-Địa chất

• CognitionBài viết trên một tập san quốc tế chuyên

về các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về

suy nghĩ của con người

Các thông tin về nhận thức âm nhạc tại Đại học

Amxtécđam

Cognitie.NL Những nghiên cứu về nhận thức

do Tổ chức Nghiên cứu Hà Lan (Netherlands

Organisation for Scientific Research - NWO) và

Đại học Amsterdam (UvA) tiến hành

• Emotional and Decision Making Lab, Carnegie

Mellon,EDM Lab

cognitiontrong từ điển bách khoa CALT

Giới hạn của nhận thức con người.- một bài báo

nói về sự tiến hóa về khả năng nhận thức của động

vật có vú

Trang 20

Chương 7

Tâm trí

Tâm trí đề cập đến nhiều khía cạnh của khả năng

trí tuệ và biểu lộ ý thức như một sự tổ hợp của suy

nghĩ,nhận thức,ký ức,tình cảm,ý chívàtưởng tượng,

gồm cả nhận thức bằng các giác quan của não bộ và

quá trình nhận thức bằng vô thức Tâm trí có thể biểu

hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau Trong lịch sử,

đã có nhiều học thuyết lý giải và nghiên cứu về tâm

trí nhưZarathushtra, đạo Phật, Platon,Aristotle,Adi

Shankaravà nhiều nhà triết học Hy Lạp, Ấn Độ và Hồi

giáo ông thường, người ta thường dùng tâm trí đồng

nghĩa với suy nghĩ; nhưng thật sự suy nghĩ dễ nắm bắt

và hiểu rõ hơn tâm trí.

C D Broad,e Mind and Its Place in Nature, 1925

Abhidhamma: Buddhist Perspective of the Mind

and the Mental Functions

Buddhist View of the Mind

Current Scientific Research on the Mind and BrainFromScienceDaily

• R Shayna Rosenbaum, Donald T Stuss, Brian

Levine, Endel Tulving, “eory of Mind IsIndependent of Episodic Memory”, Science, ngày

23 tháng 11 năm 2007: Vol 318 no 5854, p 1257

e Extended Mind by Andy Clark & David J.Chalmers

e Mind and the Brain A site exploring J.Krishnamurti's view of the Mind

Canonizer.com open survey topic on theories ofmind Anyone can participate in the survey or

‘canonize’ their beliefs Expertise of participators

is determined by a Peer Ranking Process thatcan be used to produce a quantitative measure ofscientific consensus for each theory

16

Trang 21

Chương 8

Thuyết chức năng

uyết ức năng là một lý thuyết về tinh thần trong

triết họcđương đại, được phát triển rộng rãi như một

sự thay thế cho cảthuyết đồng nhấtvàchủ nghĩa hành

vi Ý tưởng cốt lõi của nó là các trạng thái tinh thần(niềm tin, sợ hãi, đau đơn,…) được tạo thành chỉ bởichức năng của chúng - có nghĩa là chúng là những mốiliên hệ nhân quả với những trạng thái khác tinh thầnkhác, các đầu vào cảm giác, cũng như những đầu rahành vi.[1]uyết hành vi là một mức độ lý thuyết giữa

sự bổ sung vật chất và đầu ra hành vi.[2]Do đó, nó khácvới những thuyết tiền bối nhị nguyênDescartes(chủtrương các chất tinh thần và vật chất độc lập) vàchủnghĩa duy vật lývà chủ nghĩa hành vi củaB F Skinner(chỉ chấp nhận chất vật chất) bởi vì nó chỉ liên quan tớichức năng hiệu quả của bộ não, thông qua sự tổ chứchay “chương trình phần mềm” của nó

Bởi vì các trạng thái tinh thần được xác định bởi vai tròchức năng, chúng được cho là được nhận diện ở nhiềumức độ, nói cách khác, chúng có thể được thực hiệntrong những hệ thống khác nhau, ngay cảmáy tính,chừng nào hệ thống đảm nhiệm đúng chức năng Trongkhi máy tính là những thiết bị vật chất với cơ sở điển tửthực hiện những tính toán trên đầu vào và trả lại đầu

ra, bộ não là những thiết bị vật chất với cơ sở thần kinhthực hiện tính toán trên đầu vào và sinh rahành vi.Mặc dù tỏ ra một số lợi thế, có nhiều lập luận chống lạithuyết này, cho rằng đó là một mô tả không đầy đủ vềtinh thần

8.1 Chú thích và tham khảo

[1] Block, Ned (1996) “What is functionalism?" a

revised version of the entry on functionalism in e

Encyclopedia of Philosophy Supplement, Macmillan.

(PDF online)

[2] Marr, D (1982) Vision: A Computational Approach San

Francisco: Freeman & Co

17

Trang 22

Chương 9

Thuyết thực hữu

uyết thực hữu (tiếng Anh: Physicalism - chủ nghĩa

vật lý) là một quan điểm triết học cho rằng mọi thứtồn tại không vượt ra ngoài các tính chất vật lý của nó;nghĩa là không có gì ngoài các sự vật vật lý

Luận thuyết này thường được xem là một luận thuyếtsiêu hình học, song song với thuyết của triết giaHyLạp cổ đại alesrằng mọi thứ đều lànước, hay vớichủnghĩa duy tâmcủa triết gia thế kỷ 18Berkeleyrằng mọi

thứ đều nằm trong tâm thức (everything is mental).

Ý niệm tổng quan của thuyết thực hữu là bản chất củathế giới thực (hay toàn bộ vũ trụ) có tính chất vật lý.Tất nhiên, các triết gia thực hữu không phủ nhận rằngtrên thế giới có thể có nhiều thứ mà thoạt nhìn không

có vẻ gì vật lý—những thứ có bản chất sinh học, haytâm lý học, hay luân lý, hay xã hội Nhưng họ khẳngđịnh rằng rốt cuộc thì những thứ đó vẫn hoàn toàn cótính chất vật lý

uyết thực hữu đôi khi được gọi làchủ nghĩa duy vật.Nhưng thuật ngữ “chủ nghĩa thực hữu” được ưa dùng

hơn vì nó phát triển với các khoa học vật chất (physical science, gồmthiên văn học,hóa học,khoa học Trái Đất,vật lý học) để kết hợp các khái niệm phức tạp về tínhvật lý, chứ không dừng lại ở khái niệm vật chất của chủnghĩa duy vật, ví dụ như các quan hệ sóng/hạt và cáclực phi vật chất tạo bởi các hạt

9.1 Tham khảo

• Stanforn Dictionary of Philosophy,Physicalism

18

Ngày đăng: 12/09/2017, 11:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dung được tới tính khả dĩ không phải là một bước - Thể loại khoa học nhận thức
Hình dung được tới tính khả dĩ không phải là một bước (Trang 27)
Hình ảnh cơ thể, điều đó giúp anh ta (cô ta) thoải mái - Thể loại khoa học nhận thức
nh ảnh cơ thể, điều đó giúp anh ta (cô ta) thoải mái (Trang 41)
Hình để thấy rõ hơn) - Thể loại khoa học nhận thức
nh để thấy rõ hơn) (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w